Hội nghị đảng - Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam | Đại học Tôn Đức Thắng

Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tênlà Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh thay cho Mặt trận dân tộcthống nhất phản đế Đông Dương đã không còn thích hợp với tình hình mới. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!

Trường:

Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu

Thông tin:
8 trang 4 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Hội nghị đảng - Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam | Đại học Tôn Đức Thắng

Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tênlà Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh thay cho Mặt trận dân tộcthống nhất phản đế Đông Dương đã không còn thích hợp với tình hình mới. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!

54 27 lượt tải Tải xuống
CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM 1939-1945
1.Nghị quyết hội nghị ban chấp hành trung ương đảng lần thứ 6(11-1939)
Khi chiến tranh thế giới thứ hau bùng nổ thực dân Pháp ở Đông dương
tiến hành khủng bố Đảng Cộng sản Đông Dương và đoàn thể quần chúng
Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp trong
ba ngày 6, 7, 8-11-1939, nhằm giải quyết vấn đề chuyển hướng đường lối và
phương pháp cách mạng trong tình hình mới.
Hội nghị được tổ chức tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định). Dự hội nghị có
các đồng chí Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn..., đồng chí Nguyễn Văn Cừ
- Tổng Bí thư của Đảng, chủ trì Hội nghị.
Hội nghị phân tích tính chất của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai: đây là
cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn đế quốc nhằm tranh giành, chia lại thị trường
thế giới. Thủ phạm chính của cuộc chiến tranh là phát xít Đức - Ý - Nhật. Các
nước đế quốc trong khi đánh nhau đều có âm mưu xoay cuộc chiến chĩa mũi
nhọn vào Liên Xô.
Hội nghị nhận định: chiến tranh thế giới sẽ gieo đau thương tai họa ghê
gớm cho loài người "thế giới sẽ là cái lò sát sinh lớn! Nhân loại sẽ phải chịu một
số kiếp vô cùng thê thảm".
Về tình hình Đông Dương, Hội nghị nhận định Đông Dương sẽ bị lôi kéo
vào guồng máy chiến tranh. Toàn bộ đời sống xã hội của các giai cấp, các dân
tộc ở Đông Dương bị đảo lộn. Hội nghị phân tích rõ thái độ từng giai cấp trong
xã hội, xu hướng chính trị của các đảng phái, tôn giáo.
Hội nghị kết luận: mối liên quan lực lượng các giai cấp như sau:
+ Một bên là đế quốc Pháp cầm hết quyền kinh tế chính trị dựa vào bọn vua
quan bổn xứ thối nát và bọn chó săn phản bội dân tộc.
+ Một bên là tất cả các dân tộc bổn xứ bị đế quốc chủ nghĩa Pháp áp bức như
trâu ngựa và đẽo rút xương tuỷ... Những thảm trạng do đế quốc chiến tranh gây
nên sẽ làm cho trình tự cấp tiến hoá và cách mệnh hoá của quần chúng hết sức
mau chóng... Cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị gây nên bởi đế quốc chiến
tranh lần này sẽ nung nấu cách mệnh Đông Dương nổ bùng...".
1.1.Nhiệm vụ cách mạng
Sau khi phân tích rõ mâu thuẫn chủ yếu, gay gắt nhất ở Đông Dương, Hội
nghị xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là
đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông
Dương hoàn toàn độc lập. "Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương
không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp,
chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng
độc lập".
Nhằm tập trung mọi lực lượng phục vụ nhiệm vụ chủ yếu là chống chiến
tranh đế quốc, giành độc lập dân tộc, Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu
cách mạng ruộng đất, thay bằng khẩu hiệu "tịch ký ruộng đất của những địa chủ
phản bội quyền lợi dân tộc".
Hội nghị làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ phản đế và phản
phong, xác định rõ nhiệm vụ phản đế là quan trọng.
1.2.Lực lượng cách mạng
Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông
Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương, dựa trên cơ sở liên minh công
nông. Khẩu hiệu lập chính quyền Xôviết công, nông binh được thay thế bằng
khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hoà.
Về phương pháp cách mạng, Hội nghị quyết định chuyển từ đấu tranh đòi
quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế
quốc và tay sai, từ hoạt động hợp pháp nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và
bất hợp pháp “bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc".
Hội nghị đặc biệt chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, đề ra những
nguyên tắc và biện pháp cụ thể nhằm củng cố Đảng về mọi mặt. Phải thống nhất
ý chí và hành động, phải mật thiết liên lạc với quần chúng, phải có vũ trang lý
luận cách mạng phải lập tức khôi phục hệ thống tổ chức Đảng Trung - Nam -
Bắc, phải khuếch trương và củng cố cơ sở Đảng ở các thành thị, các trung tâm
điểm kỹ nghệ và các hầm mỏ, đồn điền, thực hiện tự phê bình và đấu tranh trên
hai mặt trận chống “tả" khuynh và "hữu” khuynh, đặc biệt chú trọng sự thống
nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng.
1.3.Phạm vi giải quyết vấn đề của dân tộc
Thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt
trận Dân chủ, nhằm đấu tranh đánh đổ thực dân Pháp, vua quan nhà Nguyễn và
bọn tay sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện tự do, bình đẳng, hòa bình và hạnh
phúc cho nhân dân.
Nhận xét:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939 đánh dấu bước phát
triển quan trọng về lý luận và đường lối phương pháp cách mạng của Đảng, thể
hiện sự nhạy bén về chính trị và năng lực sáng tạo của Đảng. Nghị quyết góp
phần làm phong phú kho tàng lý luận của Đảng ta về cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân.
2.Nghị quyết hội nghị ban chấp hành trung ương đảng lần thứ 7 (11-1940)
Quần chúng nung nấu căm hờn, khởi nghĩa Bắc Sơn đã nổ ra, nhân dân
Nam Kỳ đang ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa. Sau Hội nghị Trung ương tháng 11-
1939, nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng bị
sa vào tay giặc.
Trước tình hình ấy, Trung ương Đảng họp Hội nghị từ ngày 6 đến ngày 9-
11-1940, tại làng Đình Bảng (huyện Từ Sơn, Bắc Ninh). Tham dự Hội nghị có
các đồng chí Trường Chinh, Hạ Bá Cang, Hoàng Văn Thụ, Phan Đăng Lưu, Trần
Đăng Ninh.
Phân tích tình hình thế giới, Hội nghị nêu rõ: Cuộc chiến tranh thế giới
ngày càng lan rộng, đế quốc Pháp đã bại trận, phát xít Nhật thừa cơ mở rộng
chiến tranh, giành lấy những thuộc địa của Pháp, Anh, Mỹ ở Viễn Đông.
Hội nghị nhận định: "Cuộc đế quốc chiến tranh này rất có thể chuyển biến
thành cuộc chiến tranh giữa đế quốc với Liên Xô".
Về tình hình trong nước, Hội nghị nhận định, từ khi phát xít Pháp - Nhật
câu kết, áp bức bóc lột nhân dân ta, mâu thuẫn giữa chúng và toàn thể dân tộc
Việt Nam càng trở nên sâu sắc, một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy.
Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân
tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập".
Về tình hình Đảng và các hội quần chúng, Hội nghị chỉ rõ, từ khi Đảng ta
chủ trương lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thì nhiều nơi
lại xao nhãng việc tổ chức Công hội và Nông hội, chỉ chú trọng tổ chức Hội Phản
đế cứu quốc.
2.1.Nhiệm vụ cách mạng
Với những nhận định trên hội nghị khẳng định: "Tình thế hiện tại không
thay đổi gì tính chất cơ bản của cuộc cách mạng tư sản dân quyền Đông
Dương”, chủ trương chuyển hướng về chỉ đạo chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giải
phóng dân tộc, tạm rút khẩu hiệu cách mạng ruộng đất của Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 là đúng.
Pháp đầu hàng Nhật làm cho Đông Dương rơi vào cảnh “một cổ hai
tròng”, vừa bị thực dân Pháp đàn áp, vừa bị phát xít Nhật hành hạ.
Hội nghị chỉ rõ, kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là đế quốc
Pháp - Nhật.
2.2.Lực lượng cách mạng
Hội nghị quyết định hai vấn đề cấp thiết trước mắt:
+ Vấn đề thứ nhất, duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, thành lập những
đội du kích, dùng hình thức vũ trang công tác, xây dựng cơ sở cách mạng, khi
cần thiết thì chiến đấu chống địch khủng bố, tiến tới thành lập căn cứ du kích, lấy
vùng Bắc Sơn, Võ Nhai làm trung tâm, do Trung ương trực tiếp chỉ đạo. Đồng
chí Hoàng Văn Thụ chịu trách nhiệm thực hiện Nghị quyết này.
+ Vấn đề thứ hai, sau khi nghe báo cáo về tình hình Nam Bộ, Hội nghị chỉ
thị cho Xứ uỷ Nam Kỳ đình chỉ khởi nghĩa vũ trang ở Nam Bộ vì chưa có đủ điều
kiện chủ quan và khách quan bảo đảm giành thắng lợi. Đồng chí Phan Đăng
Lưu, Ủy viên Trung ương Đảng được giao nhiệm vụ truyền đạt chủ trương này
của Trung ương đến Đảng bộ Nam Kỳ.
Hội nghị cũng quyết định chắp mối liên lạc với Quốc tế Cộng sản và bộ
phận của Đảng ở nước ngoài.
2.3.Phạm vi giải quyết vấn đề của dân tộc
Nghị quyết Trung ương 7 còn xác định, tính chất của cách mạng Đông
Dương vẫn là cách mạng tư sản dân quyền với nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, diệt
trừ phong kiến, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập và người cày có ruộng.
Nghị quyết còn xác định, quyền lãnh đạo cách mạng tư sản dân quyền Đông
Dương là giai cấp công nhân Đông Dương.
Nhận xét:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 1-1940 sáng suốt nhận định
kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc đó là phát xít Pháp - Nhật, đồng thời
có chủ trương đúng về cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ.
3.Nghị quyết hội nghị trung ương đảng lần thứ 8 (5-1941)
Đảng cộng sản Việt Nam sau khi về nước một thời gian, với tư cách là đại
biểu Quốc tế Cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị
lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941.
Hội nghị tổ chức trong rừng Khuổi Nậm, thuộc Pác Bó (Hà Quảng - Cao
Bằng). Dự Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí
Kiên, Hoàng Quốc Việt, Vũ Anh và một số đồng chí khác.
Hội nghị phân tích nguồn gốc, đặc điểm, tính chất của cuộc Chiến tranh
thế giới thứ hai, từ đó nhận định phát xít Đức sẽ tấn công Liên Xô và chiến tranh
Thái Bình Dương sẽ bùng nổ.
Hội nghị dự đoán: nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đã đẻ ra Liên
Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra
nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công.
Hội nghị nhận định cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng
thế giới, của phong trào dân chủ chống phát xít.
Hội nghị chỉ rõ: Nhân dân Đông Dương phải chịu những hậu quả nặng nề
của cuộc chiến tranh thế giới, vì vậy thái độ chính trị của các giai cấp có thay đổi
khá lớn. Mâu thuẫn chủ yếu phải được giải quyết cấp bách lúc này là mâu thuẫn
giữa các dân tộc Việt Nam với bọn đế quốc phát xít Pháp - Nhật.
3.1.Nhiệm vụ cách mạng
Quyền lợi của bộ phận, của giai cấp, phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong
của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân
tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng
những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của
bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.
Hội nghị tiếp tục thực hiện chủ trương tạm gác khẩu hiệu đánh đổ địa chủ,
chia ruộng đất cho dân cày thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế
quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng công, giảm tô, giảm
tức.
Hội nghị xác định: phương pháp cách mạng là "cuộc cách mạng Đông
Dương kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang". Hội nghị quyết định phải xúc
tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, khi thời cơ đến “với lực lượng sẵn có
ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng
có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn".
3.2.Lực lượng cách mạng
Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt
là Việt Minh).
Quyết định đặt vấn đề dân tộc trong khuôn khổ của một nước Việt Nam,
Lào, Khơ me, thi hành đúng quyền “dân tộc tự quyết", với tinh thần liên hệ mật
thiết, giúp đỡ nhau giành thắng lợi...
Hội nghị đề ra nhiệm vụ xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh
đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Nghị quyết Hội nghị đề ra gấp rút đào tạo
cán bộ và tăng thêm thành phần vô sản trong Đảng.
3.3.Phạm vi giải quyết vấn đề của dân tộc
Hội nghị đã thống nhất đưa ra quyết định giải quyết vấn đề dân tộc trong
khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thi hành chính sách “dân tộc tự quyết”.
Sau khi đánh đuổi Pháp – Nhật, các dân tộc trên cõi Đông Dương sẽ “tổ chức
thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành lập quốc gia tùy ý”. “Sự
tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng”1 . Từ quan điểm
đó, Hội nghị đã quyết định thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng, thực hiện
đoàn kết từng dân tộc, đồng thời đoàn kết ba dân tộc chống kẻ thù chung.
Nhận xét:
Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh
chủ trương thay đổi chiến lược cách mạng được đề ra từ Hội nghị tháng 11-
1939, có ý nghĩa quyết định thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
4.Tiểu kết(1939-1945)
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, tháng 11/1939 quyết định thành lập Mặt
trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ, nhằm
đấu tranh đánh đổ thực dân Pháp, vua quan nhà Nguyễn bọn tay sai, giành
độc lập dân tộc, thực hiện tự do, bình đẳng, hòa bình hạnh phúc cho nhân
dân.
Sau Hội nghị Trung ương 6, tháng 11/1939), Nhật nhảy vào Đông Dương.
Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 7, tháng 11/1940. Nghị quyết Trung ương
7 nhận định việc Pháp đầu hàng Nhật làm cho Đông Dương rơi vào cảnh “một
cổ hai tròng”, vừa bị thực dân Pháp đàn áp, vừa bị phát xít Nhật hành hạ. Kẻ thù
nhân dân Đông Dương cần phải đánh đổ trong lúc này thực dân Pháp
phát xít Nhật.
Nghị quyết Trung ương 7 còn xác định, tính chất của cách mạng Đông
Dương vẫn cách mạng sản dân quyền với nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, diệt
trừ phong kiến, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập người cày có ruộng.
Nghị quyết còn xác định, quyền lãnh đạo cách mạng sản dân quyền Đông
Dương là giai cấp công nhân Đông Dương.
Trong thời gian này, ở Việt Nam nổ ra ba cuộc khởi nghĩa do nhân dân các
địa phương tiến hành: Khởi nghĩa Bắc Sơn, tháng 9/1940; Khởi nghĩa Nam Kỳ,
tháng 11/1940 và Khời nghĩa Đô Lương, tháng 9/1941.
Hội nghị Trung ương lần thứ 8, tháng 5/1941 do đồng chí Nguyễn Ái Quốc,
đại diện Quốc tế Cộng sản, triệu tập và chủ trì.
Nghị quyết Trung ương 8 cho rằng: “Trong lúc này, nếu không giải quyết
được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân
tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu,
quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được. Tất cả mọi
vấn đề của cách mạng, cả vấn đề điền địa phải nhằm vào mục đích ấy giải
quyết”.
Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tên
Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt Việt Minh thay cho Mặt trận dân tộc
thống nhất phản đế Đông Dương đã không còn thích hợp với tình hình mới.
Về phương pháp cách mạng, Hội nghị nhận định rằng “cuộc cách mạng
Đông Dương kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa trang”. Hội nghị chỉ rõ, khi
thời cơ đến, “với lực lượng sẵn có, ta thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng
phần trong từng địa phương, cũng thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho
một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”.
Tháng 2/1943, Nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp
Võng La (Đông Anh) nhận định “kẻ thù số một của dân tộc Đông Dương lúc này
không phải tất cả đế quốc chủ nghĩa chỉ đế quốc phát xít, đặc biệt phát
xít Nhật - Pháp”. Hội nghị chủ trương toàn bộ công tác của Đảng trong lúc này
phải nhằm vào việc chuẩn bị khởi nghĩa, giành chính quyền.
Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương.
Ngày 12/3/1945, Nghị quyết Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng
mở rộng ở Đình Bảng (Bắc Ninh) nêu rõ “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của
chúng ta”. Hội nghị nêu rõ: Cuộc đảo chính đã tạo ra một tình hình khủng hoảng
chính trị sâu sắc làm cho những điều kiện của cuộc khởi nghĩa trang mau
chóng đi đến chín muồi. Hội nghị xác định “đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính
- kẻ thù cụ thtrước mắt - duy nhất của nhân dân Đông Dương” quyết định
thay khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật - Pháp” trước đây bằng khẩu hiệu “Đánh
đuổi phát xít Nhật”. Hội nghị nhận định cao trào cách mạng đã bước vào thời kỳ
tiền khởi nghĩa,thế cần thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức
đấu tranh cho thích hợp để động viên đông đảo quân chúng tham gia kháng
Nhật cứu nước.
Chủ trương của Đảng thực hiện khởi nghĩa từng phần và xây dựng căn cứ
địa được thực tế chứng minh đúng. Căn cứ địa phát triển tới đâu, lực lượng
vũ trang, bán vũ trang phát triển tới đó. Đảng nêu cao quyết tâm: “Phải đem sức
ta mà giải phóng cho ta”.
Tháng 8/1945, tình thế trực tiếp cách mạng xuất hiện. Ngày 13/8/1945, Hội
nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương chính thức khai mạc Tân
Trào (Tuyên Quang). Tham dự Hội nghị đủ đại biểu các đảng bộ Bắc, Trung,
Nam và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài.
Sau khi phân tích những điều kiện chủ quan và khách quan, Hội nghị nhận
định “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và quyết định Đảng phải kịp thời
phát động lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ tay phát
xít Nhật bọn nhìn tay sai của chúng trước khi quân Đồng Minh vào Việt
Nam tước khí giới quân đội Nhật.
Sau ba ngày làm việc, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã bế mạc vào ngày
15/8/1945 trong không khí cả nước sôi sục khí thế tổng khởi nghĩa.
Ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội họp Tân Trào, tán thành chủ trương
Tổng khởi nghĩa của Đảng bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng do Bác Hồ làm
Chủ tịch…
Cách mạng tháng Tám 1945 cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Sức
mạnh của nhân dân trong cuộc cách mạng như triều dâng thác đổ. Chỉ trong 15
ngày, từ 14 đến 28/8, nhân dân các địa phương trong cả nước đã nổi dậy, giành
chính quyền thắng lợi. Quyền thống trị của bọn đế quốc Pháp, Nhật suốt gần
một trăm năm chế độ quân chủ tồn tại hàng nghìn năm đã bị nhân dân ta lật
đổ hoàn toàn.
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước hàng vạn đồng
bào Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố
với quốc dân thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập,
sự thật đã thành một nước tự do và độc lập”.
| 1/8

Preview text:

CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM 1939-1945
1.Nghị quyết hội nghị ban chấp hành trung ương đảng lần thứ 6(11-1939)
Khi chiến tranh thế giới thứ hau bùng nổ thực dân Pháp ở Đông dương
tiến hành khủng bố Đảng Cộng sản Đông Dương và đoàn thể quần chúng
Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp trong
ba ngày 6, 7, 8-11-1939, nhằm giải quyết vấn đề chuyển hướng đường lối và
phương pháp cách mạng trong tình hình mới.
Hội nghị được tổ chức tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định). Dự hội nghị có
các đồng chí Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn..., đồng chí Nguyễn Văn Cừ
- Tổng Bí thư của Đảng, chủ trì Hội nghị.
Hội nghị phân tích tính chất của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai: đây là
cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn đế quốc nhằm tranh giành, chia lại thị trường
thế giới. Thủ phạm chính của cuộc chiến tranh là phát xít Đức - Ý - Nhật. Các
nước đế quốc trong khi đánh nhau đều có âm mưu xoay cuộc chiến chĩa mũi nhọn vào Liên Xô.
Hội nghị nhận định: chiến tranh thế giới sẽ gieo đau thương tai họa ghê
gớm cho loài người "thế giới sẽ là cái lò sát sinh lớn! Nhân loại sẽ phải chịu một
số kiếp vô cùng thê thảm".
Về tình hình Đông Dương, Hội nghị nhận định Đông Dương sẽ bị lôi kéo
vào guồng máy chiến tranh. Toàn bộ đời sống xã hội của các giai cấp, các dân
tộc ở Đông Dương bị đảo lộn. Hội nghị phân tích rõ thái độ từng giai cấp trong
xã hội, xu hướng chính trị của các đảng phái, tôn giáo.
Hội nghị kết luận: mối liên quan lực lượng các giai cấp như sau:
+ Một bên là đế quốc Pháp cầm hết quyền kinh tế chính trị dựa vào bọn vua
quan bổn xứ thối nát và bọn chó săn phản bội dân tộc.
+ Một bên là tất cả các dân tộc bổn xứ bị đế quốc chủ nghĩa Pháp áp bức như
trâu ngựa và đẽo rút xương tuỷ... Những thảm trạng do đế quốc chiến tranh gây
nên sẽ làm cho trình tự cấp tiến hoá và cách mệnh hoá của quần chúng hết sức
mau chóng... Cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị gây nên bởi đế quốc chiến
tranh lần này sẽ nung nấu cách mệnh Đông Dương nổ bùng...".
1.1.Nhiệm vụ cách mạng
Sau khi phân tích rõ mâu thuẫn chủ yếu, gay gắt nhất ở Đông Dương, Hội
nghị xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là
đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông
Dương hoàn toàn độc lập. "Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương
không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp,
chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng độc lập".
Nhằm tập trung mọi lực lượng phục vụ nhiệm vụ chủ yếu là chống chiến
tranh đế quốc, giành độc lập dân tộc, Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu
cách mạng ruộng đất, thay bằng khẩu hiệu "tịch ký ruộng đất của những địa chủ
phản bội quyền lợi dân tộc".
Hội nghị làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ phản đế và phản
phong, xác định rõ nhiệm vụ phản đế là quan trọng.
1.2.Lực lượng cách mạng
Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông
Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương, dựa trên cơ sở liên minh công
nông. Khẩu hiệu lập chính quyền Xôviết công, nông binh được thay thế bằng
khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hoà.
Về phương pháp cách mạng, Hội nghị quyết định chuyển từ đấu tranh đòi
quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế
quốc và tay sai, từ hoạt động hợp pháp nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và
bất hợp pháp “bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc".
Hội nghị đặc biệt chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, đề ra những
nguyên tắc và biện pháp cụ thể nhằm củng cố Đảng về mọi mặt. Phải thống nhất
ý chí và hành động, phải mật thiết liên lạc với quần chúng, phải có vũ trang lý
luận cách mạng phải lập tức khôi phục hệ thống tổ chức Đảng Trung - Nam -
Bắc, phải khuếch trương và củng cố cơ sở Đảng ở các thành thị, các trung tâm
điểm kỹ nghệ và các hầm mỏ, đồn điền, thực hiện tự phê bình và đấu tranh trên
hai mặt trận chống “tả" khuynh và "hữu” khuynh, đặc biệt chú trọng sự thống
nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng.
1.3.Phạm vi giải quyết vấn đề của dân tộc
Thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt
trận Dân chủ, nhằm đấu tranh đánh đổ thực dân Pháp, vua quan nhà Nguyễn và
bọn tay sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện tự do, bình đẳng, hòa bình và hạnh phúc cho nhân dân. Nhận xét:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939 đánh dấu bước phát
triển quan trọng về lý luận và đường lối phương pháp cách mạng của Đảng, thể
hiện sự nhạy bén về chính trị và năng lực sáng tạo của Đảng. Nghị quyết góp
phần làm phong phú kho tàng lý luận của Đảng ta về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
2.Nghị quyết hội nghị ban chấp hành trung ương đảng lần thứ 7 (11-1940)
Quần chúng nung nấu căm hờn, khởi nghĩa Bắc Sơn đã nổ ra, nhân dân
Nam Kỳ đang ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa. Sau Hội nghị Trung ương tháng 11-
1939, nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng bị sa vào tay giặc.
Trước tình hình ấy, Trung ương Đảng họp Hội nghị từ ngày 6 đến ngày 9-
11-1940, tại làng Đình Bảng (huyện Từ Sơn, Bắc Ninh). Tham dự Hội nghị có
các đồng chí Trường Chinh, Hạ Bá Cang, Hoàng Văn Thụ, Phan Đăng Lưu, Trần Đăng Ninh.
Phân tích tình hình thế giới, Hội nghị nêu rõ: Cuộc chiến tranh thế giới
ngày càng lan rộng, đế quốc Pháp đã bại trận, phát xít Nhật thừa cơ mở rộng
chiến tranh, giành lấy những thuộc địa của Pháp, Anh, Mỹ ở Viễn Đông.
Hội nghị nhận định: "Cuộc đế quốc chiến tranh này rất có thể chuyển biến
thành cuộc chiến tranh giữa đế quốc với Liên Xô".
Về tình hình trong nước, Hội nghị nhận định, từ khi phát xít Pháp - Nhật
câu kết, áp bức bóc lột nhân dân ta, mâu thuẫn giữa chúng và toàn thể dân tộc
Việt Nam càng trở nên sâu sắc, một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy.
Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân
tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập".
Về tình hình Đảng và các hội quần chúng, Hội nghị chỉ rõ, từ khi Đảng ta
chủ trương lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thì nhiều nơi
lại xao nhãng việc tổ chức Công hội và Nông hội, chỉ chú trọng tổ chức Hội Phản đế cứu quốc.
2.1.Nhiệm vụ cách mạng
Với những nhận định trên hội nghị khẳng định: "Tình thế hiện tại không
thay đổi gì tính chất cơ bản của cuộc cách mạng tư sản dân quyền Đông
Dương”, chủ trương chuyển hướng về chỉ đạo chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giải
phóng dân tộc, tạm rút khẩu hiệu cách mạng ruộng đất của Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 là đúng.
Pháp đầu hàng Nhật làm cho Đông Dương rơi vào cảnh “một cổ hai
tròng”, vừa bị thực dân Pháp đàn áp, vừa bị phát xít Nhật hành hạ.
Hội nghị chỉ rõ, kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là đế quốc Pháp - Nhật.
2.2.Lực lượng cách mạng
Hội nghị quyết định hai vấn đề cấp thiết trước mắt:
+ Vấn đề thứ nhất, duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, thành lập những
đội du kích, dùng hình thức vũ trang công tác, xây dựng cơ sở cách mạng, khi
cần thiết thì chiến đấu chống địch khủng bố, tiến tới thành lập căn cứ du kích, lấy
vùng Bắc Sơn, Võ Nhai làm trung tâm, do Trung ương trực tiếp chỉ đạo. Đồng
chí Hoàng Văn Thụ chịu trách nhiệm thực hiện Nghị quyết này.
+ Vấn đề thứ hai, sau khi nghe báo cáo về tình hình Nam Bộ, Hội nghị chỉ
thị cho Xứ uỷ Nam Kỳ đình chỉ khởi nghĩa vũ trang ở Nam Bộ vì chưa có đủ điều
kiện chủ quan và khách quan bảo đảm giành thắng lợi. Đồng chí Phan Đăng
Lưu, Ủy viên Trung ương Đảng được giao nhiệm vụ truyền đạt chủ trương này
của Trung ương đến Đảng bộ Nam Kỳ.
Hội nghị cũng quyết định chắp mối liên lạc với Quốc tế Cộng sản và bộ
phận của Đảng ở nước ngoài.
2.3.Phạm vi giải quyết vấn đề của dân tộc
Nghị quyết Trung ương 7 còn xác định, tính chất của cách mạng Đông
Dương vẫn là cách mạng tư sản dân quyền với nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, diệt
trừ phong kiến, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập và người cày có ruộng.
Nghị quyết còn xác định, quyền lãnh đạo cách mạng tư sản dân quyền Đông
Dương là giai cấp công nhân Đông Dương. Nhận xét:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 1-1940 sáng suốt nhận định
kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc đó là phát xít Pháp - Nhật, đồng thời
có chủ trương đúng về cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ.
3.Nghị quyết hội nghị trung ương đảng lần thứ 8 (5-1941)
Đảng cộng sản Việt Nam sau khi về nước một thời gian, với tư cách là đại
biểu Quốc tế Cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị
lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941.
Hội nghị tổ chức trong rừng Khuổi Nậm, thuộc Pác Bó (Hà Quảng - Cao
Bằng). Dự Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí
Kiên, Hoàng Quốc Việt, Vũ Anh và một số đồng chí khác.
Hội nghị phân tích nguồn gốc, đặc điểm, tính chất của cuộc Chiến tranh
thế giới thứ hai, từ đó nhận định phát xít Đức sẽ tấn công Liên Xô và chiến tranh
Thái Bình Dương sẽ bùng nổ.
Hội nghị dự đoán: nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đã đẻ ra Liên
Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra
nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công.
Hội nghị nhận định cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng
thế giới, của phong trào dân chủ chống phát xít.
Hội nghị chỉ rõ: Nhân dân Đông Dương phải chịu những hậu quả nặng nề
của cuộc chiến tranh thế giới, vì vậy thái độ chính trị của các giai cấp có thay đổi
khá lớn. Mâu thuẫn chủ yếu phải được giải quyết cấp bách lúc này là mâu thuẫn
giữa các dân tộc Việt Nam với bọn đế quốc phát xít Pháp - Nhật.
3.1.Nhiệm vụ cách mạng
Quyền lợi của bộ phận, của giai cấp, phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong
của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân
tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng
những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của
bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.
Hội nghị tiếp tục thực hiện chủ trương tạm gác khẩu hiệu đánh đổ địa chủ,
chia ruộng đất cho dân cày thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế
quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng công, giảm tô, giảm tức.
Hội nghị xác định: phương pháp cách mạng là "cuộc cách mạng Đông
Dương kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang". Hội nghị quyết định phải xúc
tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, khi thời cơ đến “với lực lượng sẵn có
ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng
có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn".
3.2.Lực lượng cách mạng
Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh).
Quyết định đặt vấn đề dân tộc trong khuôn khổ của một nước Việt Nam,
Lào, Khơ me, thi hành đúng quyền “dân tộc tự quyết", với tinh thần liên hệ mật
thiết, giúp đỡ nhau giành thắng lợi...
Hội nghị đề ra nhiệm vụ xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh
đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Nghị quyết Hội nghị đề ra gấp rút đào tạo
cán bộ và tăng thêm thành phần vô sản trong Đảng.
3.3.Phạm vi giải quyết vấn đề của dân tộc
Hội nghị đã thống nhất đưa ra quyết định giải quyết vấn đề dân tộc trong
khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thi hành chính sách “dân tộc tự quyết”.
Sau khi đánh đuổi Pháp – Nhật, các dân tộc trên cõi Đông Dương sẽ “tổ chức
thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành lập quốc gia tùy ý”. “Sự
tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng”1 . Từ quan điểm
đó, Hội nghị đã quyết định thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng, thực hiện
đoàn kết từng dân tộc, đồng thời đoàn kết ba dân tộc chống kẻ thù chung. Nhận xét:
Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh
chủ trương thay đổi chiến lược cách mạng được đề ra từ Hội nghị tháng 11-
1939, có ý nghĩa quyết định thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
4.Tiểu kết(1939-1945)
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, tháng 11/1939 quyết định thành lập Mặt
trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ, nhằm
đấu tranh đánh đổ thực dân Pháp, vua quan nhà Nguyễn và bọn tay sai, giành
độc lập dân tộc, thực hiện tự do, bình đẳng, hòa bình và hạnh phúc cho nhân dân.
Sau Hội nghị Trung ương 6, tháng 11/1939), Nhật nhảy vào Đông Dương.
Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 7, tháng 11/1940. Nghị quyết Trung ương
7 nhận định việc Pháp đầu hàng Nhật làm cho Đông Dương rơi vào cảnh “một
cổ hai tròng”, vừa bị thực dân Pháp đàn áp, vừa bị phát xít Nhật hành hạ. Kẻ thù
mà nhân dân Đông Dương cần phải đánh đổ trong lúc này là thực dân Pháp và phát xít Nhật.
Nghị quyết Trung ương 7 còn xác định, tính chất của cách mạng Đông
Dương vẫn là cách mạng tư sản dân quyền với nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, diệt
trừ phong kiến, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập và người cày có ruộng.
Nghị quyết còn xác định, quyền lãnh đạo cách mạng tư sản dân quyền Đông
Dương là giai cấp công nhân Đông Dương.
Trong thời gian này, ở Việt Nam nổ ra ba cuộc khởi nghĩa do nhân dân các
địa phương tiến hành: Khởi nghĩa Bắc Sơn, tháng 9/1940; Khởi nghĩa Nam Kỳ,
tháng 11/1940 và Khời nghĩa Đô Lương, tháng 9/1941.
Hội nghị Trung ương lần thứ 8, tháng 5/1941 do đồng chí Nguyễn Ái Quốc,
đại diện Quốc tế Cộng sản, triệu tập và chủ trì.
Nghị quyết Trung ương 8 cho rằng: “Trong lúc này, nếu không giải quyết
được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân
tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà
quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được. Tất cả mọi
vấn đề của cách mạng, cả vấn đề điền địa phải nhằm vào mục đích ấy mà giải quyết”.
Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tên
là Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh thay cho Mặt trận dân tộc
thống nhất phản đế Đông Dương đã không còn thích hợp với tình hình mới.
Về phương pháp cách mạng, Hội nghị nhận định rằng “cuộc cách mạng
Đông Dương kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”. Hội nghị chỉ rõ, khi
thời cơ đến, “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng
phần trong từng địa phương, cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho
một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”.
Tháng 2/1943, Nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở
Võng La (Đông Anh) nhận định “kẻ thù số một của dân tộc Đông Dương lúc này
không phải tất cả đế quốc chủ nghĩa mà chỉ là đế quốc phát xít, đặc biệt là phát
xít Nhật - Pháp”. Hội nghị chủ trương toàn bộ công tác của Đảng trong lúc này
phải nhằm vào việc chuẩn bị khởi nghĩa, giành chính quyền.
Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương.
Ngày 12/3/1945, Nghị quyết Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng
mở rộng ở Đình Bảng (Bắc Ninh) nêu rõ “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của
chúng ta”. Hội nghị nêu rõ: Cuộc đảo chính đã tạo ra một tình hình khủng hoảng
chính trị sâu sắc làm cho những điều kiện của cuộc khởi nghĩa vũ trang mau
chóng đi đến chín muồi. Hội nghị xác định “đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính
- kẻ thù cụ thể trước mắt - duy nhất của nhân dân Đông Dương” và quyết định
thay khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật - Pháp” trước đây bằng khẩu hiệu “Đánh
đuổi phát xít Nhật”. Hội nghị nhận định cao trào cách mạng đã bước vào thời kỳ
tiền khởi nghĩa, vì thế cần thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức
và đấu tranh cho thích hợp để động viên đông đảo quân chúng tham gia kháng Nhật cứu nước.
Chủ trương của Đảng thực hiện khởi nghĩa từng phần và xây dựng căn cứ
địa được thực tế chứng minh là đúng. Căn cứ địa phát triển tới đâu, lực lượng
vũ trang, bán vũ trang phát triển tới đó. Đảng nêu cao quyết tâm: “Phải đem sức
ta mà giải phóng cho ta”.
Tháng 8/1945, tình thế trực tiếp cách mạng xuất hiện. Ngày 13/8/1945, Hội
nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương chính thức khai mạc ở Tân
Trào (Tuyên Quang). Tham dự Hội nghị có đủ đại biểu các đảng bộ Bắc, Trung,
Nam và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài.
Sau khi phân tích những điều kiện chủ quan và khách quan, Hội nghị nhận
định “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và quyết định Đảng phải kịp thời
phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ tay phát
xít Nhật và bọn bù nhìn tay sai của chúng trước khi quân Đồng Minh vào Việt
Nam tước khí giới quân đội Nhật.
Sau ba ngày làm việc, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã bế mạc vào ngày
15/8/1945 trong không khí cả nước sôi sục khí thế tổng khởi nghĩa.
Ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào, tán thành chủ trương
Tổng khởi nghĩa của Đảng và bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng do Bác Hồ làm Chủ tịch…
Cách mạng tháng Tám 1945 là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Sức
mạnh của nhân dân trong cuộc cách mạng như triều dâng thác đổ. Chỉ trong 15
ngày, từ 14 đến 28/8, nhân dân các địa phương trong cả nước đã nổi dậy, giành
chính quyền thắng lợi. Quyền thống trị của bọn đế quốc Pháp, Nhật suốt gần
một trăm năm và chế độ quân chủ tồn tại hàng nghìn năm đã bị nhân dân ta lật đổ hoàn toàn.
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước hàng vạn đồng
bào Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố
với quốc dân và thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và
sự thật đã thành một nước tự do và độc lập”.