KINH TẾ HỌC CHO NGƯỜI RA QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ
Câu 1: Trình bày sự khác nhau giữa di chuyển và dịch chuyển dọc đường cầu và đường cung
Sự di chuyển dọc theo một đường cầu hoặc đường cung xảy ra khi sự thay đổi trong mức
giá hiện hành của chính hàng hoá mà người ta đang phân tích.
Chẳng hạn, trên một đường cầu 1 xác định, khi mức giá 1, lượng cầu D P Q1.
ĐiểmA trên đường cầu nói trên mô tả trạng thái này. Nếu vì một lý do nào đó mà mức giá của hàng
hoá chúng ta đang phân tích hạ xuống thành 2 thì lượng cầu về hàng hoá sẽ tăng lên tương ứngP
thànhQ2. Điểm cũng trên đường cầu nói trên chính thể hiện trạng thái mới đó. Như vậy, sự diB
chuyển từ điểm đến điểm trên cùng một đường cầu kết quả của việc mức giá hiện hành củaA B
hàng hoá thay đổi.
Hình 1: Di chuyển dọc theo một đường và dịch chuyển cả một đường.
Khi mức giá hiện hành của hàng hoá hạ từ 1 xuống 2, chỉ có sự di chuyển dọc theo đườngP P
cầuD1 từ điểm đến điểm . A B
Sự dịch chuyển đường cung hoặc cầu do sự thay đổi của các yếu tố khác có liên quan như:
+ Đường cầu: thu nhập, thị hiếu, giá của các hàng hóa liên quan, dân số, kỳ vọng
Ví dụ: thịt lợn là một loại hàng hóa bình thường, hình sau minh họa khi thu nhập tăng lượng cầu thịt
lợn đều tăng tại mọi mức giá: trước đây khi giá là 80k thì thị trường mua 200 tấn nhưng khi thu nhập
tăng nên tại mức giá đó thị trường mua 250 tấn-1 năm. Đường cầu dịch chuyển từ D1 sang D2
+ Đường cung: công nghệ sản xuất, số lượng người sản xuất, giá của các yếu tố đầu vào,
chính sách thuế, các kỳ vọng
dụ: nếu giá của các yếu tố đầu vào giảm, chi phí sản xuất sẽ giảm, lợi nhuận tăng và do đó hãng
muốn sản xuất thêm hàng hóa dịch vụ. hình vẽ ( nguyên tắc khi vẽ hình là mức giá không đổi: trang
55-vi mô)
Trên thực tế, 9lihời. dụ, do thu nhập của những người tiêu dùng tăng lên, đường cầu về
một loại hàng hoá thông thường X sẽ dịch chuyển sang phải. Kết quả giá cân bằng của hàng hoá
X sẽ tăng lên. Cùng với sự kiện này, lượng cung về hàng hoá X cũng tăng lên. đây, bắt nguồn từ
việc thu nhập tăng, có một sự dịch chuyển của đường cầu về hàng hoá X đồng thời với sự di chuyển
dọc theo đường cung của hàng hoá này.
Hình 2: Sự dịch chuyển đường cầu đi đôi với sự di chuyển dọc theo đường cung.
Khi thu nhập tăng, đường cầu về một loại hàng hoá thông thường sẽ dịch chuyển
từD1 thành 2, điểm cân bằng từ chuyển thành , thể hiện sự di chuyển dọc theo đườngD E F
cungS đồng thời xảy ra.
Câu 2: Giải thích vì sao với nhiều loại hàng hóa thì độ co giãn của cung trong dài hạn sẽ lớn hơn trong
ngắn hạn. Cho VD minh họa.
Trong ngắn hạn cung thường ít co giãn hơn. Lý do là do trong thời gian ngắn các hãng ko thể
dễ dàng thay đổi được quy nhà máy, máy móc thiết bị nhà xưởng để sản xuất nhiều hay ít hàng
hóa khi giá bán thay đổi. Ngay cả đối với những hãng có thể tăng sản xuất trong một thời gian ngắn
hạn thì do hạn chế mà hãng gặp phải việc tăng cung sẽ rất tốn kém do vậy cần phải tăng giá mạnh để
có động lực tăng thêm chút ít sản lượng trong ngắn hạn.
Tuy nhiên trong dài hạn các hãng thể xây thêm nhà máy mới, đóng cửa nhà máy
thay đổi dây chuyền sản xuất hay nhà xưởng, thuê thêm lao động thậm chí thay đổi công nghệ.
Ngoài ra các hãng mới có thể gia nhập thị trường các hãng cũ có thể đóng cửa sản xuất và rời bỏ thị
trường. vì vậy lượng cung dài hạn sẽ có phản ứng mạnh hơn với giá.
Ví dụ: đối với nhà ở cho thuê tại các thành phố lớn trong thời gian ngắn hạn rất khó để có thể
xây dựng mới và tăng lượng cung nhà cho thuê khi giá tăng. Khi đó tưng cầy chỉ có thể đẩy tiền thuê
tăng mạnh hơn. Tuy nhiên với thời gian đủ dài nếu ko có các chính sách kiểm soát giá cho thuê nhà,
tiền thuê nhà cao hơn sẽ khuyến khích các chủ nhà sửa sang những căn nhà hiện có và xây thêm nhà
mới vì thế lượng cung sẽ cao hơn.
- Những hàng hóa cung ngắn hạn co giãn hơn cung dài hạn những hàng lâu bền
thể tái chế để trở thành một phần của lượng cung nếu giá tăng. Vd giá đồng tăng khuyến khích
việc thu gom và tái chế…
Câu 3: Giải thích sự khác nhau giữa độ co giãn của cầu trong dài hạn và ngắn hạn. cho ví dụ minh họa
Đối với phần lớn các hàng hóa khoảng thời gian càng dài độ co giãn của cầu càng lớn. Khái
niệm ngắn hạn liên quan đến thời ký trong đó ít nhất một vài sự điều chỉnh là ko thể thực hiện được
trong khi dài hạn là thời kỳ đủ dài để thực hiện các quá trình điều chỉnh. , trong ngắn hạn rất khó
thể thay đổi thói quen tiêu dùng, khi giá thay đổi người tiêu dùng thường vẫn tiếp tục mua lượng
hàng hóa tương tự trong thời điểm đó. Tuy nhiên trong thời gian đủ dài người tiêu d có thể thay đổi
thói quen họ sẽ tìm hàng hóa thay thế có thể chấp nhận được và có chi phí ít hơn. Khi quá trình thay
thế xảy ra lượng cầu đối với hàng hóa ban đầu sẽ giảm mạnh dẫn đến cầu co giãn hơn.
dụ cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973-1974 khiến cho giá dầu tăng gấp 4 lần, chi phí
sưởi ấm và gas tăng. Ban đầu, người tiêu dùng vấn phải duy trì tiêu dụng tại mức xấp xỉ ban đầu
chỉ có thể khắc phục tình trạng giá cao bằng cách sử dụng tiết kiệm hơn. Do vậy cầu trong ngắn hạn
ít co giãn. Tuy nhiên trong dài hạn người tiêu dùng phải chuyển sang sử dụng các hàng hóa thay thế
cho dầu hoặc mua các phương tiện đòi hỏi ít nhiên liệu hơn lượng dầu sẽ giảm mạnh hơn trong
dài hạn, cầu trở nên co giãn hơn. Bản thân các nhà sản xuất cũng phải điều chỉnh hành vi, sản xuất
ra các sản phẩm tiết kiệm nhiên liệu.
Tuy nhiên với một số hàng hóa thì cầu trong dài hạn lại ít co giãn hơn đặc biệt với các
hàng hóa lâu bền như ô tô, tủ lạnh, máy chạy địa DVD… ví dụ nếu giá ti vi LG tăng, lúc đầu người
tiêu dùng có thể trì hoãn mua tivi mới, lượng cầu có thể giảm mạnh và cầu co giãn mạnh, Tuy nhiên
trong dài hạn những chiếc tivi không còn sử dụng được nữa cần phải được thay thế bằng cái
mới, theo đó lượng cầu hàng hóa lại tăng lên. Vì vậy lượng cầu tivi LG trong dài hạn thường co giãn
ít hơn trong ngắn hạn
Câu 4: Giả sử chính phủ kiểm soát giá thị thịt chỉ định giá của 2 sản phẩm này mức
thấp hơn giá bán của thị trường trước đó. Giải thích vì sao hiện tượng khan hiếm hàng hóa có thể xảy
ra trong trường hợp này và nhân tố nào có thể ảnh hướng đến độ khan hiếm.
Chính phủ có thể tác động tới thị trường thông qua các chính sách can thiệp trực tiếp vào giá
làm cho lượng cung cầu khác hẳn nhau. Trong trường hợp trên chính phủ đặt giá trần cho thịt
thịt thấp hơn mức giá của thị trường. Giá trần mức giá cao nhất đối với một mặt hàng
nào đó do chính phủ ấn định, các hãng sản xuất không được bán hàng với giá cao hơn mức giá trần
đó nhằm bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên điều này làm ảnh hưởng đến lợi ích của người bán,
người sản xuất và kết quả là thiếu hụt hàng hóa sẽ xuất hiện.
Giả sử với cân bằng ban đầu, với mức cung thịt gà và thịt lợn là S cân bằng tại E với mức giá
là P1 và lượng cầu là Q1. Khi chính phủ áp dụng mức giá Pc thấp hơn giá cân bằng ban đầu P1. Khi
đó lượng cung các nhà sản xuất sẵn sàng cung ứng Q2 trong khi đó lượng cầu của người tiêu
dùng Q3 lớn hơn Q2. Do vậy tồn tại một lượng cầu Q3-Q2. Mức độ khan hiếmng hóa
càng lớn khi cầu hàng hóa càng co giãn mạnh với giá (đường cầu càng thoải)
.
Câu 5: Một trường đại học quyết định sẽ kiểm soát giá cho thuê phòng của sinh viên giúp cắt giảm chi
phí sinh hoạt, Gisử giá thuê phòng trên thị trường cho 2 người là 3tr đồng dự kiến tăng thành 4tr từ
1/2019. Tuy nhiên trường này vẫn quyết định duy trì giá thuê phòng ở mức 3tr/tháng. Hãy vẽ đồ thị và
giải thích quyết định trên có đem lại lợi ích cho tất cả sinh viên hay ko? Vì sao?
Đồ thị dưới đây thể hiện mức cung cầu của phòng trọ tại trường đại học đó. Trước khi thi
trường tăng giá phòng trọ cho sinh viên đường cầu D, đường cung S1 cân bằng tại E1 với
mức giá P1 và lượng cầu Q1. Khi giá thuê phòng trọ trên thị trường tăng lên gần 30% từ 3tr lên 4tr,
đây có thể nói là mức tăng giá khá cao. Đồng thời phòng trọ là một mặt hàng thiết yếu của sinh viên
nên lượng cầu rất khó để giảm. khi giá phòng trọ bên ngoài tăng nhu cầu phòng trọ KTX sẽ tăng lên
làm cho đường cầu phòng KTX dịch chuyển sang D2.
Với mức giá không đổiP1 khi đó lượng cung Q1 trong khi lượng cầu là Q2. Khi đó tồn
tại hiện tượng cầu hay thiết hụt hàng hóa một lượng Q2-Q1. Khi nhà trường đặt mức giá như
vậy, một ssinh viên may mắn có thể thuê được phòng với giá rẻ hơn thị trường, nhưng rất nhiều
sinh viên khác không thể thuê được. Khi đó có thể cả người cho thuê và sinh viên có thể sử dụng các
hành vi không hợp lệ để mua hàng. dụ như người cho thuê ưu tiên cho người quen, bạn bè, con
cán bộ… hay sinh viên chấp nhận trả thêm một khoản nhỏ để thuê được phòng gây ra những ảnh
hưởng xấu. như vậy quyết định trên mặc nhằm đảm bảo lợi ích cho sinh viên nhưng không phải
là cho tất cả các sinh viên.
Câu 6: Bốn giả thiết về sở thích của người tiêu dùng là gì? Giải thích ngắn gọn.
Các giả thiết về sở thích của người tiêu dùng
- Tính hợp lý: Người tiêu dùng được giả định hợp lý, người tiêu dùng muốn nhiều hàng hóa
hơn ít
- Tính nhất quán: Người tiêu dùng hành động một cách nhất quán, nếu người tiêu dùng thích kết
hợp hàng hóa A hơn kết hợp hàng hóa B kho có cả hai kết hợp hàng hóa thì người tiêu dùng sẽ
không chọn kết hợp hàng hóa B khi kết hợp hàng hóa A cũng có sẵn
- Tính bắc cầu: Nếu người tiêu dùng thích kết hợp hàng hóa A hơn kết hợp hàng hóa B và thích
B hơn thích C thì người tiêu dùng sẽ chọn A thay vì C
- Kết hợp hàng hóa bộc lộ sở thích : Khi người tiêu dùng chọn một kết hợp hàng hóa với một
ngân sách đã cho thì sở thích của anh ta đã được bộc lộ bởi kết hợp hàng hóa đó. Kết hợp hàng
hóa được coi tốt nhất so với các kết hợp hàng hóa khác đòi hỏi cùng một ngân sách nhất
định. kết hợp hàng hóa được chọn này tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng.
Câu 7: Liệu 2 đường bàng quang có cắt nhau ko? Giải thích ngắn gọn –trang 139-gt Vi mô
Đường bàng quan tập hợp các kết hợp hàng hóa hay các giỏ hàng hóa mang lại cùng một
mức lợi ích cho người tiêu dùng. Người ta còn gọi đường bàng quan đường đồng mức lợi ích
hay đường đồng mức thỏa mãn.
Đặc điểm của đường bàng quan:
- độ dốc âm, điều đó có nghĩa là nếu lượng một loại hành hóa giảm xuống thì hàng hóa kia
phải tăng lên để người tiêu dùng cùng thu được một mức lợi ích
- Đường bàng quan càng xa gốc tọa độ người tiêu dùng càng thu được lợi ích lớn hơn.
- Các đường bàng quan ko cắt nhau . nếu hai đường cắt nhau thì giao điểm biểu diễn
cùng một lợi hình. Điều này như biểu thị hình dưới. (vẽ hai đường bàng quan cắt
nhau ra)
Câu 8: Tỷ lệ thay thế cận biên có ý nghĩa gì? MRS có thay đổi khi di chuyển dọc đường bàng quan hay
ko? (xét 2 TH đường bàng quan dạng cong và tuyến tính)
-Tỷ lệ thay thế cận biên của hàng hóa X cho hàng hóa Y (MRS) số đơn vị hàng hóa Y phải
giảm đi khi tăng tiêu dùng 1 đơn vị hàng hóa X để giữ nguyên mức thỏa mãn đã cho và đc
bằng cth: MRS= -ΔY/ΔX
Như vậy, MRS là tỷ lệ thay thế giữa 2 hàng hóa mà vẫn đảm đảm lợi ích không đổi đối với người
tiêu dùng.
- Tỷ lệ thay thế cận biên của hàng hóa X cho hàng hóa Y đc đo bởi độ dốc của đường bàng
quan. mọi điểm trên đg bàng quan đều lợi ích như nhau nên tổng lợi ích tăng thêm do
vc tăng tiêu dùng hàng hóa X phải = tổng lợi ích mất đi do giảm tiêu dùng hàng hóa Y.
vậy ta có: ΔX.MUx + ΔY.MUy =0
MRS x/y= -Δy/Δx= MUx / Muy
*TH đường bàng quan dạng cong:
Khi vận động dọc theo đường bàng quan từ trái qua phải, để giữ nguyên mức lợi ích thì khi
tăng hàng hóa X phải giảm lượng tiêu dùng hàng hóa Y do đó lợi ích CB của hàng X sẽ giảm xuống
theo ql lợi ích CB giảm dần còn lợi ích CB của hàng hóa Y lại tăng lên, vì vậy MRS sẽ giảm xuống.
Như vậy, đg bàng quan lồi so với gốc tọa độ cho biết để thêm những lượng hàng hóa X càng về
sau, lượng hàng hóa Y mà ng tiêu dùng sẵn sàng từ bỏ càng ít đi.
*TH đường bàng quan tuyến tính:
Khi Các đường bàng quan đường thẳng thì MRS 1 hằng số, khi đó các hàng hóa thay thế hoàn
hảo trong tiêu dùng. VD:
Câu 9: So nh tỷ lệ thay thế cận biên MRS và tỉ lệ thay thế giữa 2 mức giá khiến cho ng tiêu dùng đạt
lợi ích tối đa
Với bản đồ đường bàng quan đường ngân sách trên, trạng thái CB hay điểm tiêu dùng tối
ưu đạt tại điểm E. Lựa chọn tiêu dùng tối ưu đc thiết lập tại E- là tiếp điểm của đường ngân sách
đường bàng quan cao nhất thể. đó độ dốc đường bàng quan (tức tỷ lệ thay thế CB giữa 2
hàng hóa X Y) sẽ bằng với độ dốc đường ngân sách (tỉ lệ thay thế CB trên thị trg). Khi đó điều
kiện tối ưu của ng tiêu dùng là:
Mux/MUy= Px/Py
Người tiêu dùng hợp lý sẽ mua mỗi loại hàng hóa cho đến khi tỉ lệ giữa lợi ích tăng thêm thu
đc so vs giá phải trả là bằng nhau cho mỗi loại hàng hóa. Hay nói cách khác, lợi ích CB phát sinh do
mỗi đơn vị tiền tể chi ra phải là như nhau đối với mỗi loại hàng hóa.
Câu 10: Độ co giãn của đường cầu và độ dốc của đường cầu có tương đương nhau không? Tại sao ?
Độ co giãn của đường cầu độ dốc của đường cầu đều thể cho biết sự phản ứng của
lượng cầu khi giá thay đổi nhưng nó là hai khái niệm khác nhau và ý nghĩa khác nhau. Vì vậy chúng
không tương đương nhau. Vì:
- Độ dốc: độ dốc là thước đo bằng số chính xác mức thay đổi của Y ứng với mức thay đổi của
X.
- Độ co giãn của đường cầu: bằng tích của độ dốc và tỉ số giá và sản lượng.
Câu 11: Độ co giãn chéo của cầu là gì? Liệu độ co giãn này có luôn dương hay không ?
Lượng cầu hàng hóa không những chỉ phụ thuộc o giá trị của bản thân hàng hóa, còn
phụ thuộc vào giá của hàng hóa khác liên quan như hàng hóa bổ sung, hàng hóa thay thế. Để đo
lường phản ứng của lượng cầu của hàng hóa theo hàng hóa khác chúng ta sử dụng độ co giãn chéo
của cầu, với công thức tổng quát như sau :
Độ co giãn chéo của cầu = Thay đổi phần trăm lượng cầu hàng hóa / Thay đổi phần trăm giá
của hàng hóa bổ sung.
Độ co giãn chéo của cầu không luôn co giãn âm. độ co giãn chéo của cầu đối với giá hàng
hóa bổ sung mang dấu âm độ co giãn chéo của cầu đối với giá hàng hóa thay thế mang dấu
dương. khi giá hàng hóa Y tăng thì lượng cầu về hàng hoá X mỗi mức giá (của X) sẽ giảm
ngược lại.
Câu 12: Giả sử bạn nhà tuyển dụng, bạn quan tâm đến năng suất lao động trung bình hay năng
suất lao động cận biên của người bạn thuê gần nhất. Nếu NSLĐ trung bình giảm, bạn thuê thêm
nhân công hay không ? Tại sao.
Nếu một nhà tuyển dụng em sẽ quan tâm tới việc tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp
khi thuê thêm lao động. Do đó sẽ quan tâm đến năng suất lao động cận biên của người được thuê
gần nhất hơn. Việc thuê mua lao động của DN sẽ dựa trên nguyên tắc sau:
MRP(l)= MC(l)
MRP(L) là sản phẩm doanh thu cận biên của lao động
MC (l) là chi phí cận biên của lao động
Nếu trong TH, thị trường lao động thị trường hàng hóa, dịch vụ cạnh tranh hoàn hảo thì
nguyên tắc trở thành: MRP (l)= w
W là tiền lương/ giá của 1 đơn vị lao động
→ Vậy: MRP(L)=MR x MP(l)= P0 x MP(l)
Theo quy luật năng suất cận biên giảm dần: MP(L) xu hướng giảm nếu ta tăng lao động đầu vào
do đó sản phẩm doanh thu cận biên của lao động MRP(l) cũng xu hướng giảm khi số lượng lao
động tăng.
APL > ML : AP giảm dần khi tăng lao động => DN giảm thuê lao động.P L
Câu 13: Nếu một chủ doanh nghiệp không tự trả lương cho mình thì chi phí kế toán bằng 0 nhưng chi
phí kinh tế lớn hơn 0. Theo anh (chị) nhận định trên đúng hay sai? Giải thích?
*Nhận định trên là đúng.
*Giải thích:
Chi phí kế toánnhững khoản chi phí trực tiếp mà doanh nghiệp thực tế phải bỏ ra khi sản
xuất hàng hóa. bao gồm những khoản chi phí như: khấu hao máy móc, thiết bị, nhà xưởng, mua
sắm nguyên, nhiên, vật liệu; trả tiền thuê nhân công hay thanh toán các khoản lãi vay... Chi phí kế
toán luôn luôn thể hiện dưới dạng những dòng tiền mà người chủ doanh nghiệp thực sự phải chi trả,
thanh toán khi thuê, mua các yếu tố đầu vào…
Chi phí kinh tế là tổng cộng của các khoản chi phí cơ hội của việc doanh nghiệp s dụng các
nguồn lực để sản xuất khối lượng hàng hóa.
Như thế, chi phí kế toán một bộ phận của chi phí kinh tế. Ngoài chi phí kế toán, chi phí
kinh tế còn bao gồm những khoản chi phí hội ẩn có liên quan. Đó những khoản chi phí
doanh nghiệp không phải trực tiếp chi trả song lại những khoản mất mát hay thiệt hại thực sự
doanh nghiệp phải gánh chịu hay hy sinh khi thực hiện quyết định sản xuất kinh doanh của mình.
Chủ doanh nghiệp không tự thuê chính bản thân mình, do đó, về mặt kế toán, người này
dường như không phải bỏ ra một đồng nào để khai thác sức lao động của bản thân=> khôngmột
dòng tiền nào phát sinh=> chi phí kế toán bằng 0.
Tuy thế, khi phải làm những công việc doanh nghiệp, người chủ doanh nghiệp mất đi
hội làm những công việc khác, tức mất đi khả năng sử dụng nguồn lực lao động của mình theo
những phương án khác => phát sinh chi phí cơ hội ca việc làm chủ doanh nghiệp => chi phí kinh tế
lớn hơn 0.
Câu 14: Đầu thế kỉ XX, có tới hàng trăm công ty sản xuất ô tô được thành lập tại Mỹ. Tuy nhiên cuối
thế kỉ XX chỉ còn lại 3 hãng. Giả sử không bàn tới nguyên nhân đây kết quả do chính sách chống
độc quyền của chính phủ thì vì số lượng hãng sản xuất xe lại sụt giảm nhanh đến vậy?
Mỹ đi tiên phong sản xuất xe hơi hàng loạt thị trường vào đầu thế kỷ 20 và là thị trường ôtô lớn nhất
thế giới trong hơn một trăm năm, gây ra sự sáng tạo của hàng trăm thương hiệu. 3 thương hiệu xe
hơi tốt nhất của Mỹ đã sống sót qua các thời điểm General Motors, Ford Fiat Chrysler của
Mỹ.
Nguyên nhân số lượng hãng sản xuất ô tô Mỹ sụt giảm nhanh:
- Sự cạnh tranh khốc liệt của các hãng. Đầu thế kỉ XX, nhiều hãng xe mới lần lượt ra đời cùng
với ngày càng nhiều mẫu xe mới cải tiến hơn so với mẫu xe trước cạnh tranh nhau. Sự phát
triển nhanh chóng này làm nhiều hãng phá sản do không bán được.
- Do tác động của các của các cuộc suy thoái kinh tế Mỹ từ thế kỉ XX. Trong đó phải kể đến là
cuộc đại khủng hoảng (1929-1933),cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, sự sụp đổ của thị
trường chứng khoán Mỹ năm 1973-1974, khủng hoảng tài chính 2007
- Khi tình hình kinh tế khó khăn, người tiêu dùng có xu hướng cắt giảm chi tiêu, đặc biệt là cho
những tài sản lớn như ô => doanh thu các hãng xe giảm => sự sụp đổ của nhiều hãng xe
như Essex (1931), Franklin (1934), Reo (1936), Auburn, Graham,... Cuộc đại khủng hoảng
dần cắt bỏ tầng lớp quý tộc cũ. Những hãng xe được tầng lớp giàu có ưa chuộng bị suy
vong
- Giá dầu thế giới tăng cao đã xảy ra với tốc độ quá nhanh => Thị hiếu người tiêu dùng thay
đổi, họ có xu hướng sử dụng những mẫu xe tiết kiệm nhiên liệu. Các nhà sản xuất ô tô Mỹ có
phản ứng quá chậm, và mắc một sai lầm lớn là ngày càng tung ra nhiều mẫu xe “khủng” hơn
(xe tiêu tốn nhiên liệu lớn)
- Đúng lúc đang nỗ lực tái cơ cấu để đáp ứng thay đổi của thị hiếu thì xảy ra cuộc khủng hoảng
tài chính, dẫn đến suy thoái kinh tế. Thị trường chứng khoán khủng hoảng làm giá cổ phiếu
của các hãng xe sụt giảm mạnh. Nếu như những biến cố trên thị trường tài chính Mỹ xảy ra
chậm hơn vài năm, thiệt hại đối với các nhà sản xuất ô tô Mỹ có lẽ không lớn đến vậy.
Câu 15: Những giả thiết cần khi phân tích 1 thị trường cạnh tranh hoàn hảo gì? Theo bạn giả
thiết nào quan trọng nhất?
Các giả thiết:
- số người bán người mua trên thị trường. Sản lượng của họ tương đối nhỏ so với
lượng cung trên thị trường => họ không thể tác động tới giá của thị trường được => Các hãng
sản xuất người “chấp nhận giá” sẵn trên thị trường. Nói cách khác, đường cầu đối với
hãng là một đường nằm ngang.
- Sản phẩm đồng nhất và người tiêu dùng đầy đủ thông tin vsản phẩm. Sản phẩm của các
hãng là giống nhau để người mua không cần quan tâm họ sẽ mua của ai
- Thông tin trên thị trường hoàn hảo với cả người mua người bán. Mọi hành vi của người
mau người bán đều được phản ánh đầy đủ trên thị trường. Như vậy mọi thông tin về sản
phẩm và giá cả đều được người mua biết rõ
- Tự do gia nhập và rút lui khỏi thị trường
Theo em, giả thiết 1 quan trọng nhất. Vì nó phân biệt rõ ràng thị trường cạnh tranh hoàn hảo với
các thị trường khác (thị trường độc quyền, cạnh tranh độc quyền, độc quyền tập đoàn)
Câu 16: Liệu 1 doanh nghiệp có sức mạnh độc quyền hay không khi họ không phải hãng duy nhất sản
xuất hàng hóa cung ứng trên thị trường?
Theo Robert S. Pindyck, Daniel L. Rubinfeld, Kinh tế học vi mô, thì: “Sức mạnh độc quyền
là khả năng người bán hoặc người mua có thể tác động đến giá cả của hàng hóa”.
Một doanh nghiệp có sc mạnh độc quyền ngay cả khi họ không phải hãng duy nhất sản xuất
hàng hóa. Một doanh nghiệp sức mạnh độc quyền khi không phải hãng duy nhất sản xuất hàng
hóa khi doanh nghiệp chiếm thị phần lớn (quy định của chính phủ, rào cản gia nhập, lợi thế về
quy mô, bản quyền bằng phát minh sáng chế, sở hữu duy nhất yếu tố đầu vào) hoặc các hãng có thể
liên kết với nhau trên thị trường (đồng ý hạn chế sản lượng và tăng giá).
Câu 17: Rào cản gia nhập và từ bỏ thị trường gì? những loại rào cản nào nhà độc quyền
thể sử dụng để ngăn chặn đối thủ gia nhập thị trường? Cho ví dụ minh họa?
Rào cản gia nhập từ bỏ thị trường: rào cản gia nhập thị trường những nhân tố ngăn cản
hoặc kìm hãm các doanh nghiệp tham gia hay rút lui tại một thị trường.
Các rào cản nào nhà độc quyền thể sử dụng để ngăn chặn đối thủ gia nhập thị trường, chia
làm 2 loại theo nguồn gốc độc quyền:
- nguồn gốc độc quyền bán: quy định của chính phủ, rào cản gia nhập, lợi thế về quy mô, bản
quyền bằng phát minh sáng chế, sở hữu duy nhất yếu tố đầu vào
- nguồn gốc độc quyền tự nhiên: hãng độc quyền phát sinh từ những đặc điểm sản xuất đặc
biệt trong một ngành, hãng luôn luôn tạo ra tính kinh tế của quy mô lớn: đặc trưng sản phẩm,
yêu cầu vốn lớn, chi phí chuyển đổi cao
Ví dụ minh họa:
- theo quy định của chính phủ: Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN đang độc quyền trong phân
phối điện trên lãnh thổ Việt Nam- người tự đặt ra giá thu mua điện năng của các nhà máy
thủy điện, nhiệt điện, khí điện đạm kể cả thu mua sản lượng điện từ bên ngoài như Trung
Quốc…
- Tổng công ty Đường sắt Việt Nam vẫn gần như độc quyền toàn bộ ngành đường sắt. Do quy
mô vốn khi gia nhập ngành lớn.
Câu 18: Chu kỳ kinh tế là gì? Các tiêu chí đánh giá các giai đoạn của chu kỳ kinh tế?
*Chu kỳ kinh tế (còn gọi là chu kỳ kinh doanh) sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba
pha lần lượtsuy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ). Cũng có quan điểm coi pha phục hồi là
thứ yếu n chu kỳ kinh doanh chỉ gồm hai pha chính suy thoái hưng thịnh (hay mở rộng).
Kinh tế chính trị Marx-Lenin cho rằng một chu kỳ kinh tế của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa gồm bốn
pha là: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh.
*Tiêu chí đánh giá các giai đoạn của chu kỳ kinh tế:
Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:
- Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh
nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo
theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút.
- Cầu vlao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống tiếp theo
là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
- Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên
nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn
kinh tế suy thoái.
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh giá chứng khoán thường giảm theo khi
các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh. Cầu về vốn cũng giảm đi
làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái.
Còn khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại.
Câu 19: Phân tích mối quan hệ giữa chu kỳ kinh tế và việc sử dụng các nguồn lực cho đầu tư?
*Nguồn lực ngân sách nhà nước:
- Chính sách tài khóa thuận chu kỳ ở nhiều nước đang phát triển: mở rộng khi phục hồi và thắt
chặt khi suy thoái do hiệu ứng tham lam
- Chính sách nghịch chu kỳ tại các quốc gia phát triển: mở rộng khi suy thoái thu hẹp khi
phục hồi
*Nguồn lực tư nhân:
- Khi nền kinh tế suy thoái:
- Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến => Việc
này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu vào trang thiết bị, nhà
xưởng cũng giảm, cầu về lao động giảm
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi
các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh => Cầu
về vốn cũng giảm
- Khi nền kinh tế hưng thịnh:
- Tiêu dùng tăng cao, hàng hóa bán chạy => các nhà sản xuất tăng sản lượng => các
doanh nghiệp mở rộng đầu tư vào trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng, công nghệ, thuê
nhiều lao động hơn, nhiều doanh nghiệp mới gia nhập ngành
- Lợi nhuận các doanh nghiệp tăng nhanh chóng, giá cổ phiếu tăng cao => nhu cầu sử
dụng vốn tăng cao
Câu 20: Các lý thuyết chu kỳ kinh tế. Vận dụng đánh giá chu kỳ kinh tế tại Việt Nam.
*Định nghĩa:
Chu kỳ kinh tế (còn được gọi chu kỳ kinh doanh) sự biến động của GDP thực tế theo
trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh. Cũng có quan điểm coi pha phục hồi là
thứ yếu nên chu kỳ kinh tế chỉ gồm 2 pha là suy thoái và hưng thịnh.
*Một số lý thuyết chính lý giải nguyên nhân của chu kỳ kinh tế
- thuyết tiền tệ: cho rằng chu kỳ kinh tế do sự mrộng hay thắt chặt của chính sách tiền
tệ và tín dụng. Đại diện tiêu biểu củathuyết nàynhà kinh tế học đoạt giải Nobel kinh tế
năm 1976, người đứng đầu trường phái Chicago Milton Friedman. thuyết này tỏ ra phù
hợp với cuộc suy thoái của kinh tế Hoa Kỳ 1981-1982 khi Cục Dự trữ Liên bang tăng lãi suất
danh nghĩa tới 18% để chống lạm phát.
- hình gia tốc - số nhân: do Paul Samuelson đưa ra, hình này cho rằng các biến động
ngoại sinh được lan truyền theo chế số nhân kết hợp với sự gia tốc trong đầu tạo ra
những dao động có tính chu kỳ của GDP.
- thuyết chính trị: đại diện các nhà kinh tế học William Nordhaus, Michał Kalecki,...
thuyết này quy cho các chính trị gia nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh tế họ hướng các
chính sách tài khóa và tiền tệ để có thể thắng cử.
- thuyết chu kỳ kinh doanh cân bằng: với những đại diện như Robert Lucas, Jr., Robert
Barro, Thomas Sargent...phát biểu rằng những nhận thức sai lầm về sự vận động của giá cả,
tiền lương đã khiến cho cung về lao động quá nhiều hoặc quá ít dẫn đến các chu kỳ của sản
lượng và việc làm. Một trong những phiên bản của lý thuyết này là tỷ lệ thất nghiệp cao trong
suy thoái do mức lương thực tế của công nhân cao hơn mức cân bằng của thị trường lao
động.
- thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế: lập luận rằng những biến động tích cực hay tiêu cực về
năng suất lao động trong một khu vực thể lan tỏa trong nền kinh tế gây ra những dao
động có tính chu kỳ.
*Vận dụng đánh giá chu kì kinh tế tại Việt Nam:
20 năm đổi mới: ba chu kỳ kinh tế
Nhìn vào số liệu thống vtăng trưởng và thất nghiệp ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay có
thể thấy sau hơn 20 năm đổi mới nước ta đã trải qua ba giai đoạn suy thoái chu kỳ với tần suất từ 9-
10 năm. Lần đầu tiên là năm 1989-1990 khi tăng trưởng GDP trung bình chỉ đạt 4,9% trong khi tỷ lệ
thất nghiệp lên đến 13% năm 1989 và 9% năm 1990.
Từ năm 1990, sau khi duy cải cách thực sự được chuyển hóa thành các chính sách kinh tế
đi vào cuộc sống, nền kinh tế đã nhanh chóng vượt qua giai đoạn khó khăn bước vào thời kỳ
phát triển mạnh với tốc độ tăng GDP bình quân 8,2%/năm trong giai đoạn 1991-1995, đạt mức cao
nhất trong chu kỳ là 9,5% năm 1994, thất nghiệp chỉ còn 5,8%.
Tuy nhiên, do sốc của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á nên nước ta lại nhanh chóng đi
vào thời kỳ suy thoái 1998-1999. Tốc độ tăng trưởng chỉ còn 5,8% năm 1998 xuống đáy 4,8%
năm 1999. Cũng trong năm 1999, thất nghiệp tăng lên 6,7% tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn
mức rất cao 28,9%.
Từ năm 2000-2008, việc tiếp tục kiên trì đường lối đổi mới với nhiều cải cách mạnh mẽ, đặc
biệt là sự ra đời Luật Doanh nghiệp đã giải phóng nguồn lực dồi dào trong khu vực dân doanh. GDP
liên tục tăng qua các năm đạt 8,5% năm 2007, thất nghiệp giảm xuống chỉ còn 4,2%. Tuy nhiên,
để đạt được kết quả đó, trong giai đoạn 2003-2007 cung tiền cũng tăng cao trung bình 25%/năm, tín
dụng nội địa tăng trên 35%/năm và đạt mức cao nhất thế giới là 53% trong năm 2007.
Trong khi đó, có tới 60% lượng tín dụng được dành cho các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu
quả khi ICOR mức rất cao (9-12) chỉ thể tạo việc làm cho khoảng 10% lực lượng lao động.
Theo phân tích về chu kỳ của trường phái kinh tế học Áo (Mises, Hayek), sự thừa tín dụng
phân bổ không hiệu quả này rốt cuộc đã dẫn tới khủng hoảng tín dụng buộc thị trường tín dụng
phải điều chỉnh như chúng ta đã chứng kiến trong năm 2008.
Bên cạnh đó, khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới cũng một sốc mạnh từ bên ngoài
đã cộng hưởng nhanh chóng đưa nước ta vào pha suy thoái của chu kỳ. Tăng trưởng GDP giảm
xuống chỉ còn 6,2% năm 2008, thất nghiệp tăng lên 4,6%.
Một số dự báo gần đây cho rằng tăng trưởng GDP năm 2009 thể chỉ còn khoảng 4%
thất nghiệp sẽ mức rất cao. Một điểm cần lưu ý các trường phái kinh tế đều không thể thống
nhất về tần suất của các chu kỳ kinh tế. Việt Nam đã đáy của chu kỳ trong giai đoạn 1989-1990,
1998-1999 và có thể là 2008-2009 nhưng không phải là đến 2018-2019 chúng ta mới rơi vào thời kỳ
suy thoái tiếp theo.
Do đó, nếu vẫn tiếp tục duy ý chí theo đuổi tỷ lệ tăng trưởng cao nóng vội dùng mọi biện
pháp để đạt mức tăng trưởng đề ra mà không chú trọng đến sự bền vững của tăng trưởng thì thời kỳ
suy thoái tiếp theo có thể sẽ đến sớm hơn và trầm trọng hơn nhiều.
Một số bài học: Từ kinh nghiệm một số nước trong việc vượt qua khủng hoảng chu kỳ chúng ta
có thể rút ra một số bài học cho công tác hoạch định chính sách vĩ mô như sau:
Thứ nhất, giai đoạn vượt qua suy thoái mang tính chu kỳ luôn hội tốt để những nước
đang chuyển đổi như Việt Nam đẩy mạnh cải cách chuyển đổi hình tăng trưởng từ chỗ chủ
yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, xuất khẩu tài nguyên chuyển sang tăng trưởng nhờ vào năng lực cạnh
tranh, phát huy lợi thế so sánh…
Thứ hai, đối với một nền kinh tế độ mở cao như nước ta thì các sốc từ bên ngoài sẽ
nhanh chóng tác động tới nền kinh tế trong nước và đẩy chu kỳ kinh tế đi vào giai đoạn suy thoái.
Cuối tháng 9, đầu tháng 10-2008, khi cuộc khủng hoảng tài chính - tín dụng tại Mỹ đang
giai đoạn khó khăn nhất đã lan ra nhiều nước trên thế giới, nhiều nhà hoạch định chính sách
chuyên gia kinh tế vẫn khẳng định “sẽ không ảnh hưởng trầm trọng đến nền kinh tế Việt Nam”,
“không ảnh hưởng nhiều đến Việt Nam” hoặc “không gây quan ngại nhiều đến nền kinh tế Việt
Nam”... một cách rất chủ quan và thiếu căn cứ.
Thứ ba, kỳ vọng (expectations) của ngườin doanh nghiệp phạm trù của môn tâm
học nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển của kinh tế học hiện đại và do đó các nhà
hoạch định chính sách không thể bỏ qua.
Ở các nước phát triển, việc tính toán và theo dõi các chỉ số nói lên kỳ vọng của người dân
doanh nghiệp như chỉ số lòng tin người tiêu dùng, chỉ số lòng tin nhà đầu tư, chỉ số lòng tin các chủ
doanh nghiệp... là rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách vĩ mô.
Thứ tư, trong thời kỳ khó khăn của chu kỳ kinh tế, chính sách tiền tệ và tài khóa cần được kết
hợp linh hoạt để phục hồi tăng trưởng GDP tạo việc làm. Việc nới lỏng chính sách tiền tệ, hạ lãi
suất bản, lãi suất tái cấp vốn cần thiết nhưng cần chú ý không rơi vào bẫy thanh khoản
(liquidity trap) khi lãi suất đã giảm thấp nhưng ngân hàng vẫn không cho vay, doanh nghiệp không
thể tiếp cận tín dụng như trong thời gian qua nước ta. Khi đó chính sách tiền tệ sẽ không còn tác
dụng kích thích nền kinh tế.
Nước Mỹ đã áp dụng chính sách lãi suất bằng 0 từ ngày 16-12-2008 nhưng cũng giống như
Nhật Bản trước đây, họ dường như đang mắc kẹt trong chiếc bẫy thanh khoản hình bây giờ
việc khôi phục nền kinh tế chỉ còn biết trông chờ vào các gói kích thích tài khóa khổng lồ của Tổng
thống Obama mà thôi.
Đối với chính sách tài khóa, cần tính toán thận trọng hiệu quảliều lượng của gói kích cầu.
Chính sách kích cầu nhiều nước trên thế giới Việt Nam đang sử dụng dựa trên quan điểm
Keynes với lập luận cho rằng sẽ tạo ra tác động số nhân (multiplier effect) theo đó khoản chi tiêu
kích cầu của Chính phủ sẽ thu nhập của nhiều đối tượng khác nhau trong nền kinh tế theo cấp số
nhân, qua đó làm tăng tổng cầu tăng GDP, tạo việc làm. Không hiểu các giải pháp kích cầu của
chúng ta như giảm thuế giá trị gia tăng, giãn thuế thu nhập cá nhân, bảo lãnh tín dụng hay bù lãi suất
được tính toán với số nhân là bao nhiêu?
Nếu số nhân nhỏ hơn 1 do doanh nghiệp vay lãi suất chỉ để đảo nợ, để gửi ăn chênh lệch
hoặc tiền hỗ trợ hộ nghèo lại nằm trong két của các quan tham... thì việc kích cầu chỉ có ý nghĩa về
mặt tâm nên dừng mức hiện tại, không nên mở rộng lên 6 tỉ đô la để tránh làm trầm trọng
thêm thâm hụt ngân sách.
Câu 21: Chính sách tài khóa là gì? Phân tích mục tiêu, công cụ chính sách tài khóa?
*Định nghĩa:
- việc chính phủ sử dụng thuế khoá chi tiêu ngân sách để tác động vào tổng cầu, qua đó
nhằm điều chỉnh sản lượng để đạt mục tiêu mong muốn.
*Mục tiêu và công cụ của chính sách tài khoá:
- Mục tiêu: Nhằm điều chỉnh sản lượng để đạt đến sản lượng tiềm năng, ổn định kinh tế
- Công cụ: 2 công cụ -> Thuế (T)
-> Chi tiêu ngân sách (G)
*Phân loại: Chính sách tài khóa được chia làm 2 loại chính sách tài khóa mở rộng chính sách
tài khóa thu hẹp. Chính sách tài khóa mở rộng chính sách chính phủ sẽ tăng G, tức tăng chi
tiêu chính phủ sẽ trực tiếp làm tăng tổng cầu - giảm thuế T sẽ làm tăng thu nhập khả dụng của các
hộ gia đình, từ đó kích thích tiêu dùng tăng theo, làm tăng tổng cầu. Chính sách tài khóa thu hẹp
(chính sách tài khóa thắt chặt) chính sách chính phủ sẽ giảm G, tức giảm chi mua hàng hóa,
dịch vụ - tăng thuế T, làm giảm thu nhập khả dụng, từ đó làm giảm tổng cầu.
*Ưu điểm của chính sách tài khóa:
Khi nền kinh tế suy thoái, nhà nước có thể sử dụng chính sách tài khóa mở rộng: tăng chi tiêu
G (đầu công), giảm thuế T để chống lại. Còn khi nền kinh tế tình trạng lạm phát, nhà nước
thể sử dụng chính sách tài khóa thắt chặt: giảm chi tiêu G, tăng thuế T để giảm lạm phát.
* Nhược điểm của chính sách tài khóa:
- Chính sách tài khóa mở rộng làm nghiêm trọng hơn tình trạng thâm hụt ngân sách, gia tăng
nợ công. Nhìn bên ngoài, những nỗ lực mở rộng của chính phủ có vẻ chỉ mang lại hiệu quả
tích cực bằng cách kích thích nền kinh tế nhưng hiệu ứng domino kéo theo lại mở rộng hơn
thế nhiều. Khi tốc độ chi tiêu chính phủ nhanh hơn so với thu thuế, nợ sẽ tích lũy quá nhiều
khi phát hành trái phiếu chịu lãi suất để tài trợ cho việc chi tiêu, từ đó dẫn tới gia tăng nợ
quốc gia.
- Chính sách tài khóa làm tăng chi phí vay vốn. Khi chính phủ vay nợ để chi tiêu thông qua trái
phiếu, làm tăng cầu trên thị trường vốn, làm tăng lãi suất vay vốn.
- Chính sách tài khóa độ trễ do tác động của độ trễ tự nhiên hoặc do phải trải qua nhiều
khâu chính sách khác nhau.
*Các công cụ của CSTK
a, Chi tiêu công:
- Khái niệm: Chi tiêu công tổng hợp các khoản chi của chính quyền trung ương, chính
quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước của toàn dân khi cùng trang trải kinh phí cho các
hoạt động do Chính phủ quản lý.
- Cơ chế tác động:
- Đặc điểm: Đặc điểm nổi bật của chi tiêu công nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng
đồng dân cư ở các vùng hay phạm vi quốc gia
Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội của nhà nước và cũng
chính trong quá trình thực hiện chức năng đó nhà nước đã cung cấp một ợng hàng hóa công khổng
lồ cho nền kinh tế.
Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy nhà nước những nhiệm vụ kinh tế, chính trị,
hội mà nhà nước thực hiện
Các khoản chi tiêu công do chính quyền nhà nước các cấp đảm nhận theo nội dung đã được
quy định trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước và các khoản chi tiêu công này nhằm đảm bảo
cho các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản phát triển kinh tế - hội. Mặt khác, các cấp
của quan quyền lực nhà nước chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các
khoản chi tiêu công nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia
Các khoản chi tiêu công hoàn toàn mang tính công cộng.
Chi tiêu công tương ứng với những đơn đặt hàng của chính phủ về mua ng hóa dịch vụ
nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ ca nhà nước, đồng thời đó cũng những khoản phải
chi cần thiết, phát sinh tương đối ổn định như: chi lương cho viên chức bộ máy quản nhà nước,
chi hàng hóa, dịch vụ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công cộng của các tầng lớp dân cư...
Các khoản chi tiêu công mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp và thể hiện ở
chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại
dưới hình thức các khoản chi tiêu công.
b. Hệ thống thuế:
- Khái niệm: Thuế số tiền thu của các công dân, hoạt động đồ vật (như giao dịch, tài
sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các
hoạt động kinh tế - xã hội.
- chế tác động Hệ thống thuế hiện hành bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau tác động lên:
tất cả các hoạt động kinh tế, các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh. vậy, Chính phủ
hoàn toàn thể sử dụng công cụ thuế để điều tiết hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp,
khuyến khích đầu tư, phát triển các hoạt động sản xuất lợi cho quốc dân sinh, thực hiện điều
tiết, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, bảo hộ và
khuyến khích phát triển sản xuất trong nước và tạo điều kiện hàng hóa trong nước cạnh tranh trên thị
trường Thế giới.
Bên cạnh đó cần phải thực hiện tốt công tác quảnthuế để đàm tăng nguồn thu đáp ứng chỉ
thường xuyên và đáp ứng cân đối NSNN
- Đặc điểm Các khoản thu thuế được tập trung vào Ngân sách nhà nước những khoản thu:
nhập của nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới
hình thức giá trị.
+ Thuế tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị thực hiện các chứcng, nhiệm
vụ của nhà nước.
+ Thuế dựa vào thực trạng của nền kinh tế ( GDP, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất,
thu nhập, lãi suất,... ).
+ Thuế được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu.
+ Thuế nguồn thu chủ yếu của NSNN, công cụ quan trọng để phân phối lại thu nhập,
góp phần tích cực giảm bội chi NSNN, giảm lạm phát góp phần ổn định trật tự hội.
+ Thuế là công cụ quảnđiều tiết kinh tế vĩ mô : khuyến khích hoặc kìm hãm hoạt động
sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế theo từng mục tiêu chung của Đất nước ; thúc đây
tăng cường đầu tư vốn và lành mạnh hóa thị trường.
+ Thuế góp phần đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế ( công bằng - thuế suất).
Câu 23: Tác động của chính sách tài khóa tới hoạt động đầu tư. Liên hệ VN?
1.Phân tích trên cơ sở kinh tế học
1.1. Chính sách TK mở rộng
Chính sách tài khoá mở rộng được áp dụng khi nền kinh tế mức sản lượng thấp hơn
sản lượng tiềm năng : Tăng G => IS dịch phải một đoạn ΔY=m.ΔG. Lúc này sản lượng cân bằng
tăng do đó làm tăng cầu tiền để phục vụ mục đích giao dịch. Khi MS tăng -> r tăng, I giảm. Sự lấn át
đầu tư như vậy triệt tiêu một phần ảnh hưởng của chính sách mở rộng tài khoá đối với tổng cầu.
1.2. Chính sách TK thắt chặt
Khi chính phủ giảm chi tiêu hoặc tăng thuế, tổng cầu giảm làm cho sản lượng cân bằng
giảm, điều này dẫn đến cầu tiền tệ cũng giảm. Khi MS giảm -> r giảm -> khuyến khích đầu
nhân và nhờ đó tổng cầu tăng trở lại.
2. Phân tích bằng lý luận thực tiễn
2.1 Tác động của chính sách tài khóa đến quy mô vốn đầu tư toàn xã hội
Chính sách thuế: Nếu chính phủ tăng thu NSNN bằng việc tăng thuế thu nhập doanh nghiệp
của các công ty tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu
của khu vực nhân trong nước nước ngoài (FDI) đó giảm chính sách đầu đi từ đó quy
mô vốn đầu tư giảm
2.2 Tác động của chính sách tài khóa đến môi trường đầu tư
Tăng Chi đầu phát triển (đầu vào sở hạ tầng, kinh tế hội, phát triển sản xuất)
Hoàn thiệnsở hạ tầng, ổn định tăng trưởng vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội (giao thông
thuận lợi, viễn thông tốt,…) hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài. Chính
sách thuế thay đổi là yếu tố tác động đến đầu tư.
2.3 Tác động của chính sách tài khóa tác động đến đầu tư của khu vực tư nhân
Đầu tư công mở đường cho đầukhu vực tư nhân.trường hợp đầu tư công lấn át đầu
nhân đó những trường hợp mà chính phủ cần lắm vai trò lớn như đầu tư vào quân sự , hay các
công trình xã hội,…
LIÊN HỆ VN:
Với tình hình khủng hoảng, lãi suất tăng chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn thị trường xuất
khẩu có khả năng bị thu hẹp nên dòng vốn chảy vào Việt Nam bị giảm sút. Năm 2008 Chính phủ mở
rộng tài khóa với nhiều dự án đầu công được thực hiện, chi đầu phát triển vượt dự toán 20%
(gần 120.000 tỷ đồng). Tuy nhiên đồng vốn sử dụng chưa hiệu quả, hệ số Icor cao lên đến 6.75 năm
2008 7.35 năm 2009. Chính phủ đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hấp thụ
vốn đầu của nền kinh tế đồng thời giảm chi tiêu chính phủ, giảm bội chi ngân sách nhà nước.
Thắt chặt tài khóa cùng với mức lạm phát cao làm cho tổng vốn đầu trong nước năm 2011 giảm
xuống còn gần bằng năm 2009.
Trong giai đoạn 2011-2016 đã đem lại thành tựu đáng kể: Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn
lực gắn với quá trình tái cơ cấu đầu tư công. Vốn đầu tư công, nhất là đầu tư từ nguồn ngân sách nhà
nước (NSNN) trái phiếu chính phủ (TPCP) được bố trí tập trung hơn, ưu tiên tập trung cho các
công trình dự án quan trọng, cấp thiết, sớm hoàn thành, đưa nhanh vào sử dụng để phát huy hiệu
quả, đã tập trung xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản (XDCB) thanh toán vốn ứng trước; tăng cường
quyền tự chủ, chủ động đi đôi với tăng cường trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc phê
duyệt dự án đầu tư, lựa chọn danh mục phân bổ vốn cho từng dự án cụ thể theo đúng các mục
tiêu, định hướng phát triển; phân bổ vốn đầu bảo đảm tính công khai, minh bạch. Tỷ trọng vốn
đầu tư trong giai đoạn này luôn chiếm trên 30% GDP, khả năng hấp thụ vốn khả quan hơn giai đoạn
trước với hệ số ICOR giao động quanh 5.
Cùng với đó tạo thêm công ăn việc làm cho người dân, tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn này
giảm đáng kể từ 3,57% năm 2010 xuống còn 1,66% năm 2016. Vốn đầu toàn hội tăng, thị
trường bất động sản đang phục hồi, giải ngân FDI cao nhất từ trước đến nay, đạt 15,8 tỷ USD và khu
vực FDI tiếp tục đóng vai trò quan trọng nhất cho xuất khẩu của Việt Nam với mức xuất siêu 23,7 tỷ
USD. Cùng với chính sách tái cầu đầu công đẩy mạnh việc thực hiện chính sách "xã hội hóa"
đầu trong một số lĩnh vực như y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao để một mặt tăng thêm nguồn vốn
đầu đã mang lại nguồn vốn đầu tăng mạnh hơn so với các năm 2014-2016 đồng thời mang lại
tăng trưởng kinh tế vượt ngoài dự báo.
Câu 24: Chính sách tiền tệ và các công cụ điều tiết
1. Một số khái niệm:
Theo Luật ngân hàng 2010: “Chính sách tiền tệ quốc gia các quyết định về tiền tệ tầm
quốc gia của quan nhà nước thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng
tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục
tiêu đề ra.”
CSTT mở rộng ( nới lỏng): CSTT của NHTW làm tăng cung tiền, giảm lãi suất. Chính
sách này được áp dụng trong điều kiện nền kinh tế bị suy thoái, nạn thất nghiệp gia tăng. Đây
chính sách tiền tệ chống suy thoái
CSTT thắt chặt: CSTT của NHTW làm giảm cung tiền, tăng lãi suất. Chính sách này
được áp dụng khi nền kinh tế có sự phát triển thái quá đồng thời lạm phát ngày càng gia tăng. Đây là
chính sách tiền tệ chống lạm phát
2. Các công cụ điều tiết
Nghiệp vụ thị trường mở: hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ giá
ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờgiá, gây ảnh hưởng đến khối lượng
dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân
hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.
Dự trữ bắt buộc: Số tiền dự trữ bắt buộc số tiền các NH phải giữ lại, do NHTW qui
định, gửi tại NHTW, không hưởng lãi, không được dùng đ đầu tư, cho vay thông thường được
tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số tiền gửi của KH để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn
định của hệ thống ngân hàng. Việc thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân
tiền tệ m trong cơ chế tạo tiền của các NHTM. Mặt khác khi tăng(giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả
năng cho vay của các NHTM giảm(tăng) làm cho lãi suất cho vay tăng(giảm), từ đó làm cho lượng
cung ứng tiền giảm(tăng).
Lãi suất chiết khấu: Lãi suất được xem là một công cụ gián tiếp thực hiện chính sách tiền tệ
trong điều khiển mức cung ứng tiền cho nền kinh tế, bởi lẽ lãi suất không trực tiếp làm tăng hay
giảm khối lượng tiền tệ trong lưu thông. Sự biến động của lãi suất thể kích thích hoặc kìm hãm
sản xuất. Do vậy, lãi suất là một công cụ quan trọng của NHTW trong thực hiện chính sách tiền tệ.
Thông qua chính sách chiết khấu đối với các ngân hàng, NHTW thực hiện quản gián tiếp lãi suất
cho vay của các ngân hàng đối với nền kinh tế. Khi muốn điều chỉnh lãi suất của các ngân hàng,
NHTW điều chỉnh các lãi suất của mình, từ đó tác động đến lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân
hàng, cuối cùng sẽ tác động đến lãi suất huy động, cho vay của các ngân hàng.
Tái cấp vốn: hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các Ngân hàng
thương mại, Khi cấp khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng
lượng tiền cung ứng đồng thời tạo ra sở của Ngân hàng thương mại tạo bút tệ khai thông khả
năng thanh toán của họ.
Hạn mức tín dụng: 1 công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng
Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng. Hạn mức tín dụng
là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi
cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái tương quan sức mua giữa đồng nội tệ đồng ngoại tệ.
vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừabiểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối. Tỷ giá hối
đoái là công cụ, đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình
sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút
vốn đầu tư, dự trữ ca đất nước.Về thực chất thì tỷ giá không phải công cụ chính sách tiền tệ bởi
lẽ tỷ giá không làm tăng giảm khối lượng tiền trong lưu thông, mà chỉ góp phần thay đổi cơ cấu khối
lượng tiền. Tuy nhiên tại nhiều quốc gia, đặc biệt các quốc gia nền kinh tế đang phát triển,
mức độ đôla hoá cao, thì tỷ giá được xem là một công cụ bổ trợ quan trọng cho điều hành chính sách
tiền tệ.
Câu 27: Các yếu tố là rào cản tới tăng trưởng KT là gì? Liên hệ với thực tiễn VN?
1. Các rào cản tới tăng trưởng kinh tế:
1.1 Rào cản từ tích lũy và đầu tư:
Đầu tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế, mặt khác tích lũy ảnh hưởng trực tiếp
đến nguồn vốn đầu tư. Khi tích lũy tăng thì sẽ làm tăng lượng vốn đầu dẫn đến tăng trưởng kinh
tế tăng. Khi tích lũy thấp sẽ làm lượng vốn đầu giảm. Như vậy, tích lũy đầu nguồn gốc của
tăng trưởng kinh tế. Muốn sản lượng gia tăng thì cần duy trì tỷ lệ tích lũy. Mô hình thể hiện tích lũy
là nguồn gốc của đầu tư, đầu tư làm gia tăng vốn sản xuất từ đó làm gia tăng sản lượng tác động trực
tiếp đến tăng trưởng kinh tế.
Khi lượng vốn đầu giảm, nếu muốn đầu phát triển sẽ phải vay vốn đầu nhiều hơn.
Việc vay vốn với số lượng lớn sẽmột vài tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó
thể kể đến một vài tác động tiêu cực của bộ phận vốn đầu trực tiếp nước ngoài như: chuyển
giao công nghệ, ảnh hưởng tới môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên,…
1.2 Rào cản từ thị trường và các định chế tài chính:
Với nhu cầu sử dụng vốn lớn như vậy thì vai trò chuyển giao vốn từ các chủ thể thừa vốn
thiếu vốn của thị trường tài chính (TTTC) càng được khẳng định. Tuy nhiên trên thực tế TTTC
cũng như các định chế tài chính (ĐCTC) gặp phải không ít khó khăn trong quá trình vận hành, làm
ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế, là rào cản cho sự tăng trưởng kinh tế tại mỗi quốc gia.
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh tiền tệ là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất bởi tính
linh hoạt , khó kiểm soát của việc sử dụng đồng tiền của người vay. Nợ xấu không chỉ gây ra tác
động tiêu cực đối với các tổ chức tín dụng, còn lan tỏa đến cả nền kinh tế, làm nên kinh tế kém
hiệu quả giảm năng lực cạnh tranh.Điều này trực tiếp cản trợ tới sự phát triển kinh tế của đất
nước.
Còn đối với Thị trường chứng khoán (TTCK) cũng bởi tính linh hoạt của mình bên
cạnh những kết quả khả quan mà nó đem đến cho nền kinh tế thì cũng tồn tại một số hạn chế. Về cơ
bản, giá hàng hóa tăng sẽ giúp những doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu những hàng hóa này được
lợi, nhưng về tổng thể nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng khi lạm phát có nguyleo thang trở lại, gây áp
lực lên lãi suất từ đó cản trở đà tăng của nền kinh tế ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của
những doanh nghiệp còn lại. Các thị trường tài sản dường như mối liên kết tính lây lan,
thế khi một thị trường đổ vỡ sẽ gây mất niềm tin của các nhà đầu tư dẫn đến hành vi rút tiền ra khỏi
các thị trường còn lại.
1.3 Rào cản từ hệ thống giáo dục:
Để được một nguồn lực con người chất lượng đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế, ta
cần phải một hệ thống giáo dục sáng tạo, hiệu quả vững chắc nhằm tận dụng tối đa những điểm
mạnh, tiềm năng của mỗi người..Nói cách khác với một hệ thống giáo dục thiếu tập trung, kém hiệu
quả sẽ khó lòng nào đảm bảo cung cấp được đủ nguồn lao động chất lượng tốt, phục vụ cho
nền kinh tế. vậy hệ thống giáo dục lạc hậu, kém hiệu quả cũng thể coi rào cản tới sự tăng
trưởng kinh tế của mỗi quốc gia.
1.4 Rào cản từ hệ thống thuế:
Thuế cũng là một trong những công cụ chủ yếu và quan trọng của chính sách tài khóa.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước
Thuế là công cụ giúp nhà nước đạt được các mục tiêu vĩ mô của mình

Preview text:

KINH TẾ HỌC CHO NGƯỜI RA QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ
Câu 1: Trình bày sự khác nhau giữa di chuyển và dịch chuyển dọc đường cầu và đường cung
Sự di chuyển dọc theo một đường cầu hoặc đường cung xảy ra khi có sự thay đổi trong mức
giá hiện hành của chính hàng hoá mà người ta đang phân tích.
Chẳng hạn, trên một đường cầuD1 xác định, khi mức giá làP1, lượng cầu làQ1.
ĐiểmA trên đường cầu nói trên mô tả trạng thái này. Nếu vì một lý do nào đó mà mức giá của hàng
hoá chúng ta đang phân tích hạ xuống thànhP2 thì lượng cầu về hàng hoá sẽ tăng lên tương ứng
thànhQ2. ĐiểmB cũng trên đường cầu nói trên chính thể hiện trạng thái mới đó. Như vậy, sự di
chuyển từ điểmA đến điểmB trên cùng một đường cầu là kết quả của việc mức giá hiện hành của hàng hoá thay đổi.
Hình 1: Di chuyển dọc theo một đường và dịch chuyển cả một đường.
Khi mức giá hiện hành của hàng hoá hạ từP1 xuốngP2, chỉ có sự di chuyển dọc theo đường
cầuD1 từ điểmA đến điểmB.
Sự dịch chuyển đường cung hoặc cầu do sự thay đổi của các yếu tố khác có liên quan như:
+ Đường cầu: thu nhập, thị hiếu, giá của các hàng hóa liên quan, dân số, kỳ vọng
Ví dụ: thịt lợn là một loại hàng hóa bình thường, hình sau minh họa khi thu nhập tăng lượng cầu thịt
lợn đều tăng tại mọi mức giá: trước đây khi giá là 80k thì thị trường mua 200 tấn nhưng khi thu nhập
tăng nên tại mức giá đó thị trường mua 250 tấn-1 năm. Đường cầu dịch chuyển từ D1 sang D2
+ Đường cung: công nghệ sản xuất, số lượng người sản xuất, giá của các yếu tố đầu vào,
chính sách thuế, các kỳ vọng
Ví dụ: nếu giá của các yếu tố đầu vào giảm, chi phí sản xuất sẽ giảm, lợi nhuận tăng và do đó hãng
muốn sản xuất thêm hàng hóa dịch vụ. hình vẽ ( nguyên tắc khi vẽ hình là mức giá không đổi: trang 55-vi mô)
Trên thực tế, 9lihời. Ví dụ, do thu nhập của những người tiêu dùng tăng lên, đường cầu về
một loại hàng hoá thông thường X sẽ dịch chuyển sang phải. Kết quả là giá cân bằng của hàng hoá
X sẽ tăng lên. Cùng với sự kiện này, lượng cung về hàng hoá X cũng tăng lên. Ở đây, bắt nguồn từ
việc thu nhập tăng, có một sự dịch chuyển của đường cầu về hàng hoá X đồng thời với sự di chuyển
dọc theo đường cung của hàng hoá này.
Hình 2: Sự dịch chuyển đường cầu đi đôi với sự di chuyển dọc theo đường cung.
Khi thu nhập tăng, đường cầu về một loại hàng hoá thông thường sẽ dịch chuyển
từD1 thànhD2, điểm cân bằng từ E chuyển thànhF, thể hiện sự di chuyển dọc theo đường
cungS đồng thời xảy ra.
Câu 2: Giải thích vì sao với nhiều loại hàng hóa thì độ co giãn của cung trong dài hạn sẽ lớn hơn trong
ngắn hạn. Cho VD minh họa.

Trong ngắn hạn cung thường ít co giãn hơn. Lý do là do trong thời gian ngắn các hãng ko thể
dễ dàng thay đổi được quy mô nhà máy, máy móc thiết bị nhà xưởng để sản xuất nhiều hay ít hàng
hóa khi giá bán thay đổi. Ngay cả đối với những hãng có thể tăng sản xuất trong một thời gian ngắn
hạn thì do hạn chế mà hãng gặp phải việc tăng cung sẽ rất tốn kém do vậy cần phải tăng giá mạnh để
có động lực tăng thêm chút ít sản lượng trong ngắn hạn.
Tuy nhiên trong dài hạn các hãng có thể xây thêm nhà máy mới, đóng cửa nhà máy cũ và
thay đổi dây chuyền sản xuất hay nhà xưởng, thuê thêm lao động thậm chí là thay đổi công nghệ.
Ngoài ra các hãng mới có thể gia nhập thị trường các hãng cũ có thể đóng cửa sản xuất và rời bỏ thị
trường. vì vậy lượng cung dài hạn sẽ có phản ứng mạnh hơn với giá.
Ví dụ: đối với nhà ở cho thuê tại các thành phố lớn trong thời gian ngắn hạn rất khó để có thể
xây dựng mới và tăng lượng cung nhà cho thuê khi giá tăng. Khi đó tưng cầy chỉ có thể đẩy tiền thuê
tăng mạnh hơn. Tuy nhiên với thời gian đủ dài nếu ko có các chính sách kiểm soát giá cho thuê nhà,
tiền thuê nhà cao hơn sẽ khuyến khích các chủ nhà sửa sang những căn nhà hiện có và xây thêm nhà
mới vì thế lượng cung sẽ cao hơn.
- Những hàng hóa mà cung ngắn hạn co giãn hơn cung dài hạn là là những hàng lâu bền và có
thể tái chế để trở thành một phần của lượng cung nếu giá tăng. Vd giá đồng tăng khuyến khích
việc thu gom và tái chế…
Câu 3: Giải thích sự khác nhau giữa độ co giãn của cầu trong dài hạn và ngắn hạn. cho ví dụ minh họa
Đối với phần lớn các hàng hóa khoảng thời gian càng dài độ co giãn của cầu càng lớn. Khái
niệm ngắn hạn liên quan đến thời ký trong đó ít nhất một vài sự điều chỉnh là ko thể thực hiện được
trong khi dài hạn là thời kỳ đủ dài để thực hiện các quá trình điều chỉnh. , trong ngắn hạn rất khó có
thể thay đổi thói quen tiêu dùng, khi giá thay đổi người tiêu dùng thường vẫn tiếp tục mua lượng
hàng hóa tương tự trong thời điểm đó. Tuy nhiên trong thời gian đủ dài người tiêu d có thể thay đổi
thói quen họ sẽ tìm hàng hóa thay thế có thể chấp nhận được và có chi phí ít hơn. Khi quá trình thay
thế xảy ra lượng cầu đối với hàng hóa ban đầu sẽ giảm mạnh dẫn đến cầu co giãn hơn.
Ví dụ cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973-1974 khiến cho giá dầu tăng gấp 4 lần, chi phí
sưởi ấm và gas tăng. Ban đầu, người tiêu dùng vấn phải duy trì tiêu dụng tại mức xấp xỉ ban đầu và
chỉ có thể khắc phục tình trạng giá cao bằng cách sử dụng tiết kiệm hơn. Do vậy cầu trong ngắn hạn
ít co giãn. Tuy nhiên trong dài hạn người tiêu dùng phải chuyển sang sử dụng các hàng hóa thay thế
cho dầu hoặc mua các phương tiện đòi hỏi ít nhiên liệu hơn và lượng dầu sẽ giảm mạnh hơn trong
dài hạn, cầu trở nên co giãn hơn. Bản thân các nhà sản xuất cũng phải điều chỉnh hành vi, sản xuất
ra các sản phẩm tiết kiệm nhiên liệu.
Tuy nhiên với một số hàng hóa thì cầu trong dài hạn lại ít co giãn hơn đặc biệt là với các
hàng hóa lâu bền như ô tô, tủ lạnh, máy chạy địa DVD… ví dụ nếu giá ti vi LG tăng, lúc đầu người
tiêu dùng có thể trì hoãn mua tivi mới, lượng cầu có thể giảm mạnh và cầu co giãn mạnh, Tuy nhiên
trong dài hạn những chiếc tivi cũ không còn sử dụng được nữa và cần phải được thay thế bằng cái
mới, theo đó lượng cầu hàng hóa lại tăng lên. Vì vậy lượng cầu tivi LG trong dài hạn thường co giãn ít hơn trong ngắn hạn
Câu 4: Giả sử chính phủ kiểm soát giá thị bò và thịt gà và chỉ định giá của 2 sản phẩm này ở mức
thấp hơn giá bán của thị trường trước đó. Giải thích vì sao hiện tượng khan hiếm hàng hóa có thể xảy
ra trong trường hợp này và nhân tố nào có thể ảnh hướng đến độ khan hiếm.

Chính phủ có thể tác động tới thị trường thông qua các chính sách can thiệp trực tiếp vào giá
làm cho lượng cung và cầu khác hẳn nhau. Trong trường hợp trên là chính phủ đặt giá trần cho thịt
bò và thịt gà thấp hơn mức giá của thị trường. Giá trần là mức giá cao nhất đối với một mặt hàng
nào đó do chính phủ ấn định, các hãng sản xuất không được bán hàng với giá cao hơn mức giá trần
đó nhằm bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên điều này làm ảnh hưởng đến lợi ích của người bán,
người sản xuất và kết quả là thiếu hụt hàng hóa sẽ xuất hiện.
Giả sử với cân bằng ban đầu, với mức cung thịt gà và thịt lợn là S cân bằng tại E với mức giá
là P1 và lượng cầu là Q1. Khi chính phủ áp dụng mức giá Pc thấp hơn giá cân bằng ban đầu P1. Khi
đó lượng cung mà các nhà sản xuất sẵn sàng cung ứng là Q2 trong khi đó lượng cầu của người tiêu
dùng là Q3 lớn hơn Q2. Do vậy tồn tại một lượng dư cầu là Q3-Q2. Mức độ khan hiếm hàng hóa
càng lớn khi cầu hàng hóa càng co giãn mạnh với giá (đường cầu càng thoải) .
Câu 5: Một trường đại học quyết định sẽ kiểm soát giá cho thuê phòng của sinh viên giúp cắt giảm chi
phí sinh hoạt, Giả sử giá thuê phòng trên thị trường cho 2 người là 3tr đồng dự kiến tăng thành 4tr từ
1/2019. Tuy nhiên trường này vẫn quyết định duy trì giá thuê phòng ở mức 3tr/tháng. Hãy vẽ đồ thị và
giải thích quyết định trên có đem lại lợi ích cho tất cả sinh viên hay ko? Vì sao?

Đồ thị dưới đây thể hiện mức cung cầu của phòng trọ tại trường đại học đó. Trước khi thi
trường tăng giá phòng trọ cho sinh viên có đường cầu là D, đường cung S1 và cân bằng tại E1 với
mức giá P1 và lượng cầu Q1. Khi giá thuê phòng trọ trên thị trường tăng lên gần 30% từ 3tr lên 4tr,
đây có thể nói là mức tăng giá khá cao. Đồng thời phòng trọ là một mặt hàng thiết yếu của sinh viên
nên lượng cầu rất khó để giảm. khi giá phòng trọ bên ngoài tăng nhu cầu phòng trọ KTX sẽ tăng lên
làm cho đường cầu phòng KTX dịch chuyển sang D2.
Với mức giá không đổi là P1 khi đó lượng cung là Q1 trong khi lượng cầu là Q2. Khi đó tồn
tại hiện tượng dư cầu hay thiết hụt hàng hóa một lượng là Q2-Q1. Khi nhà trường đặt mức giá như
vậy, một số sinh viên may mắn có thể thuê được phòng với giá rẻ hơn thị trường, nhưng rất nhiều
sinh viên khác không thể thuê được. Khi đó có thể cả người cho thuê và sinh viên có thể sử dụng các
hành vi không hợp lệ để mua hàng. Ví dụ như người cho thuê ưu tiên cho người quen, bạn bè, con
cán bộ… hay sinh viên chấp nhận trả thêm một khoản nhỏ để thuê được phòng gây ra những ảnh
hưởng xấu. như vậy quyết định trên mặc dù nhằm đảm bảo lợi ích cho sinh viên nhưng không phải
là cho tất cả các sinh viên.
Câu 6: Bốn giả thiết về sở thích của người tiêu dùng là gì? Giải thích ngắn gọn.
Các giả thiết về sở thích của người tiêu dùng
- Tính hợp lý: Người tiêu dùng được giả định là hợp lý, người tiêu dùng muốn nhiều hàng hóa hơn ít
- Tính nhất quán: Người tiêu dùng hành động một cách nhất quán, nếu người tiêu dùng thích kết
hợp hàng hóa A hơn kết hợp hàng hóa B kho có cả hai kết hợp hàng hóa thì người tiêu dùng sẽ
không chọn kết hợp hàng hóa B khi kết hợp hàng hóa A cũng có sẵn
- Tính bắc cầu: Nếu người tiêu dùng thích kết hợp hàng hóa A hơn kết hợp hàng hóa B và thích
B hơn thích C thì người tiêu dùng sẽ chọn A thay vì C
- Kết hợp hàng hóa bộc lộ sở thích : Khi người tiêu dùng chọn một kết hợp hàng hóa với một
ngân sách đã cho thì sở thích của anh ta đã được bộc lộ bởi kết hợp hàng hóa đó. Kết hợp hàng
hóa được coi là tốt nhất so với các kết hợp hàng hóa khác đòi hỏi cùng một ngân sách nhất
định. kết hợp hàng hóa được chọn này tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng.
Câu 7: Liệu 2 đường bàng quang có cắt nhau ko? Giải thích ngắn gọn –trang 139-gt Vi mô
Đường bàng quan là tập hợp các kết hợp hàng hóa hay các giỏ hàng hóa mang lại cùng một
mức lợi ích cho người tiêu dùng. Người ta còn gọi là đường bàng quan là đường đồng mức lợi ích
hay đường đồng mức thỏa mãn.
Đặc điểm của đường bàng quan:
- Có độ dốc âm, điều đó có nghĩa là nếu lượng một loại hành hóa giảm xuống thì hàng hóa kia
phải tăng lên để người tiêu dùng cùng thu được một mức lợi ích
- Đường bàng quan càng xa gốc tọa độ người tiêu dùng càng thu được lợi ích lớn hơn.
- Các đường bàng quan ko cắt nhau . vì nếu có hai đường cắt nhau thì giao điểm biểu diễn
cùng một lợi hình. Điều này vô lý như biểu thị ở hình dưới. (vẽ hai đường bàng quan cắt nhau ra)
Câu 8: Tỷ lệ thay thế cận biên có ý nghĩa gì? MRS có thay đổi khi di chuyển dọc đường bàng quan hay
ko? (xét 2 TH đường bàng quan dạng cong và tuyến tính)

-Tỷ lệ thay thế cận biên của hàng hóa X cho hàng hóa Y (MRS) là số đơn vị hàng hóa Y phải
giảm đi khi tăng tiêu dùng 1 đơn vị hàng hóa X để giữ nguyên mức thỏa mãn đã cho và đc xđ bằng cth: MRS= -ΔY/ΔX
→ Như vậy, MRS là tỷ lệ thay thế giữa 2 hàng hóa mà vẫn đảm đảm lợi ích không đổi đối với người tiêu dùng.
- Tỷ lệ thay thế cận biên của hàng hóa X cho hàng hóa Y đc đo bởi độ dốc của đường bàng
quan. Vì mọi điểm trên đg bàng quan đều có lợi ích như nhau nên tổng lợi ích tăng thêm do
vc tăng tiêu dùng hàng hóa X phải = tổng lợi ích mất đi do giảm tiêu dùng hàng hóa Y. Vì vậy ta có: ΔX.MUx + ΔY.MUy =0
⇨MRS x/y= -Δy/Δx= MUx / Muy
*TH đường bàng quan dạng cong:
Khi vận động dọc theo đường bàng quan từ trái qua phải, để giữ nguyên mức lợi ích thì khi
tăng hàng hóa X phải giảm lượng tiêu dùng hàng hóa Y do đó lợi ích CB của hàng X sẽ giảm xuống
theo ql lợi ích CB giảm dần còn lợi ích CB của hàng hóa Y lại tăng lên, vì vậy MRS sẽ giảm xuống.
Như vậy, đg bàng quan lồi so với gốc tọa độ cho biết để có thêm những lượng hàng hóa X càng về
sau, lượng hàng hóa Y mà ng tiêu dùng sẵn sàng từ bỏ càng ít đi.
*TH đường bàng quan tuyến tính:
Khi Các đường bàng quan là đường thẳng thì MRS là 1 hằng số, khi đó các hàng hóa thay thế hoàn hảo trong tiêu dùng. VD:
Câu 9: So sánh tỷ lệ thay thế cận biên MRS và tỉ lệ thay thế giữa 2 mức giá khiến cho ng tiêu dùng đạt lợi ích tối đa
Với bản đồ đường bàng quan và đường ngân sách trên, trạng thái CB hay điểm tiêu dùng tối
ưu đạt tại điểm E. Lựa chọn tiêu dùng tối ưu đc thiết lập tại E- là tiếp điểm của đường ngân sách và
đường bàng quan cao nhất có thể. ở đó độ dốc đường bàng quan (tức là tỷ lệ thay thế CB giữa 2
hàng hóa X và Y) sẽ bằng với độ dốc đường ngân sách (tỉ lệ thay thế CB trên thị trg). Khi đó điều
kiện tối ưu của ng tiêu dùng là: Mux/MUy= Px/Py
Người tiêu dùng hợp lý sẽ mua mỗi loại hàng hóa cho đến khi tỉ lệ giữa lợi ích tăng thêm thu
đc so vs giá phải trả là bằng nhau cho mỗi loại hàng hóa. Hay nói cách khác, lợi ích CB phát sinh do
mỗi đơn vị tiền tể chi ra phải là như nhau đối với mỗi loại hàng hóa.
Câu 10: Độ co giãn của đường cầu và độ dốc của đường cầu có tương đương nhau không? Tại sao ?
Độ co giãn của đường cầu và độ dốc của đường cầu đều có thể cho biết sự phản ứng của
lượng cầu khi giá thay đổi nhưng nó là hai khái niệm khác nhau và ý nghĩa khác nhau. Vì vậy chúng
không tương đương nhau. Vì:
- Độ dốc: độ dốc là thước đo bằng số chính xác mức thay đổi của Y ứng với mức thay đổi của X.
- Độ co giãn của đường cầu: bằng tích của độ dốc và tỉ số giá và sản lượng.
Câu 11: Độ co giãn chéo của cầu là gì? Liệu độ co giãn này có luôn dương hay không ?
Lượng cầu hàng hóa không những chỉ phụ thuộc vào giá trị của bản thân hàng hóa, mà còn
phụ thuộc vào giá của hàng hóa khác có liên quan như hàng hóa bổ sung, hàng hóa thay thế. Để đo
lường phản ứng của lượng cầu của hàng hóa theo hàng hóa khác chúng ta sử dụng độ co giãn chéo
của cầu, với công thức tổng quát như sau :
Độ co giãn chéo của cầu = Thay đổi phần trăm lượng cầu hàng hóa / Thay đổi phần trăm giá của hàng hóa bổ sung.
Độ co giãn chéo của cầu không luôn co giãn âm. Vì độ co giãn chéo của cầu đối với giá hàng
hóa bổ sung mang dấu âm và độ co giãn chéo của cầu đối với giá hàng hóa thay thế mang dấu
dương. Vì khi giá hàng hóa Y tăng thì lượng cầu về hàng hoá X ở mỗi mức giá (của X) sẽ giảm và ngược lại.
Câu 12: Giả sử bạn là nhà tuyển dụng, bạn quan tâm đến năng suất lao động trung bình hay năng
suất lao động cận biên của người bạn thuê gần nhất. Nếu NSLĐ trung bình giảm, bạn có thuê thêm
nhân công hay không ? Tại sao.

Nếu là một nhà tuyển dụng em sẽ quan tâm tới việc tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp
khi thuê thêm lao động. Do đó sẽ quan tâm đến năng suất lao động cận biên của người được thuê
gần nhất hơn. Việc thuê mua lao động của DN sẽ dựa trên nguyên tắc sau: MRP(l)= MC(l)
MRP(L) là sản phẩm doanh thu cận biên của lao động
MC (l) là chi phí cận biên của lao động
Nếu trong TH, thị trường lao động và thị trường hàng hóa, dịch vụ cạnh tranh hoàn hảo thì nguyên tắc trở thành: MRP (l)= w
W là tiền lương/ giá của 1 đơn vị lao động
→ Vậy: MRP(L)=MR x MP(l)= P0 x MP(l)
Theo quy luật năng suất cận biên giảm dần: MP(L) có xu hướng giảm nếu ta tăng lao động đầu vào
do đó sản phẩm doanh thu cận biên của lao động MRP(l) cũng có xu hướng giảm khi số lượng lao động tăng.
APL > MLP : APL giảm dần khi tăng lao động => DN giảm thuê lao động.
Câu 13: Nếu một chủ doanh nghiệp không tự trả lương cho mình thì chi phí kế toán bằng 0 nhưng chi
phí kinh tế lớn hơn 0. Theo anh (chị) nhận định trên đúng hay sai? Giải thích?

*Nhận định trên là đúng. *Giải thích:
Chi phí kế toán là những khoản chi phí trực tiếp mà doanh nghiệp thực tế phải bỏ ra khi sản
xuất hàng hóa. Nó bao gồm những khoản chi phí như: khấu hao máy móc, thiết bị, nhà xưởng, mua
sắm nguyên, nhiên, vật liệu; trả tiền thuê nhân công hay thanh toán các khoản lãi vay... Chi phí kế
toán luôn luôn thể hiện dưới dạng những dòng tiền mà người chủ doanh nghiệp thực sự phải chi trả,
thanh toán khi thuê, mua các yếu tố đầu vào…
Chi phí kinh tế là tổng cộng của các khoản chi phí cơ hội của việc doanh nghiệp sử dụng các
nguồn lực để sản xuất khối lượng hàng hóa.
Như thế, chi phí kế toán là một bộ phận của chi phí kinh tế. Ngoài chi phí kế toán, chi phí
kinh tế còn bao gồm những khoản chi phí cơ hội ẩn có liên quan. Đó là những khoản chi phí mà
doanh nghiệp không phải trực tiếp chi trả song lại là những khoản mất mát hay thiệt hại thực sự mà
doanh nghiệp phải gánh chịu hay hy sinh khi thực hiện quyết định sản xuất kinh doanh của mình.
Chủ doanh nghiệp không tự thuê chính bản thân mình, do đó, về mặt kế toán, người này
dường như không phải bỏ ra một đồng nào để khai thác sức lao động của bản thân=> không có một
dòng tiền nào phát sinh=> chi phí kế toán bằng 0.
Tuy thế, khi phải làm những công việc ở doanh nghiệp, người chủ doanh nghiệp mất đi cơ
hội làm những công việc khác, tức là mất đi khả năng sử dụng nguồn lực lao động của mình theo
những phương án khác => phát sinh chi phí cơ hội của việc làm chủ doanh nghiệp => chi phí kinh tế lớn hơn 0.
Câu 14: Đầu thế kỉ XX, có tới hàng trăm công ty sản xuất ô tô được thành lập tại Mỹ. Tuy nhiên cuối
thế kỉ XX chỉ còn lại 3 hãng. Giả sử không bàn tới nguyên nhân đây là kết quả do chính sách chống
độc quyền của chính phủ thì vì số lượng hãng sản xuất xe lại sụt giảm nhanh đến vậy?

Mỹ đi tiên phong sản xuất xe hơi hàng loạt thị trường vào đầu thế kỷ 20 và là thị trường ôtô lớn nhất
thế giới trong hơn một trăm năm, gây ra sự sáng tạo của hàng trăm thương hiệu. 3 thương hiệu xe
hơi tốt nhất của Mỹ và đã sống sót qua các thời điểm là General Motors, Ford và Fiat Chrysler của Mỹ.
Nguyên nhân số lượng hãng sản xuất ô tô Mỹ sụt giảm nhanh:
- Sự cạnh tranh khốc liệt của các hãng. Đầu thế kỉ XX, nhiều hãng xe mới lần lượt ra đời cùng
với ngày càng nhiều mẫu xe mới cải tiến hơn so với mẫu xe trước cạnh tranh nhau. Sự phát
triển nhanh chóng này làm nhiều hãng phá sản do không bán được.
- Do tác động của các của các cuộc suy thoái kinh tế Mỹ từ thế kỉ XX. Trong đó phải kể đến là
cuộc đại khủng hoảng (1929-1933),cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, sự sụp đổ của thị
trường chứng khoán Mỹ năm 1973-1974, khủng hoảng tài chính 2007
- Khi tình hình kinh tế khó khăn, người tiêu dùng có xu hướng cắt giảm chi tiêu, đặc biệt là cho
những tài sản lớn như ô tô => doanh thu các hãng xe giảm => sự sụp đổ của nhiều hãng xe
như Essex (1931), Franklin (1934), Reo (1936), Auburn, Graham,... Cuộc đại khủng hoảng
dần cắt bỏ tầng lớp quý tộc cũ. Những hãng xe được tầng lớp giàu có cũ ưa chuộng bị suy vong
- Giá dầu thế giới tăng cao đã xảy ra với tốc độ quá nhanh => Thị hiếu người tiêu dùng thay
đổi, họ có xu hướng sử dụng những mẫu xe tiết kiệm nhiên liệu. Các nhà sản xuất ô tô Mỹ có
phản ứng quá chậm, và mắc một sai lầm lớn là ngày càng tung ra nhiều mẫu xe “khủng” hơn
(xe tiêu tốn nhiên liệu lớn)
- Đúng lúc đang nỗ lực tái cơ cấu để đáp ứng thay đổi của thị hiếu thì xảy ra cuộc khủng hoảng
tài chính, dẫn đến suy thoái kinh tế. Thị trường chứng khoán khủng hoảng làm giá cổ phiếu
của các hãng xe sụt giảm mạnh. Nếu như những biến cố trên thị trường tài chính Mỹ xảy ra
chậm hơn vài năm, thiệt hại đối với các nhà sản xuất ô tô Mỹ có lẽ không lớn đến vậy.
Câu 15: Những giả thiết cần có khi phân tích 1 thị trường cạnh tranh hoàn hảo là gì? Theo bạn giả
thiết nào quan trọng nhất?
Các giả thiết:
- Có vô số người bán và người mua trên thị trường. Sản lượng của họ là tương đối nhỏ so với
lượng cung trên thị trường => họ không thể tác động tới giá của thị trường được => Các hãng
sản xuất là người “chấp nhận giá” sẵn có trên thị trường. Nói cách khác, đường cầu đối với
hãng là một đường nằm ngang.
- Sản phẩm đồng nhất và người tiêu dùng có đầy đủ thông tin về sản phẩm. Sản phẩm của các
hãng là giống nhau để người mua không cần quan tâm họ sẽ mua của ai
- Thông tin trên thị trường hoàn hảo với cả người mua và người bán. Mọi hành vi của người
mau và người bán đều được phản ánh đầy đủ trên thị trường. Như vậy mọi thông tin về sản
phẩm và giá cả đều được người mua biết rõ
- Tự do gia nhập và rút lui khỏi thị trường
→ Theo em, giả thiết 1 quan trọng nhất. Vì nó phân biệt rõ ràng thị trường cạnh tranh hoàn hảo với
các thị trường khác (thị trường độc quyền, cạnh tranh độc quyền, độc quyền tập đoàn)
Câu 16: Liệu 1 doanh nghiệp có sức mạnh độc quyền hay không khi họ không phải hãng duy nhất sản
xuất hàng hóa cung ứng trên thị trường?

Theo Robert S. Pindyck, Daniel L. Rubinfeld, Kinh tế học vi mô, thì: “Sức mạnh độc quyền
là khả năng người bán hoặc người mua có thể tác động đến giá cả của hàng hóa”.
Một doanh nghiệp có sức mạnh độc quyền ngay cả khi họ không phải hãng duy nhất sản xuất
hàng hóa. Một doanh nghiệp có sức mạnh độc quyền khi không phải hãng duy nhất sản xuất hàng
hóa là khi doanh nghiệp chiếm thị phần lớn (quy định của chính phủ, rào cản gia nhập, lợi thế về
quy mô, bản quyền bằng phát minh sáng chế, sở hữu duy nhất yếu tố đầu vào) hoặc các hãng có thể
liên kết với nhau trên thị trường (đồng ý hạn chế sản lượng và tăng giá).
Câu 17: Rào cản gia nhập và từ bỏ thị trường là gì? Có những loại rào cản nào mà nhà độc quyền có
thể sử dụng để ngăn chặn đối thủ gia nhập thị trường? Cho ví dụ minh họa?

Rào cản gia nhập và từ bỏ thị trường: rào cản gia nhập thị trường là những nhân tố ngăn cản
hoặc kìm hãm các doanh nghiệp tham gia hay rút lui tại một thị trường.
Các rào cản nào mà nhà độc quyền có thể sử dụng để ngăn chặn đối thủ gia nhập thị trường, chia
làm 2 loại theo nguồn gốc độc quyền:
- nguồn gốc độc quyền bán: quy định của chính phủ, rào cản gia nhập, lợi thế về quy mô, bản
quyền bằng phát minh sáng chế, sở hữu duy nhất yếu tố đầu vào
- nguồn gốc độc quyền tự nhiên: là hãng độc quyền phát sinh từ những đặc điểm sản xuất đặc
biệt trong một ngành, hãng luôn luôn tạo ra tính kinh tế của quy mô lớn: đặc trưng sản phẩm,
yêu cầu vốn lớn, chi phí chuyển đổi cao Ví dụ minh họa:
- theo quy định của chính phủ: Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN đang độc quyền trong phân
phối điện trên lãnh thổ Việt Nam- người tự đặt ra giá thu mua điện năng của các nhà máy
thủy điện, nhiệt điện, khí điện đạm kể cả thu mua sản lượng điện từ bên ngoài như Trung Quốc…
- Tổng công ty Đường sắt Việt Nam vẫn gần như độc quyền toàn bộ ngành đường sắt. Do quy
mô vốn khi gia nhập ngành lớn.
Câu 18: Chu kỳ kinh tế là gì? Các tiêu chí đánh giá các giai đoạn của chu kỳ kinh tế?
*Chu kỳ kinh tế (còn gọi là chu kỳ kinh doanh) là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba
pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ). Cũng có quan điểm coi pha phục hồi là
thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh chỉ gồm hai pha chính là suy thoái và hưng thịnh (hay mở rộng).
Kinh tế chính trị Marx-Lenin cho rằng một chu kỳ kinh tế của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa gồm bốn
pha là: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh.
*Tiêu chí đánh giá các giai đoạn của chu kỳ kinh tế:
Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:
- Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh
nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo
theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút.
- Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống tiếp theo
là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
- Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên
nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái.
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi
các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh. Cầu về vốn cũng giảm đi
làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái.
Còn khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại.
Câu 19: Phân tích mối quan hệ giữa chu kỳ kinh tế và việc sử dụng các nguồn lực cho đầu tư?
*Nguồn lực ngân sách nhà nước:
- Chính sách tài khóa thuận chu kỳ ở nhiều nước đang phát triển: mở rộng khi phục hồi và thắt
chặt khi suy thoái do hiệu ứng tham lam
- Chính sách nghịch chu kỳ tại các quốc gia phát triển: mở rộng khi suy thoái và thu hẹp khi phục hồi *Nguồn lực tư nhân:
- Khi nền kinh tế suy thoái:
- Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến => Việc
này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà
xưởng cũng giảm, cầu về lao động giảm
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi
các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh => Cầu về vốn cũng giảm
- Khi nền kinh tế hưng thịnh:
- Tiêu dùng tăng cao, hàng hóa bán chạy => các nhà sản xuất tăng sản lượng => các
doanh nghiệp mở rộng đầu tư vào trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng, công nghệ, thuê
nhiều lao động hơn, nhiều doanh nghiệp mới gia nhập ngành
- Lợi nhuận các doanh nghiệp tăng nhanh chóng, giá cổ phiếu tăng cao => nhu cầu sử dụng vốn tăng cao
Câu 20: Các lý thuyết chu kỳ kinh tế. Vận dụng đánh giá chu kỳ kinh tế tại Việt Nam. *Định nghĩa:
Chu kỳ kinh tế (còn được gọi là chu kỳ kinh doanh) là sự biến động của GDP thực tế theo
trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh. Cũng có quan điểm coi pha phục hồi là
thứ yếu nên chu kỳ kinh tế chỉ gồm 2 pha là suy thoái và hưng thịnh.
*Một số lý thuyết chính lý giải nguyên nhân của chu kỳ kinh tế
- Lý thuyết tiền tệ: cho rằng chu kỳ kinh tế là do sự mở rộng hay thắt chặt của chính sách tiền
tệ và tín dụng. Đại diện tiêu biểu của lý thuyết này là nhà kinh tế học đoạt giải Nobel kinh tế
năm 1976, người đứng đầu trường phái Chicago Milton Friedman. Lý thuyết này tỏ ra phù
hợp với cuộc suy thoái của kinh tế Hoa Kỳ 1981-1982 khi Cục Dự trữ Liên bang tăng lãi suất
danh nghĩa tới 18% để chống lạm phát.
- Mô hình gia tốc - số nhân: do Paul Samuelson đưa ra, mô hình này cho rằng các biến động
ngoại sinh được lan truyền theo cơ chế số nhân kết hợp với sự gia tốc trong đầu tư tạo ra
những dao động có tính chu kỳ của GDP.
- Lý thuyết chính trị: đại diện là các nhà kinh tế học William Nordhaus, Michał Kalecki,... Lý
thuyết này quy cho các chính trị gia là nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh tế vì họ hướng các
chính sách tài khóa và tiền tệ để có thể thắng cử.
- Lý thuyết chu kỳ kinh doanh cân bằng: với những đại diện như Robert Lucas, Jr., Robert
Barro, Thomas Sargent...phát biểu rằng những nhận thức sai lầm về sự vận động của giá cả,
tiền lương đã khiến cho cung về lao động quá nhiều hoặc quá ít dẫn đến các chu kỳ của sản
lượng và việc làm. Một trong những phiên bản của lý thuyết này là tỷ lệ thất nghiệp cao trong
suy thoái là do mức lương thực tế của công nhân cao hơn mức cân bằng của thị trường lao động.
- Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế: lập luận rằng những biến động tích cực hay tiêu cực về
năng suất lao động trong một khu vực có thể lan tỏa trong nền kinh tế và gây ra những dao động có tính chu kỳ.
*Vận dụng đánh giá chu kì kinh tế tại Việt Nam:
20 năm đổi mới: ba chu kỳ kinh tế
Nhìn vào số liệu thống kê về tăng trưởng và thất nghiệp ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay có
thể thấy sau hơn 20 năm đổi mới nước ta đã trải qua ba giai đoạn suy thoái chu kỳ với tần suất từ 9-
10 năm. Lần đầu tiên là năm 1989-1990 khi tăng trưởng GDP trung bình chỉ đạt 4,9% trong khi tỷ lệ
thất nghiệp lên đến 13% năm 1989 và 9% năm 1990.
Từ năm 1990, sau khi tư duy cải cách thực sự được chuyển hóa thành các chính sách kinh tế
và đi vào cuộc sống, nền kinh tế đã nhanh chóng vượt qua giai đoạn khó khăn và bước vào thời kỳ
phát triển mạnh với tốc độ tăng GDP bình quân 8,2%/năm trong giai đoạn 1991-1995, đạt mức cao
nhất trong chu kỳ là 9,5% năm 1994, thất nghiệp chỉ còn 5,8%.
Tuy nhiên, do cú sốc của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á nên nước ta lại nhanh chóng đi
vào thời kỳ suy thoái 1998-1999. Tốc độ tăng trưởng chỉ còn 5,8% năm 1998 và xuống đáy 4,8%
năm 1999. Cũng trong năm 1999, thất nghiệp tăng lên 6,7% và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn ở mức rất cao 28,9%.
Từ năm 2000-2008, việc tiếp tục kiên trì đường lối đổi mới với nhiều cải cách mạnh mẽ, đặc
biệt là sự ra đời Luật Doanh nghiệp đã giải phóng nguồn lực dồi dào trong khu vực dân doanh. GDP
liên tục tăng qua các năm và đạt 8,5% năm 2007, thất nghiệp giảm xuống chỉ còn 4,2%. Tuy nhiên,
để đạt được kết quả đó, trong giai đoạn 2003-2007 cung tiền cũng tăng cao trung bình 25%/năm, tín
dụng nội địa tăng trên 35%/năm và đạt mức cao nhất thế giới là 53% trong năm 2007.
Trong khi đó, có tới 60% lượng tín dụng được dành cho các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu
quả khi ICOR ở mức rất cao (9-12) và chỉ có thể tạo việc làm cho khoảng 10% lực lượng lao động.
Theo phân tích về chu kỳ của trường phái kinh tế học Áo (Mises, Hayek), sự dư thừa tín dụng và
phân bổ không hiệu quả này rốt cuộc đã dẫn tới khủng hoảng tín dụng và buộc thị trường tín dụng
phải điều chỉnh như chúng ta đã chứng kiến trong năm 2008.
Bên cạnh đó, khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới cũng là một cú sốc mạnh từ bên ngoài
đã cộng hưởng và nhanh chóng đưa nước ta vào pha suy thoái của chu kỳ. Tăng trưởng GDP giảm
xuống chỉ còn 6,2% năm 2008, thất nghiệp tăng lên 4,6%.
Một số dự báo gần đây cho rằng tăng trưởng GDP năm 2009 có thể chỉ còn khoảng 4% và
thất nghiệp sẽ ở mức rất cao. Một điểm cần lưu ý là các trường phái kinh tế đều không thể thống
nhất về tần suất của các chu kỳ kinh tế. Việt Nam đã ở đáy của chu kỳ trong giai đoạn 1989-1990,
1998-1999 và có thể là 2008-2009 nhưng không phải là đến 2018-2019 chúng ta mới rơi vào thời kỳ suy thoái tiếp theo.
Do đó, nếu vẫn tiếp tục duy ý chí theo đuổi tỷ lệ tăng trưởng cao và nóng vội dùng mọi biện
pháp để đạt mức tăng trưởng đề ra mà không chú trọng đến sự bền vững của tăng trưởng thì thời kỳ
suy thoái tiếp theo có thể sẽ đến sớm hơn và trầm trọng hơn nhiều.
→ Một số bài học: Từ kinh nghiệm một số nước trong việc vượt qua khủng hoảng chu kỳ chúng ta
có thể rút ra một số bài học cho công tác hoạch định chính sách vĩ mô như sau:
Thứ nhất, giai đoạn vượt qua suy thoái mang tính chu kỳ luôn là cơ hội tốt để những nước
đang chuyển đổi như Việt Nam đẩy mạnh cải cách và chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chỗ chủ
yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, xuất khẩu tài nguyên chuyển sang tăng trưởng nhờ vào năng lực cạnh
tranh, phát huy lợi thế so sánh…
Thứ hai, đối với một nền kinh tế có độ mở cao như nước ta thì các cú sốc từ bên ngoài sẽ
nhanh chóng tác động tới nền kinh tế trong nước và đẩy chu kỳ kinh tế đi vào giai đoạn suy thoái.
Cuối tháng 9, đầu tháng 10-2008, khi cuộc khủng hoảng tài chính - tín dụng tại Mỹ đang ở
giai đoạn khó khăn nhất và đã lan ra nhiều nước trên thế giới, nhiều nhà hoạch định chính sách và
chuyên gia kinh tế vẫn khẳng định “sẽ không ảnh hưởng trầm trọng đến nền kinh tế Việt Nam”,
“không ảnh hưởng nhiều đến Việt Nam” hoặc “không gây quan ngại nhiều đến nền kinh tế Việt
Nam”... một cách rất chủ quan và thiếu căn cứ.
Thứ ba, kỳ vọng (expectations) của người dân và doanh nghiệp là phạm trù của môn tâm lý
học nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển của kinh tế học hiện đại và do đó các nhà
hoạch định chính sách không thể bỏ qua.
Ở các nước phát triển, việc tính toán và theo dõi các chỉ số nói lên kỳ vọng của người dân và
doanh nghiệp như chỉ số lòng tin người tiêu dùng, chỉ số lòng tin nhà đầu tư, chỉ số lòng tin các chủ
doanh nghiệp... là rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách vĩ mô.
Thứ tư, trong thời kỳ khó khăn của chu kỳ kinh tế, chính sách tiền tệ và tài khóa cần được kết
hợp linh hoạt để phục hồi tăng trưởng GDP và tạo việc làm. Việc nới lỏng chính sách tiền tệ, hạ lãi
suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn là cần thiết nhưng cần chú ý không rơi vào bẫy thanh khoản
(liquidity trap) khi lãi suất đã giảm thấp nhưng ngân hàng vẫn không cho vay, doanh nghiệp không
thể tiếp cận tín dụng như trong thời gian qua ở nước ta. Khi đó chính sách tiền tệ sẽ không còn tác
dụng kích thích nền kinh tế.
Nước Mỹ đã áp dụng chính sách lãi suất bằng 0 từ ngày 16-12-2008 nhưng cũng giống như
Nhật Bản trước đây, họ dường như đang mắc kẹt trong chiếc bẫy thanh khoản vô hình và bây giờ
việc khôi phục nền kinh tế chỉ còn biết trông chờ vào các gói kích thích tài khóa khổng lồ của Tổng thống Obama mà thôi.
Đối với chính sách tài khóa, cần tính toán thận trọng hiệu quả và liều lượng của gói kích cầu.
Chính sách kích cầu mà nhiều nước trên thế giới và Việt Nam đang sử dụng dựa trên quan điểm
Keynes với lập luận cho rằng sẽ tạo ra tác động số nhân (multiplier effect) theo đó khoản chi tiêu
kích cầu của Chính phủ sẽ là thu nhập của nhiều đối tượng khác nhau trong nền kinh tế theo cấp số
nhân, qua đó làm tăng tổng cầu và tăng GDP, tạo việc làm. Không hiểu các giải pháp kích cầu của
chúng ta như giảm thuế giá trị gia tăng, giãn thuế thu nhập cá nhân, bảo lãnh tín dụng hay bù lãi suất
được tính toán với số nhân là bao nhiêu?
Nếu số nhân nhỏ hơn 1 do doanh nghiệp vay bù lãi suất chỉ để đảo nợ, để gửi ăn chênh lệch
hoặc tiền hỗ trợ hộ nghèo lại nằm trong két của các quan tham... thì việc kích cầu chỉ có ý nghĩa về
mặt tâm lý và nên dừng ở mức hiện tại, không nên mở rộng lên 6 tỉ đô la để tránh làm trầm trọng thêm thâm hụt ngân sách.
Câu 21: Chính sách tài khóa là gì? Phân tích mục tiêu, công cụ chính sách tài khóa? *Định nghĩa:
- Là việc chính phủ sử dụng thuế khoá và chi tiêu ngân sách để tác động vào tổng cầu, qua đó
nhằm điều chỉnh sản lượng để đạt mục tiêu mong muốn.
*Mục tiêu và công cụ của chính sách tài khoá:
- Mục tiêu: Nhằm điều chỉnh sản lượng để đạt đến sản lượng tiềm năng, ổn định kinh tế vĩ mô - Công cụ: 2 công cụ -> Thuế (T)
-> Chi tiêu ngân sách (G)
*Phân loại: Chính sách tài khóa được chia làm 2 loại là chính sách tài khóa mở rộng và chính sách
tài khóa thu hẹp. Chính sách tài khóa mở rộng là chính sách mà chính phủ sẽ tăng G, tức tăng chi
tiêu chính phủ sẽ trực tiếp làm tăng tổng cầu - giảm thuế T sẽ làm tăng thu nhập khả dụng của các
hộ gia đình, từ đó kích thích tiêu dùng tăng theo, làm tăng tổng cầu. Chính sách tài khóa thu hẹp
(chính sách tài khóa thắt chặt) là chính sách mà chính phủ sẽ giảm G, tức giảm chi mua hàng hóa,
dịch vụ - tăng thuế T, làm giảm thu nhập khả dụng, từ đó làm giảm tổng cầu.
*Ưu điểm của chính sách tài khóa:
Khi nền kinh tế suy thoái, nhà nước có thể sử dụng chính sách tài khóa mở rộng: tăng chi tiêu
G (đầu tư công), giảm thuế T để chống lại. Còn khi nền kinh tế ở tình trạng lạm phát, nhà nước có
thể sử dụng chính sách tài khóa thắt chặt: giảm chi tiêu G, tăng thuế T để giảm lạm phát.
* Nhược điểm của chính sách tài khóa:
- Chính sách tài khóa mở rộng làm nghiêm trọng hơn tình trạng thâm hụt ngân sách, gia tăng
nợ công. Nhìn bên ngoài, những nỗ lực mở rộng của chính phủ có vẻ chỉ mang lại hiệu quả
tích cực bằng cách kích thích nền kinh tế nhưng hiệu ứng domino kéo theo lại mở rộng hơn
thế nhiều. Khi tốc độ chi tiêu chính phủ nhanh hơn so với thu thuế, nợ sẽ tích lũy quá nhiều
khi phát hành trái phiếu chịu lãi suất để tài trợ cho việc chi tiêu, từ đó dẫn tới gia tăng nợ quốc gia.
- Chính sách tài khóa làm tăng chi phí vay vốn. Khi chính phủ vay nợ để chi tiêu thông qua trái
phiếu, làm tăng cầu trên thị trường vốn, làm tăng lãi suất vay vốn.
- Chính sách tài khóa có độ trễ do tác động của độ trễ tự nhiên hoặc do phải trải qua nhiều
khâu chính sách khác nhau. *Các công cụ của CSTK a, Chi tiêu công:
- Khái niệm: Chi tiêu công là tổng hợp các khoản chi của chính quyền trung ương, chính
quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và của toàn dân khi cùng trang trải kinh phí cho các
hoạt động do Chính phủ quản lý.
- Cơ chế tác động:
- Đặc điểm: Đặc điểm nổi bật của chi tiêu công là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng
đồng dân cư ở các vùng hay phạm vi quốc gia
Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội của nhà nước và cũng
chính trong quá trình thực hiện chức năng đó nhà nước đã cung cấp một lượng hàng hóa công khổng lồ cho nền kinh tế.
Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã
hội mà nhà nước thực hiện
Các khoản chi tiêu công do chính quyền nhà nước các cấp đảm nhận theo nội dung đã được
quy định trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước và các khoản chi tiêu công này nhằm đảm bảo
cho các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, các cấp
của cơ quan quyền lực nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các
khoản chi tiêu công nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia
Các khoản chi tiêu công hoàn toàn mang tính công cộng.
Chi tiêu công tương ứng với những đơn đặt hàng của chính phủ về mua hàng hóa dịch vụ
nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, đồng thời đó cũng là những khoản phải
chi cần thiết, phát sinh tương đối ổn định như: chi lương cho viên chức bộ máy quản lý nhà nước,
chi hàng hóa, dịch vụ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công cộng của các tầng lớp dân cư...
Các khoản chi tiêu công mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp và thể hiện ở
chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại
dưới hình thức các khoản chi tiêu công. b. Hệ thống thuế:
- Khái niệm: Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch, tài
sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các
hoạt động kinh tế - xã hội.
- Cơ chế tác động: Hệ thống thuế hiện hành bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau tác động lên
tất cả các hoạt động kinh tế, các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, Chính phủ
hoàn toàn có thể sử dụng công cụ thuế để điều tiết hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp,
khuyến khích đầu tư, phát triển các hoạt động sản xuất có lợi cho quốc kê dân sinh, thực hiện điều
tiết, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, bảo hộ và
khuyến khích phát triển sản xuất trong nước và tạo điều kiện hàng hóa trong nước cạnh tranh trên thị trường Thế giới.
Bên cạnh đó cần phải thực hiện tốt công tác quản lý thuế để đàm tăng nguồn thu đáp ứng chỉ
thường xuyên và đáp ứng cân đối NSNN
- Đặc điểm: Các khoản thu thuế được tập trung vào Ngân sách nhà nước là những khoản thu
nhập của nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị.
+ Thuế là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
+ Thuế dựa vào thực trạng của nền kinh tế ( GDP, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất, thu nhập, lãi suất,... ).
+ Thuế được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu.
+ Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, là công cụ quan trọng để phân phối lại thu nhập,
góp phần tích cực giảm bội chi NSNN, giảm lạm phát góp phần ổn định trật tự hội.
+ Thuế là công cụ quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô : khuyến khích hoặc kìm hãm hoạt động
sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế theo từng mục tiêu chung của Đất nước ; thúc đây
tăng cường đầu tư vốn và lành mạnh hóa thị trường.
+ Thuế góp phần đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế ( công bằng - thuế suất).
Câu 23: Tác động của chính sách tài khóa tới hoạt động đầu tư. Liên hệ VN?
1.Phân tích trên cơ sở kinh tế học
1.1. Chính sách TK mở rộng
Chính sách tài khoá mở rộng được áp dụng khi nền kinh tế có mức sản lượng thấp hơn
sản lượng tiềm năng : Tăng G => IS dịch phải một đoạn ΔY=m.ΔG. Lúc này sản lượng cân bằng
tăng do đó làm tăng cầu tiền để phục vụ mục đích giao dịch. Khi MS tăng -> r tăng, I giảm. Sự lấn át
đầu tư như vậy triệt tiêu một phần ảnh hưởng của chính sách mở rộng tài khoá đối với tổng cầu.
1.2. Chính sách TK thắt chặt
Khi chính phủ giảm chi tiêu hoặc tăng thuế, tổng cầu giảm làm cho sản lượng cân bằng
giảm, điều này dẫn đến cầu tiền tệ cũng giảm. Khi MS giảm -> r giảm -> khuyến khích đầu tư tư
nhân và nhờ đó tổng cầu tăng trở lại.
2. Phân tích bằng lý luận thực tiễn
2.1 Tác động của chính sách tài khóa đến quy mô vốn đầu tư toàn xã hội
Chính sách thuế: Nếu chính phủ tăng thu NSNN bằng việc tăng thuế thu nhập doanh nghiệp
của các công ty tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu
tư của khu vực tư nhân trong nước và nước ngoài (FDI) đó là giảm chính sách đầu tư đi từ đó quy mô vốn đầu tư giảm
2.2 Tác động của chính sách tài khóa đến môi trường đầu tư
Tăng Chi đầu tư phát triển (đầu tư vào cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội, phát triển sản xuất)
Hoàn thiện cơ sở hạ tầng, ổn định tăng trưởng vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội (giao thông
thuận lợi, viễn thông tốt,…) hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài. Chính
sách thuế thay đổi là yếu tố tác động đến đầu tư.
2.3 Tác động của chính sách tài khóa tác động đến đầu tư của khu vực tư nhân
Đầu tư công mở đường cho đầu tư khu vực tư nhân. Có trường hợp đầu tư công lấn át đầu tư
tư nhân đó là những trường hợp mà chính phủ cần lắm vai trò lớn như đầu tư vào quân sự , hay các công trình xã hội,… LIÊN HỆ VN:
Với tình hình khủng hoảng, lãi suất tăng chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn và thị trường xuất
khẩu có khả năng bị thu hẹp nên dòng vốn chảy vào Việt Nam bị giảm sút. Năm 2008 Chính phủ mở
rộng tài khóa với nhiều dự án đầu tư công được thực hiện, chi đầu tư phát triển vượt dự toán 20%
(gần 120.000 tỷ đồng). Tuy nhiên đồng vốn sử dụng chưa hiệu quả, hệ số Icor cao lên đến 6.75 năm
2008 và 7.35 năm 2009. Chính phủ đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng và hấp thụ
vốn đầu tư của nền kinh tế đồng thời giảm chi tiêu chính phủ, giảm bội chi ngân sách nhà nước.
Thắt chặt tài khóa cùng với mức lạm phát cao làm cho tổng vốn đầu tư trong nước năm 2011 giảm
xuống còn gần bằng năm 2009.
Trong giai đoạn 2011-2016 đã đem lại thành tựu đáng kể: Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn
lực gắn với quá trình tái cơ cấu đầu tư công. Vốn đầu tư công, nhất là đầu tư từ nguồn ngân sách nhà
nước (NSNN) và trái phiếu chính phủ (TPCP) được bố trí tập trung hơn, ưu tiên tập trung cho các
công trình dự án quan trọng, cấp thiết, sớm hoàn thành, đưa nhanh vào sử dụng để phát huy hiệu
quả, đã tập trung xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản (XDCB) và thanh toán vốn ứng trước; tăng cường
quyền tự chủ, chủ động đi đôi với tăng cường trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc phê
duyệt dự án đầu tư, lựa chọn danh mục và phân bổ vốn cho từng dự án cụ thể theo đúng các mục
tiêu, định hướng phát triển; phân bổ vốn đầu tư bảo đảm tính công khai, minh bạch. Tỷ trọng vốn
đầu tư trong giai đoạn này luôn chiếm trên 30% GDP, khả năng hấp thụ vốn khả quan hơn giai đoạn
trước với hệ số ICOR giao động quanh 5.
Cùng với đó tạo thêm công ăn việc làm cho người dân, tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn này
giảm đáng kể từ 3,57% năm 2010 xuống còn 1,66% năm 2016. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng, thị
trường bất động sản đang phục hồi, giải ngân FDI cao nhất từ trước đến nay, đạt 15,8 tỷ USD và khu
vực FDI tiếp tục đóng vai trò quan trọng nhất cho xuất khẩu của Việt Nam với mức xuất siêu 23,7 tỷ
USD. Cùng với chính sách tái cơ cầu đầu tư công đẩy mạnh việc thực hiện chính sách "xã hội hóa"
đầu tư trong một số lĩnh vực như y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao để một mặt tăng thêm nguồn vốn
đầu tư đã mang lại nguồn vốn đầu tư tăng mạnh hơn so với các năm 2014-2016 đồng thời mang lại
tăng trưởng kinh tế vượt ngoài dự báo.
Câu 24: Chính sách tiền tệ và các công cụ điều tiết
1. Một số khái niệm:
Theo Luật ngân hàng 2010: “Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm
quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng
tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra.”
CSTT mở rộng ( nới lỏng): là CSTT của NHTW làm tăng cung tiền, giảm lãi suất. Chính
sách này được áp dụng trong điều kiện nền kinh tế bị suy thoái, nạn thất nghiệp gia tăng. Đây là
chính sách tiền tệ chống suy thoái
CSTT thắt chặt: là CSTT của NHTW làm giảm cung tiền, tăng lãi suất. Chính sách này
được áp dụng khi nền kinh tế có sự phát triển thái quá đồng thời lạm phát ngày càng gia tăng. Đây là
chính sách tiền tệ chống lạm phát
2. Các công cụ điều tiết
Nghiệp vụ thị trường mở: Là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá
ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng
dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân
hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.
Dự trữ bắt buộc: Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NH phải giữ lại, do NHTW qui
định, gửi tại NHTW, không hưởng lãi, không được dùng để đầu tư, cho vay và thông thường được
tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số tiền gửi của KH để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn
định của hệ thống ngân hàng. Việc thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân
tiền tệ m trong cơ chế tạo tiền của các NHTM. Mặt khác khi tăng(giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả
năng cho vay của các NHTM giảm(tăng) làm cho lãi suất cho vay tăng(giảm), từ đó làm cho lượng
cung ứng tiền giảm(tăng).
Lãi suất chiết khấu: Lãi suất được xem là một công cụ gián tiếp thực hiện chính sách tiền tệ
trong điều khiển mức cung ứng tiền cho nền kinh tế, bởi lẽ lãi suất không trực tiếp làm tăng hay
giảm khối lượng tiền tệ trong lưu thông. Sự biến động của lãi suất có thể kích thích hoặc kìm hãm
sản xuất. Do vậy, lãi suất là một công cụ quan trọng của NHTW trong thực hiện chính sách tiền tệ.
Thông qua chính sách chiết khấu đối với các ngân hàng, NHTW thực hiện quản lý gián tiếp lãi suất
cho vay của các ngân hàng đối với nền kinh tế. Khi muốn điều chỉnh lãi suất của các ngân hàng,
NHTW điều chỉnh các lãi suất của mình, từ đó tác động đến lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân
hàng, cuối cùng sẽ tác động đến lãi suất huy động, cho vay của các ngân hàng.
Tái cấp vốn: Là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các Ngân hàng
thương mại, Khi cấp khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng
lượng tiền cung ứng đồng thời tạo ra cơ sở của Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ.
Hạn mức tín dụng: Là 1 công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng
Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng. Hạn mức tín dụng
là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi
cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ.
Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối. Tỷ giá hối
đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình
sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút
vốn đầu tư, dự trữ của đất nước.Về thực chất thì tỷ giá không phải là công cụ chính sách tiền tệ bởi
lẽ tỷ giá không làm tăng giảm khối lượng tiền trong lưu thông, mà chỉ góp phần thay đổi cơ cấu khối
lượng tiền. Tuy nhiên tại nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, có
mức độ đôla hoá cao, thì tỷ giá được xem là một công cụ bổ trợ quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ.
Câu 27: Các yếu tố là rào cản tới tăng trưởng KT là gì? Liên hệ với thực tiễn VN?
1. Các rào cản tới tăng trưởng kinh tế: 1.1
Rào cản từ tích lũy và đầu tư:
Đầu tư có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế, mặt khác tích lũy ảnh hưởng trực tiếp
đến nguồn vốn đầu tư. Khi tích lũy tăng thì sẽ làm tăng lượng vốn đầu tư dẫn đến tăng trưởng kinh
tế tăng. Khi tích lũy thấp sẽ làm lượng vốn đầu tư giảm. Như vậy, tích lũy đầu tư là nguồn gốc của
tăng trưởng kinh tế. Muốn sản lượng gia tăng thì cần duy trì tỷ lệ tích lũy. Mô hình thể hiện tích lũy
là nguồn gốc của đầu tư, đầu tư làm gia tăng vốn sản xuất từ đó làm gia tăng sản lượng tác động trực
tiếp đến tăng trưởng kinh tế.
Khi lượng vốn đầu tư giảm, nếu muốn đầu tư phát triển sẽ phải vay vốn đầu tư nhiều hơn.
Việc vay vốn với số lượng lớn sẽ có một vài tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó
có thể kể đến một vài tác động tiêu cực của bộ phận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như: chuyển
giao công nghệ, ảnh hưởng tới môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên,… 1.2
Rào cản từ thị trường và các định chế tài chính:
Với nhu cầu sử dụng vốn lớn như vậy thì vai trò chuyển giao vốn từ các chủ thể thừa vốn và
thiếu vốn của thị trường tài chính (TTTC) càng được khẳng định. Tuy nhiên trên thực tế TTTC
cũng như các định chế tài chính (ĐCTC) gặp phải không ít khó khăn trong quá trình vận hành, làm
ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế, là rào cản cho sự tăng trưởng kinh tế tại mỗi quốc gia.
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh tiền tệ là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất bởi tính
linh hoạt , khó kiểm soát của việc sử dụng đồng tiền của người vay. Nợ xấu không chỉ gây ra tác
động tiêu cực đối với các tổ chức tín dụng, mà còn lan tỏa đến cả nền kinh tế, làm nên kinh tế kém
hiệu quả và giảm năng lực cạnh tranh.Điều này trực tiếp cản trợ tới sự phát triển kinh tế của đất nước.
Còn đối với Thị trường chứng khoán (TTCK) cũng bởi vì tính linh hoạt của mình mà bên
cạnh những kết quả khả quan mà nó đem đến cho nền kinh tế thì cũng tồn tại một số hạn chế. Về cơ
bản, giá hàng hóa tăng sẽ giúp những doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu những hàng hóa này được
lợi, nhưng về tổng thể nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng khi lạm phát có nguy cơ leo thang trở lại, gây áp
lực lên lãi suất và từ đó cản trở đà tăng của nền kinh tế và ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của
những doanh nghiệp còn lại. Các thị trường tài sản dường như có mối liên kết và có tính lây lan, vì
thế khi một thị trường đổ vỡ sẽ gây mất niềm tin của các nhà đầu tư dẫn đến hành vi rút tiền ra khỏi
các thị trường còn lại. 1.3
Rào cản từ hệ thống giáo dục:
Để có được một nguồn lực con người chất lượng đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế, ta
cần phải có một hệ thống giáo dục sáng tạo, hiệu quả vững chắc nhằm tận dụng tối đa những điểm
mạnh, tiềm năng của mỗi người..Nói cách khác với một hệ thống giáo dục thiếu tập trung, kém hiệu
quả sẽ khó lòng nào đảm bảo cung cấp được và đủ nguồn lao động có chất lượng tốt, phục vụ cho
nền kinh tế. Vì vậy hệ thống giáo dục lạc hậu, kém hiệu quả cũng có thể coi là rào cản tới sự tăng
trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. 1.4
Rào cản từ hệ thống thuế:
Thuế cũng là một trong những công cụ chủ yếu và quan trọng của chính sách tài khóa.
⮚Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước
⮚Thuế là công cụ giúp nhà nước đạt được các mục tiêu vĩ mô của mình