1. tưởng kinh tế của phái Trọng Nông bảo vệ lợi ích cho sản
xuất nhỏ của nông dân trong nông nghiệp.
ĐÚNG . Trường phái trọng nông chuyển trọng tâm nghiên cứu từ lĩnh
vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, đặc biệt đánh giá cao vai trò của
nông nghiệp. Coi nh vực duy nhất tạo ra của cải cho hội, chỉ
lao động nông nghiệp mới lao động ích lao động sinh lời,
muốn giàu phải phát triển nông nghiệp.
2. tưởng giá trị hàng hóa do lao động tạo ra của A.Smith theo
ông đúng với tất cả các nền sản xuất hàng hóa.
SAI Ông suy ra giá trị do lao động tạo ra chỉ đúng trong nền kinh tế
hàng hoá giản đơn. Còn trong nền kinh tế TBCN, giá trị do các nguồn
thu nhập tạo thành, bằng tiền lương cộng với lợi nhuận địa tô.
3.D.Ricardo thông qua phân tích phân phối đã chỉ ra rằng sự biến
Sai. Theo ông, khi tiền lương của công nhân khuynh hướng tăng do
tăng giá lúa mì, địa của địa chủ cũng khuynh hướng tăng dân số
càng ngày càng tăng con người buộc phải khai thác thêm những vùng
đất ít màu mỡ. Xu hướng này sẽ làm cho doanh lợi của các nhà bản
ngày càng giảm. Trong sự biến đổi này, công nhân không được lợi
nhưng cũng không bị thiệt hại, nhà bản người bị thiệt hại do lợi
nhuận giảm vậy, chỉ giai cấp địa chủ người được lợi do địa
tăng, đây giai cấp được ởng lợi duy nhất của tổ chức kinh tế.
4. tưởng kinh tế của J.B.Say thị trường khả năng tự cân
bằng song khủng hoảng kinh tế vẫn thể xảy ra.
Đúng. Theo thuyết quy luật
Do sự giảm sút sản xuất của các ngành sản xuất thừa,
SAI, Quan điểm của J.B.Say là: sản xuất tạo ra những nơi tiêu thụ tức
cung tự tạo ra cầu của chính nó. Theo ông, giá tr của một sản phẩm
được sản xuất ra ngay lập tức sẽ biến thành thu nhập cho những người
tạo ra số tiền luôn lưu thông ấy sẽ được tự động chi tiêu. Như vậy,
tổng giá trị được sản xuất sẽ ngang bằng với tổng giá trị của những thu
nhập được phân phối tự tạo ra sự chi tiêu. Kết quả tất cả những
được sản xuất sẽ được mua một sức mua tương đương đã được
phân phối. Theo thuyết trên thì nền kinh tế TBCN sẽ không khủng
hoảng.
5.Quan điểm của P.J.Proudhon cần phải xóa bỏ tất cả các loại
hữu sinh ra sự chiếm đoạt bất bình đẳng.
SAI, Để xóa bỏ bất bình đẳng, ông đề nghị xóa bỏ sở hữu nhưng giữ lại
tài sản nhân, nghĩa xóa bỏ sở hữu lớn (mặt tiêu cực) thay vào đó
quyền chấp hữu (thực chất giữ lại hữu nhỏ). Như vậy, Proudhon
không chống lại chế độ hữu nói chung, chỉ chống lại chế độ
hữu lớn, chống lại lạm dụng chế độ hữu giữ lại sở hữu nhỏ về
liệu sản xuất, sở tồn tại của nền tiểu sản xuất hàng hóa.
6.Trong học thuyết của J.B.Clark, người công nhân được thuê sau
cùng người không tạo ra lợi nhuận cho nhà bản.
Đúng. Chỉ người công nhân cuối cùng người công nhân giới hạn
mới ko tạo ra lợi nhuận
Theo quan điểm của clark, tiền lương của công nhân bằng với giá trị
sản phẩm của công nhân giới hạn, họ làm ra bao nhiêu chỉ đủ trả tiền
lương cho họ ko lợi nhuận cho nên người công nhân được thuê
sau cùng ko tạo ra lợi nhuận cho người tư bản
7.thuyết của A.F. Marshall khẳng định giá cả do cung cầu quyết
định do đó chi phí sản xuất không ảnh hưởng đến sự hình
thành giá cả hàng hóa.
Sai. luận giá cả của
SAI. theo ông giá cả hình thức của quan hệ về số lượng trong
đó hàng hoá tiền tệ được trao đổi với nhau. Giá cả được hình thành
theo người mua người bán. Ông cho rằngtrong chế thị trường với
điều kiện cạnh tranh hoàn toàn thì cung cầu phụ thuộc vào giá cả, mặt
khác chế thị trường tác động làm cho giá cả phù hợp với cung cầu.
8.Quan điểm về số lượng tiền tệ của phái Trọng thương W.Petty
khác nhau.
ĐÚNG, Vì:* Theo phái Trọng thương:
- Đề cao vai trò của tiền (vàng), coi tiền tiêu chuẩn bản của của cải,
tài sản thực sự của các quốc gia.
- Khối lượng tiền tệ chỉ thể gia tăng nhờ thương nghiệp do trao đổi
không ngang giá.
* Theo W. Petty: phê phán phái Trọng Thương: “Tiền tệ không phải lúc
nào cũng tiêu chuẩn của sự giàu có, cho nên đánh giá tiền tệ quá cao
một sai lầm”.
- Phê phán chế độ song bản vị (lấy vàng bạc làm đơn vị tiền tệ)
ủng hộ chế độ đơn bản vị. Ông phê phán việc phát hành tiền không đủ
giá trị, làm như vậy chính phủ không lợi lộc giá trị tiền tệ sẽ
giảm xuống.
9.Trong học thuyết của Proudhon, chỉ sản xuất mới tạo ra giá trị
cấu thành.
SAI, để “giá trị cấu thành” ông cho rằng chỉ sản xuất ra những
hàng hóa nào được yêu cầu, phải tạo điều kiện để hàng hóa thực
hiện được giá trị.
10.Kinh tế chính trị Cổ điển Anh hạn chế không chỉ ra được
mâu thuẫn trong phân phối thu nhập trong hội bản.
ĐÚNG, D. Ricardo cho rằng trong hội bản có ba giai cấp: Lao
động, địa chủ, các nhà bản trong công, nông, thương nghiệp. Do vậy
ba loại thu nhập: tiền lương, lợi nhuận, địa ứng với ba giai cấp.
Luận điểm quan trọng nhất trong phân phối của ông là: không thể nâng
cao giá trị của lao động không làm giảm lợi nhuận một cách tương
ứng. Luận điểm nói trên thể hiện qua việc ông đã trình bày quy luật vận
động của tiền lương, lợi nhuận, địa tô: nếu tiền công hạ xuống thì lợi
nhuận tăng lên (chứ không phải địa tô tăng lên); nếu địa tiền công
tăng lên thì lợi nhuận giảm xuống. đây ông đã đã mở ra một trang sử
trong tưởng kinh tế, chỉ ra quan hệ tiền lương, lợi nhuận, địa
quan hệ giữa các giai cấp. Hạ thấp tiền lương làm cho lợi nhuận ng lên
ngược lại, tiền lương tăng làm cho lợi nhuận giảm còn giá trị hàng
hóa không biến đổi. Ricardo đặc biệt tra lo ngại xu hướng tăng tiền
lương làm giảm lợi nhuận của các nhà bản. Như vậy, Ricardo đã
nhận thấy sự đối lập giữa tiền lương lợi nhuận, tức sự đối lập giữa lợi
ích kinh tế của công nhân các nhà tư bản. Đáng tiếc rằng cách giải
các vấn đề hội của ông lại là giải thích sự nghèo khổ của công nhân
bằng sự nghèo nàn của tài nguyên thiên nhiên. Ông cho phần thu nhập
của mỗi giai cấp phụ thuộc vào độ màu mcủa đất đai, đầu óc tháo vát
sự sinh sôi nảy nở của con người. Như vậy kinh tế chính trị Cổ điển
Anh hạn chế không chỉ ra được mâu thuẫn trong phân phối thu
nhập trong hội bản.

Preview text:

1. Tư tưởng kinh tế của phái Trọng Nông là bảo vệ lợi ích cho sản
xuất nhỏ của nông dân trong nông nghiệp.

ĐÚNG . Trường phái trọng nông chuyển trọng tâm nghiên cứu từ lĩnh
vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, đặc biệt đánh giá cao vai trò của
nông nghiệp. Coi nó là lĩnh vực duy nhất tạo ra của cải cho xã hội, chỉ
có lao động nông nghiệp mới là lao động có ích và là lao động sinh lời,
muốn giàu có phải phát triển nông nghiệp.
2. Tư tưởng giá trị hàng hóa do lao động tạo ra của A.Smith theo
ông là đúng với tất cả các nền sản xuất hàng hóa.

SAI vì Ông suy ra giá trị do lao động tạo ra chỉ đúng trong nền kinh tế
hàng hoá giản đơn. Còn trong nền kinh tế TBCN, giá trị do các nguồn
thu nhập tạo thành, nó bằng tiền lương cộng với lợi nhuận và địa tô.
3. D.Ricardo thông qua phân tích phân phối đã chỉ ra rằng sự biến
đổi thu nhập trong xã hội tư bản chỉ có lợi cho công nhân.

Sai. Theo ông, khi tiền lương của công nhân có khuynh hướng tăng do
tăng giá lúa mì, địa tô của địa chủ cũng có khuynh hướng tăng vì dân số
càng ngày càng tăng và con người buộc phải khai thác thêm những vùng
đất ít màu mỡ. Xu hướng này sẽ làm cho doanh lợi của các nhà tư bản
ngày càng giảm. Trong sự biến đổi này, công nhân không được lợi
nhưng cũng không bị thiệt hại, nhà tư bản là người bị thiệt hại do lợi
nhuận giảm vì vậy, chỉ có giai cấp địa chủ là người được lợi do địa tô
tăng, đây là giai cấp được hưởng lợi duy nhất của tổ chức kinh tế.
4. Tư tưởng kinh tế của J.B.Say là thị trường có khả năng tự cân
bằng song khủng hoảng kinh tế vẫn có thể xảy ra.
Đúng. Theo lý thuyết quy luật
Do sự giảm sút sản xuất của các ngành sản xuất thừa,
SAI, vì Quan điểm của J.B.Say là: sản xuất tạo ra những nơi tiêu thụ tức
là cung tự tạo ra cầu của chính nó. Theo ông, giá trị của một sản phẩm
được sản xuất ra ngay lập tức sẽ biến thành thu nhập cho những người
tạo ra nó và số tiền luôn lưu thông ấy sẽ được tự động chi tiêu. Như vậy,
tổng giá trị được sản xuất sẽ ngang bằng với tổng giá trị của những thu
nhập được phân phối và tự nó tạo ra sự chi tiêu. Kết quả là tất cả những
gì được sản xuất sẽ được mua vì một sức mua tương đương đã được
phân phối. Theo lý thuyết trên thì nền kinh tế TBCN sẽ không có khủng hoảng.
5. Quan điểm của P.J.Proudhon là cần phải xóa bỏ tất cả các loại tư
hữu vì nó sinh ra sự chiếm đoạt bất bình đẳng.

SAI, Để xóa bỏ bất bình đẳng, ông đề nghị xóa bỏ sở hữu nhưng giữ lại
tài sản cá nhân, nghĩa là xóa bỏ sở hữu lớn (mặt tiêu cực) và thay vào đó
là quyền chấp hữu (thực chất là giữ lại tư hữu nhỏ). Như vậy, Proudhon
không chống lại chế độ tư hữu nói chung, mà chỉ chống lại chế độ tư
hữu lớn, chống lại lạm dụng chế độ tư hữu và giữ lại sở hữu nhỏ về tư
liệu sản xuất, cơ sở tồn tại của nền tiểu sản xuất hàng hóa.
6. Trong học thuyết của J.B.Clark, người công nhân được thuê sau
cùng là người không tạo ra lợi nhuận cho nhà tư bản.

Đúng. Chỉ có người công nhân cuối cùng là người công nhân giới hạn
mới ko tạo ra lợi nhuận
Theo quan điểm của clark, tiền lương của công nhân bằng với giá trị
sản phẩm của công nhân giới hạn, họ làm ra bao nhiêu chỉ đủ trả tiền
lương cho họ và ko có lợi nhuận cho nên người công nhân được thuê
sau cùng ko tạo ra lợi nhuận cho người tư bản
7. Lý thuyết của A.F. Marshall khẳng định giá cả do cung cầu quyết
định do đó chi phí sản xuất không có ảnh hưởng gì đến sự hình thành giá cả hàng hóa.
Sai. Lý luận giá cả của
SAI. Vì theo ông giá cả là hình thức của quan hệ về số lượng mà trong
đó hàng hoá và tiền tệ được trao đổi với nhau. Giá cả được hình thành
theo người mua và người bán. Ông cho rằngtrong cơ chế thị trường với
điều kiện cạnh tranh hoàn toàn thì cung và cầu phụ thuộc vào giá cả, mặt
khác cơ chế thị trường tác động làm cho giá cả phù hợp với cung và cầu.
8. Quan điểm về số lượng tiền tệ của phái Trọng thương và W.Petty là khác nhau.
ĐÚNG, Vì:* Theo phái Trọng thương:
- Đề cao vai trò của tiền (vàng), coi tiền là tiêu chuẩn cơ bản của của cải,
là tài sản thực sự của các quốc gia.
- Khối lượng tiền tệ chỉ có thể gia tăng nhờ thương nghiệp do trao đổi không ngang giá.
* Theo W. Petty: phê phán phái Trọng Thương: “Tiền tệ không phải lúc
nào cũng là tiêu chuẩn của sự giàu có, cho nên đánh giá tiền tệ quá cao là một sai lầm”.
- Phê phán chế độ song bản vị (lấy vàng và bạc làm đơn vị tiền tệ) và
ủng hộ chế độ đơn bản vị. Ông phê phán việc phát hành tiền không đủ
giá trị, làm như vậy chính phủ không có lợi lộc gì vì giá trị tiền tệ sẽ giảm xuống.
9. Trong học thuyết của Proudhon, chỉ có sản xuất mới tạo ra giá trị cấu thành.
SAI, vì để có “giá trị cấu thành” ông cho rằng chỉ sản xuất ra những
hàng hóa nào mà nó được yêu cầu, phải tạo điều kiện để hàng hóa thực hiện được giá trị.
10.Kinh tế chính trị Cổ điển Anh có hạn chế là không chỉ ra được
mâu thuẫn trong phân phối thu nhập trong xã hội tư bản.
ĐÚNG, vì D. Ricardo cho rằng trong xã hội tư bản có ba giai cấp: Lao
động, địa chủ, các nhà tư bản trong công, nông, thương nghiệp. Do vậy
có ba loại thu nhập: tiền lương, lợi nhuận, địa tô ứng với ba giai cấp.
Luận điểm quan trọng nhất trong phân phối của ông là: không thể nâng
cao giá trị của lao động mà không làm giảm lợi nhuận một cách tương
ứng. Luận điểm nói trên thể hiện qua việc ông đã trình bày quy luật vận
động của tiền lương, lợi nhuận, địa tô: nếu tiền công hạ xuống thì lợi
nhuận tăng lên (chứ không phải địa tô tăng lên); nếu địa tô và tiền công
tăng lên thì lợi nhuận giảm xuống. Ở đây ông đã đã mở ra một trang sử
trong tư tưởng kinh tế, chỉ ra quan hệ tiền lương, lợi nhuận, địa tô là
quan hệ giữa các giai cấp. Hạ thấp tiền lương làm cho lợi nhuận tăng lên
và ngược lại, tiền lương tăng làm cho lợi nhuận giảm còn giá trị hàng
hóa không biến đổi. Ricardo đặc biệt tỏ ra lo ngại xu hướng tăng tiền
lương vì nó làm giảm lợi nhuận của các nhà tư bản. Như vậy, Ricardo đã
nhận thấy sự đối lập giữa tiền lương và lợi nhuận, tức sự đối lập giữa lợi
ích kinh tế của công nhân và các nhà tư bản. Đáng tiếc rằng cách lý giải
các vấn đề xã hội của ông lại là giải thích sự nghèo khổ của công nhân
bằng sự nghèo nàn của tài nguyên thiên nhiên. Ông cho phần thu nhập
của mỗi giai cấp phụ thuộc vào độ màu mỡ của đất đai, đầu óc tháo vát
và sự sinh sôi nảy nở của con người. Như vậy kinh tế chính trị Cổ điển
Anh có hạn chế là không chỉ ra được mâu thuẫn trong phân phối thu
nhập trong xã hội tư bản.