










Preview text:
Trang 4:
Chúng ta có thể tranh luận về khái niệm hoặc thuật ngữ tốt nhất cho lĩnh
vực tương đối mới này, nhưng mục đích chính của nó rất rõ ràng: kinh tế học
hành vi cố gắng cung cấp một giải thích khoa học về hành vi kinh tế trong thực
tế. Nó phát triển các lý thuyết, đưa ra các giả thuyết, dự đoán và kiểm tra chúng
dựa trên thế giới thực. Nó ít phụ thuộc vào một số các giả định/ tiên đề nền tảng
làm cơ sở cho các lý thuyết và dự đoán của chúng hơn là kinh tế học chính
thống. Để đạt được những mục tiêu khoa học, kinh tế học hành vi sử dụng kiến
thức mới nhất từ khoa học xã hội. Nó là không cố định mà liên tục phát triển.
Như vậy, nó là một mục tiêu di động và do đó không dễ xác định cũng như khó nắm bắt.
Ngoài ra, còn có một điều khác mà chúng ta cần biết. Kinh tế học hành vi
phản ánh công việc của các nhà tâm lý cũng như các nhà kinh tế. Điều này đặt
ra một số vấn đề khi chúng ta nói về kinh tế học hành vi bởi vì chúng ta thường
nói về việc mở rộng các ý tưởng về mặt tâm lý – nhiều nhà kinh tế học chính
thống cho rằng những ý tưởng như vậy gần như không xảy ra với nền kinh tế
'thực'. Tuy nhiên, các nhà tâm lý học đã có những đóng góp to lớn cho ngành
kinh tế học. Và không chỉ các nhà tâm lý học đang làm đảo lộn xe táo của kinh
tế học chính thống. Nhiều nhà kinh tế học hành vi xuất phát từ nền tảng kinh tế
học chính thống (ví dụ: George Loewenstein và Richard Thaler) và họ rất không
hài lòng với những giả định và hình mẫu tiêu chuẩn - họ áp dụng những hiểu
biết sâu sắc từ khoa học hành vi để cải thiện kinh tế học theo cách riêng của nó.
Như chúng ta sẽ thấy, một số nhà kinh tế học hành vi (ví dụ: Dan Ariely) là
những nhà tâm lý học không mấy tin rằng những nguyên tắc kinh tế trọng tâm
cần phải được giữ lại, nếu chỉ có thể cải thiện nó.
Dù quan điểm của chúng ta là gì, kinh tế học hành vi đã được hình thành
nhờ ngày càng có nhiều bằng chứng về những hiện tượng lạ, những điều bất
thường và những sự thật kỳ lạ mà nền kinh tế chính thống gặp khó khăn trong
việc giải thích - hoặc thậm chí hiểu được. Những sai lệch này – hành vi sai lệch
– có thể được nhìn thấy trong việc quan sát mọi người hàng ngày, và nếu chúng
ta quan tâm, xem xét đủ kỹ trong chính bản thân chúng ta. Họ cho rằng chúng ta
thường không làm theo những ý định tốt nhất của mình. Những quyết tâm trong
năm mới là một ví dụ thấy thường niên – giờ đây chúng như một minh họa
mang tính nghi thức về sự thất bại của ý chí. Trang 5:
Và ngay cả khi chúng ta có sự ưu tiên nhất định đối với điều gì đó (ví dụ:
tiết kiệm để nghỉ hưu), chúng ta không phải lúc nào cũng hành động theo cách
tối đa hóa kết quả mong muốn. Chúng ta trì hoãn, đánh giá sai khả năng (ví dụ:
nghĩ rằng chúng ta có thể không sống để tận hưởng những phúc lợi), và trở
thành nạn nhân của một số thành kiến cho rằng chúng ta không có khả năng
giống với hình ảnh của tác nhân kinh tế hợp lý được lý tưởng hóa (được định
nghĩa ở Chương 3). Chúng ta thường sống cho ngày hôm nay – dường như
'ngày mai là một ngày khác'. Đôi khi chúng ta dường như làm sai hết thảy mọi
việc – và quan trọng là nó sai một cách có hệ thống. Bây giờ, không có cái nào
trong số này đặc biệt đáng đưa tin, nhưng nó làm cho các nhà kinh tế học chính
thống bối rối và làm giảm độ tin cậy của các mô hình kinh tế tiêu chuẩn.
Việc nắm bắt đúng về kinh tế học hành vi không giúp được gì bởi thực tế
là không có một tài liệu chính thức nào về nó, thậm chí không có một tài liệu
nào mà phần lớn các nhà kinh tế học hành vi sẵn sàng chấp thuận. Bản báo cáo
của chúng tôi chỉ là một trường hợp có thể xảy ra. Để phòng thủ, nó chứa hầu
hết các yếu tố tạo nên các tài liệu khác. Trong mọi trường hợp, một trong những
bản tóm tắt hay nhất về lịch sử của kinh tế học hành vi được cung cấp bởi Colin
Camerer và George Loewenstein (2003), hai trong số những người đi đầu và
ủng hộ kinh tế học hành vi. Trong bài viết của họ, “Kinh tế học hành vi: Quá
khứ, Hiện tại, Tương lai', họ theo dõi những vấn đề mà dòng chính thống gặp
phải và các giải pháp xuất phát từ tư duy thực tế về mặt tâm lý hơn.
Khi xem xét kỹ hơn, điều đặc biệt thú vị là nhiều ý tưởng thuộc đề mục
'kinh tế học hành vi' là - bản thân chúng đã quen thuộc nhưng thường bị lãng
quên. Bản báo cáo của chúng tôi
cố gắng khám phá những gốc rễ sâu xa hơn và vì lý do Chương 2 mất chút thời
gian vào lịch sử kinh tế học và sự chỉ trích kéo dài đối với cách tiếp cận chính
thống – chúng tôi chấp nhận rằng một số người có thể nghĩ điều này là không
cần thiết, nhưng chúng tôi thì không. Thứ mà kinh tế học hành vi đã đạt được là
dành sự tôn trọng về mặt khoa học và chuyên môn cho những lời chỉ trích này.
Quan trọng hơn nữa nó đề xuất giải pháp thay thế giải thích một loạt các hành
vi, bao gồm cả những hành vi có xu hướng gây cản trở cho các nhà kinh tế học
chính thống, những người kỳ vọng mọi người sẽ hành xử một cách nhất quán,
hợp lý và tối ưu – các khái niệm mà chúng ta khám phá khi lướt qua các trang của cuốn sách này. Trang 6: ECON OR HUMAN?
Nhưng bây giờ, để bước đầu hiểu về những quan niệm khác nhau của
kinh tế học chính thống và kinh tế học hành vi, thật thuận tiện để đối chiếu mô
tả về ECON (hoặc con người kinh tế) và HUMAN (hoặc con người tâm lý)
(xem hộp văn bản). Cả hai đều quan tâm đến vấn đề gốc rễ trong kinh tế học:
làm thế nào để phân bổ nguồn lực khan hiếm để tối đa hóa một số lợi ích (được
gọi là 'thỏa mãn' trong kinh tế học). Điều này có thể là về bất cứ điều gì trong
cuộc sống, chẳng hạn như sống ở đâu, kết hôn với ai hoặc đầu tư vào đâu. ECON OR HUMAN
Đây là những bức tranh miêu tả – một số người sẽ nói là tranh biếm họa
- về hai loại tư duy được cho là quan trọng trong kinh tế học hành vi. Kinh tế
học chính thống nhấn mạnh đến ECON (con người kinh tế): lạnh lùng, lý trí,
tính toán tư lợi; tâm lý học tập trung vào HUMAN (con người tâm lý): con
người bằng xương bằng thịt, bị hạn chế về khả năng xử lý và dễ có thành kiến,
lỗi lầm, dễ bị tác động, đồng thời là người ấm áp về mặt cảm xúc, và đôi khi
nóng nảy ở cách họ đưa ra quyết định. HUMAN giống Homer Simpson hơn là
con người kinh tế như Mr Spook
Kinh tế học hành vi nói về cách mọi người hành xử trong thực tế (đây
được gọi là kinh tế học 'mô tả' hoặc kinh tế học 'tích cực'). Đó là, đó là về những
con người bằng xương bằng thịt, dường như thường không biết mình muốn gì
hoặc làm thế nào để hoàn thành công việc một cách hợp lý nhất. Quan điểm
kinh tế còn lại, chính thống hơn, tập trung vào cách mọi người nên cư xử (được
gọi là kinh tế học ‘chuẩn mực’). Các tác nhân kinh tế này tuân theo một cái gì
đó gần giống với một mô hình tư duy hoàn hảo – thực tế là có số ít người hoàn
hảo không khiến chúng tôi bận tâm, miễn là chúng tôi cho rằng họ khao khát
trạng thái này và cố gắng đạt được nó bằng khả năng tốt nhất (thường bị hạn
chế) của họ. Ở dạng thuần túy nhất, ECON đưa ra những quyết định hợp lý,
logic, mang tính tư lợi và cân nhắc kỹ lưỡng giữa chi phí và lợi ích để tối đa hóa
lợi ích. Không giống như HUMAN ương ngạnh, ECON có óc phân tích, thông minh, Trang 7:
không quan tâm và không bị ảnh hưởng bởi các trạng thái của cơ thể, tâm trạng,
cảm xúc và những thứ tương tự. Theo theo cách suy nghĩ của một số nhà kinh tế
học hành vi, ECON không chỉ là một sản phẩm hư cấu của kinh tế học chính
thống – và là một điều sai lầm về mặt lý thuyết, thậm chí có thể là một tình
huống nguy hiểm (ví dụ có thể thấy trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007
- 2008). Như Richard Thaler đã phát biểu trong một cuộc phỏng vấn: “Tôi tin
rằng trong 50 hoặc 60 năm qua, các nhà kinh tế đã cống hiến hết mình để
nghiên cứu những sinh vật hư cấu…. Họ cũng có thể đang nghiên cứu về kỳ
lân.” (theo trích dẫn trong The Psychologist, 2017).
Đến đây, bạn có thể hỏi: liệu chúng ta có biết rằng con người thực sự
không giống ECON, vậy tại sao khái niệm này vẫn có chỗ đứng vững chắc
trong nền kinh tế chính thống đến vậy? Đây là một câu hỏi hay, nhưng hỏi thì
dễ hơn trả lời. Một lý do có thể là khoa học thường hoạt động bằng cách giữ các
giả định đơn giản hóa: giảm độ phức tạp của thế giới hiển nhiên bằng cách tạo
ra các cấu trúc có tính trừu tượng và tiềm tàng hơn (tức là ẩn giấu). Nếu có thể
dùng bộ cấu trúc này để hiểu được thế giới phức tạp thì ta đã đạt được một điều
gì đó quan trọng. Mô hình khoa học này sau đó có thể được sử dụng để dự đoán
('dự báo') các hiện tượng mới trong những trường hợp khác. Nhưng có lẽ còn có
một lý do khác, HUMAN hơn, lý trí hơn.
Trong thế kỷ 20, kinh tế học chính thống áp dụng quan niệm toán học về
thế giới ngày càng nhiều. Trong khi đó, cần phải đưa ra một số giả định nhất
định để các vấn đề xảy ra có thể vận dụng được - nghĩa là thanh lịch và khả thi.
Điều này cho phép lý thuyết chính thống được biểu diễn bằng bộ máy toán học.
Ký hiệu toán học đã thu hút và gây ấn tượng với giới chuyên môn, đồng thời đe
dọa những người thách thức các nguyên lý và thế giới quan của nó. Chính Toán
học là cách lý thuyết kinh tế được khái niệm hóa và
được xây dựng – đó là cách các nhà kinh tế nghĩ về các vấn đề kinh tế. Năng lực
toán học cũng là một biểu tượng của sự đáng kính trong ngành kinh tế và là
chức năng quan trọng để thăng tiến trong công việc.
Chà, biết được điều này, câu hỏi lớn vẫn là: ECON có tồn tại dưới một
hình thức nào đó? Liệu sự mô tả lý tưởng hóa về tác nhân kinh tế lý trí có dự
đoán được cách mọi thứ vận hành trong thế giới thực không? Nếu ECON tồn tại
– và chúng ta nên cẩn thận để không bỏ qua nó quá dễ dàng – thì thực sự sẽ
không cần đến kinh tế học hành vi: nó có thể Trang 8:
được giao cho việc nghiên cứu tận tâm những câu đố tâm lý không có ứng dụng
trong thế giới thực. Trong phạm vi kinh tế học chính thống chấp nhận sự tồn tại
của HUMAN, giả định rằng nó khao khát trở thành một ECON ở tất cả các khía
cạnh quan trọng, đặc biệt là khi rủi ro cao và các quyết định quan trọng sẽ được
đưa ra. Nó cũng phải giả định CON NGƯỜI xử lý tối gần giống như ECON để
các mô hình kinh tế chính thống hoạt động.
Nhưng, nếu ECON không tồn tại ở dạng thuần túy thì ở giai đoạn nào nó
sẽ chuyển thành HUMAN không? Một số nhà kinh tế học hành vi – từ cả nền
tảng tâm lý học (ví dụ: Daniel Kahneman) và kinh tế học (ví dụ: George
Loewenstein) - tin rằng mô hình ECON đơn giản là phi thực tế, chứa đựng một
sinh vật hư cấu tưởng tượng, chỉ được tìm thấy giữa lớp vỏ bụi của cuốn sách
kinh tế học trong đó các hình thức suy nghĩ, cảm giác và hành vi điển hình của
HUMAN phần lớn bị bỏ qua; và, khi không bị bỏ qua thì bị chê bai là 'phi lý'.
Mặc dù là những bức tranh biếm họa nhưng những bức vẽ này làm nổi bật
những đặc điểm nổi bật của từng cách tiếp cận. Nhưng chúng ta cần được cảnh
báo rằng sự phân biệt HUMAN/ ECON có xu hướng dẫn đến một mức độ lầm
tưởng nhất định. Ví dụ, nó khuyến khích tư duy nhị phân: ECON hoặc
HUMAN. Điều này có thể che giấu sự tương đồng giữa chúng. Có thể là mọi
người di chuyển giữa hai chế độ khác nhau này và những mô tả đơn giản này
không phản ánh đúng sự đa dạng thực sự của hành vi. Ngoài ra, sự miêu tả
CON NGƯỜI quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh mang tính mô tả
và các khía cạnh tích cực: không phải những gì nên có, mà là - như trình bày
đầu tiên của David Hume (1711–1776), người đã đưa ra ý tưởng rằng “bạn
không thể suy luận nên từ là” trong tác phẩm quan trọng nhất của ông A
Treatise of Human Nature (1738). Hume có nghĩa là những gì chúng ta chọn
làm theo kiến thức khác với cách mọi thứ diễn ra – hãy nghĩ về bệnh ung thư
(“là”) và những gì chúng ta “phải” làm với nó (tức là phản đối và tiêu diệt nó
chứ không hỗ trợ nó vì nó tuân theo quy luật tự nhiên của sự tăng sinh tế bào).
Một trong những vấn đề về hiểu biết kinh tế học hành vi là phải ghi nhớ hai
quan điểm này cùng một lúc vì cả hai đều có giá trị riêng.
Trên thực tế, hơi dễ dàng để phê phán các giả định của kinh tế học chính
thống và bị cuốn theo hết thảy sự phấn khích và những điều kỳ lạ và tuyệt vời được tìm thấy trong Trang 9:
thế giới của kinh tế học hành vi. Trong cuốn sách này, chúng tôi cố gắng hết sức
để tránh sự cám dỗ này. Chúng tôi cố gắng chứng tỏ rằng không phải tất cả ví
dụ rõ ràng về 'hành vi sai lệch' đều trái ngược với mô hình ECON: khi xem xét
kỹ hơn, họ có thể lý trí hơn những gì họ có thể HÀNH VI SAI LỆCH
Chúng ta thực sự không phải tìm quá xa để có những ví dụ về cuộc sống
hàng ngày con người dường như đi chệch khỏi những giả định ấp ủ của kinh tế
học chính thống như thế nào (sự lý trí, việc ra quyết định hợp lý, vân vân –
những điều này được định nghĩa trong Chương 3). Liệu những hành vi sai lệch
này có phải là 'tiếng ồn' trong một hệ thống logic/lý trí hay không và mọi thứ
hóa ra ECON cuối cùng lại vẫn là một câu hỏi mở. Trong mọi trường hợp, một
số nhà kinh tế học hành vi cho rằng những sai lệch như vậy là bình thường –
những chuyện vặt vãnh trong cuộc sống hàng ngày, ngay cả việc đưa ra những
quyết định quan trọng. Ví dụ, Richard Thaler, trong cuốn sách cùng tên năm
2015, tin rằng kinh tế học hành vi toàn về hành vi sai lệch – một cách diễn đạt
mà chúng ta đã sử dụng ở trên – ý ông là cách các tác nhân kinh tế HUMAN đi
chệch khỏi dự đoán của mô hình ECON như thế nào: “Ý tôi là hành vi không
trùng khớp với mô hình lý tưởng của hành vi đó vốn là trọng tâm của cái mà
chúng ta gọi là lý thuyết kinh tế.” Được đào tạo về kinh tế, Thaler dành phần
lớn thời gian đầu sự nghiệp của mình - ghi lại những hành vi sai lệch như vậy,
điều mà anh ấy gọi là 'các yếu tố được cho là không liên quan ' (SIFs), hóa ra lại
rất phù hợp trong thực tế.
Như Thaler (2015) nói: “Trong bốn thập kỷ, kể từ khi tôi còn là một
nghiên cứu sinh, tôi luôn bận tâm đến những chuyện kiểu này, về vô số cách mà
mọi người tách khỏi những sinh vật hư cấu cư trú trong các mô hình kinh tế.”
Ông liệt kê nhiều kiểu hành vi sai lệch trong cuốn sách sống động của mình, kể
lại cuộc hành trình của ông từ nhà kinh tế học bị phớt lờ (người dường như chỉ
quan tâm đến những điều tầm thường hành vi) đến sự tôn trọng nghề nghiệp với
tư cách là Chủ tịch Hiệp hội Kinh tế Hoa Kỳ năm 2015 và người đoạt giải
Nobel 2017 – ông mô tả những ngày đầu của mình khi phản ứng với “sự thất
bại một dòng” từ các nhà kinh tế học “có cách làm việc riêng của họ”.
Như chúng ta có thể dễ dàng đoán được, việc chúng ta thường xuyên cư
xử không đúng mực không có gì đáng ngạc nhiên nhiều như vậy. Hãy xem xét
một trong những trọng tâm Trang 10:
giả định của lý thuyết kinh tế. Mọi người đưa ra lựa chọn bằng cách tối ưu hóa;
nghĩa là, họ được cho là đưa ra những lựa chọn tốt nhất, dựa trên những gì sẵn
có và những gì họ có thể chi trả (các lựa chọn tùy thuộc vào giới hạn ngân sách
của họ - đối với bạn và tôi, những gì chúng ta có thể chi trả). Điều này là đủ
công bằng. Tuy nhiên, như Thaler lưu ý trong cuốn sách năm 2015 của mình:
“Tuy nhiên, có một vấn đề: những tiền đề cơ sở của lý thuyết kinh tế đều có sai
sót. Đầu tiên, các vấn đề tối ưu hóa mà người bình thường gặp phải thường quá
khó giải quyết, hoặc thậm chí gần giải quyết được.” Thaler tiếp tục nói: “Thứ
hai, niềm tin mà mọi người dựa vào đó để đưa ra lựa chọn của mình là không
khách quan. Sự tự tin thái quá có thể không có trong từ điển của các nhà kinh tế,
nhưng nó là một đặc điểm đã được xác định rõ ràng trong bản chất con người,
và có vô số thành kiến khác đã được nhà tâm lý học chứng minh bằng tài liệu.”
Sau đó Thaler lưu ý thêm một vấn đề phản ánh tính phức tạp của đời sống kinh
tế thực tế: “Thứ ba, có rất nhiều yếu tố mà mô hình tối ưu hóa đã bỏ qua… có
một danh sách dài những điều được cho là không liên quan.” Thaler đưa ra
nhiều ví dụ hành vi sai lệch và ảnh hưởng của SIFs.
Chúng ta hãy xem xét một SIF: một bài luận của học sinh được chấm trên
tổng số 100 hoặc 137 điểm. Thaler nhận thấy rằng học trò của ông thường cằn
nhằn nếu họ nhận được 72 (trên 100 điểm có thể), nhưng họ sẽ khá hài lòng khi
nhận được 96 (trên 137 điểm có thể) – đây là những sinh viên kinh tế, những
người được cho là có lý trí. Bạn thích mức điểm nào hơn? Trong trường hợp thứ
hai, học sinh nhận được 70%, thấp hơn mức 72% trong trường hợp đầu tiên. Có
một số thành kiến ở đây: 96 lớn hơn 72; dễ dàng nhận thấy rằng 72/100 là 72%,
nhưng còn 96/137 thì sao? Nhiều người trong chúng ta sẽ cần một chiếc máy
tính. Có lẽ bạn cũng có thể nghĩ đến những điều khác đang diễn ra. Theo quan
điểm hợp lý, chặt chẽ, đây hoàn toàn là điều vô nghĩa – hành vi sai lệch – vì
72% là luôn tốt hơn 70% nhưng đó không phải là cách học sinh nhìn nhận sự
việc. Theo một cách quan trọng, kinh tế học hành vi đặc trưng là lấy những SIFs
này một cách nghiêm túc, những yếu tố lẽ ra không quan trọng, nhưng thực tế
lại có - điều này có thể rất khó chịu vì nó khiến thế giới kinh tế học chính
thống, vốn chứa đựng những giả định đơn giản và những mô hình toán học tao
nhã, trở nên rất lộn xộn. Liệu khoản hoàn trả về mặt lý thuyết và dự đoán thực
tế có phải là cái giá đáng phải trả khi phá vỡ thế giới quan nhất quán này về
kinh tế hay không là một điểm cần tranh luận: kinh tế học hành vi cho rằng như vậy. Trang 11:
CÁC YẾU TỐ ĐƯỢC CHO LÀ KHÔNG LIÊN QUAN (SIFS): TIẾT KIỆM £10
Giả sử David đang mua một chiếc đồng hồ radio. Anh ấy tìm thấy một
mẫu mà anh ấy thích và đã phát hiện ra nó có sẵn với giá £45 trong một cửa
hàng địa phương. Khi David chuẩn bị mua nó, người trợ lý bán hàng đã tiết lộ
rằng chiếc radio đồng hồ tương tự có thể mua ở cửa hàng mới của họ, cách đó
mười phút lái xe, với mức giá ưu đãi đặc biệt là £35 (chúng tôi giả định chi
phí cho chuyến đi bổ sung là nhỏ). Bạn có nghĩ David sẽ lái xe tới điểm mới
cho món hời này? Bạn thì sao?
Vào một dịp khác, David đang đi mua một chiếc TV màn hình phẳng và
đã tìm thấy một chiếc ở mức giá hợp lý là £495, tại cùng một cửa hàng địa
phương. Thật may mắn, khi anh ấy chuẩn bị mua nó, người trợ lý bán hàng
một lần nữa tiết lộ rằng anh ấy có thể mua chiếc TV tương tự với giá £485 ở
một cửa hàng mới mở khác của họ, cũng cách đó mười phút lái xe. David sẽ
làm gì trong trường hợp này, và nó có khác quyết định với radio đồng hồ hay không?
Khi đứng trước những lựa chọn này, nhiều người nói rằng họ sẽ lái xe
đến cửa hàng mới để tiết kiệm £10 cho chiếc radio đồng hồ, nhưng họ sẽ
không lái xe đến đó để tiết kiệm số tiền tương tự cho TV. Từ một quan điểm
kinh tế chính thống, đây thực sự là hành vi kỳ lạ bởi vì một khoản tiết kiệm
(thuần túy) giống hệt nhau trong cả hai trường hợp: £10. Điều dường như
đang ảnh hưởng đến những quyết định khác nhau này là phần trăm của tổng
giá có thể tiết kiệm được bằng cách lái xe tới cửa hàng khác - nhưng đây là
SIF và nó sẽ không ảnh hưởng đến việc mua hàng của David. (Tversky và
Kahneman đã hỏi những người tham gia những câu hỏi tương tự về máy tính năm 1981.).
Xuyên suốt cuốn sách này, chúng ta thấy nhiều ví dụ về những hành vi
sai lệch được xác định rõ ràng, đặc trưng cho cách con người điển hình đánh giá
và đưa ra quyết định. Trong hộp văn bản, chúng ta thấy một câu đố nổi tiếng
khiến hầu hết mọi người phải gãi đầu - rồi tự trách bản thân vì đã quá ngu ngốc
sau khi biết giải pháp đúng đắn.
Thaler tiếp tục đưa ra quan điểm hay về việc chúng ta nên làm thế nào để
hiểu những nhược điểm trong phán đoán và đưa ra quyết định hàng ngày của
con người: “Tôi chưa bao giờ có ý định nói rằng mọi người có vấn đề; tất cả
chúng ta đều chỉ là con người – homo sapiens.