1
BÀI THI GIỮA KÌ
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. TRẦN PHÚ HUỆ QUANG
HỘI GIÓNG
ĐỀN PHÙ ĐỔNG
Ảnh: Nguyễn Ánh
1.GIỚI THIỆU
Lễ hội Thánh Gióng, hay hội Gióng một trong những trong những lễ hội truyền
thống lâu đời tại Việt Nam, là hoạt động có ý nghĩa được tổ chức thường niên ở nhiều nơi
Hội Gióng đền Phù Đổng 2
thuộc khu vực Nội nhằm bày tỏ lòng thành kính, tưởng nhớ ca ngợi công lao của
Đức Thánh Gióng- một trong bốn vị “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Vào năm 2010, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO)
đã công nhận lễ hội Gióng đền Phù Đổng (Gia Lâm) đền Sóc (huyện Sóc Sơn) Di
sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây cũng chính một trong những lễ hội
truyền thống đầu tiên của nước ta được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể.
Nguyên phó Chủ tịch UBND thành phố Nội Ngô Thị Thanh Hằng đã khẳng định: "Lễ
hội Thánh Gióng một Lễ hội hết sức đặc biệt Đồng bằng châu thổ Bắc bộ nhằm
tưởng niệm Thánh Gióng - một nhân vật huyền thoại công đánh đuổi giặc ngoại xâm,
bảo vệ đất nước".
2.NỘI DUNG
2.1 Nguồn gốc ra đời lễ hội
Các lễ hội dân gian và truyền thuyết, sự tích thườngmối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Lễ hội đưa nội dung, ý nghĩa của truyền thuyết, đưa các vị anh hùng công trong lịch s
dân tộc vào thờ phụng, tưởng nhớ. Nhờ đó, các truyền thuyết được lưu truyền gìn giữ,
phát triển trong đời sống sinh hoạt văn hóa của dân tộc.
Truyền thuyết, hình tượng Thánh Gióng chính là bản hùng ca bất tử, nguyện vọng
lời nhắc nhớ của nhân dân về sức mạnh, ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm của dân
tộc. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, người Việt Nam lại nghĩ đến hình tượng Thánh Gióng dẹp
tan giặc Ân, sức mạnh ấy đã thôi thúc nhân dân đứng lên bảo vệ Tổ quốc mình. Đây cũng
chính nội dung cốt lõi của hội Gióng được diễn ra hằng năm. Chủ tịch Hồ Chí Minh
từng nói: “ Trong lịch sử ghi nhận chuyện vị anh hùng dân tộc là Thánh Gióng đã dùng
gốc tre đánh đuổi giặc ngoại xâm. Trong những ngày đầu kháng chiến, Đảng ta đã lãnh đạo
hàng nghìn người, hàng vạn anh hùng noi gương Thánh Gióng đã dùng gậy tầm vông đánh
đuổi thực dân Pháp”. Đây cũng chính ý nghĩa cốt lõi của hội Gióng được diễn ra hằng
năm.
Theo nhà dân tộc học/ nhà sử học Nguyễn Văn Huyên, hội Gióng được tổ chức từ khoảng
thế kỷ 11, đời vua Thái Tổ. Vua đã truy tôn ngài Xung Thiên Thần Vương, cho xây
đền thờ Phù Đổng Thiên Vương và tổ chức hội Gióng với quy mô lớn. Đến thời Lê (thế kỷ
15-16), hội Gióng nổi tiếng được triều đình cử quan đại thần về chủ tế Đức Thánh
Gióng. Truyền thống tốt đẹp ấy đã được gìn giữ và tiếp nối đến ngày nay.
2.1.1 Truyền thuyết về Thánh Gióng
Hội Gióng đền Phù Đổng 3
liệu xưa nhất về Thánh Gióng thuộc về Tắc vào thế kỷ 14: “Xung Thiên miếu:
Tại làng Phù Đổng hồi xưa trong nước rối loạn chợt thấy một người có uy đức, dân đều về
theo, người ấy bèn cầm quân dẹp loạn, rồi bay lên trời đi mất, hiệu Xung Thiên Vương,
dân lập đền miếu để thờ.” (An Nam chí lược).
Theo Đại Việt sử kí toàn thư: “Đời Hùng Vương thứ 6, ở hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh có
người nhà giàu, sinh một con trai, đến năm hơn ba tuổi ăn uống béo lớn nhưng không biết
nói cười. Gặp lúc trong nước tin nguy cấp, vua sai người đi tìm người thể đánh lui
được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo mẹ ra mời thiên sứ vào, nói: "Xin cho
một thanh gươm, một con ngựa, vua không phải lo gì". Vua ban cho gươm ngựa, đứa
trẻ liền phi ngựa vung gươm tiến lên trước, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc chân
núi Ninh . Quân giặc tự quay giáo đánh lẫn nhau, chết rất nhiều, bọn sống sót đều rạp
lạy, tôn gọi đứa trẻ ấy là thiên tướng, liền đến xin hàng cả. Đứa trẻ phi ngựa lên trời mà đi.
Vua sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để lập đền thờ, tuế thời cúng tế. Về sau,
Thái Tổ phong Xung Thiên Thần Vương. (Đền thờ cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù
Đổng).”
“Sáu đời Hùng vận vừa suy
Vũ Ninh có giặc mới đi cầu tài.
Làng Phù Đổng có một người
Sinh ra chẳng nói, chẳng cười trơ trơ.
Những ngờ oan trái bao giờ,
Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân.
Nghe vua cầu tướng ra quân,
Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần khích ngang.
Lời thưa mẹ, dạ cần vương,
Lấy trung làm hiếu một đường phân minh.
Sứ về tâu trước thiên đình,
Gươm vàng, ngựa sắt đề binh tiến vào.
Trận mây theo ngọn cờ đào,
Ra uy sấm sét, nửa chiều giặc tan.
Áo nhung cởi lại Linh San,
Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên.
Miếu đình còn dấu cố viên.
Chẳng hay chuyện cũ lưu truyền có không?”
(Đại Nam quốc sử diễn ca)
2.2 Hội Gióng ở đền Phù Đổng
Hiện nay, hội Gióng được tổ chức ở nhiều khu vực thuộc Hà Nội, nổi bật nhất là lễ hội
ở đền Phù Đổng (nơi Thánh Gióng sinh ra) và lễ hội đền Sóc (nơi Thánh dừng chân cuối
cùng trước khi bay về trời).
Hội Gióng đền Phù Đổng (huyện Gia Lâm, Nội) được tổ chức từ ngày mồng 6 đến 12
tháng âm lịch, trong đó ngày lễ chính diễn ra vào ngày mồng 9. Trước ngày diễn ra hội,
Hội Gióng đền Phù Đổng 4
dân làng tổ chức nhiều trò chơi như vật, chọi gà, đánh cờ, hát, đặc biệt hát Ải Lao- một
tập tục cổ. Do tầm quan trọng của truyền thuyết nhân vật Thánh Gióng trong việc nuôi
dưỡng ý chí, sức mạnh và lòng yêu nước của người Việt mà hội Gióng cũng có ý nghĩa rất
đặc biệt trong đời sống sinh hoạt cổ truyền Việt Nam, vì thế mà dân gian có câu ca dao:
“Ai ơi mùng chín tháng tư
Không đi Hội gióng cũng hư mất người”
2.2.1 Khu di tích Phù Đổng
Khu di tích Phù Đổng trước kia “nằm trên khu vực làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh
Bắc Ninh, bên tả ngạn sông Đuống”. Ngày nay, khu di tích thuộc về Phù Đổng, huyện
Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Một điều thú vị là vùng đất Gia Lâm cũng là nơi sinh ra của
Thánh Đức Chử Đồng Tử, một trong “Tứ bất tử” bên cạnh Đức Thánh Gióng. Như vậy, có
thể nói đây chính vùng đất “địa linh nhân kiệt”, cái nôi sinh ra những anh tài của Đất
nước.
Khu di tích bao gồm nhiều công trình đền, chùa, đình, miếu quy tụ thành một khu vực
tham quan rộng và phong phú:
Đền Thượng: Đền Thượng hay còn gọi đền Phù Đổng nơi thờ phụng Thánh
Gióng. Theo truyền thuyết, nơi đây đã từ đời Hùng Vương thứ 6, được xây
dựng trên nền nhà của mẹ Thánh Gióng. Đến thế kỷ 11, sau khi dời đô từ Hoa
ra Thăng Long, vua Công Uẩn đã cho tu bổ thêm với tên gọi đền Hiển
Linh, truy tôn anh hùng Gióng Xung Thiên Đổng Thiên vương Thánh Vị đồng
thời ra lệnh tổ chức hội Gióng.
Ngay trước sân đền, sát chân đê ao Rối, hằng năm địa điểm tổ chức múa rối
nước vào ngày hội. Dưới bóng cây đa cổ thụ, trên mặt ao ngôi thủy đình được
dựng theo kiểu mái chồng thời Trung hưng (thế kỷ 17) với nhiều mảng chạm
khắc tinh vi trên gỗ, đề tài cảnh sinh hoạt dân gian như người chăn dê, người
thổi ống xì đồng…được dùng làm nhà múa rối nước.
Hội Gióng đền Phù Đổng 5
Ảnh: HanoitvOnline Ngôi đền nhìn từ trên cao
Qua sân gạch đến nghi môn bề thế được xây vào cuối thế kỷ 19. Phía trước đôi
rồng đá khắc dòng chữ cho biết niên đại tạo tác năm Ất Dậu, niên hiệu Vĩnh
Thịnh (năm 1705), dưới triều vua Dụ Tông. Phía sau đôi tử đá cùng
niên đại. Tiếp đến là nhà thiêu hương có kiến trúc giống thủy đình nhưng nhỏ hơn.
Ảnh HanoitvOnline Cận cảnh rồng đá được chạm khắc tỉ mỉ
Nằm sát nhà thiêu hương hai nhà tiền tế do Điền Quận công Nguyễn Huy,
người làng Phù Dực, Trạng nguyên Đặng Công Chất cùng người làng Phù
Đổng đứng ra hưng công xây dựng. Đáng chú ý 39 viên gạch chạm khắc hình
Hội Gióng đền Phù Đổng 6
rồng được lát bậc thềm dẫn vào cung. Hai ngôi nhà 3 gian phía Đông do Tuyên
phi Đặng Thị Huệ - chính cung của chúa Trịnh Sâm cung tiến (thế kỷ XVIII).
Trong hậu cung có tượng thánh Gióng cao 3m, hai bên có 6 tượng quan văn - võ, 2
phỗng quỳ và 4 viên hầu cận “tứ trấn”.
Trong đền còn nhiều vật dụng giá trị: Chiếc ngai thờ từ thời Trung Hưng
được chạm khắc tinh xảo; đôi chim mang phong cách Trung Hoa do Đặng Thị Hu
cung tiến; bình hương, nghê đồng, hai thanh kiếm, câu đối do anh em đại thi hào
Nguyễn Du cung tiến năm 1818.
Đền Hạ: Đền Hạ hay còn gọi đền Mẫu hay Thánh Mẫu, nằm ngoài đê, phía
đông đền Thượng, nơi thờ tự mẹ Đức Thánh Gióng, “Đây di tích nằm
khoảnh đất cao phía ngoài đê, đủ nghi môn, hồ bán nguyệt khu thờ tự gồm
hai nhà tiền tế, hậu cung (mới phục dựng m 1983), xung quanh cây cối đại thụ
um tùm. Ngay trước cửa đền ao hình bầu dục (vốn chiếc giếng đất), nơi hàng
năm được dân làng rước kiệu đến lấy nước (lễ rước nước) về đền Thượng làm lễ
rửa binh khí.” (Nguyễn Chí Bền, 2017).
Chùa Kiến Sơ: Nằm sát đền Thượng (có thể gộp vào đền Thượng). Năm 820, thời
nhà Đường, thiền Ngôn Thông từ Trung Hoa sang tu tại đây. Vua Công
Uẩn thuở còn hàn vi, đã từng đến tại chùa được Thánh Gióng o mộng về
lịch sử triều đại nhà Lý.Sau khi lên ngôi vua, ông cho tu bổ lại chùa tổ chức lễ
hội.
Ảnh Addflag.com Quan cảnh chùa Kiến Sơ
Chùa hiện nhiều tượng giá trị nghệ thuật, trong đó các pho tượng được
cho của Ngôn Thông vua Công Uẩn. Dọc hành lang chùa tượng
của 18 vị La Hán, sau chùa còn có hang động được đắp vô cùng đặc biệt.
Hội Gióng đền Phù Đổng 7
Miếu Ban: Tên chữ là “Dục Linh từ”, nằm ở phía tây đền Thượng, trong xóm Ban.
Nơi đây cũng nơi thờ Thánh Mẫu. Tương truyền rằng đây nơi Thánh Gióng
được sinh ra, được mẹ đặt trên sập đá và tắm trong thống đá. Ngoài ra, còn có liềm
đá được cho là dao cắt rốn của Thánh Gióng, nhưng hiện đã không còn.
Cố Viên: Cố Viên (vườn xưa), nơi đây trước kia là vườn rau, là nơi mẹ Gióng ướm
chân mình vào dấu chân của người khổng lồ và sinh ra Gióng.
Giá ngự: Gồm hai cột trụ và một bệ được xây dựng vào đầu thế kỷ 20.
Mộ Trần Đô Thống: Theo truyền thuyết, Trần Đô Thống một tướng của Đức
Thánh Gióng, cầm đao tiên phong đánh giặc Ân. Mộ được xây xóm Vận Hang,
trước đền Thượng.
2.2.2 Các hoạt động diễn ra hội Gióng
Hội Gióng được cử hành trên một diễn trường dài khoảng 3 km, gồm đền Thượng, đền
Mẫu và chùa Kiến Sơ. Thường 5 năm một lần, vào năm chẵn thì tổ chức hội chính (từ ngày
6 đến 12/4 âm lịch); còn các năm lẻ thì tổ chức vào ngày 9/4. Các hoạt động trong lễ hội
bao gồm phần Lễ phần Hội. Phần Lễ bao gồm: Lễ tế Thánh tại Đền Thượng, ngoại đàn
tại sân Đền Thượng, Lễ dâng hương, Rước khám đường, Lễ rước cỗ, Hội trận truyền thống
tại Soi Bia. Còn phần Hội sẽ có các hoạt động quảng bá du lịch địa phương, hoạt động văn
hoá, thể thao như: Giải vật dân tộc, thi đấu cờ tướng, hát tuồng, hát quan họ…
Các làng sẽ phân công công việc cần làm trong hội: Phù Dực, Phù Đổng thay nhau làm
giáp kéo hội (đăng cai) được cử các tướng Văn Lang, các đội cận vệ binh. Đổng Viên,
Đổng Xuyên cử đội quân báo, quân lương. Còn Hội đến với phường múa hát Ải Lao,
Tùng Choặc và diễn trò bắt hổ.
Công việc hội cụ thể của làng sẽ do các giáp phân công: làng Phù Đổng 6 giáp gồm
Đông, Đoài, Ban, Phú, Chợ, Bộ còn 4 giáp của làng Phù Dực Nông, Gạo, Tòa, Me.
Mười giáp này thay nhau làm chủ tế, giáp nào làm chủ tế thì phụ trách tổ chức hội năm đó.
Ngày mồng 1/3 âm lịch, giáp chủ hội sửa trầu cau ra đến dâng Thánh nhận số về để
chuẩn bị hội. Công việc được phân công ngay sau đó bởi giáp chủ tế (giáp hội trưởng) sẽ
chọn ra các tướng lĩnh chỉ huy đội quân đánh giặc một ông Hiệu cờ, một ông Hiệu chiêng,
một ông Hiệu trống, một ông Hiệu trung quán, 2 ông Hiệu tiểu cổ, nhiệm vụ của các ông
Hiệu là:
+ Ông Hiệu cờ được tượng trưng cho ông Giống, trong hội ông cắm cờ thể hiện trận
đánh của ông Giống với giặc Ân bằng nghệ thuật múa cờ. Hiệu cờ vai trò quan
trọng nhất trong 6 ông hiệu
+ Hiệu chiêng: người chỉ huy quân lính bằng động tác múa đánh chiêng.
+ Hiệu trống: người chỉ huy quân lính bằng động tác múa đánh trống. (Hiệu chiêng
Hiệu trống phải phối hợp sao cho tiếng chiêng tiếng trống ăn nhịp với nhau
một cách oai nghiêm, dõng dạc.)
Hội Gióng đền Phù Đổng 8
+ Hiệu trung quân được coi tổng chỉ huy dưới quyền ông Giống, ông dùng một
trống khẩu để làm hiệu.
+ Hai Hiệu tiểu cổ là hai chỉ huy quân lính tiên phong
Các ông Hiệu trong hội đều có 2 người cầm lọng che 2 bên, riêng ông Hiệu cờ được che 4
lọng, vi tượng trưng cho Thánh Gióng.
Lưu ý: Tất cả những ông hiệu này phải là trai tráng khỏe mạnh, không vướng tang chế, nếu
có vợ thì không được trên 30 tuổi.
Ảnh: Báo nhân dân Ông Hiệu cờ
Các giáp trong 4 làng cùng chọn lấy 150 thanh niên trai tráng tuổi từ 18 đến 35, chia làm
10 đạo quân mỗi đạo gồm 15 người chỉ huy (xưởng suất). Quân lính này gọi phù giá
ngoại. Phù giá ngoại cởi trần. đóng khố dải quang chéo qua vai quát ra sau lưng thắt
nút cạnh sườn, đầu đội đen, đằng trước hình thêu, đằng sau miếng vải phủ
xuống gây, xướng suất thì mặc áo dài xanh. Làng Phù Đổng chọn ra thêm 12 trai tráng gọi
phù giá nội, Trong ngày hội, 12 phủ giá nội mặc áo dài màu đỏ đen (còn gọi làng
áo đỏ, lãng áo đen) tay cầm roi song đi theo Hiệu tiểu cổ, dẫn đầu đoàn quân.
Sáng ngày rằm tháng 3, giáp chủ hội dẫn các ông Hiệu ra đến lễ trình diện với Đức Thánh.
Từ đây, các ông Hiệu bắt đầu cách ly với bên ngoài trong vòng một tháng, ở trong nhà cầu
của đền chỉ tiếp xúc với thầy của mình, đối với ông Hiệu cờ thì càng nghiêm ngặtn.
Ngày 15/3 cũng là ngày các ông Hiệu nhận đồ dùng của mình:
+ Hiệu cờ nhận cờ lệnh, mũ rồng, áo thụng, áo chẽn.
+ Hiệu trung quân nhận trống khẩu, quần áo thụng đỏ, mũ
+ Hiệu chiêng nhận chiêng, dùi, quần áo thụng, mũ
+ Hiệu tiểu cổ nhận trống khẩu, quần áo chẽn, mũ.
Sau khi nhận những đồ vật được giao tại đền trước mặt chức sắc trong làng, các ông Hiệu
về nhà bắt đầu luyện tập theo sự hướng dẫn của thầy. Ông Hiệu cờ tập múa cờ, Hiệu
chiêng, Hiệu trống tập đánh chiêng, trống cho thật đúng động tác. Cờ lệnh của Hiệu cờ tập
là cờ của năm ngoái, xong hội lá cờ được chia nhỏ từng phần cho chức sắc và các ông Hiệu
Hội Gióng đền Phù Đổng 9
để lấy may. Có ông Hiệu phất trong ngày hội là lá cờ mới may, ông Hiệu cờ chỉ được nhận
cờ lệnh vào trưa ngày mồng 9 trước khi xuất quân đánh giặc.
Ảnh Toquoc.vn Lá cờ lệnh
Cờ lệnh bằng lụa đỏ chiều ngang 35 phân, chiều dài 2 mét 45 phân, cờ được may theo tỷ lệ
bề ngang 1 vuông, bề dài 7 vuông lụa như quy định, giữa cờ có chữ “Lệnh”.
Suốt từ ngày 15/3, từ tướng đến quân đều phải luyện tập. Khó khăn nhất Hiệu cờ, phải
tập sao cho động tác múa mang tính nghệ thuật cao, vì đây là nghi lễ quan trọng nhất trong
hội.
Ngày 25/3 giáp chủ hội phân công người dọn dẹp ở các đền, miếu cho sạch sẽ, đồ thờ được
lau rửa, đường cũng phải sửa sang, dọn đường cho trận đánh sắp tới cũng để đón
khách thập phương về dự hội.
Đến đầu tháng bắt đầu duyệt đội ngũ, cờ lệnh mới đã được may người ta chọn ngày
tốt để một người đỗ đạt trong làng viết chữ “Lệnh" vào gần phần giữa lá cờ.
28 cô gái từ độ tuổi 11 đến 13, xinh đẹp và đặc biệt là chưa chồng sẽ được chọn từ các giáp
(trừ giáp chủ hội) tượng trưng cho 28 đạo quân của giặc. Hai gái đẹp nhất sẽ đóng vai
tướng nhất và nhì.
Ngày mồng 5/4 tất cả phải tập trung ở đền Gióng để tổng duyệt.
Ngày mồng 6/4 hội bắt đầu:
+ Buổi sáng các cụ thắp hương ở đến Thượng, đến Mẫu, miếu Ban.
Hội Gióng đền Phù Đổng 10
+ Buổi chiều làng làm lễ rước nước, hai cái chum quý vẫn để hậu cung được đặt
lên kiệu rước đến đền Mẫu. Đây cũng lễ rước nước cầu mưa để mùa màng
tươi tốt, cầu mong mọi điều tốt lành.
Ngày mồng 7/4:
+ Buổi sáng cờ lệnh mới may được rước đến đền Mẫu để trình Mẫu.
+ Buổi trưa cúng cơm đền Mẫu rồi từ đến Mẫu rước cơm về đền Thượng để
ông Gióng cùng hưởng.
+ Buổi chiều rước khám đường với mục đích kiểm tra thăm xem trận địa, đường
xá đã được chuẩn bị thế nào.
Ngày mồng 8/4 ngày duyệt đội ngũ tướng giặc, hai viên chánh, phó tưởng hôm nay
mới được chọn xếp theo thứ tự tưởng nhất (tướng đốc) xinh nhất, theo sau
tướng nhì (tướng ngựa). Chức dịch trong làng quyển chỉ định hai viên tướng này
trao cho mỗi cô một thanh gươm.
Ngày mồng 9/4 là chính hội:
+ Lễ dâng rượu tế Thánh: rượu tế Thánh là rượu nếp.
+ Lễ rước cờ từ đền Mẫu về đền Thượng.
Tiếp đó, phường Ải Lao múa hát làm lễ trước bàn thờ. Hổ làm lễ chào trước, phường Ải
Lao hát sau. tổng cộng 12 khúc hát. Cùng lúc đó, 28 tướng giặc Ân đã tiến ra xếp
hàng trên đê phía Đống Đàm bày trận định đánh úp quân ta. Các ông Hiệu cũng đang trên
đường từ nhà tập trung đến đền. Ông Hiệu nào đến trước thì làm lễ chào thánh trước bàn
thờ rồi sang danh của mình ở nhà giải vũ để ngồi. Riêng ông Hiệu cờ lễ thánh cuối cùng.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hương Liên đã miêu tả chi tiết trận đánh trong ngày hội trong “Khảo
sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của người Việt đồng bằng Bắc Bộ” như sau:
“Ông Hiệu cờ đưa 2 tay lót khăn cầm lấy cán cờ đã được dựng sẵn trên giá gỗ cạnh
ban thờ, cờ được cuốn trong bao cờ màu đỏ thêu rồng phương, cân cờ bằng gỗ sơn đỏ.
Ông Hiệu cầm cán cờ múa tạ trước ban ba cái rồi quay ra. Thế ông đã sẵn sàng ra trận
sau khi nhận cờ lệnh của Đức Thánh. Ngoài sân ông Hiệu chiêng múa dùi đánh 3 hồi
chiêng, tiếp đến Hiệu trống dồng dục đánh 3 hồi trống thông báo đoàn quân đã đến giờ
lên đường. Hai tướng tiên phong Hiệu tiểu cổ đi trước, các ống mặc áo đỏ, quần chẽn
vùng, đội rồng, cấm trống khẩu đi dưới lọng che, sau Hiệu tiểu cổ 12 em trai được
gọi làng áo đỏ, làng áo đen cầm roi song sơn đen. Tiếp đến Hổ cùng phương Ải lao,
ông Hiệu trống di dưới hai lọng theo sau quân lính khiêng trống. Hiệu chiêng đi sau
cùng quân lính chiêng. Hiệu trung quân rồi đến Hiệu cờ với 4 lọng che sau đó
long giá (ngựa gỗ màu trắng), một chiếc hòm nhỏ đựng đồ dùng của thánh cuối cùng
đội quân xếp hàng hai hối hả hành quân…Đoàn người dừng lại. Ba hồi chiêng ba
hồi trống dõng dạc cất lên báo hiệu đại quân đã đến. Hiệu tiểu cổ đáp lại bằng một hồi
trống khẩu trong khi phường Ải lao trống, sinh tiền, chia làm hai hàng di ngược
chiều nhau hai n chiếu vừa đi vừa hát. Sau đô Hiệu cờ cắm cờ đến chiếc chiếu thứ
nhất, cụ chủ tế tiến đến mở bao cờ. Hiệu cờ phất nhanh cờ, hàng trăm bướm giấy màu
trắng và những mảnh gỗ trầm hương nhỏ để sẵn trong bao cờ tung lên theo lá cờ và rơi lả
tả xuống, dân chúng reo hò xông lên nhặt lấy để làm khước, lúc này làng áo đen áo đỏ
quất roi vun vút vào không khí để thị uy lấy lại trật tự. Hiệu cờ bắt đầu vào trận, ông cầm
Hội Gióng đền Phù Đổng 11
cờ tay trái, đá chân trái, chuyển cờ sang tay phải đá chân phải, sau đó tiến lên ba bước
đến giữa chiếu, các tướng giặc lúc này đều đứng dậy trên kiệu tỏ ý nghênh chiến… Điệu
múa cờ chấm dứt cũng lúc chiêng trống dồn dập đổ hồi mừng chiến thắng . Phường Ải
lao phấn khởi hát múa. Đoàn nữ tướng nhà Ân quay kiệu rút lui tỏ ý đã thua trận. Sau ba
hồi chiêng trống thu quân, tất cả đám rước lại theo thứ tự quay về đến Thượng, qua đền
Mẫu người ta đốt một tràng pháo để cho Mẫu biết Thánh Gióng đã thắng trận trở về.”
Ảnh Hanoimoi.com
Ngày mồng 10/4 làng làm lễ tạ thần, kiểm tra binh khí, lễ này gọi là rước văn.
Ngày 11/4 là lễ rửa tội, người ta lại rước nước giếng từ đền Mẫu về để rửa binh khí cất đi.
Trong hội có nhiều trò chơi cho dân làng và khách thập phương: vật, chọi gà, múa rối…
Ngày 13/4 rước cắm cờ, đó quân ta đi kiểm tra lại chiến trưởng từ Đống Đàm đến
Soi Bia xem còn tên giặc nào ẩn náu nữa không, kiểm tra đến đâu cắm cờ trắng đến đấy
để thông báo cho mọi người biết kẻ thù đã thật sự đầu hàng.
3. LỜI KẾT
“Hồng Bàng là tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười,
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.”
(Hồ Chí Minh- Lịch sử nước ta)
Hội Gióng đền Phù Đổng 12
Hình tượng Thánh Gióng đã trở thành một “Tứ bất tử” trong sinh hoạt dân gian người
Việt cùng với sức mạnh, ý chí chiến đấu bảo vệ đất nước và khát vọng hòa bình, tự do
dân tộc. Lễ hội Thánh Gióng là một nét văn hóa dân gian có tầm ảnh hưởng vô cùng quan
trọng trong đời sống tín ngưỡng của người Việt và đã được phát triển và bảo tồn qua hàng
ngàn năm lịch sử đất nước.

Preview text:

1 BÀI THI GIỮA KÌ
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. TRẦN PHÚ HUỆ QUANG HỘI GIÓNG ĐỀN PHÙ ĐỔNG Ảnh: Nguyễn Ánh 1.GIỚI THIỆU
Lễ hội Thánh Gióng, hay hội Gióng là một trong những trong những lễ hội truyền
thống lâu đời tại Việt Nam, là hoạt động có ý nghĩa được tổ chức thường niên ở nhiều nơi
Hội Gióng đền Phù Đổng 2
thuộc khu vực Hà Nội nhằm bày tỏ lòng thành kính, tưởng nhớ và ca ngợi công lao của
Đức Thánh Gióng- một trong bốn vị “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Vào năm 2010, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO)
đã công nhận lễ hội Gióng ở đền Phù Đổng (Gia Lâm) và đền Sóc (huyện Sóc Sơn) là Di
sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây cũng chính là một trong những lễ hội
truyền thống đầu tiên của nước ta được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể.
Nguyên phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Ngô Thị Thanh Hằng đã khẳng định: "Lễ
hội Thánh Gióng là một Lễ hội hết sức đặc biệt ở Đồng bằng châu thổ Bắc bộ nhằm
tưởng niệm Thánh Gióng - một nhân vật huyền thoại có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước". 2.NỘI DUNG
2.1 Nguồn gốc ra đời lễ hội
Các lễ hội dân gian và truyền thuyết, sự tích thường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Lễ hội đưa nội dung, ý nghĩa của truyền thuyết, đưa các vị anh hùng có công trong lịch sử
dân tộc vào thờ phụng, tưởng nhớ. Nhờ đó, các truyền thuyết được lưu truyền và gìn giữ,
phát triển trong đời sống sinh hoạt văn hóa của dân tộc.
Truyền thuyết, hình tượng Thánh Gióng chính là bản hùng ca bất tử, là nguyện vọng và là
lời nhắc nhớ của nhân dân về sức mạnh, ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm của dân
tộc. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, người Việt Nam lại nghĩ đến hình tượng Thánh Gióng dẹp
tan giặc Ân, sức mạnh ấy đã thôi thúc nhân dân đứng lên bảo vệ Tổ quốc mình. Đây cũng
chính là nội dung cốt lõi của hội Gióng được diễn ra hằng năm. Chủ tịch Hồ Chí Minh
từng nói: “ Trong lịch sử có ghi nhận chuyện vị anh hùng dân tộc là Thánh Gióng đã dùng
gốc tre đánh đuổi giặc ngoại xâm. Trong những ngày đầu kháng chiến, Đảng ta đã lãnh đạo
hàng nghìn người, hàng vạn anh hùng noi gương Thánh Gióng đã dùng gậy tầm vông đánh
đuổi thực dân Pháp”. Đây cũng chính là ý nghĩa cốt lõi của hội Gióng được diễn ra hằng năm.
Theo nhà dân tộc học/ nhà sử học Nguyễn Văn Huyên, hội Gióng được tổ chức từ khoảng
thế kỷ 11, đời vua Lý Thái Tổ. Vua đã truy tôn ngài là Xung Thiên Thần Vương, cho xây
đền thờ Phù Đổng Thiên Vương và tổ chức hội Gióng với quy mô lớn. Đến thời Lê (thế kỷ
15-16), hội Gióng nổi tiếng và được triều đình cử quan đại thần về chủ tế Đức Thánh
Gióng. Truyền thống tốt đẹp ấy đã được gìn giữ và tiếp nối đến ngày nay.
2.1.1 Truyền thuyết về Thánh Gióng
Hội Gióng đền Phù Đổng 3
Tư liệu xưa nhất về Thánh Gióng thuộc về Lê Tắc vào thế kỷ 14: “Xung Thiên miếu:
Tại làng Phù Đổng hồi xưa trong nước rối loạn chợt thấy một người có uy đức, dân đều về
theo, người ấy bèn cầm quân dẹp loạn, rồi bay lên trời đi mất, hiệu là Xung Thiên Vương,
dân lập đền miếu để thờ.” (An Nam chí lược).
Theo Đại Việt sử kí toàn thư: “Đời Hùng Vương thứ 6, ở hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh có
người nhà giàu, sinh một con trai, đến năm hơn ba tuổi ăn uống béo lớn nhưng không biết
nói cười. Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, vua sai người đi tìm người có thể đánh lui
được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo mẹ ra mời thiên sứ vào, nói: "Xin cho
một thanh gươm, một con ngựa, vua không phải lo gì". Vua ban cho gươm và ngựa, đứa
trẻ liền phi ngựa vung gươm tiến lên trước, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở chân
núi Vũ Ninh . Quân giặc tự quay giáo đánh lẫn nhau, chết rất nhiều, bọn sống sót đều rạp
lạy, tôn gọi đứa trẻ ấy là thiên tướng, liền đến xin hàng cả. Đứa trẻ phi ngựa lên trời mà đi.
Vua sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để lập đền thờ, tuế thời cúng tế. Về sau, Lý
Thái Tổ phong là Xung Thiên Thần Vương. (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng).”
“Sáu đời Hùng vận vừa suy
Vũ Ninh có giặc mới đi cầu tài.
Làng Phù Đổng có một người
Sinh ra chẳng nói, chẳng cười trơ trơ.
Những ngờ oan trái bao giờ,
Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân.
Nghe vua cầu tướng ra quân,
Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần khích ngang.
Lời thưa mẹ, dạ cần vương,
Lấy trung làm hiếu một đường phân minh.
Sứ về tâu trước thiên đình,
Gươm vàng, ngựa sắt đề binh tiến vào.
Trận mây theo ngọn cờ đào,
Ra uy sấm sét, nửa chiều giặc tan.
Áo nhung cởi lại Linh San,
Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên.
Miếu đình còn dấu cố viên.
Chẳng hay chuyện cũ lưu truyền có không?”
(Đại Nam quốc sử diễn ca)
2.2 Hội Gióng ở đền Phù Đổng
Hiện nay, hội Gióng được tổ chức ở nhiều khu vực thuộc Hà Nội, nổi bật nhất là lễ hội
ở đền Phù Đổng (nơi Thánh Gióng sinh ra) và lễ hội ở đền Sóc (nơi Thánh dừng chân cuối
cùng trước khi bay về trời).
Hội Gióng đền Phù Đổng (huyện Gia Lâm, Hà Nội) được tổ chức từ ngày mồng 6 đến 12
tháng âm lịch, trong đó ngày lễ chính diễn ra vào ngày mồng 9. Trước ngày diễn ra hội,
Hội Gióng đền Phù Đổng 4
dân làng tổ chức nhiều trò chơi như vật, chọi gà, đánh cờ, hát, đặc biệt là hát Ải Lao- một
tập tục cổ. Do tầm quan trọng của truyền thuyết và nhân vật Thánh Gióng trong việc nuôi
dưỡng ý chí, sức mạnh và lòng yêu nước của người Việt mà hội Gióng cũng có ý nghĩa rất
đặc biệt trong đời sống sinh hoạt cổ truyền Việt Nam, vì thế mà dân gian có câu ca dao:
“Ai ơi mùng chín tháng tư
Không đi Hội gióng cũng hư mất người”
2.2.1 Khu di tích Phù Đổng
Khu di tích Phù Đổng trước kia “nằm trên khu vực làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh
Bắc Ninh, bên tả ngạn sông Đuống”. Ngày nay, khu di tích thuộc về xã Phù Đổng, huyện
Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Một điều thú vị là vùng đất Gia Lâm cũng là nơi sinh ra của
Thánh Đức Chử Đồng Tử, một trong “Tứ bất tử” bên cạnh Đức Thánh Gióng. Như vậy, có
thể nói đây chính là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, cái nôi sinh ra những anh tài của Đất nước.
Khu di tích bao gồm nhiều công trình đền, chùa, đình, miếu quy tụ thành một khu vực
tham quan rộng và phong phú:
❖Đền Thượng: Đền Thượng hay còn gọi là đền Phù Đổng là nơi thờ phụng Thánh
Gióng. Theo truyền thuyết, nơi đây đã có từ đời Hùng Vương thứ 6, được xây
dựng trên nền nhà cũ của mẹ Thánh Gióng. Đến thế kỷ 11, sau khi dời đô từ Hoa
Lư ra Thăng Long, vua Lý Công Uẩn đã cho tu bổ thêm với tên gọi là đền Hiển
Linh, truy tôn anh hùng Gióng là Xung Thiên Đổng Thiên vương Thánh Vị đồng
thời ra lệnh tổ chức hội Gióng.
Ngay trước sân đền, sát chân đê có ao Rối, hằng năm là địa điểm tổ chức múa rối
nước vào ngày hội. Dưới bóng cây đa cổ thụ, trên mặt ao là ngôi thủy đình được
dựng theo kiểu mái chồng thời Lê Trung hưng (thế kỷ 17) với nhiều mảng chạm
khắc tinh vi trên gỗ, đề tài là cảnh sinh hoạt dân gian như người chăn dê, người
thổi ống xì đồng…được dùng làm nhà múa rối nước.
Hội Gióng đền Phù Đổng 5
Ảnh: HanoitvOnline Ngôi đền nhìn từ trên cao
Qua sân gạch đến nghi môn bề thế được xây vào cuối thế kỷ 19. Phía trước là đôi
rồng đá khắc dòng chữ cho biết niên đại tạo tác là năm Ất Dậu, niên hiệu Vĩnh
Thịnh (năm 1705), dưới triều vua Lê Dụ Tông. Phía sau có đôi sư tử đá có cùng
niên đại. Tiếp đến là nhà thiêu hương có kiến trúc giống thủy đình nhưng nhỏ hơn.
Ảnh HanoitvOnline Cận cảnh rồng đá được chạm khắc tỉ mỉ
Nằm sát nhà thiêu hương là hai nhà tiền tế do Điền Quận công Nguyễn Huy,
người làng Phù Dực, và Trạng nguyên Đặng Công Chất cùng người làng Phù
Đổng đứng ra hưng công xây dựng. Đáng chú ý là 39 viên gạch chạm khắc hình
Hội Gióng đền Phù Đổng 6
rồng được lát ở bậc thềm dẫn vào cung. Hai ngôi nhà 3 gian phía Đông do Tuyên
phi Đặng Thị Huệ - chính cung của chúa Trịnh Sâm cung tiến (thế kỷ XVIII).
Trong hậu cung có tượng thánh Gióng cao 3m, hai bên có 6 tượng quan văn - võ, 2
phỗng quỳ và 4 viên hầu cận “tứ trấn”.
Trong đền còn có nhiều vật dụng giá trị: Chiếc ngai thờ từ thời Lê Trung Hưng
được chạm khắc tinh xảo; đôi chim mang phong cách Trung Hoa do Đặng Thị Huệ
cung tiến; bình hương, nghê đồng, hai thanh kiếm, câu đối do anh em đại thi hào
Nguyễn Du cung tiến năm 1818.
❖Đền Hạ: Đền Hạ hay còn gọi là đền Mẫu hay Thánh Mẫu, nằm ngoài đê, ở phía
đông đền Thượng, là nơi thờ tự mẹ Đức Thánh Gióng, “Đây là di tích nằm ở
khoảnh đất cao phía ngoài đê, có đủ nghi môn, hồ bán nguyệt và khu thờ tự gồm
hai nhà tiền tế, hậu cung (mới phục dựng năm 1983), xung quanh cây cối đại thụ
um tùm. Ngay trước cửa đền là ao hình bầu dục (vốn là chiếc giếng đất), nơi hàng
năm được dân làng rước kiệu đến lấy nước (lễ rước nước) về đền Thượng làm lễ
rửa binh khí.” (Nguyễn Chí Bền, 2017).
❖Chùa Kiến Sơ: Nằm sát đền Thượng (có thể gộp vào đền Thượng). Năm 820, thời
nhà Đường, thiền sư Vô Ngôn Thông từ Trung Hoa sang tu tại đây. Vua Lý Công
Uẩn thuở còn hàn vi, đã từng đến ở tại chùa và được Thánh Gióng báo mộng về
lịch sử triều đại nhà Lý.Sau khi lên ngôi vua, ông cho tu bổ lại chùa và tổ chức lễ hội.
Ảnh Addflag.com Quan cảnh chùa Kiến Sơ
Chùa hiện có nhiều tượng có giá trị nghệ thuật, trong đó có các pho tượng được
cho là của Vô Ngôn Thông và vua Lý Công Uẩn. Dọc hành lang chùa có tượng
của 18 vị La Hán, sau chùa còn có hang động được đắp vô cùng đặc biệt.
Hội Gióng đền Phù Đổng 7
❖Miếu Ban: Tên chữ là “Dục Linh từ”, nằm ở phía tây đền Thượng, trong xóm Ban.
Nơi đây cũng là nơi thờ Thánh Mẫu. Tương truyền rằng đây là nơi Thánh Gióng
được sinh ra, được mẹ đặt trên sập đá và tắm trong thống đá. Ngoài ra, còn có liềm
đá được cho là dao cắt rốn của Thánh Gióng, nhưng hiện đã không còn.
❖Cố Viên: Cố Viên (vườn xưa), nơi đây trước kia là vườn rau, là nơi mẹ Gióng ướm
chân mình vào dấu chân của người khổng lồ và sinh ra Gióng.
❖Giá ngự: Gồm hai cột trụ và một bệ được xây dựng vào đầu thế kỷ 20.
❖Mộ Trần Đô Thống: Theo truyền thuyết, Trần Đô Thống là một tướng của Đức
Thánh Gióng, cầm đao tiên phong đánh giặc Ân. Mộ được xây ở xóm Vận Hang, trước đền Thượng.
2.2.2 Các hoạt động diễn ra hội Gióng
Hội Gióng được cử hành trên một diễn trường dài khoảng 3 km, gồm đền Thượng, đền
Mẫu và chùa Kiến Sơ. Thường 5 năm một lần, vào năm chẵn thì tổ chức hội chính (từ ngày
6 đến 12/4 âm lịch); còn các năm lẻ thì tổ chức vào ngày 9/4. Các hoạt động trong lễ hội
bao gồm phần Lễ và phần Hội. Phần Lễ bao gồm: Lễ tế Thánh tại Đền Thượng, ngoại đàn
tại sân Đền Thượng, Lễ dâng hương, Rước khám đường, Lễ rước cỗ, Hội trận truyền thống
tại Soi Bia. Còn phần Hội sẽ có các hoạt động quảng bá du lịch địa phương, hoạt động văn
hoá, thể thao như: Giải vật dân tộc, thi đấu cờ tướng, hát tuồng, hát quan họ…
Các làng sẽ phân công công việc cần làm trong hội: Phù Dực, Phù Đổng thay nhau làm
giáp kéo hội (đăng cai) được cử các tướng Văn Lang, các đội cận vệ binh. Đổng Viên,
Đổng Xuyên cử đội quân báo, quân lương. Còn Hội Xá đến với phường múa hát Ải Lao,
Tùng Choặc và diễn trò bắt hổ.
Công việc hội cụ thể của làng sẽ do các giáp phân công: làng Phù Đổng có 6 giáp gồm
Đông, Đoài, Ban, Phú, Chợ, Bộ còn 4 giáp của làng Phù Dực là Nông, Gạo, Tòa, Me.
Mười giáp này thay nhau làm chủ tế, giáp nào làm chủ tế thì phụ trách tổ chức hội năm đó.
Ngày mồng 1/3 âm lịch, giáp chủ hội sửa trầu cau ra đến dâng Thánh và nhận số về để
chuẩn bị hội. Công việc được phân công ngay sau đó bởi giáp chủ tế (giáp hội trưởng) sẽ
chọn ra các tướng lĩnh chỉ huy đội quân đánh giặc một ông Hiệu cờ, một ông Hiệu chiêng,
một ông Hiệu trống, một ông Hiệu trung quán, 2 ông Hiệu tiểu cổ, nhiệm vụ của các ông Hiệu là:
+ Ông Hiệu cờ được tượng trưng cho ông Giống, trong hội ông cắm cờ thể hiện trận
đánh của ông Giống với giặc Ân bằng nghệ thuật múa cờ. Hiệu cờ có vai trò quan
trọng nhất trong 6 ông hiệu
+ Hiệu chiêng: người chỉ huy quân lính bằng động tác múa đánh chiêng.
+ Hiệu trống: người chỉ huy quân lính bằng động tác múa đánh trống. (Hiệu chiêng
và Hiệu trống phải phối hợp sao cho tiếng chiêng và tiếng trống ăn nhịp với nhau
một cách oai nghiêm, dõng dạc.)
Hội Gióng đền Phù Đổng 8
+ Hiệu trung quân được coi là tổng chỉ huy dưới quyền ông Giống, ông dùng một
trống khẩu để làm hiệu.
+ Hai Hiệu tiểu cổ là hai chỉ huy quân lính tiên phong
Các ông Hiệu trong hội đều có 2 người cầm lọng che 2 bên, riêng ông Hiệu cờ được che 4
lọng, vi tượng trưng cho Thánh Gióng.
Lưu ý: Tất cả những ông hiệu này phải là trai tráng khỏe mạnh, không vướng tang chế, nếu
có vợ thì không được trên 30 tuổi.
Ảnh: Báo nhân dân Ông Hiệu cờ
Các giáp trong 4 làng cùng chọn lấy 150 thanh niên trai tráng tuổi từ 18 đến 35, chia làm
10 đạo quân mỗi đạo gồm 15 người chỉ huy (xưởng suất). Quân lính này gọi là phù giá
ngoại. Phù giá ngoại cởi trần. đóng khố có dải quang chéo qua vai quát ra sau lưng và thắt
nút ở cạnh sườn, đầu đội mũ đen, đằng trước có hình thêu, đằng sau có miếng vải phủ
xuống gây, xướng suất thì mặc áo dài xanh. Làng Phù Đổng chọn ra thêm 12 trai tráng gọi
là phù giá nội, Trong ngày hội, 12 phủ giá nội mặc áo dài màu đỏ và đen (còn gọi là làng
áo đỏ, lãng áo đen) tay cầm roi song đi theo Hiệu tiểu cổ, dẫn đầu đoàn quân.
Sáng ngày rằm tháng 3, giáp chủ hội dẫn các ông Hiệu ra đến lễ trình diện với Đức Thánh.
Từ đây, các ông Hiệu bắt đầu cách ly với bên ngoài trong vòng một tháng, ở trong nhà cầu
của đền và chỉ tiếp xúc với thầy của mình, đối với ông Hiệu cờ thì càng nghiêm ngặt hơn.
Ngày 15/3 cũng là ngày các ông Hiệu nhận đồ dùng của mình:
+ Hiệu cờ nhận cờ lệnh, mũ rồng, áo thụng, áo chẽn.
+ Hiệu trung quân nhận trống khẩu, quần áo thụng đỏ, mũ
+ Hiệu chiêng nhận chiêng, dùi, quần áo thụng, mũ
+ Hiệu tiểu cổ nhận trống khẩu, quần áo chẽn, mũ.
Sau khi nhận những đồ vật được giao tại đền trước mặt chức sắc trong làng, các ông Hiệu
về nhà bắt đầu luyện tập theo sự hướng dẫn của thầy. Ông Hiệu cờ tập múa cờ, Hiệu
chiêng, Hiệu trống tập đánh chiêng, trống cho thật đúng động tác. Cờ lệnh của Hiệu cờ tập
là cờ của năm ngoái, xong hội lá cờ được chia nhỏ từng phần cho chức sắc và các ông Hiệu
Hội Gióng đền Phù Đổng 9
để lấy may. Có ông Hiệu phất trong ngày hội là lá cờ mới may, ông Hiệu cờ chỉ được nhận
cờ lệnh vào trưa ngày mồng 9 trước khi xuất quân đánh giặc.
Ảnh Toquoc.vn Lá cờ lệnh
Cờ lệnh bằng lụa đỏ chiều ngang 35 phân, chiều dài 2 mét 45 phân, cờ được may theo tỷ lệ
bề ngang 1 vuông, bề dài 7 vuông lụa như quy định, giữa cờ có chữ “Lệnh”.
Suốt từ ngày 15/3, từ tướng đến quân đều phải luyện tập. Khó khăn nhất là Hiệu cờ, phải
tập sao cho động tác múa mang tính nghệ thuật cao, vì đây là nghi lễ quan trọng nhất trong hội.
Ngày 25/3 giáp chủ hội phân công người dọn dẹp ở các đền, miếu cho sạch sẽ, đồ thờ được
lau rửa, đường sá cũng phải sửa sang, dọn đường cho trận đánh sắp tới và cũng để đón
khách thập phương về dự hội.
Đến đầu tháng tư bắt đầu duyệt đội ngũ, cờ lệnh mới đã được may và người ta chọn ngày
tốt để một người đỗ đạt trong làng viết chữ “Lệnh" vào gần phần giữa lá cờ.
28 cô gái từ độ tuổi 11 đến 13, xinh đẹp và đặc biệt là chưa chồng sẽ được chọn từ các giáp
(trừ giáp chủ hội) tượng trưng cho 28 đạo quân của giặc. Hai cô gái đẹp nhất sẽ đóng vai tướng nhất và nhì.
Ngày mồng 5/4 tất cả phải tập trung ở đền Gióng để tổng duyệt.
Ngày mồng 6/4 hội bắt đầu:
+ Buổi sáng các cụ thắp hương ở đến Thượng, đến Mẫu, miếu Ban.
Hội Gióng đền Phù Đổng 10
+ Buổi chiều làng làm lễ rước nước, hai cái chum quý vẫn để ở hậu cung được đặt
lên kiệu và rước đến đền Mẫu. Đây cũng là lễ rước nước cầu mưa để mùa màng
tươi tốt, cầu mong mọi điều tốt lành. Ngày mồng 7/4:
+ Buổi sáng cờ lệnh mới may được rước đến đền Mẫu để trình Mẫu.
+ Buổi trưa cúng cơm cà ở đền Mẫu rồi từ đến Mẫu rước cơm cà về đền Thượng để ông Gióng cùng hưởng.
+ Buổi chiều rước khám đường với mục đích kiểm tra thăm dò xem trận địa, đường
xá đã được chuẩn bị thế nào.
Ngày mồng 8/4 là ngày duyệt đội ngũ tướng giặc, hai viên chánh, phó tưởng hôm nay
mới được chọn và xếp theo thứ tự tưởng nhất (tướng đốc) là cô xinh nhất, theo sau là
tướng nhì (tướng ngựa). Chức dịch trong làng có quyển chỉ định hai viên tướng này và
trao cho mỗi cô một thanh gươm.
Ngày mồng 9/4 là chính hội:
+ Lễ dâng rượu tế Thánh: rượu tế Thánh là rượu nếp.
+ Lễ rước cờ từ đền Mẫu về đền Thượng.
Tiếp đó, phường Ải Lao múa hát làm lễ trước bàn thờ. Hổ làm lễ chào trước, phường Ải
Lao hát sau. Có tổng cộng 12 khúc hát. Cùng lúc đó, 28 tướng giặc Ân đã tiến ra xếp
hàng trên đê phía Đống Đàm bày trận định đánh úp quân ta. Các ông Hiệu cũng đang trên
đường từ nhà tập trung đến đền. Ông Hiệu nào đến trước thì làm lễ chào thánh trước bàn
thờ rồi sang danh của mình ở nhà giải vũ để ngồi. Riêng ông Hiệu cờ lễ thánh cuối cùng.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hương Liên đã miêu tả chi tiết trận đánh trong ngày hội trong “Khảo
sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ” như sau:
“Ông Hiệu cờ đưa 2 tay có lót khăn cầm lấy cán cờ đã được dựng sẵn trên giá gỗ cạnh
ban thờ, lá cờ được cuốn trong bao cờ màu đỏ thêu rồng phương, cân cờ bằng gỗ sơn đỏ.
Ông Hiệu cầm cán cờ múa tạ trước ban ba cái rồi quay ra. Thế là ông đã sẵn sàng ra trận
sau khi nhận cờ lệnh của Đức Thánh. Ngoài sân ông Hiệu chiêng múa dùi đánh 3 hồi
chiêng, tiếp đến Hiệu trống dồng dục đánh 3 hồi trống thông báo đoàn quân đã đến giờ
lên đường. Hai tướng tiên phong là Hiệu tiểu cổ đi trước, các ống mặc áo đỏ, quần chẽn
vùng, đội mũ rồng, cấm trống khẩu đi dưới lọng che, sau Hiệu tiểu cổ là 12 em trai được
gọi là làng áo đỏ, làng áo đen cầm roi song sơn đen. Tiếp đến Hổ cùng phương Ải lao,
ông Hiệu trống di dưới hai lọng theo sau là quân lính khiêng trống. Hiệu chiêng đi sau
cùng quân lính và chiêng. Hiệu trung quân rồi đến Hiệu cờ với 4 lọng che và sau đó là
long giá (ngựa gỗ màu trắng), một chiếc hòm nhỏ đựng đồ dùng của thánh và cuối cùng
là đội quân xếp hàng hai hối hả hành quân…Đoàn người dừng lại. Ba hồi chiêng và ba
hồi trống dõng dạc cất lên báo hiệu đại quân đã đến. Hiệu tiểu cổ đáp lại bằng một hồi
trống khẩu trong khi phường Ải lao gõ trống, gõ sinh tiền, chia làm hai hàng di ngược
chiều nhau ở hai bên chiếu vừa đi vừa hát. Sau đô Hiệu cờ cắm cờ đến chiếc chiếu thứ
nhất, cụ chủ tế tiến đến mở bao cờ. Hiệu cờ phất nhanh lá cờ, hàng trăm bướm giấy màu
trắng và những mảnh gỗ trầm hương nhỏ để sẵn trong bao cờ tung lên theo lá cờ và rơi lả
tả xuống, dân chúng reo hò xông lên nhặt lấy để làm khước, lúc này làng áo đen và áo đỏ
quất roi vun vút vào không khí để thị uy lấy lại trật tự. Hiệu cờ bắt đầu vào trận, ông cầm
Hội Gióng đền Phù Đổng 11
cờ tay trái, đá chân trái, chuyển cờ sang tay phải đá chân phải, sau đó tiến lên ba bước
đến giữa chiếu, các tướng giặc lúc này đều đứng dậy trên kiệu tỏ ý nghênh chiến… Điệu
múa cờ chấm dứt cũng là lúc chiêng trống dồn dập đổ hồi mừng chiến thắng . Phường Ải
lao phấn khởi hát múa. Đoàn nữ tướng nhà Ân quay kiệu rút lui tỏ ý đã thua trận. Sau ba
hồi chiêng trống thu quân, tất cả đám rước lại theo thứ tự quay về đến Thượng, qua đền
Mẫu người ta đốt một tràng pháo để cho Mẫu biết Thánh Gióng đã thắng trận trở về.” Ảnh Hanoimoi.com
Ngày mồng 10/4 làng làm lễ tạ thần, kiểm tra binh khí, lễ này gọi là rước văn.
Ngày 11/4 là lễ rửa tội, người ta lại rước nước giếng từ đền Mẫu về để rửa binh khí cất đi.
Trong hội có nhiều trò chơi cho dân làng và khách thập phương: vật, chọi gà, múa rối…
Ngày 13/4 có rước cắm cờ, đó là quân ta đi kiểm tra lại chiến trưởng từ Đống Đàm đến
Soi Bia xem còn tên giặc nào ẩn náu nữa không, kiểm tra đến đâu cắm cờ trắng đến đấy
để thông báo cho mọi người biết kẻ thù đã thật sự đầu hàng. 3. LỜI KẾT
“Hồng Bàng là tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười,
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.”
(Hồ Chí Minh- Lịch sử nước ta)
Hội Gióng đền Phù Đổng 12
Hình tượng Thánh Gióng đã trở thành một “Tứ bất tử” trong sinh hoạt dân gian người
Việt cùng với sức mạnh, ý chí chiến đấu bảo vệ đất nước và khát vọng hòa bình, tự do
dân tộc. Lễ hội Thánh Gióng là một nét văn hóa dân gian có tầm ảnh hưởng vô cùng quan
trọng trong đời sống tín ngưỡng của người Việt và đã được phát triển và bảo tồn qua hàng
ngàn năm lịch sử đất nước.