






Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II - NĂM HỌC 2024 2023 –
(Phần dành cho sinh viên/ h c viên) ọ Bài thi h c ph ọ
ần: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN Số báo danh: 56 VIỆT NAM Mã s SV/HV ố : 22D300091 Mã số thi: đề 24
Lớp: 242_HCMI0131_18
Ngày thi: 12/06/2025 T ng s ổ trang ố
: 7 Họ và tên: Trần Phương Linh
Điểm kết luận: GV ch m thi 1: ấ
…….………………………...... GV ch m thi 2: ấ
…….………………………...... Bài làm SV/HV không
được viết vào cột Câu 1: này)
Tại Đại hội IV của Đảng (năm 1976), ba đặc điểm lớn của cách Điểm từng câu,
mạng Việt Nam trong giai đoạn mới đã được xác định rõ, làm cơ sở cho diểm
thưởng việc hoạch định đường lối phát triển đất nước sau khi hoàn thành sự (nếu có) và điểm toàn bài
nghiệp thống nhất quốc gia.
Một là, nước ta đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh GV chấm 1:
tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ Câu 1: ……… điểm
qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Câu 2: ……… điểm
Sau 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc chúng ta đã ………………….
đạt được nhiều thành tựu như xoá bỏ giai cấp bóc lột, xác lập quan hệ ………………….
sản xuất xã hội chủ nghĩa, xây dựng được cơ sở bước đầu của nền sản
Cộng …… điểm
xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
được cải thiện. Tuy nhiên sản xuất nhỏ vẫn là đặc điểm chủ yếu của nền GV chấm 2:
kinh tế miền Bắc. Miền Nam vừa thoát ra từ một xã hội thuộc địa kiểu Câu 1: ……… điểm Câu 2: ……… điểm
mới, kinh tế về cơ bản vẫn còn là sản xuất nhỏ. Tính chất sản xuất nhỏ ………………….
thể hiện rõ nét ở cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhỏ yếu, tuyệt địa đại bộ ………………….
phận lao động là thủ công, năng suất lao động xã hội thấp, phân công
Cộng …… điểm
lao động chưa phát triển, công nghiệp nặng còn ít và rời rạc, chưa đủ
sức để cải tạo kỹ thuật đối với các ngành kinh tế quốc dân và phần lớn
Họ tên SV/HV: Trần Phương Linh - Mã LHP: 242_HCMI0131_18 Trang 1/7
hàng tiêu dùng đều do tiểu thủ công nghiệp sản xuất. Việc "tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội"
có nghĩa là Việt Nam sẽ không trải qua giai đoạn tích lũy tư bản, phát triển công nghiệp và
kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa một cách đầy đủ. Thay vào đó, mục tiêu là xây dựng
ngay các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và phát triển lực lượng sản xuất theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Điều này đặt ra một thách thức rất lớn: làm thế nào để xây dựng một nền
kinh tế hiện đại từ xuất phát điểm thấp, đồng thời phải thực hiện đồng bộ ba cuộc cách
mạng (về quan hệ sản xuất, khoa học kỹ thuật và tư tưởng văn hóa) để đưa đất nước tiến lên.
Hai là, Tổ quốc ta đã hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
với nhiều thuận lợi rất lớn song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh
và tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới gây ra
Chiến thắng năm 1975 đã khơi dậy khí thế cách mạng mạnh mẽ, củng cố niềm tin
vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa. Nhân dân Việt Nam
với truyền thống cần cù, thông minh, lòng yêu nước sâu sắc đã trở thành nguồn nội lực
quan trọng, thể hiện qua tinh thần vượt khó trong khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục
sản xuất và xây dựng đất nước. Trong đó, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt
Nam là nhân tố then chốt, đảm bảo sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn xã hội. Bên
cạnh đó, cách mạng Việt Nam còn nhận được sự giúp đỡ to lớn từ các nước xã hội chủ
nghĩa, đặc biệt là Liên Xô, cả về vật chất, kỹ thuật và tinh thần – đóng vai trò thiết yếu
trong quá trình tái thiết đất nước. Ngoài ra, Việt Nam có nhiều lợi thế tự nhiên như nguồn
lao động trẻ, dồi dào và tài nguyên phong phú.
Tuy nhiên, đất nước cũng đối mặt với nhiều khó khăn lớn do hậu quả nặng nề của
chiến tranh: hàng triệu người chết và bị thương, cơ sở hạ tầng tàn phá, kinh tế kiệt quệ, đời
sống nhân dân cực kỳ khó khăn. Việt Nam đi lên CNXH từ một xã hội nửa phong kiến,
kinh tế sản xuất nhỏ, lạc hậu; miền Nam còn mang nặng dấu ấn của nền kinh tế phụ thuộc
vào viện trợ, chưa tự chủ. Tình trạng phát triển không đồng đều giữa hai miền cùng với ảnh
hưởng sâu rộng của tàn dư thực dân mới, tư tưởng và lối sống tư bản chủ nghĩa là thách
thức lớn. Đại hội IV (1976) đã xác định đây là trở ngại nghiêm trọng trong quá trình thống
nhất và xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước.
Ba là, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh quốc tế thuận
lợi, song cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa thế lực cách mạng và thế lực phản cách
mạng trên thế giới còn gay go, quyết liệt”.
Sau năm 1975, Việt Nam bước vào giai đoạn mới với nhiều thuận lợi từ môi trường
quốc tế. Trước hết, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, ngày càng
phát triển và lớn mạnh, trở thành chỗ dựa vững chắc về chính trị, kinh tế và quân sự cho
Họ tên SV/HV: Trần Phương Linh - Mã LHP: 242_HCMI0131_18 Trang 2/7
Việt Nam. Các quốc gia như Trung Quốc (trước 1978), Triều Tiên, Cuba... đã viện trợ chí
tình, giúp Việt Nam tái thiết đất nước sau chiến tranh. Bên cạnh đó, phong trào giải phóng
dân tộc tại châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh tiếp tục dâng cao, tạo làn sóng ủng hộ mạnh mẽ
cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập, đồng thời góp phần xây dựng một thế giới
hòa bình, dân chủ. Ngoài ra, chiến thắng vang dội năm 1975 đã nâng cao uy tín quốc tế của
Việt Nam, giúp đất nước nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao rộng rãi và gia nhập các
tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc (1977), tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác và phát triển toàn diện.
Tuy có nhiều thuận lợi, Việt Nam vẫn phải đối mặt với cuộc đấu tranh “ai thắng ai”
giữa cách mạng và phản cách mạng trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh đang căng thẳng. Mặc
dù hòa bình đã lập lại trong nước, thế giới vẫn chứng kiến cuộc đối đầu gay gắt giữa hai hệ
thống xã hội đối lập: chủ nghĩa xã hội do Liên Xô đứng đầu và chủ nghĩa tư bản do Mỹ
cầm trịch. Mỹ và các nước phương Tây thực hiện chính sách bao vây, cấm vận kinh tế, gây
khó khăn nghiêm trọng cho Việt Nam trong việc tiếp cận nguồn lực phát triển. Thêm vào
đó, các thế lực phản động bên ngoài không ngừng kích động, chống phá bằng cách hậu
thuẫn lực lượng phản động lưu vong, sử dụng chiêu bài "dân chủ, nhân quyền" để gây sức
ép. Tình hình càng phức tạp hơn khi Việt Nam tham gia bảo vệ Campuchia khỏi chế độ diệt
chủng Pol Pot, dẫn đến xung đột với Trung Quốc và sự cô lập từ phương Tây. Những cuộc
chiến tranh biên giới và chiến tranh tư tưởng – văn hóa cũng tiêu tốn nhiều nguồn lực, làm
chậm quá trình phát triển đất nước trong bối cảnh hết sức nhạy cảm và cam go.
=> Ba đặc điểm chỉ ra, Việt Nam có đủ điều kiện đi lên và xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội, nhưng đó là sự nghiệp khó khăn, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi Đảng và nhân dân ta phải
phát huy cao độ tính chủ động, tự giác, sáng tạo trong quá trình cách mạng.
Trong ba đặc điểm trên, đặc điểm đầu tiên là lớn nhất, quy định nội dung, hình
thức, bước đi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta "Nước ta vẫn đang trong quá trình
từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội,
bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa." Đặc điểm này mang ý nghĩa sâu sắc và toàn
diện đối với cách mạng Việt Nam. Trước hết, đây là tính chất chuyển biến vượt bậc mang
tính lịch sử, đòi hỏi những nỗ lực phi thường và đường lối đúng đắn, sáng tạo để đưa một
xã hội nông nghiệp lạc hậu, chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh, tiến thẳng lên chủ
nghĩa xã hội mà không trải qua giai đoạn phát triển đầy đủ của chủ nghĩa tư bản. Chính đặc
điểm này đã quy định phương hướng phát triển cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam, đặt ra yêu cầu phải đồng thời tiến hành ba cuộc cách mạng (về quan hệ sản xuất,
khoa học kỹ thuật và tư tưởng văn hóa), trong đó trọng tâm là công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa. Tuy nhiên, đây cũng là thách thức lớn về kinh tế - xã hội, vì việc bỏ qua giai đoạn
Họ tên SV/HV: Trần Phương Linh - Mã LHP: 242_HCMI0131_18 Trang 3/7
tư bản chủ nghĩa đồng nghĩa với việc phải xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa
xã hội từ điểm xuất phát rất thấp, trong điều kiện đất nước bị tàn phá nặng nề, đòi hỏi những
giải pháp đặc thù, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, tránh áp dụng máy móc mô hình nước
ngoài, đồng thời giải quyết các thách thức về cơ cấu kinh tế, quản lý và đời sống nhân dân trong giai đoạn đầu.
Liên hệ thực tiễn
Đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam – “tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” – đến nay vẫn còn nguyên giá trị, thể hiện rõ qua đường
lối đổi mới từ Đại hội VI (1986). Trong điều kiện xuất phát từ nền sản xuất nhỏ, cơ sở hạ
tầng yếu, Đảng đã lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – một
bước đi sáng tạo phù hợp thực tiễn. Mô hình này vừa khai thác hiệu quả cơ chế thị trường,
vừa đảm bảo vai trò định hướng, điều tiết của Nhà nước để phát triển kinh tế gắn với tiến
bộ, công bằng xã hội. Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng:
tăng trưởng ổn định, đời sống nâng cao, vị thế quốc tế ngày càng được củng cố. Tuy vậy,
những thách thức như phân hóa giàu nghèo, lệ thuộc vào vốn và công nghệ nước ngoài, hay
khoảng cách phát triển vùng miền... cho thấy cần tiếp tục đổi mới tư duy phát triển. Bài học
xuyên suốt là: con đường lên CNXH không thể nóng vội hay sao chép, mà phải kiên định
mục tiêu nhưng linh hoạt trong tổ chức thực hiện, phát huy nội lực, giữ vững độc lập tự
chủ. Tinh thần đó được Đại hội XIII (2021) tiếp tục khẳng định, coi phát triển nhanh và bền
vững trên nền tảng khoa học, đổi mới sáng tạo là nhiệm vụ trung tâ Câu 2:
Cơ sở của phương châm kháng chiến toàn dân
- Cơ sở lý luận
Đường lối "kháng chiến toàn dân" là sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết
Mác-Lênin về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong việc làm nên lịch sử và về
chiến tranh cách mạng. Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ rằng cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng, và chiến tranh cách mạng, đặc biệt là chiến tranh giải phóng dân tộc, là cuộc đấu
tranh của toàn thể dân tộc bị áp bức chống lại kẻ thù xâm lược. Đảng Cộng sản Việt Nam,
dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nhận thức sâu sắc rằng để đánh bại một đế
quốc mạnh như Pháp, không thể chỉ dựa vào một lực lượng quân sự nhỏ bé mà phải huy
động tối đa tiềm lực vật chất và tinh thần của toàn xã hội. Ngoài ra, đây cũng là nội dung
cốt lõi trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, xuất phát từ quan điểm "dĩ bất biến ứng vạn
biến", coi trọng sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí
độc lập tự do của mỗi người dân. Hồ Chí Minh luôn đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu và coi
đại đoàn kết là cội nguồn sức mạnh. Ngay từ những ngày đầu cách mạng, Người đã khẳng
Họ tên SV/HV: Trần Phương Linh - Mã LHP: 242_HCMI0131_18 Trang 4/7
định: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công". Trong
tư tưởng quân sự của Người, "kháng chiến toàn dân" là biểu hiện cao nhất của "chiến tranh
nhân dân", lấy dân làm gốc, dựa vào dân để đánh giặc. Người tin tưởng tuyệt đối vào khả
năng sáng tạo và sức mạnh vô tận của nhân dân khi họ được giác ngộ và tổ chức. Đây không
chỉ là một khẩu hiệu mà là một triết lý hành động, biến mỗi người dân thành một chiến sĩ,
mỗi làng quê thành một pháo đài vững chắc.
- Cơ sở thực tiễn
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Việt Nam đứng trước thách thức to lớn: tương quan
lực lượng giữa ta và Pháp vô cùng chênh lệch, được ví như “châu chấu đá voi”. Pháp có ưu
thế vượt trội về quân sự, kinh tế và kinh nghiệm chiến trường, trong khi nước ta mới giành
độc lập, lực lượng vũ trang còn non trẻ, vũ khí thô sơ, kinh tế kiệt quệ. Trong bối cảnh đó,
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường dựa vào sức mạnh tinh thần và ý
chí dân tộc – phát động toàn dân kháng chiến. Đây không chỉ là một chiến lược hiệu quả
mà còn là lối thoát sống còn trong hoàn cảnh bất lợi. Cuộc kháng chiến chống Pháp mang
tính chính nghĩa, được nhân dân ủng hộ rộng rãi, nhờ đó phương châm “kháng chiến toàn
dân” sớm trở thành nền tảng chiến lược. Khác với quân xâm lược Pháp, lực lượng cách
mạng đại diện cho nguyện vọng độc lập, tự do của dân tộc, nên dễ dàng tập hợp và phát
huy sức mạnh toàn dân. Đồng thời, phương châm này còn kế thừa truyền thống dựng nước
và giữ nước của dân tộc, nơi sức mạnh toàn dân luôn là yếu tố quyết định thắng lợi – từ
“ngụ binh ư nông” đến “biến cả nước thành chiến trường”. Đảng đã vận dụng sáng tạo tinh
thần ấy, đưa vào đường lối kháng chiến phù hợp với hoàn cảnh lịch sử mới.
Nội dung phương châm "kháng chiến toàn dân"
Kháng chiến toàn dân là đem toàn bộ sức dân, tài dân, lực dân; động viên toàn dân
tích cực tham gia kháng chiến. Xây dựng sự đồng thuận, nhất trí của cả nước, đánh địch ở
mọi nơi, mọi lúc, “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài, mỗi đường
phố là một mặt trận”. Trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.”
Phương châm “kháng chiến toàn dân” thể hiện tinh thần huy động toàn bộ sức mạnh
của nhân dân vào cuộc kháng chiến, là sự gắn bó sâu sắc giữa dân và kháng chiến, giữa hậu
phương và tiền tuyến. Trước hết, phương châm này nhấn mạnh việc phát huy mọi nguồn
lực trong nhân dân – từ sức người, của cải vật chất đến tinh thần đoàn kết – để cùng nhau
đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Sức dân chính là sức lao động, sức chiến đấu và tinh thần hy sinh
thầm lặng của mỗi con người. Trong cuộc kháng chiến, ai ai cũng trở thành một chiến sĩ:
thanh niên ra trận, phụ nữ gánh vác hậu cần, người già lo việc cảnh giới, tuyên truyền, còn
trẻ em thì làm liên lạc, gác đường. Mỗi người một việc, mỗi nhà một đóng góp, đã tạo nên
một mạng lưới kháng chiến bền chặt, lan tỏa khắp các vùng miền. Cùng với đó, tài dân –
Họ tên SV/HV: Trần Phương Linh - Mã LHP: 242_HCMI0131_18 Trang 5/7
tức là của cải, vật chất – cũng được huy động rộng rãi. Người dân tự nguyện góp gạo, góp
vàng, may áo, đan nón, không nề hà gian khó, góp phần bù đắp những thiếu thốn về kinh
tế trong thời kỳ đầu kháng chiến. Nhưng có lẽ quan trọng hơn cả là lực dân – chính là ý chí
kiên cường, tinh thần bất khuất và sự đồng lòng của cả cộng đồng. Chính tinh thần "nhất tề
đứng dậy", quyết không khuất phục đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn, giúp nhân dân ta
vững vàng vượt qua mọi thử thách.
Bên cạnh đó, “kháng chiến toàn dân” còn thể hiện ở việc xây dựng thế trận đồng
lòng khắp cả nước, đánh giặc ở mọi nơi, mọi lúc. Không chỉ quân đội, mà từng làng, từng
phố đều trở thành pháo đài chiến đấu. Từ nông thôn đến thành thị, đâu đâu cũng là chiến
trường: làng xã thì đào hầm, giăng bẫy, dựng công sự; đô thị thì tổ chức đội tự vệ chiến đấu
ngay trên từng ngôi nhà, từng con phố. Từng tấc đất, từng lũy tre, từng mái nhà đều được
biến thành chốt chặn kẻ thù. Trong thế trận đó, chiến tranh du kích và chiến tranh chính
quy luôn song hành và hỗ trợ lẫn nhau. Du kích thì đánh nhanh, đánh nhỏ, gây rối và tiêu
hao sinh lực địch, còn lực lượng chính quy thì tập trung huấn luyện, tổ chức những trận
đánh lớn mang tính quyết định. Sự phối hợp linh hoạt giữa hai hình thức này giúp tạo nên
một thế trận chiến đấu chủ động, hiệu quả và khó lường.
Cuối cùng, trong thế trận toàn dân ấy, Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vai trò nòng
cốt, vừa là lực lượng chủ lực trên chiến trường, vừa là chỗ dựa cho nhân dân trong chiến
đấu và tổ chức kháng chiến. Với tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm và tinh thần chiến đấu
cao, quân đội không chỉ trực tiếp đối đầu với kẻ thù mà còn dìu dắt, hướng dẫn nhân dân
tham gia chiến đấu một cách bài bản. Mối quan hệ giữa quân và dân lúc này gắn bó như cá
với nước: quân đội sống trong lòng dân, được dân nuôi dưỡng, che chở, giúp đỡ, còn nhân
dân thì luôn tin yêu và ủng hộ bộ đội như những người con trong gia đình. Chính sự gắn bó
thiêng liêng ấy đã tạo nên một sức mạnh to lớn, giúp cuộc kháng chiến của dân tộc ta trở
thành một biểu tượng sáng ngời của chiến tranh nhân dân.
Ý nghĩa thực tiễn của phương châm này
Đối với giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1954), "Kháng chiến toàn dân" đã
khơi dậy và phát huy tối đa sức mạnh nội sinh, sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam,
biến tiềm năng thành sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn. Điều này đặc biệt quan trọng
khi ta bị bao vây, cô lập và thiếu thốn về viện trợ quốc tế trong những năm đầu. Bằng việc
huy động toàn dân, ta đã tạo ra một thế trận chiến tranh liên hoàn, rộng khắp, buộc địch
phải phân tán lực lượng, đối phó trên nhiều mặt trận, làm tiêu hao sinh lực và ý chí chiến
đấu của chúng. Điều này trái ngược hoàn toàn với mong muốn tập trung lực lượng để kết
thúc chiến tranh nhanh chóng của Pháp và chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại là minh chứng
hùng hồn nhất cho sức mạnh của "kháng chiến toàn dân". Hàng chục vạn dân công đã không
Họ tên SV/HV: Trần Phương Linh - Mã LHP: 242_HCMI0131_18 Trang 6/7
quản ngại gian khổ, hiểm nguy, vượt núi băng rừng, vận chuyển lương thực, vũ khí, kéo
pháo bằng tay lên trận địa, cung cấp hàng nghìn tấn vật chất cho chiến trường. Đó chính là
sự đóng góp không thể thiếu, không thể tách rời của toàn dân vào chiến thắng lịch sử này,
biến Điện Biên Phủ thành một "chiến thắng của sức người". Việc tự mình giải quyết vấn đề
kháng chiến, dựa vào sức dân là chính, đã khẳng định tính độc lập, tự chủ của đường lối
cách mạng Việt Nam, không phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ hay sự can thiệp từ bên ngoài.
Đối với giai đoạn hiện nay, trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phương châm
này là kim chỉ nam cho sự phát triển bền vững. Kinh nghiệm từ đường lối "kháng chiến
toàn dân" vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là nền tảng vững chắc cho việc xây dựng nền
quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, khẳng định vai trò của mỗi người dân trong bảo vệ
Tổ quốc – không chỉ là nhiệm vụ của quân đội mà là của toàn xã hội. Vận dụng trong thời
bình là phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân, cả hệ thống chính trị để thực hiện các mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, các
mối đe dọa an ninh ngày càng đa dạng: không chỉ là an ninh quân sự mà còn là an ninh
mạng, kinh tế, môi trường, lương thực... “Kháng chiến toàn dân” ngày nay đòi hỏi sự tham
gia của mọi tầng lớp nhân dân bằng các hình thức phù hợp để bảo vệ chủ quyền, lợi ích
quốc gia trên mọi lĩnh vực. Việc phát huy phương châm này giúp củng cố lòng yêu nước,
ý chí tự lực tự cường, tạo động lực vượt qua khó khăn, hướng tới những “Điện Biên Phủ
mới” trong công cuộc phát triển đất nước.
Liên hệ thực tiễn
Phương châm “kháng chiến toàn dân” không chỉ là bài học lịch sử mà còn mang giá trị thực
tiễn sâu sắc trong bối cảnh hiện nay. Năm 2025, Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức
như phục hồi kinh tế hậu COVID-19, cạnh tranh địa chính trị và chuyển đổi số. Trong quá
trình đó, tinh thần “toàn dân” – tức sự đồng lòng và tham gia của mọi tầng lớp – trở thành
yếu tố then chốt nâng cao nội lực quốc gia. Các phong trào như “Người Việt Nam ưu tiên
dùng hàng Việt Nam” hay sự ủng hộ doanh nghiệp nội địa là biểu hiện rõ nét của tinh thần
đoàn kết trong “mặt trận kinh tế” thời bình.
Không chỉ ở kinh tế, tinh thần “toàn dân đánh giặc” còn thể hiện trong an ninh mạng và bảo
vệ môi trường. Các chiến dịch nâng cao nhận thức về an toàn thông tin, phổ cập kỹ năng
số, hay hành động nhỏ như phân loại rác, tiết kiệm điện… đều góp phần tạo nên sức mạnh
cộng đồng. Những đóng góp âm thầm ấy tiếp tục khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng
“lấy dân làm gốc” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Họ tên SV/HV: Trần Phương Linh - Mã LHP: 242_HCMI0131_18 Trang 7/7