



















Preview text:
---- ----
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KHÁCH SẠN – DU LỊCH BÀI TH ẢO
LUẬN NHÓM KI NH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
Đề tài: Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
– lý luận và thực trạng
Giảng viên hướng dẫn: Võ Tá Tri
Lớp học phần : 2206RLCP1211
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
Hà Nam, tháng 3 năm 2022 LỜI MỞ ĐẦU
Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra một
cách rất mạnh mẽ về cả chiều rộng và chiều sâu, phạm vi tác động của nó hết sức rộng
lớn, tạo nên những biến chuyển rõ rệt trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị xã hội của
đời sống nhân loại. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, toàn cầu hóa kinh tế đã trở thành xu
thế tất yếu biểu hiện sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản suất, của phân công lao
động xã hội, làm cho phân công lao động trở nên sâu sắc và rộng khắp toàn cầu. Sự hợp
nhất về kinh tế giữa các quốc gia tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh tế chính trị
của các nước nói riêng và của thế giới nói chung. Theo đó, trên thế giới đã ra đời hàng
loạt các tổ chức liên kết thương mại toàn cầu, khu vực, liên khu vực như: EU, WTO, AFTA,…
Tình hình trên làm nảy sinh và thúc đẩy xu thế hội nhập để phát triển. Trong quá
trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, một mặt các nước phải thích nghi với những quy
tắc chung, mặt khác vừa phải bảo vệ chủ quyền quốc gia và lợi ích chính đáng của dân
tộc, chủ động hạn chế các tiêu cực, vượt qua khó khăn thách thức, khai thác các nhân tố
tích cực, tranh thủ thời cơ để phát triển kinh tế đất nước.
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. Theo xu thế chung của thế giới, Việt
Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đây không phải
là một mục tiêu nhiệm vụ nhất thời mà là vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền
kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như sau này. Cũng như các nước đang phát triển và các
nền kinh tế chuyển đổi với điểm xuất phát thấp, Việt Nam chúng ta gặp không ít khó khăn
trước sự cạnh tranh gay gắt và không cân sức mang tính toàn cầu, trước sự lấn át cả về
kinh tế lẫn chính trị của các nước tư bản lớn, các công ty xuyên quốc gia, … Chính vì
vậy, việc chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới càng trở nên cần thiết hơn
bao giờ hết. Trong quá trình hội nhập, Việt Nam đã tận dụng mọi ưu thế về cả nội lực lẫn
ngoại lực, đồng thời khắc phục những khó khăn thử thách để tạo thời cơ phát triển kinh tế.
Và, để góp phần làm sáng tỏ hơn vấn đề này, nhóm 8 chúng em sẽ nghiên cứu về đề
tài “Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam – lý luận và thực trạng.”
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT I.
KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1. Khái niệm và sự cần thiết khách quan hội nhập kinh tế quốc tế
a) Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế 1
Hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia là quá trình quốc gia đó thực hiện gắn
kết nền kinh tế của mình với nền kinh tế thế giới dựa trên sự chia sẻ lợi ích, đồng thời
tuân thủ các chuẩn mực quốc tế chung.
b) Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất, do xu thế khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế.
Toàn cầu hóa là quá trình tạo ra liên kết và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa
các quốc gia trên quy mô toàn cầu. Toàn cầu hóa diễn ra trên nhiều phương diện: kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, v.., trong đó, toàn cầu hóa kinh tế là xu thế nổi trội nhất, vừa là
trung tâm vừa là cơ sở và cũng là động lực thúc đẩy toàn cầu hóa các lĩnh vực khác. Toàn
cầu hóa kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới
quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động
và phát tán hướng tới một nên kinh tế thế giới thống nhất.
Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức phát triển phổ biến của các nước,
nhất là các nước đang và kém phát triển trong điều kiện hiện nay.
Đối với các nước đang và kém phát triển thì hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để tiếp cận
và sử dụng được các nguồn lực bên ngoài như tài chính, khoa học - công nghệ kinh
nghiệm của các nước cho phát triển. Khi các nước tự bản giàu có nhất, các công ty xuyên
quốc gia đang nắm trong tay những nguồn lực vật chất và phương tiện hùng mạnh nhất
để tác động lên toàn thế giới thì chỉ có phát triển kinh tế mở và hội nhập quốc tế, các nước
đang và kém phát triển mới có thể tiếp cận được những nguồn lực này cho quá trình phát triển của mình.
2. Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất, chuẩn bị các điều kiện để thực hiện hội nhập hiệu quả, thành công.
Hội nhập là tất yếu, tuy nhiên, đối với Việt Nam, hội nhập không phải bằng mọi giá.
Quá trình hội nhập phải được cân nhắc với lộ trình và cách thức tối ưu. Quá trình này đòi
hỏi phải có sự chuẩn bị các điều kiện trong nội bộ nền kinh tế cũng như các mối quan hệ
quốc tế thích hợp. Các điều kiện sẵn sàng về tư duy, sự tham gia của toàn xã hội, sự hoàn
thiện và hiệu lực của thể chế, nguồn nhân lực và sự am hiểu môi trường quốc tế, nền kinh
tế có năng lực sản xuất thực... là những điều kiện chủ yếu để thực hiện hội nhập thành công.
Thứ hai, thực hiện đa dạng các hình thức, các mức độ hội nhập kinh tế quốc tế. 2
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ. Theo đó, hội nhập kinh
tế quốc tế có thể được coi là nông, Sâu tùy vào mức độ tham gia của một nước vào các
quan hệ kinh tế đối ngoại, các tổ chức kinh tế quốc tế hoặc khu vực. Theo đó, tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế được chia thành các mức độ cơ bản từ thấp đến cao là: Thỏa
thuận thương mại ưu đãi (PTA), Khu vực mậu dịch tự do (FTA), Liên minh thuế quan
(CU), Thị trường chung thay thị trường duy nhất. Liên minh kinh tế - tiền tệ.
Xét về hình thức, hội nhập kinh tế quốc tế là toàn bộ các hoạt động kinh tế đối ngoại
của một nước gồm nhiề, hình thức đa dạng như: ngoại thương, đầu tư quốc tế, hợp tác
quốc tế, dịch vụ thu ngoại tệ... II.
TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẾN QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gia tăng sự liên hệ giữa nền kinh tế Việt Nam
với nền kinh tế thế giới. Do đó, một mặt, quá trình hội nhập sẽ tạo ra nhiều tác động tích
cực đối với quá trình phát triển của Việt Nam, mặt khác cũng đưa đến nhiều thách thức
đòi hỏi phải vượt qua mới có thể thu được những lợi ích to lớn từ quá trình hội nhập kinh tế thế giới đem lại.
1. Tác động tích cực của hội nhập quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ là tất yếu mà còn đem lại những lợi ích to lớn
trong phát triển của các nước, và những lợi ích kinh tế khác nhau cho cả người sản xuất
và người tiêu dùng. Cụ thể là:
Tạo điều kiện mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học - công nghệ, vốn, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trong nước
Hội nhập kinh tế quốc tế thực chất là mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại phát
triển, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước, tận dụng các lợi thế kinh tế của nước
ta trong phân công lao động quốc tế, phục vụ cho tiêu tăng trưởng kinh đổi mô hình tăng trưởng
Hội nhập kinh tế quốc tế là tiền đề cho hội nhập về văn hóa, tạo điều kiện để tiếp thu
những giá trị tinh hoa của thế giới, bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa,
văn minh của thế giới để làm giàu thêm văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Hội nhập kinh tế quốc tế còn tác động mạnh đến hội nhập chính-trị, tạo điều kiện cho
cải cách toàn diện hướng tới xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
xây dựng một xã hội mở, dân chủ, văn minh.
Hội nhập tạo điều kiện để mỗi nước tìm cho mình một vị trí thích hợp trong trật tự
quốc tế, nâng cao vai trò, uy tín và vị thế quốc tế của nước ta trong các tổ chức
chính trị, kinh tế toàn cầu. 3
Hội nhập kinh tế quốc tế giúp đảm bảo an ninh quốc gia, duy trì hòa bình, ổn định ở
khu vực và quốc tế để tập trung cho phát triển kinh tế xã hội; đồng thời mở ra khả
năng phối hợp các nỗ lực và nguồn lực của các nước để giải
2. Tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đưa lại những lợi ích, trái lại, nó cũng đặt ra
nhiều rủi ro, bất lợi và thách thức, đó là:
Hội nhập kinh tế quốc tế làm gia tăng sự cạnh tranh - gắt khiến nhiều doanh nghiệp
và ngành kinh tế của nước ta gặp khó khăn trong phát triển, thậm chí phá sản, gây
nhiều hậu quả bất lợi về mặt kinh tế - xã hội.
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể làm gia tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia
vào thị trường bên ngoài, khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động
khôn lường về chính trị, kinh tế và thị trường quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể dẫn đến phân phối không công bằng về lợi ích và rủi
ro cho các nước, các nhóm khác nhau trong xã hội, do vậy có nguy cơ làm tăng
khoảng cách giàu - nghèo và bất bình đẳng xã hội.
Hội nhập có thể làm gia tăng nguy cơ bản sắc và tộc và văn hóa truyền thống Việt
Nam bị xói mòn, bị “xâm lăng” của văn hóa nước ngoài.
Hội nhập có thể làm tăng nguy cơ gia tăng của tình trạng khủng bố quốc tế, buôn lậu,
tội phạm xuyên quốn gia, dịch bệnh, nhập cư bất hợp pháp...
Tóm lại, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay vừa có khả năng tạo ra những cơ hội thuận
lợi cho sự phát triển kinh tế, vừa có thể dẫn đến những nguy cơ to lớn mà hậu quả rất khó
lường. Vì vậy, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức trong hội nhập kinh tế là vấn đề cần
phải đặc biệt coi trọng. III.
PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những chủ đề kinh tế có tác động tới toàn bộ
tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay, liên quan trực tiếp đến quá trình
thực hiện định hướng và mục tiêu phát triển đất nước. Với những tác động đa chiều của
hội nhập kinh tế quốc tế, xuất phát từ thực tiễn đất nước, Việt Nam cần phải tính toán một
cách thức phù hợp để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế thành công.
Nhận thức sâu sắc về thời cơ và thách thức do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại.
Xây dựng chiến lược và lộ trình hội nhập kinh tế phù hợp. 4
Tích cực, chủ động tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế và thực hiện đầy đủ
bản cam kết của Việt Nam trong các liên kết quốc tế v à khu vực.
Hoàn thiệt thể chế kinh tế và luật pháp.
Nâng cao năng lực cạnh t ranh quốc tế của nền kinh tế.
Xây dựng nền kinh tế độc lập ,tự chủ của Việt Nam. 5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM I.
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM
Sau hơn 30 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước ta đã từng bước hội nhập vào
nền kinh tế khu vực và thế giới, mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước, tham
gia tích cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế. Trong suốt khoảng thời
gian đó, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về hội nhập quốc tế đã trải qua
một quá trình cụ thể hóa và hoàn thiện. Có thể chia thành 3 giai đoạn lớn:
Giai đoạn thứ nhất từ Đại hội Đảng VI (1986) đến đầu Đại hội Đảng VII (1991), lúc
này Việt Nam chưa nói cụ thể về hội nhập kinh tế quốc tế mà mới đặt vấn đề là “mở
cửa nền kinh tế”, “đa phương hóa, đa dạng hóa, mở rộng quan hệ đối ngoại”. Tư
tưởng này đã đặt nền móng cho việc phát triển hội nhập ở các giai đoạn tiếp theo.
Giai đoạn thứ hai là từ Đại hội VIII đến Đại hội Đảng X, chủ trương hội nhập kinh
tế đã được Đảng và Nhà nước ta chỉ rõ “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế”, “xây dựng một nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế giới”, “Việt Nam
sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
Giai đoạn thứ ba, bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ XI (2011), Đảng ta đã đề ra chủ
trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Theo đó, Việt Nam chuyển sang
giai đoạn hội nhập toàn diện với hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là nội dung quan
trọng nhất, được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 22 – NQ/TW của Bộ Chính trị
Đảng Cộng Sản Việt Nam về hội nhập quốc tế: “Hội nhập kinh tế quốc tế là trọng
tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và
góp phần tích cực vào phát triển kinh tế”. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII
(2015), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong
điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế”.
Quá trình hơn 30 năm hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn đổi mới của đất nước ta:
Trước hết, Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế với hàng loạt quốc gia và khu vực,
trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế, thương mại chủ chốt, tạo điều kiện
thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiệu quả hơn.
Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu
hết các nước trong tổ chức Liên hiệp quốc và có mối quan hệ kinh tế thương mại.
Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng
lãnh thổ, được xem là một trong những nước có nền kinh tế hướng xuất khẩu mạnh
mẽ nhất trong khối các nước ASEAN. 6
Về hợp tác đa phương và khu vực, Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ
chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Quỹ tiền tệ
thế giới, Ngân hàng thế giới.
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một
tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký
kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương. Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên
của WTO sau 11 năm đàm phán gia nhập Tổ chức này. Với việc gia nhập WTO, Việt Nam
đã tiến hành nhiều cải cách chính sách kinh tế, thương mại, đầu tư đồng bộ, theo hướng
minh bạch và tự do hóa hơn, góp phần quan trọng cho việc xây dựng một nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong những năm gần đây, thế giới đang được chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng
của các Hiệp định thương mại tự do để thiết lập các Khu vực thương mại tự do phù hợp
với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của thế giới và khu vực. Tiến trình đàm phán và
ký kết các FTA của Việt Nam đã được khởi động và triển khai cùng với tiến trình gia nhập
các tổ chức quốc tế và khu vực. Điểm nổi bật hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là
nước ta đã hoàn tất đàm phán để ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)
vào tháng 2/2016. Việc tham gia vào Hiệp định TPP sẽ giúp ta nắm bắt và tận dụng tốt
hơn các cơ hội do quá trình hội nhập kinh tế khu vực đem lại, đồng thời ta có thêm điều
kiện, tranh thủ hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, triển khai
chiến lược hội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương nói riêng. Việc đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2020, Chủ tịch AIPA
2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc 2020 – 2021 giúp
chúng ta phát huy tiếng nói trong khuôn khổ đa phương, cùng các đối tác tham gia quá
trình định hình các cấu trúc, xây dựng luật kinh tế - thương mại phù hợp.
Nhìn chung, năm 2020, hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những điểm sáng trong
triển khai kinh tế đối ngoại của đất nước, đưa nước ta trở thành một trong những nước đi
đầu khu vực. Hiện nay, trước tình hình kinh tế - chính trị thế giới có những diễn biến
phức tạp, đại dịch Covid – 19 bùng phát gây ảnh hưởng nặng nề, nhiệm vụ trọng tâm của
nước ta là thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. 7 8
II. TIỀM NĂNG VÀ HẠN CHẾ CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
1. Tiềm năng của Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế:
Việt Nam chúng ta thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trùng với thời
điểm trên thế giới đang diễn ra những thay đổi to lớn về chính trị và kinh tế. Hoà bình,
hợp tác, phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên
thế giới. Các nước đều ưu tiên phát triển kinh tế, cần có môi trường hoà bình, ổn định và
thực hiện chính sách mở cửa.
Không một quốc gia nào có thể phát triển trong một thế giới ngày càng được toàn
cầu hoá mà không nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, điều chỉnh chính sách, giảm dần
hàng rào thuế quan và dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, luân
chuyển vốn, lao động, công nghệ và kỹ thuật trên phạm vi thế giới ngày càng thông
thoáng hơn. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Vấn đề là phải hội nhập như thế nào
và tiến trình hội nhập ra sao cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện phát triển của mình.
Đại hội VI (1986) của Đảng đã mở đầu cho thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước. Cũng
chính từ Đại hội VI, bước đầu nhận thức về hội nhập quốc tế của Đảng ta được hình
thành. Đảng cho rằng, “muốn kết hợp sức mạnh với dân tộc với sức mạnh của thời
đại, nước ta phải tham gia sự phân công lao động quốc tế” và “một đặc điểm nổi bật
của thời đại là cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành
bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa
các lực lượng sản xuất”.
Tiếp đến Đại hội VII, tư duy về hội nhập quốc tế tiếp tục được Đảng ta khẳng định,
đó là, “cần nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay
đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và
xu hướng quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới để có những chủ trương đối ngoại phù hợp”.
Tại Đại hội VIII (1996), lần đầu tiên thuật ngữ “Hội nhập” chính thức được đề cập
trong Văn kiện của Đảng, đó là: “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới”.
Tiếp theo đến Đại hội IX, tư duy về hội nhập được Đảng chỉ rõ và nhấn mạnh hơn
“Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế”. Để cụ thể hóa tinh thần này, ngày 27/11/2001 Bộ Chính trị khóa IX đã ban
hành Nghị quyết số 07-NQ/TW “Về hội nhập kinh tế quốc tế”.
Đến Đại hội X, tinh thần hội nhập từ “Chủ động” được Đảng ta phát triển và nâng
lên một bước cao hơn, đó là “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng
thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”. 9
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tư duy nhận thức của Đảng về hội nhập
đã có một bước phát triển toàn diện hơn, đó là từ “Hội nhập kinh tế quốc tế” trong
các kỳ Đại hội trước chuyển thành “Hội nhập quốc tế”. Đảng ta đã khẳng định, “Chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế”. Khẳng định và làm sâu sắc hơn tinh thần này,
ngày 10/4/2013, Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW “Về hội nhập quốc tế”.
Như vậy, bằng việc ban hành Nghị quyết số 22 “Về hội nhập quốc tế” cho thấy nhận
thức của Đảng và hội nhập quốc tế đã có một quá trình phát triển ngày một sâu sắc,
toàn diện hơn. Toàn bộ nội dung của Nghị quyết đã xác định rõ hội nhập quốc tế sẽ
được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với
yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế.
Chủ trương này đã tạo điều kiện thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của ta, đẩy mạnh
quan hệ đối ngoại, phá thể bị bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào đời sống của cộng đồng quốc tế.
Chúng ta cũng nhận thức rõ hội nhập kinh tế quốc tế là việc một quốc gia thực hiện
chính sách kinh tế mở, tham gia vào các định chế tài chính, kinh tế, thương mại quốc tế,
mở rộng hợp tác kinh tế với bên ngoài, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại,
đầu tư. Tham gia hội nhập quốc tế thực chất là tham gia cuộc đấu tranh phưc tạp để góp
phần phát triển kinh tế và củng cố an ninh, chính trị, độc lập kinh tế và bản sắc dân tộc
của mỗi nước thông qua việc thiết lập các mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau, đan xen, nhiều
chiều, ở nhiều tầng nấc với các quốc gia khác.
Chúng ta chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển đất nước, phục vụ công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
Phát triển đất nước theo đường lối đổi mới, Chính phủ Việt Nam ngày càng nhận
thấy rõ hơn sự cần thiết phải tham gia vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế và cạnh tranh
quốc tế. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 nêu rõ, phải "Chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ mọi thời cơ để phát triển... Trong quá trình chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, không
ngừng tăng năng lực cạnh tranh và giảm dần hàng rào bảo hộ".
Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 4 (tháng 10-2003) Quốc hội khóa XI, cũng
thẳng thắn thừa nhận: Tăng trưởng kinh tế trong ba năm vừa qua (2001 - 2003) chủ yếu
vẫn theo chiều rộng, tăng về số lượng, nhưng chậm chuyển biến về chất lượng...
Nhìn chung, sức cạnh tranh và hiệu quả của doanh nghiệp và nền kinh tế đều thấp. Từ đó
nhấn mạnh một trong các giải pháp lớn là "phải tạo bước phát triển mới về kinh tế đối
ngoại... Năm 2004 phải có bước đi mạnh mẽ hơn, với quyết tâm cao về chủ động hội 10
nhập kinh tế quốc tế. Đi đôi với việc thực hiện cam kết về lộ trình tham gia Khu vực Mậu
dịch tự do Đông Nam Á (AFTA) và phát triển các quan hệ kinh tế song phương.
Ngày 7/11/2006, lễ kết nạp Việt Nam gia nhập WTO được tổ chức tại trụ sở WTO
ở Geneva, Thụy Sĩ. Sau đó, kể từ ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành
viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới này.
Sự kiện lớn nói trên đã để lại nhiều dấu ấn tích cực trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Dấu ấn sâu đậm nhất của việc tham gia WTO và hội nhập quốc tế đối với Việt Nam
là góp phần đổi mới tư duy chính sách, hoàn thiện chuẩn mực quản lý nhà nước, quản trị
doanh nghiệp, định hình khung khổ pháp lý và các chuẩn mực phát triển các thể chế kinh
tế-thương mại, tạo cơ sở pháp lý vững chắc làm cầu nối và xung lực tích cực để đất nước
từng bước mở cửa, mở rộng quy mô thị trường hàng hóa và dịch vụ, cải thiên cơ cấu và
nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại quốc tế theo các thỏa thuận đa phương và song phương đã cam kết.
Đến năm 2020, Việt Nam có 30 đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện;
có quan hệ ngoại giao với 189/193 nước, có quan hệ kinh tế với 160 nước và 70 vùng lãnh thổ.
Đặc biệt, WTO cùng với hơn hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên
nhiều lĩnh vực, trong đó có 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam tham gia
(15 hiệp định đã ký kết, có hiệu lực và 2 hiệp định đang đàm phán) là những cánh cửa
lớn, đa chiều để Việt Nam định hướng hoàn thiện khung khổ thể chế phát triển kinh tế thị
trường và tự tin hội nhập toàn cầu ngày càng sâu, rộng, đầy đủ, hiệu quả hơn.
2. Hạn chế khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về hội nhập
kinh tế quốc tế có nơi, có lúc chưa được quán triệt kịp thời, đầy đủ và thực hiện
nghiêm túc. Hội nhập kinh tế quốc tế còn bị tác động bởi cách tiếp cận phiến diện,
ngắn hạn và cục bộ; do đó, chưa tận dụng được hết các cơ hội và ứng phó hữu hiệu với các thách thức.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình đổi mới ở trong nước, nhất là đổi mới,
hoàn thiện thể chế, trước hết là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa được
thực hiện một cách đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình nâng cao năng lực
cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo vệ an ninh chính
trị, trật tự, an toàn xã hội, môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Hội nhập kinh tế quốc tế chưa được phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với hội nhập trong
các lĩnh vực khác. Chưa tạo được sự đan xen chặt chẽ lợi ích chiến lược, lâu dài với 11
các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng. Việc ứng phó với những biến động và xử
lý những tác động từ môi trường khu vực và quốc tế còn bị động, lúng túng và chưa đồng bộ.
Cạnh tranh nước lớn gia tăng: Các nước lớn ở khu vực như Nga, Mỹ, Trung Quốc,
Nhật Bản, Ấn Độ với quốc lực được cải thiện đều đề cao tinh thần nước lớn củng
cố và mở rộng khu vực vùng ảnh hưởng của mình, từ đó làm cho cạnh tranh nước
lớn trong khu vực tăng lên. Xu hướng gia tăng cạnh tranh quyền lực và ảnh hưởng
giữa các nước lớn, kèm theo đó là sự tập hợp lực lượng xoay
quanh trục quan hệ Mỹ - Trung sẽ đặt Việt Nam vào “thế kẹt”
Vai trò ASEAN có nguy cơ suy giảm: Dưới tác động của xu hướng dân túy, bảo hộ,
nhiều nước ASEAN một mặt ủng hộ thương mại tự do và hội nhập kinh tế quốc tế
nhưng có chủ trương quay về bên trong mạnh hơn, giảm cam kết với các cơ chế đa
phương khu vực, từ đó góp phần làm suy giảm vai trò của ASEAN. Và các thành
viên ASEAN bị các nước lớn phân hóa, tổ chức ASEAN tiếp tục bị giảm vai trò và
tính hiệu quả khi các nước lớn tăng cường đấu tranh và hợp tác trực tiếp với nhau
và giảm cam kết vào các tiến trình đa phương, coi nhẹ vai trò của ASEAN trên tư
cách là chủ thể “dẫn dắt” các tiến trình đa phương về chính trị và an ninh khu vực.
Nguy cơ lệ thuộc vào Trung Quốc gia tăng: Sức ép trực tiếp từ sự trỗi dậy của Trung
Quốc, đưa nước ta vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc về địa chiến lược, tăng sự
lệ thuộc vào nền kinh tế Trung Quốc cũng như chịu sức ép lớn hơn từ việc Trung
Quốc tăng cường phát huy sức mạnh mềm trong khu vực.
Sản xuất, thương mại, đầu tư có khả năng bị ảnh hưởng; cải cách thể chế kinh tế và
hội nhập quốc tế có nguy cơ chậm lại: Đối với kinh tế trong nước, các ngành hàng
xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giầy, nông-thủy sản có thể bị tác động nhiều nhất,
bởi đây là nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn sang Mỹ và châu Âu (chiếm 40%
thị phần), dễ bị áp đặt các biện pháp bảo hộ, rào cản kỹ thuật. Về đầu tư, xu hướng
di chuyển sản xuất về nước của các tập đoàn hàng đầu, nhất là Mỹ, có thể hạn chế
việc mở rộng đầu tư ở Việt Nam, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn, công nghệ
của các tập đoàn hàng đầu. Trong khi đó, trì trệ trong một số liên kết kinh tế khu
vực quan trọng như hiệp định TPP có thể khiến Việt 12
Nam lỡ cơ hội mở rộng thị trường và tiếp cận công nghệ do giá trị của nền kinh
tế Việt Nam gắn với TPP đã bị giảm đi. 13 III.
THÀNH TỰU CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
Trong những năm qua, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã đạt được một số
thành tựu nhất định, đóng góp chung vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước:
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu năm 2018 ước đạt 475 tỷ USD, trong đó xuất khẩu
đạt 239 tỷ USD, tăng 11,2% so với năm 2017. Hàng hóa Việt Nam đã tiếp tục khai thác
các thị trường truyền thống và mở rộng tìm kiếm, phát triển thêm nhiều thị trường mới.
Đặc biệt, xuất khẩu sang thị trường các nước có hiệp định thương mại tự do (FTA) với
Việt Nam đều có tốc độ tăng cao so với năm 2017. Tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các thị trường
đã ký kết FTA đạt khoảng 40%, tăng mạnh so với con số khoảng 35% các năm trước.
Điều đó cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng chú trọng tới việc khai thác
các cơ hội từ hội nhập và thực thi các FTA.
Sau hơn 30 năm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hiện cả nước có
khoảng 334 tỷ USD vốn đăng ký với hơn 26.600 dự án còn hiệu lực. Theo đó, khu vực
FDI đã ngày càng phát triển, trở thành một trong những khu vực năng động nhất của nền
kinh tế. FDI đã đóng góp lớn trong việc gia tăng năng lực sản xuất và xuất khẩu của Việt
Nam. Đến nay, khu vực FDI chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trên 70%
tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Khu vực FDI đã góp phần tăng thu ngân sách, tạo
việc làm cho người dân, ổn định tình hình xã hội. Riêng năm 2018, Việt Nam đã thu hút
1.918 dự án cấp phép mới, với số vốn đăng ký đạt hơn 13,481 tỷ USD, tăng 18,1% về số
dự án và 0,2% về vốn đăng ký so với năm 2017.
Mặc dù xu hướng bảo hộ thương mại nổi lên ở nhiều nơi trênthế giới, kim ngạch
vốn đầu tư, du lịch từ các đối tác chủ chốtnăm sau vẫn tăng hơn năm trước. Các đối tác
đã cam kết việntrợ hơn 3 tỷ USD cho Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến năm2020.
Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt mức kỷ lục, hơn 13 triệu người năm 2018.
Bất chấp những khó khăn từ rào cản thương mại, sự gia tăng bảo hộ của các nước
hay căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chinh phục
đỉnh cao mới. Từ năm 2016 đến nay, tăng trưởng kinh tế luôn đạt cao hơn mức bình quân
của giai đoạn 2011-2015, các chỉ số kinh tế vĩ mô đều tích cực, nhất là đầu tư nước ngoài và xuất nhập khẩu.
Đến nay đã có 71 nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Việt Nam đã
ký kết và thực thi 12 FTA, kết thúc đàm phán 01 FTA, và đang đàm phán 03 FTA khác.
Trong 12 FTA đã ký kết và thực thi có 07 FTA ký kết với tư cách là thành viên ASEAN
(gồm AFTA, 06 FTA giữa ASEAN với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật
Bản, Úc, Hồng Kông và New Zealand); 05 FTA ký kết với tư cách là một bên độc lập với
Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh kinh tế Á - Âu (EAEU), và CPTPP; 01 FTA đã
kết thúc đàm phán là FTA với Liên minh Châu Âu, và 03 FTA đang được đàm phán bao 14
gồm: Hiệp định Đối tác kinh tế Toàn diệnkhu vực (RCEP), FTA với Israel và FTA với
Khối thương mại tự do Châu Âu (EFTA).
Hội nhập kinh tế tiếp tục tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế nước ta. Đồng
thời, góp phần quan trọng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đưa quan hệ
của Việt Nam với các nước, nhất là đối tác ưu tiên, quan trọng đi vào chiều sâu, ổn định,
bền vững; quan hệ với các nước lớn tiếp tục được củng cố và thúc đẩy hài hòa, tranh thủ
được các yếu tố tích cực, hạn chế được những bất đồng để phục vụ nhiệm vụ xây dựng
và phát triển đất nước, nâng cao vị thế của quốc gia.
Đến nay, Việt Nam đã thiết lập đối tác chiến lược với 16 quốc gia, đối tác toàn diện
với 14 quốc gia và quan hệ chiến lược đặc biệt với Lào và Campuchia. Các mối quan hệ
đối tác chiến lược, đối tác toàn diện tiếp tục được thúc đẩy phát triển, phát huy được các
mặt tích cực. Việt Nam đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là
các đối tác có tầm quan trọng chiến lược đối với sự phát triển, an ninh của đất nước. Cụ
thể hóa và đưa khuôn khổ đã xác lập đi vào chiều sâu, thực chất, tạo sự đan xen, gắn kết
giữa lợi ích của Việt Nam với các nước. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên mọi mặt, chuyển
từ “tham dự” sang “chủ động tham gia”, tích cực đóng góp, xây dựng, định hình các thể
chế khu vực và toàn cầu tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế, góp phần tích cực vào phát
triển kinh tế. Trong đó nổi bật là Việt Nam đã tham gia xây dựng Cộng đồng ASEAN
vững mạnh, đoàn kết, hợp tác và tự cường. Đặc biệt, Việt Nam đảm nhiệm tốt vai trò
nước chủ nhà trong tổ chức các Hội nghị quốc tế, trong đó Việt Nam đã tổ chức thành
công Năm APEC ViệtNam 2017, đã tranh thủ tốt vị trí nước chủ nhà, khẳng định được
vai trò và khả năng của Việt Nam trong việc xử lý những vấn đế quốc tế và khu vực; Hội
nghị WEF ASEAN 2018 tại Việt Nam được đánh giá là hội nghị khu vực thành công nhất
trong lịch sử 27 năm của Diễn đàn Kinh tế Thế giới; Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ -Triều
lần thứ 2 cùng nhiều sáng kiến hợp tác cụ thể tại các diễn đàn đa phương cho thấy rõ vai
trò và vị thế ngày càng tăng của Việt Nam trong khu vực và thế giới.
IV. ĐIỀU KIỆN VÀ GIẢI PHÁP CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
1. Điều kiện của hội nhập kinh tế tại Việt Nam
a) Lợi thế cơ bản của nước ta khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế:
Vị trí địa lý thuận lợi:
Bản chất kinh tế của vị trí địa lý là địa tô chênh lệch. Vị trí địa lý thuận lợi sẽ cho
phép thu được địa tô chênh lệch cao và ngược lại, vị trí địa lý không thuận lợi chỉ đem
lại địa tô chênh lệch thấp. Vị trí địa lý thuận lợi là lợi thế so sánh - là một yếu tố quan
trọng để phát triển kinh tế. Nước ta có một vị trí địa lý rất thuận lợi đó là:
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á, là nơi gặp gỡ của
những luồng gió xuất phát từ các trung tâm lớn bao quanh tạo nên tự nhiên Việt 15
Nam phong phú và đa dạng. Điều này có tác động sâu sắc đến cơ cấu, quy mô và
hướng phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
Việt Nam nằm ở rìa đông của bản đảo Đông Dương, trở thành một đầu mối giao
thông quan trọng từ ấn Độ Dương tới Thái Bình Dương. Vị trí này cho phép nước
ta có thể dễ dàng phát triển các kinh tế thương mại, văn hóa khoa học kĩ thuật với
các nước trong khu vực và trên thế giới.
Việt Nam nằm trong khu vực đang diễn ra các hoạt động kinh tế sôi động nhất thế
giới. Điều này tạo môi trường thuận lợi để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh,
chủ động phát triển kinh tế. Việt Nam có điều kiện giao lưu với những thị trường
sôi động, học hỏi được những kinh nghiệm quý bầu của các “con rồng Châu Á”.
Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng:
Việt Nam có nhiều loại tài nguyên thiên nhiên, trong đó có nhiều loại có giá trị kinh
tế lớn nhưng chưa được khai thác hoặc khai thác ở mức độ thấp, sử dụng chưa hợp
lý. Đây là nguồn lực bên trong để phát triển kinh tế, đồng thời là đối tượng đầu tư
của Tư Bản nước ngoài.
Tài nguyên nhân văn phong phú bao gồm: lực lượng lao động dồi dào và những hệ
thống giá trị do con người tạo ra trong quá trình phát triển lịch sử của dân tộc. Đây là đối
tượng đầu tư phát triển rất quan trọng của Tư Bản nước ngoài. Những lợi thế trên đã
góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tiến vào thế giới.
b) Nhiệm vụ cần phải thực hiện khi tham gia hội nhập:
Trong nghị quyết, bộ Chính Trị đã nêu 9 nhiệm vụ cụ thể trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:
Tuyên truyền, giải thích rộng rãi để đạt được nhận thức và hành động thống nhất
trong các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp và nhận dân. Xây
dựng chiến lược tổng thể về hội nhập với một lộ trình cụ thể Chủ động và khẩn
trương sử dụng cơ cấu kinh tế.
Tích cực tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực vững vàng về chính trị, có đạo đức trong sáng, tinh thông nghiệp vụ.
Kết hợp chặt chế hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại.
Gắn kết chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế với nhiệm vụ củng cố quốc phòng an ninh.
Tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO). Kiện
toàn uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế.
2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế tại Việt Nam: 16
c) Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức
Thứ nhất, tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên
và mọi tầng lớp nhân dân về hội nhập kinh tế quốc tế nói riệng và hội nhập quốc tế
nói chung; nẵng cao hiệu biết và sự đồng thuận của cả xã hội, đặc biệt là của doanh
nghiệp, doanh nhân đổi với các thỏa thuận quốc tế, đặc biệt là cơ hội, thách thức vă
những yêu cầu phải đáp ứng khi tham gia và thực hiện các hiệp định thương mại tự
do thể hệ mới bằng các hình thức, nội dung tuyên truyền phủ hợp và hiệu quả cho
từng ngành hàng, hiệp hội, doanh nghiệp và cộng đồng; chú trọng công tác bảo vệ
chính trị nội bộ. Chủ động, kịp thời phát hiện, đấu tranh với các luận điệu, quan
điểm sai trái, thù địch; bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng và bảo
vệ Tố quốc xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế."
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực thực thi pháp luật. 17
Khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện luật pháp trực tiếp liên quan đến hội nhập
kinh tế quốc tế, phù hợp với Hiến pháp, tuân thủ đẩy đủ, đúng đắn các quy luật của
kinh tế thị trường và các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; nội luật hóa theo lộ trình
phù hợp những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trước hết là luật pháp
về thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, lao động - công
ích,... bảo đảm tranh thủ được thời cơ, thuận lợi, vượt qua các khó khăn, thách thức
từ việc tham gia và thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; nâng cao
nhận thức và năng lực pháp lý, đặc biệt là luật pháp quốc tế, thương mại quốc tế,
trước hết là của cán bộ chủ chốt các ngành và chính quyền các cấp, doanh nghiệp,
cán bộ làm công tác tố tụng, đội ngũ luật sư và những người trực tiếp làm công tác
hội nhập kinh tế quốc tế; hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển doanh
nghiệp, đặc biệt là hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
cùng với khuyến khích khởi nghiệp, sáng tạo. Tăng cường công tác quản lý nhà
nước đối với hoạt động mua bán - sáp nhập doanh nghiệp Việt Nam, trên cơ sở phát
huy nội lực, bảo đảm tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế, phù hợp với các cam kết
quốc tế; nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc
tế và các ban chỉ đạo liên ngành về hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế trong
lĩnh vực chính trị, quốc phòng an ninh, hội nhấp quốc tế trong lĩnh vực văn hóa - xã
hội, giáo dục, khoa học công nghệ và các lĩnh vực khác nhằm tạo sức mạnh tổng
hợp của quốc gia trong hội nhập kinh tế quốc tế.
d) Nâng cao năng lực cạnh tranh
Việc thực hiện các cam kết hội nhập sâu rộng đang tạo sức ép cạnh tranh ngày càng
gay gắt trên cả ba cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Vấn đề lớn đặt ra là làm
sao thực hiện hiệu quả các FTA thế hệ mới để tăng cường được nội lực, nâng cao được
năng suất, sức cạnh tranh của nền kinh tế, nuôi dưỡng và phát triển được nhiều “gien
Việt" trong nền kinh tế. Mặt khác, chúng ta cần tiếp tục nỗ lực củng cố, ổn định kinh tế
vĩ mô, có năng lực thích nghi và điều chỉnh linh hoạt trước những biến động kinh tế thế
giới và khu vực. Việc đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và năng
lực cạnh tranh là tiền đề và là giải pháp quyết định để nâng cao nội lực nhằm tận dụng cơ
hội, vượt qua thách thức của hội nhập quốc tế. Trong đó:
Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất
lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung ưu tiên đổi mới, nâng cao hiệu
lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Tiếp tục ổn định và củng có nền tảng
kinh tế vĩ mô vững chắc; kiểm soát tốt lạm phát; bảo đảm các cân đối lớn của nền
kinh tế; giữ vững an ninh kinh tế.
Tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; phát triển kết cấu 18