`
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
--------------------------o0o--------------------------
BÀI THẢO LUẬN NHÓM
HỌC PHẦN: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Đề tài: Lý luận cơ bản về tội phạm
---------------*---------------
Giáo viên hướng dẫn : Đặng Minh Anh
Lớp học phần : 241_TLAW0111_12
Nhóm thực hiện : 03
Hà Nội – Năm 2024
Mục lục
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................1
LỜI NÓI ĐẦU..........................................................................................................2
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM...................................................................3
NỘI DUNG...............................................................................................................4
Phần 1. Khái niệm tội phạm:......................................................................................4
Phần 2. Phân loại tội phạm:.......................................................................................4
2.1. Khái niệm:........................................................................................................4
2.2. Phân loại:.........................................................................................................4
2.2.1. Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm
tội:........................................................................................................................5
2.2.2. Căn cứ vào hình thức lỗi của tội phạm:.....................................................7
2.2.3. Một số hình thức căn cứ khác:...................................................................8
2.3. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm:...............................................................9
2.3.1. Về mặt lý luận:...........................................................................................9
2.3.2. Về mặt thực tiễn:......................................................................................10
Phần 3. So sánh tội phạm với các vi phạm pháp luật khác:.....................................11
3.1. Về điểm giống nhau:......................................................................................11
3.2. Về điểm khác nhau:........................................................................................12
Phần 4. Bài tập giải quyết tình huống:.....................................................................16
4.1. Tình huống.....................................................................................................16
4.2. Giải quyết yêu cầu.........................................................................................17
KẾT LUẬN.............................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................21
LỜI CẢM ƠN
Nhóm 03 chúng em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến Đặng Minh Anh Đỗ Thị
Hoa, người đã trực tiếp giảng dạy chúng em môn học Pháp luật đại cương năm học
2024-2025. Với chúng em, những kiến thức quý giá của môn học đã giúp em chạm
tới gần hơn những kiến thức sâu rộng của bộ môn Lịch sử các học thuyết kinh tế và
những kiến thức áp dụng vào trong cuộc sống thực tiễn.
Đề tài thảo luận của nhóm chúng em là: Trình bày khái niệm tội phạm phân
loại tội phạm. So sánh tội phạm với các vi phạm pháp luật khác giải quyết tình
huống chia tài sản”. Do những hạn chế về kiến thức, bài thảo luận nhất định còn
không ít sai sót, hạn chế. Nhóm em rất mong sẽ nhận được sự hướng dẫn, nhận xét
của cô để bài thảo luận của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
1
LỜI NÓI ĐẦU
Tội phạm là hiện tượng tiêu cực nhất trong xã hội. Tội phạm xuất hiện cùng với sự
ra đời của Nhà nước và pháp luật, cũng như khi hội phân chia thành giai cấp đối
kháng. Để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định hành vi
nào tội phạm áp dụng trách nhiện hình sự hoặc hình phạt đối với người nào
thực hiện các hành vi đó. Do đó, tội phạm không chỉ mang thuộc tính lịch sử -
hội mà còn mang bản chất là một hiện tượng pháp lý.
Nhận thức được tầm quan trọng ý nghĩa pháp cả việc xác định rõ khái niệm
tội phạm, phân biệt được tội phạm với các vi phạm pháp luật khác các nước XHCN
đều có định nghĩa thống nhất khái niệm tội phạm thể hiển rõ bản chất xã hội của tội
phạm qua đó phản ánh quan điểm, đường lối đúng đắn chính sách hình sự của Nhà
nước trong từng giai đoạn của lịch sử, bảo vệ các lợi ích của toàn thể nhân dân.
Mục tiêu của nghiên cứu: Nghiên cứu này nhằm mục tiêu làm các khái niệm về
tội phạm, vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật, vi phạm dân sự, từ đó phân biệt
ràng các loại vi phạm pháp luật này. Đồng thời, nghiên cứu cũng cung cấp những
kiến thức bản về tội phạm, giúp chúng ta hiểu hơn về nguyên nhân, điều kiện
phát sinh phát triển của tội phạm, từ đó những giải pháp phòng ngừa đấu
tranh hiệu quả.
Kết luận: Tội phạm một vấn đề hội phức tạp, đòi hỏi sự quan tâm của toàn
hội. Việc nghiên cứu về tội phạm không chỉ giúp chúng ta hiểu hơn về bản
chất của tội phạm mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ.
2
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
Nhóm trưởng: Trịnh Bảo Huy (K60DK3)
Thư kí: Nguyễn Thị Hương (K60DC1)
STT Tên thành viên Lớp HC Nhiệm vụ
41 Tạ Ngọc Hân K60DC1 Làm nội dung
42 Trần Thị Ngọc Hân K60DK1 Thuyết trình
43 Nguyễn Danh Hiển K60DK1 Diễn kịch tình huống
44 Phạm Trung Hiếu K60DK3 Diễn kịch tình huống
45 Ngô Thị Ngọc Hoa K60DK3 Diễn kịch tình huống
46 Dương Thị Thu Hoài K60DK1 Thuyết trình
47 Đỗ Thu Hoài K60DC1 Tổng hợp, chỉnh sửa
word
48 Hoàng Thị Hòa K60DK3 Diễn kịch tình huống
49 Nguyễn Bích Hồng K60DK1 Làm ppt
50 Trịnh Bảo Huy K60DK3 Edit video kịch
51 Nguyễn Thị Minh Huyền K60DC1 Làm nội dung
52 Nguyễn Thị Thu Huyền K60DK3 Diễn kịch tình huống
53 Đào Tuấn Hùng K60DC1 Làm ppt
54 Nguyễn Thị Hương K60DC1 Làm nội dung
55 Nguyễn Thu Hương K60DC1 Diễn kịch tình huống
56 Mai Thị Thúy Hường K60DK1 Làm nội dung
57 Vũ Mạnh Khang K60DK1 Diễn kịch tình huống
58 Vũ Quang Khải K60DK3 Quay video kịch
59 Nguyễn Bùi Ngọc Khánh K60DK3 Làm nội dung
60 Phạm Minh Khôi K60DK1 Diễn kịch tình huống
3
NỘI DUNG
Phần 1. Khái niệm tội phạm:
“ Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự,
do người năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện
một cách cố ý hoặc ý , xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng,
an ninh, trật tự, an toàn hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm
quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực
khác của trật tự pháp luật hội chủ nghĩa theo quy định của Bộ luật này phải
bị xử lý hình sự”
(Theo Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017)
Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưngnh chất nguy hiểm cho hội
không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.
Phần 2. Phân loại tội phạm:
2.1. Khái niệm:
Phân loại tội phạm một cách tiếp cận trong luật học nhằm hệ thống hóa
phân chia các hành vi phạm tội dựa trên các tiêu chí nhất định như tính chất, mức
độ nguy hiểm, hậu quả của tội phạm. Việc phân loại tội phạm giúp quan luật
pháp hội cái nhìn ràng, cụ thể hơn về các nhóm tội phạm, từ đó xây
dựng được các chính sách phòng ngừa và xử lý thích hợp
2.2. Phân loại:
4
2.2.1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm
tội:
- Theo Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đã phân loại
tội phạm thành 4 loại như sau:
*Tội phạm ít nghiêm trọng:
Có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn
Mức cao nhất của khung hình phạt: Phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ
hoặc phạt tù đến 3 năm
Ví dụ: + Tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS
+ Tội “Vi phạm các quy định về quản rừng” quy định tại khoản 1
Điều 233 BLHS
+ Tội “Vi phạm chế độ một vợ, một chồng” quy định tại khoản 1
khoản 2 Điều 182 BLHS...
*Tội phạm nghiêm trọng:
Có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, gây hậu quả nghiêm trọng
cho xã hội
Mức cao nhất của khung hình phạt: từ trên 03 năm đến 07 năm tù
dụ: + Tội Cố ý truyền HIV cho người khác” quy định tại khoản 1 Điều
149 BLHS
+ Tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều
169 BLHS
+ Tội “Buôn lậu” quy định tại khoản 2 Điều 188 BLHS...
*Tội phạm rất nghiêm trọng:
5
tính chất mức độ nguy hiểm cho hội rất lớn, gây thiệt hại lớn về tài
sản, sức khỏe hoặc tính mạng của con người và xã hội
Mức cao nhất của khung hình phạt: từ trên 07 năm đến 15 năm tù
Ví dụ: + Tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS
+ Tội “Hiếp dâm” quy định tại khoản 2 Điều 141 BLHS...
+ Tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới” thuộc
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 189
+ Tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” thuộc trường hợp quy định tại
khoản 2, khoản 3 Điều 192...
*Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng:
Có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, là hành vi có mức
độ nguy hiểm cao nhất, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và an toàn
công cộng
Mức cao nhất của khung hình phạt: từ trên 15 năm đến 20 năm tù, chung
thân hoặc tử hình
dụ: + Tội “Giết người” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 123
BLHS
+ Tội “Phản bội Tổ quốc” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
108
+ Tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều 109...
- Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất
mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1
6
Điều 9 Bộ luật Hình sự quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định
tại Điều 76 Bộ luật Hình sự.
2.2.2. Căn cứ vào hình thức lỗi của tội phạm:
Căn cứ vào hình thức lỗi của tội phạm, tội phạm được chia thành hai loại:
* Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý (cố ý phạm tội):
- Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về cố ý phạm
tội tại Điều 10, cụ thể như sau:
Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy
trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy
trước hậu quả của hành vi đó thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng
vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
- Ví dụ: + Người chồng trong cơn ghen tuông tạt axit vợ mình
+ Chăng dây điện lưới quanh vườn để bảo vệ cây trái của mình nhưng lại
gây ra hậu quả chết người...
* Tội phạm được thực hiện do ý (vô ý phạm tội): Bộ luật hình sự năm 2015, luật
sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về vô ý phạm tội tại Điều 11, cụ thể như sau:
Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình thể gây ra hậu quả nguy
hại cho hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc thể ngăn
ngừa được.
7
Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình thể gây ra hậu quả
nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
- dụ: Phát nhầm thuốc, truyền nhầm nhóm máu, bỏ quên dụng cụ phẫu thuật
trong người bệnh nhân...
2.2.3. Một số hình thức căn cứ khác:
Dù không được quy định trong luật, tuy nhiên trong thực tiễn xét xử các vụ án hình
sự, các quan tiến hành tố tụng các chủ thể tham gia thể dựa theo một số
các căn cứ sau để phân loại tội phạm cái nhìn tổng thể, chi tiết hơn về từng
loại tội phạm, ví dụ như:
- Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người thực
hiện hành vi phạm tội, tội phạm có thể phân thành các loại:
Tội phạm không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ;
Tội phạm có tình tiết tăng;
Tội phạm có tình tiết giảm nhẹ
Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được Bộ luật hình sự năm
2015 quy định tại Điều 51 và 52 Bộ luật này.
- Căn cứ vào các yếu tố cấu thành tội phạm, tội phạm được phân thành hai loại sau:
Tội phạm có cấu thành vật chất
Tội phạm có cấu thành hình thức
Tội phạm có cấu thành hỗn hợp
Tội phạm có cấu thành cắt xén.
- Căn cứ theo đối tượng bị xâm phạm:
Tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con
người: Bao gồm các tội như giết người, cố ý gây thương tích, xâm phạm
quyền tự do cá nhân, bạo lực gia đình.
8
Tội phạm xâm phạm tài sản: Bao gồm các hành vi như trộm cắp, cướp giật,
hủy hoại tài sản. Đây là nhóm tội phạm phổ biến nhất trong xã hội.
Tội phạm xâm phạm trật tự quản kinh tế: Bao gồm các tội phạm kinh tế
như gian lận thương mại, buôn lậu, trốn thuế.
Tội phạm ma túy: Liên quan đến việc sản xuất, mua bán, vận chuyển, hoặc
tàng trữ trái phép các chất ma túy.
Tội phạm về môi trường: Gồm các hành vi gây hại đến môi trường như xả
thải hóa chất độc hại, săn bắt động vật hoang dã trái phép...
2.3. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm:
2.3.1. Về mặt lý luận:
Phân loại tội phạm sở để xác định xây dựng các biện pháp pháp
hình sự tương ứng với tính nguy hiểm cho hội của tội phạm, xác định
chính sách hình sự cụ thể đối với từng hành vi phạm tội cụ thể ( chính sách
hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội - chương X Bộ luật hình sự,
chính sách xử lý hành vi chuẩn bị phạm tội…vv…)
Có vai trò quan trọng trong việc triển khai chính sách hình sự thông qua nhận
thức phản ứng của Nhà nước đối với các tội tính nguy hiểm cho hội
khác nhau thì biện pháp xử khác nhau. chi phối hầu hết các quy
định của pháp luật hình sự pháp luật tố tụng hình sự về tội phạm, hình
phạt, thẩm quyền điều tra, xét xử…vv…
Trong hoạt động lập pháp, phân loại tội phạm sở để xây dựng các chế
định về tội phạm hình phạt, sở thống nhất để xây dựng các khung
hình phạt cho tội phạm cụ thể.
9
Ngoài ra, phân loại tội phạm còn sở để xác định đường lối đấu tranh
với các tội phạm khác nhau cũng như các ngành tính nguy hiểm cho hội
của tội phạm, yêu cầu phân hóa trách nhiệm hình sự được đặt ra trở
thành nguyên tắc của Luật hình sự.
Phân loại tội phạm thành các nhóm khác nhau biểu hiện của sự phân hóa
trách nhiệm hình sự góc độ lập pháp. Bên cạnh đó, nghiên cứu chế định
phân loại tội phạm trong mối quan hệ thống nhất các chế định khác sẽ tạo
tiền đề cho việc nhận thực đúng bản chất của tội phạm, đánh giá đúng tính
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, là cơ sở để hoàn thiện pháp luật hình sự.
2.3.2. Về mặt thực tiễn:
Phân loại tội phạm có ý nghĩa trước hết đối với việc áp dụng nhiều quy phạm
phần chung phần các tội phạm Bộ luật hình sự, như: chế định tuổi chịu
trách nhiệm hình sự, chế định các giai đoạn phạm tội, chế định thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự…
Chẳng hạn, theo quy định của pháp luật hiện hành, những người chuẩn bị
phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu tội họ chuẩn bị phạm tội
rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, người t đủ 14 tuổi trở lên
nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất
nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; ...v.v...
Ngoài ra, việc phân loại tội phạm còn ý nghĩa chi phối đối với việc áp
dụng một số chế định của luật t tụng hình sự. Việc bắt người trong trường
hợp khẩn cấp chỉ được thực hiện khi căn cứ cho rằng người đó đang
chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; các quy
10
định về thời hạn đưa vụ án ra xét xử hoặc ra các quyết định cụ thể đối với
từng loại tội phạm cụ thể...v.v...
Kết luận, phân loại tội phạm đòi hỏi cần thiết cho việc phân hóa trách nhiệm
hình sự trong luật cũng như áp dụng luật, chính thế vấn đề này được đặt ra trong
các bộ luật. Việc phân loại tội phạm chẳng những hỗ trợ cho việc áp dụng đúng luật
nếu nhìn rộng ra, nhà làm luật còn thể dựa vào tính nguy hiểm cho quan hệ
xã hội mà nó xâm hại để đánh giá, nhằm bảo vệ cho chế độ chính trị hiệu quả hơn.
Phần 3. So sánh tội phạm với các vi phạm pháp luật khác:
3.1. Về điểm giống nhau:
- Thứ nhất: Đều được thể hiện bằng hành vi của con người dưới hình thức hành
động hoặc không hành động.
- Thứ hai: Đều những hành vi trái pháp luật, gây nguy hiểm cho hội, xâm
phạm những quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ.
- Thứ ba: Đều yếu tố lỗi, tức tội phạm hay hành vi vi phạm pháp luật khác
đều được thực hiện do cố ý hoặc vô ý.
- Người thực hiện hành vi người có năng lực hành vi, tức có khả năngThứ tư:
nhận thức, điều khiển hành vi của mình tự mình thể lựa chọn hành vi theo
hướng có lợi hoặc không có lợi cho xã hội.
- Đều được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước cóThứ năm:
thẩm quyền bản hành. Văn bản quy phạm pháp luật chính sở pháp để xác
định tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.
3.2. Về điểm khác nhau:
11
Tiêu chí so sánh Tội phạm Các vi phạm pháp luật
khác
Căn cứ pháp lý
Quy định trong Bộ luật
hình sự (Hiện hành Bộ
luật nh sự 2015), cụ thể
tại Khoản 1 Điều 8 Bộ
Luật Hình sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm
2017.
Ví dụ: Hành vi giết người
(Điều 123 Bộ luật hình sự
năm 2015), hành vi hiếp
dâm (Điều 141 BLHS)...
Quy định trong văn bản
của các ngành luật khác:
Bộ luật Dân sự, Luật
Hành chính, Luật Lao
động...
dụ: Sự vi phạm Luật
Lao động xâm phạm
những quan hệ hội
ngành Luật Lao động xác
lập liên quan đến người
lao động, người sử dụng
lao động trong quá trình
lao động.
Tính chất, mức độ gây
nguy hiểm cho xã hội
Là những hành vi tính
nguy hiểm đáng kể(*) cho
xã hội.
dụ: cướp tài sản, giết
người, buôn bán ma túy,
buôn bán mại dâm, cưỡng
hiếp hoặc tham nhũng...
những hành vi tính
nguy hiểm chưa đáng kể
cho hội. Những hành
vi tuy dấu hiệu của tội
phạm nhưng tính chất
nguy hiểm cho hội
không đáng kể thì không
phải tội phạm được
xử bằng các biện pháp
khác (Khoản 2 Điều 8 Bộ
luật Hình sự)
12
Tiêu chí so sánh Tội phạm Các vi phạm pháp luật
khác
Ví dụ:
+ Vi phạm luật giao thông
(vượt đèn đỏ, không đội
mũ bảo hiểm...)
+ Vi phạm quy định về
lao động (không đóng bảo
hiểm xã hội cho người lao
động, không đảm bảo
điều kiện làm việc an
toàn...)
+ Vi phạm về an toàn
thực phẩm...
Chủ thể
Người thực hiện hành vi
phạm tội, đủ năng lực
trách nhiệm hình s
đạt độ tuổi nhất định
Bộ luật hình sự quy định
đối với mỗi loại tội phạm
hoặc do pháp nhân
thương mại thực hiện
Các nhân, tổ chức
thực hiện hành vi trái
pháp luật, năng lực
trách nhiệm pháp khác
(kỷ luật, hành chính, dân
sự)
Khách thể Quan hệ xã hội được Luật
hình sự bảo vệ ,bị tội
phạm xâm hại, gây thiệt
hại hoặc đe dọa gây thiệt
Quan hệ hội được các
ngành luật khác bảo vệ
nhưng bị hành vi trái
pháp luật xâm hại tới:
13
Tiêu chí so sánh Tội phạm Các vi phạm pháp luật
khác
hại, như là: sức khỏe, tính
mạng, tài sản...
thuế, thương mại, đất đai,
môi trường...
Hậu quả pháp lý
Bị xử bằng các chế tài
hình sự (các hình phạt,
phạt cải tạo không giam
giữ, thời hạn kể cả
chung thân hoặc tử
hình) những biện pháp
cưỡng chế nhà nước
nghiêm khắc nhất được
quy định tại BLHS để
lại án tích
dụ: Tội đe dọa giết
người, nếu căn cứ làm
cho người bị đe doạ lo sợ
rằng việc đe dọa này sẽ
được thực hiện, thì bị
phạt cải tạo không giam
giữ đến 3 năm hoặc phạt
tù từ 6 tháng đến 3 năm
Bị xử bằng các biện
pháp cưỡng chế nhà nước
ít nghiêm khắc hơn
không để lại án tích, như
là: phạt tiền, phạt cảnh
cáo, yêu cầu bồi dưỡng
thiệt hại...
dụ: Lỗi vượt đèn đỏ
hoặc đèn vàng đối với xe
gắn máy và xe (bao
gồm cả xe máy điện) sẽ bị
phạt tiền từ 800.000-
1.000.000 đồng, tước
quyền sử dụng lái xe 1-3
tháng hoặc 2-4 tháng (đối
với trường hợp vượt
gây ra tai nạn giao thông)
14
Cơ quan có thẩm quyền
xử lý
Chỉ thể do Tòa án xét
xử
Tùy theo từng trường
hợp cụ thể, vụ việc sẽ
được giao cho quan
người có thẩm quyền.
Thủ tục xử lý
Người phạm tội bị truy tố
trước Tòa án theo thủ tục
tố tụng pháp, sự
tham gia của luật sư nhằm
bảo đảm đến mức cao
nhất quyền của công dân
chỉ bị kết tội bởi bản án
hình sự khi các chứng
cứ đầy đủ, ràng sau
những thủ tục tranh tụng
công khai và bình đẳng
Vụ án vi phạm pháp luật
khác vụ án phát sinh
khi nhân tổ chức khởi
kiện yêu cầu Tòa án xem
xét hành vi của một người
xâm phạm đến các quan
hệ được pháp luật đó bảo
hộ được Tòa án thụ
theo quy định của pháp
luật.
(*) Tính nguy hiểm đáng kể:
- Để đánh giá hành vi có tính nguy hiểm đáng kể hay không đáng kể để quy định là
tội phạm hay chỉ vi phạm pháp luật khác, quan xây dựng luật thể căn cứ
vào sự đánh giá tổng hợp của nhiều loại tình tiết khách quan chủ quan, trong đó
đặc biệt chú ý đến những loại tình tiết sau:
+ Tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại
+ Tính chất và mức độ thiệt hại gây ra hoặc có thể gây ra cho các quan hệ xã hội
+ Tính chất của lỗi...
15
- Ranh giới giữa “Nguy hiểm đáng kể” “Nguy hiểm chưa đáng kể” ranh giới
cần được xác định khi xây dựng luật cũng như khi giải thích áp dụng luật hình
sự.
+ những điều luật xác định ranh giới dứt khoát: Hành vi được quy định trong
BLHS chỉ có thể là tội phạm mà không thể là vi phạm pháp luật khác.
Ví dụ: Hành vi giết người (Điều 123);
+ những điều luật xác định không dứt khoát: Hành vi được quy định trong
BLHS thểtội phạm trong trường hợp này nhưng trong trường hợp khác chỉ
là vi phạm pháp luật khác khác.
Ví dụ: Hành vi buôn bán trái phép hàng hoá qua biên giới có giá trị 90 triệu đồng.
-> Người thực hiện hành vi này đã bị xử phạt hành chính thì chỉ có thể là tội phạm.
-> Người thực hiện hành vi này lần đầu thì chỉ có thể bị xử lý hành chính.
Phần 4. Bài tập giải quyết tình huống:
4.1. Tình huống
Ông A B hai vợ chồng, họ ba con chung X sinh năm 1993, Y Z
sinh đôi năm 2005. Do cuộc sống bất hòa, Ông A B đã sống ly thân nhiều
năm nay. X với mẹ, còn Y và Z về sống với bố. X đứa con hỏng, tuy đã đi
làm có thu nhập cao nhưng luôn những hành động ngược đãi, hành hạ mẹ để
xin tiền ăn chơi. Sau một lần gây thương tích nặng cho mẹ, X đã bị tòa án kết án về
hành vi này. Năm 2018, bà B bị tai nạn lao động và chết. Trước khi chết, bà B có di
chúc để lại cho em gái mình là bà C ½ số tài sản của mình. Toà án xác định khối tài
sản chung giữa ông A B 900 triệu VNĐ, B không tài sản riêng nào
khác.
16
Yêu cầu:
1. Chia thừa kế trong trường hợp này
2. Giả sử C khước từ nhận di sản thừa kế, di sản của B sẽ được chia như thế
nào?
4.2. Giải quyết yêu cầu
Để giải quyết yêu cầu chia tài sản thừa kế của vợ chồng ông A B theo quy
định của pháp luật, chúng ta cần căn cứ vào Bộ luật Dân sự 2015 của Việt Nam.
*Chia thừa kế:
a) Xác định di sản thừa kế:
Theo , Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 di sản tài sản riêng của người chết
phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác theo
Điều 66 Luật Hôn nhân Gia đình, tài sản chung của vợ chồng trong
trường hợp một bên qua đời là tài sản sẽ chia đôi, trừ khi thỏa thuận
khác. Trong tình huống này: Tài sản chung của ông A B 900 triệu
đồng.
-Phần của B trong tài sản chung 450 triệu đồng tài sản chung),
đây di sản để lại sau khi B qua đời tài sản của ông A cũng 450
triệu đồng.
-Bà B không có tài sản riêng nào khác.
b) Xác định quyền thừa kế tài sản theo di chúc của bà B:
Theo , Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 di chúc là sự thể hiện ý chí của
nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi qua đời. Trong
tình huống này, bà B có lập di chúc để lại “½ tài sản của mình cho bà C” (em
gái bà B), tức là 225 triệu đồng.
c) Xác định người thừa kế phần tài sản còn lại theo pháp luật:
17
- Theo , Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 nếu người chết di sản không
được phân chia hết qua di chúc, phần còn lại sẽ được chia thừa kế theo pháp
luật. Những người thừa kế theo pháp luật hàng thứ nhất gồm:
Chồng là ông A
Các con chung: X, Y và Z
- Tuy nhiên, căn cứ vào , khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 người bị
kết án về hành vi ngược đãi, hành hạ nghiêm trọng đối với người để lại di
sản thể bị truất quyền thừa kế. Trong trường hợp này, X đã bị kết án
ngược đãi bà B, nên có khả năng X bị loại khỏi hàng thừa kế.
- Vậy phần tài sản còn lại của bà B: 225 triệu đồng (450 triệu đồng trừ đi 225
triệu đồng) sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật hàng thứ
nhất (Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự về hàng thừa kế theo pháp luật: Hàng
thừa kế thứ nhất bao gồm cha mẹ, vợ chồngcon của người để lại di sản.),
gồm ông A, Y và Z (X bị truất quyền thừa kế).
Theo , Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 những người thừa kế cùng hàng được
chia phần bằng nhau. Do đó, 225 triệu đồng sẽ được chia đều cho ông A, Y
và Z, mỗi người nhận:
225/3 = 75 (triệu đồng)
d) Điều chỉnh lại quyền thừa kế theo Điều 644 BLDS 2015:
“Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất
của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật,
trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc
chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con thành niên mà không có khả năng lao động.”
18

Preview text:

`
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
--------------------------o0o--------------------------
BÀI THẢO LUẬN NHÓM
HỌC PHẦN: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Đề tài: Lý luận cơ bản về tội phạm
---------------*---------------
Giáo viên hướng dẫn : Đặng Minh Anh Lớp học phần : 241_TLAW0111_12 Nhóm thực hiện : 03 Hà Nội – Năm 2024 Mục lục
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................1
LỜI NÓI ĐẦU..........................................................................................................2
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM...................................................................3
NỘI DUNG...............................................................................................................4
Phần 1. Khái niệm tội phạm:......................................................................................4
Phần 2. Phân loại tội phạm:.......................................................................................4
2.1. Khái niệm:........................................................................................................4
2.2. Phân loại:.........................................................................................................4
2.2.1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội:........................................................................................................................5
2.2.2. Căn cứ vào hình thức lỗi của tội phạm:.....................................................7
2.2.3. Một số hình thức căn cứ khác:...................................................................8
2.3. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm:...............................................................9
2.3.1. Về mặt lý luận:...........................................................................................9
2.3.2. Về mặt thực tiễn:......................................................................................10
Phần 3. So sánh tội phạm với các vi phạm pháp luật khác:.....................................11
3.1. Về điểm giống nhau:......................................................................................11
3.2. Về điểm khác nhau:........................................................................................12
Phần 4. Bài tập giải quyết tình huống:.....................................................................16
4.1. Tình huống.....................................................................................................16
4.2. Giải quyết yêu cầu.........................................................................................17
KẾT LUẬN.............................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................21 LỜI CẢM ƠN
Nhóm 03 chúng em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cô Đặng Minh Anh và cô Đỗ Thị
Hoa, người đã trực tiếp giảng dạy chúng em môn học Pháp luật đại cương năm học
2024-2025. Với chúng em, những kiến thức quý giá của môn học đã giúp em chạm
tới gần hơn những kiến thức sâu rộng của bộ môn Lịch sử các học thuyết kinh tế và
những kiến thức áp dụng vào trong cuộc sống thực tiễn.
Đề tài thảo luận của nhóm chúng em là: “Trình bày khái niệm tội phạm và phân
loại tội phạm. So sánh tội phạm với các vi phạm pháp luật khác và giải quyết tình
huống chia tài sản”. Do những hạn chế về kiến thức, bài thảo luận nhất định còn
không ít sai sót, hạn chế. Nhóm em rất mong sẽ nhận được sự hướng dẫn, nhận xét
của cô để bài thảo luận của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô! 1 LỜI NÓI ĐẦU
Tội phạm là hiện tượng tiêu cực nhất trong xã hội. Tội phạm xuất hiện cùng với sự
ra đời của Nhà nước và pháp luật, cũng như khi xã hội phân chia thành giai cấp đối
kháng. Để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định hành vi
nào là tội phạm và áp dụng trách nhiện hình sự hoặc hình phạt đối với người nào
thực hiện các hành vi đó. Do đó, tội phạm không chỉ mang thuộc tính lịch sử - xã
hội mà còn mang bản chất là một hiện tượng pháp lý.
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa pháp lý cả việc xác định rõ khái niệm
tội phạm, phân biệt được tội phạm với các vi phạm pháp luật khác các nước XHCN
đều có định nghĩa thống nhất khái niệm tội phạm thể hiển rõ bản chất xã hội của tội
phạm qua đó phản ánh quan điểm, đường lối đúng đắn chính sách hình sự của Nhà
nước trong từng giai đoạn của lịch sử, bảo vệ các lợi ích của toàn thể nhân dân.
Mục tiêu của nghiên cứu: Nghiên cứu này nhằm mục tiêu làm rõ các khái niệm về
tội phạm, vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật, vi phạm dân sự, từ đó phân biệt rõ
ràng các loại vi phạm pháp luật này. Đồng thời, nghiên cứu cũng cung cấp những
kiến thức cơ bản về tội phạm, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nguyên nhân, điều kiện
phát sinh và phát triển của tội phạm, từ đó có những giải pháp phòng ngừa và đấu tranh hiệu quả.
Kết luận: Tội phạm là một vấn đề xã hội phức tạp, đòi hỏi sự quan tâm của toàn
xã hội. Việc nghiên cứu về tội phạm không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản
chất của tội phạm mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ. 2
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
Nhóm trưởng: Trịnh Bảo Huy (K60DK3)
Thư kí: Nguyễn Thị Hương (K60DC1) STT Tên thành viên Lớp HC Nhiệm vụ 41 Tạ Ngọc Hân K60DC1 Làm nội dung 42 Trần Thị Ngọc Hân K60DK1 Thuyết trình 43 Nguyễn Danh Hiển K60DK1 Diễn kịch tình huống 44 Phạm Trung Hiếu K60DK3 Diễn kịch tình huống 45 Ngô Thị Ngọc Hoa K60DK3 Diễn kịch tình huống 46 Dương Thị Thu Hoài K60DK1 Thuyết trình 47 Đỗ Thu Hoài K60DC1 Tổng hợp, chỉnh sửa word 48 Hoàng Thị Hòa K60DK3 Diễn kịch tình huống 49 Nguyễn Bích Hồng K60DK1 Làm ppt 50 Trịnh Bảo Huy K60DK3 Edit video kịch 51 Nguyễn Thị Minh Huyền K60DC1 Làm nội dung 52 Nguyễn Thị Thu Huyền K60DK3 Diễn kịch tình huống 53 Đào Tuấn Hùng K60DC1 Làm ppt 54 Nguyễn Thị Hương K60DC1 Làm nội dung 55 Nguyễn Thu Hương K60DC1 Diễn kịch tình huống 56 Mai Thị Thúy Hường K60DK1 Làm nội dung 57 Vũ Mạnh Khang K60DK1 Diễn kịch tình huống 58 Vũ Quang Khải K60DK3 Quay video kịch 59 Nguyễn Bùi Ngọc Khánh K60DK3 Làm nội dung 60 Phạm Minh Khôi K60DK1 Diễn kịch tình huống 3 NỘI DUNG
Phần 1. Khái niệm tội phạm:
“ Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện
một cách cố ý hoặc vô ý , xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng,
an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm
quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực
khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”
(Theo Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017)
Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội
không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.
Phần 2. Phân loại tội phạm:
2.1. Khái niệm:
Phân loại tội phạm là một cách tiếp cận trong luật học nhằm hệ thống hóa và
phân chia các hành vi phạm tội dựa trên các tiêu chí nhất định như tính chất, mức
độ nguy hiểm, và hậu quả của tội phạm. Việc phân loại tội phạm giúp cơ quan luật
pháp và xã hội có cái nhìn rõ ràng, cụ thể hơn về các nhóm tội phạm, từ đó xây
dựng được các chính sách phòng ngừa và xử lý thích hợp
2.2. Phân loại: 4
2.2.1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
- Theo Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đã phân loại
tội phạm thành 4 loại như sau:
*Tội phạm ít nghiêm trọng:
Có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn
Mức cao nhất của khung hình phạt: Phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ
hoặc phạt tù đến 3 năm
Ví dụ: + Tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS
+ Tội “Vi phạm các quy định về quản lý rừng” quy định tại khoản 1 Điều 233 BLHS
+ Tội “Vi phạm chế độ một vợ, một chồng” quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 182 BLHS...
*Tội phạm nghiêm trọng:
Có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội
Mức cao nhất của khung hình phạt: từ trên 03 năm đến 07 năm tù
Ví dụ: + Tội “Cố ý truyền HIV cho người khác” quy định tại khoản 1 Điều 149 BLHS
+ Tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 169 BLHS
+ Tội “Buôn lậu” quy định tại khoản 2 Điều 188 BLHS...
*Tội phạm rất nghiêm trọng: 5
Có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, gây thiệt hại lớn về tài
sản, sức khỏe hoặc tính mạng của con người và xã hội
Mức cao nhất của khung hình phạt: từ trên 07 năm đến 15 năm tù
Ví dụ: + Tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS
+ Tội “Hiếp dâm” quy định tại khoản 2 Điều 141 BLHS...
+ Tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới” thuộc
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 189
+ Tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” thuộc trường hợp quy định tại
khoản 2, khoản 3 Điều 192...
*Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng:
Có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, là hành vi có mức
độ nguy hiểm cao nhất, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và an toàn công cộng
Mức cao nhất của khung hình phạt: từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
Ví dụ: + Tội “Giết người” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 123 BLHS
+ Tội “Phản bội Tổ quốc” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 108
+ Tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều 109...
- Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 6
Điều 9 Bộ luật Hình sự và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định
tại Điều 76 Bộ luật Hình sự.
2.2.2. Căn cứ vào hình thức lỗi của tội phạm:
Căn cứ vào hình thức lỗi của tội phạm, tội phạm được chia thành hai loại:
* Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý (cố ý phạm tội):
- Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về cố ý phạm
tội tại Điều 10, cụ thể như sau:
Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy
trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy
trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng
vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
- Ví dụ: + Người chồng trong cơn ghen tuông tạt axit vợ mình
+ Chăng dây điện lưới quanh vườn để bảo vệ cây trái của mình nhưng lại
gây ra hậu quả chết người...
* Tội phạm được thực hiện do vô ý (vô ý phạm tội): Bộ luật hình sự năm 2015, luật
sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về vô ý phạm tội tại Điều 11, cụ thể như sau:
Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy
hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. 7
Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả
nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
- Ví dụ: Phát nhầm thuốc, truyền nhầm nhóm máu, bỏ quên dụng cụ phẫu thuật trong người bệnh nhân...
2.2.3. Một số hình thức căn cứ khác:
Dù không được quy định trong luật, tuy nhiên trong thực tiễn xét xử các vụ án hình
sự, các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia có thể dựa theo một số
các căn cứ sau để phân loại tội phạm và có cái nhìn tổng thể, chi tiết hơn về từng
loại tội phạm, ví dụ như:
- Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người thực
hiện hành vi phạm tội, tội phạm có thể phân thành các loại:
Tội phạm không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ;
Tội phạm có tình tiết tăng;
Tội phạm có tình tiết giảm nhẹ
Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được Bộ luật hình sự năm
2015 quy định tại Điều 51 và 52 Bộ luật này.
- Căn cứ vào các yếu tố cấu thành tội phạm, tội phạm được phân thành hai loại sau:
Tội phạm có cấu thành vật chất
Tội phạm có cấu thành hình thức
Tội phạm có cấu thành hỗn hợp
Tội phạm có cấu thành cắt xén.
- Căn cứ theo đối tượng bị xâm phạm:
Tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con
người: Bao gồm các tội như giết người, cố ý gây thương tích, xâm phạm
quyền tự do cá nhân, bạo lực gia đình. 8
Tội phạm xâm phạm tài sản: Bao gồm các hành vi như trộm cắp, cướp giật,
hủy hoại tài sản. Đây là nhóm tội phạm phổ biến nhất trong xã hội.
Tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Bao gồm các tội phạm kinh tế
như gian lận thương mại, buôn lậu, trốn thuế.
Tội phạm ma túy: Liên quan đến việc sản xuất, mua bán, vận chuyển, hoặc
tàng trữ trái phép các chất ma túy.
Tội phạm về môi trường: Gồm các hành vi gây hại đến môi trường như xả
thải hóa chất độc hại, săn bắt động vật hoang dã trái phép...
2.3. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm:
2.3.1. Về mặt lý luận:
Phân loại tội phạm là cơ sở để xác định và xây dựng các biện pháp pháp lý
hình sự tương ứng với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, xác định
chính sách hình sự cụ thể đối với từng hành vi phạm tội cụ thể ( chính sách
hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội - chương X Bộ luật hình sự,
chính sách xử lý hành vi chuẩn bị phạm tội…vv…)
Có vai trò quan trọng trong việc triển khai chính sách hình sự thông qua nhận
thức và phản ứng của Nhà nước đối với các tội có tính nguy hiểm cho xã hội
khác nhau thì có biện pháp xử lý khác nhau. Nó chi phối hầu hết các quy
định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự về tội phạm, hình
phạt, thẩm quyền điều tra, xét xử…vv…
Trong hoạt động lập pháp, phân loại tội phạm là cơ sở để xây dựng các chế
định về tội phạm và hình phạt, là cơ sở thống nhất để xây dựng các khung
hình phạt cho tội phạm cụ thể. 9
Ngoài ra, phân loại tội phạm còn là cơ sở để xác định đường lối đấu tranh
với các tội phạm khác nhau cũng như các ngành tính nguy hiểm cho xã hội
của tội phạm, mà yêu cầu phân hóa trách nhiệm hình sự được đặt ra và trở
thành nguyên tắc của Luật hình sự.
Phân loại tội phạm thành các nhóm khác nhau là biểu hiện của sự phân hóa
trách nhiệm hình sự ở góc độ lập pháp. Bên cạnh đó, nghiên cứu chế định
phân loại tội phạm trong mối quan hệ thống nhất các chế định khác sẽ tạo
tiền đề cho việc nhận thực đúng bản chất của tội phạm, đánh giá đúng tính
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, là cơ sở để hoàn thiện pháp luật hình sự.
2.3.2. Về mặt thực tiễn:
Phân loại tội phạm có ý nghĩa trước hết đối với việc áp dụng nhiều quy phạm
phần chung và phần các tội phạm Bộ luật hình sự, như: chế định tuổi chịu
trách nhiệm hình sự, chế định các giai đoạn phạm tội, chế định thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự…
Chẳng hạn, theo quy định của pháp luật hiện hành, những người chuẩn bị
phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu tội họ chuẩn bị phạm là tội
rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, người từ đủ 14 tuổi trở lên
nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất
nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; ...v.v...
Ngoài ra, việc phân loại tội phạm còn có ý nghĩa chi phối đối với việc áp
dụng một số chế định của luật tố tụng hình sự. Việc bắt người trong trường
hợp khẩn cấp chỉ được thực hiện khi có căn cứ cho rằng người đó đang
chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; các quy 10
định về thời hạn đưa vụ án ra xét xử hoặc ra các quyết định cụ thể đối với
từng loại tội phạm cụ thể...v.v...
Kết luận, phân loại tội phạm là đòi hỏi cần thiết cho việc phân hóa trách nhiệm
hình sự trong luật cũng như áp dụng luật, chính vì thế vấn đề này được đặt ra trong
các bộ luật. Việc phân loại tội phạm chẳng những hỗ trợ cho việc áp dụng đúng luật
mà nếu nhìn rộng ra, nhà làm luật còn có thể dựa vào tính nguy hiểm cho quan hệ
xã hội mà nó xâm hại để đánh giá, nhằm bảo vệ cho chế độ chính trị hiệu quả hơn.
Phần 3. So sánh tội phạm với các vi phạm pháp luật khác:
3.1. Về điểm giống nhau:
- Thứ nhất: Đều được thể hiện bằng hành vi của con người dưới hình thức hành
động hoặc không hành động.
- Thứ hai: Đều là những hành vi trái pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm
phạm những quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ.
- Thứ ba: Đều có yếu tố lỗi, tức là tội phạm hay hành vi vi phạm pháp luật khác
đều được thực hiện do cố ý hoặc vô ý.
- Thứ tư: Người thực hiện hành vi là người có năng lực hành vi, tức là có khả năng
nhận thức, điều khiển hành vi của mình và tự mình có thể lựa chọn hành vi theo
hướng có lợi hoặc không có lợi cho xã hội. -
Đều được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có Thứ năm:
thẩm quyền bản hành. Văn bản quy phạm pháp luật chính là cơ sở pháp lý để xác
định tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.
3.2. Về điểm khác nhau: 11 Tiêu chí so sánh Tội phạm
Các vi phạm pháp luật khác
Quy định trong Bộ luật Quy định trong văn bản
hình sự (Hiện hành là Bộ của các ngành luật khác:
luật hình sự 2015), cụ thể Bộ luật Dân sự, Luật
tại Khoản 1 Điều 8 Bộ Hành chính, Luật Lao
Luật Hình sự năm 2015, động... sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ví dụ: Sự vi phạm Luật Căn cứ pháp lý Lao động xâm phạm
Ví dụ: Hành vi giết người những quan hệ xã hội mà
(Điều 123 Bộ luật hình sự ngành Luật Lao động xác
năm 2015), hành vi hiếp lập liên quan đến người dâm (Điều 141 BLHS)...
lao động, người sử dụng lao động trong quá trình lao động. Tính chất, mức độ gây
Là những hành vi có tính Là những hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội
nguy hiểm đáng kể(*) cho nguy hiểm chưa đáng kể xã hội. cho xã hội. Những hành
vi tuy có dấu hiệu của tội
Ví dụ: cướp tài sản, giết phạm nhưng tính chất
người, buôn bán ma túy, nguy hiểm cho xã hội
buôn bán mại dâm, cưỡng không đáng kể thì không hiếp hoặc tham nhũng...
phải là tội phạm và được
xử lý bằng các biện pháp
khác (Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự) 12 Tiêu chí so sánh Tội phạm
Các vi phạm pháp luật khác Ví dụ: + Vi phạm luật giao thông
(vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm...) + Vi phạm quy định về
lao động (không đóng bảo
hiểm xã hội cho người lao động, không đảm bảo điều kiện làm việc an toàn...) + Vi phạm về an toàn thực phẩm...
Người thực hiện hành vi Các cá nhân, tổ chức
phạm tội, có đủ năng lực thực hiện hành vi trái
trách nhiệm hình sự và pháp luật, có năng lực
đạt độ tuổi nhất định mà trách nhiệm pháp lý khác Chủ thể
Bộ luật hình sự quy định (kỷ luật, hành chính, dân
đối với mỗi loại tội phạm sự) hoặc do pháp nhân thương mại thực hiện Khách thể
Quan hệ xã hội được Luật Quan hệ xã hội được các
hình sự bảo vệ ,bị tội ngành luật khác bảo vệ
phạm xâm hại, gây thiệt nhưng bị hành vi trái
hại hoặc đe dọa gây thiệt pháp luật xâm hại tới: 13 Tiêu chí so sánh Tội phạm
Các vi phạm pháp luật khác
hại, như là: sức khỏe, tính thuế, thương mại, đất đai, mạng, tài sản... môi trường...
Bị xử lý bằng các chế tài Bị xử lý bằng các biện
hình sự (các hình phạt, pháp cưỡng chế nhà nước
phạt cải tạo không giam ít nghiêm khắc hơn và
giữ, tù có thời hạn kể cả không để lại án tích, như
tù chung thân hoặc tử là: phạt tiền, phạt cảnh
hình) là những biện pháp cáo, yêu cầu bồi dưỡng
cưỡng chế nhà nước thiệt hại... nghiêm khắc nhất được
quy định tại BLHS và để Ví dụ: Lỗi vượt đèn đỏ Hậu quả pháp lý lại án tích
hoặc đèn vàng đối với xe gắn máy và xe mô tô (bao
Ví dụ: Tội đe dọa giết gồm cả xe máy điện) sẽ bị
người, nếu có căn cứ làm phạt tiền từ 800.000-
cho người bị đe doạ lo sợ 1.000.000 đồng, tước
rằng việc đe dọa này sẽ quyền sử dụng lái xe 1-3
được thực hiện, thì bị tháng hoặc 2-4 tháng (đối
phạt cải tạo không giam với trường hợp vượt và
giữ đến 3 năm hoặc phạt gây ra tai nạn giao thông)
tù từ 6 tháng đến 3 năm 14
Chỉ có thể do Tòa án xét Tùy theo từng trường xử
hợp cụ thể, vụ việc sẽ Cơ quan có thẩm quyền được giao cho cơ quan và xử lý người có thẩm quyền.
Người phạm tội bị truy tố Vụ án vi phạm pháp luật
trước Tòa án theo thủ tục khác là vụ án phát sinh
tố tụng tư pháp, có sự khi cá nhân tổ chức khởi
tham gia của luật sư nhằm kiện yêu cầu Tòa án xem
bảo đảm đến mức cao xét hành vi của một người Thủ tục xử lý
nhất quyền của công dân xâm phạm đến các quan
chỉ bị kết tội bởi bản án hệ được pháp luật đó bảo
hình sự khi có các chứng hộ và được Tòa án thụ lý
cứ đầy đủ, rõ ràng và sau theo quy định của pháp
những thủ tục tranh tụng luật. công khai và bình đẳng
(*) Tính nguy hiểm đáng kể:
- Để đánh giá hành vi có tính nguy hiểm đáng kể hay không đáng kể để quy định là
tội phạm hay chỉ là vi phạm pháp luật khác, cơ quan xây dựng luật có thể căn cứ
vào sự đánh giá tổng hợp của nhiều loại tình tiết khách quan và chủ quan, trong đó
đặc biệt chú ý đến những loại tình tiết sau:
+ Tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại
+ Tính chất và mức độ thiệt hại gây ra hoặc có thể gây ra cho các quan hệ xã hội + Tính chất của lỗi... 15
- Ranh giới giữa “Nguy hiểm đáng kể” và “Nguy hiểm chưa đáng kể” là ranh giới
cần được xác định khi xây dựng luật cũng như khi giải thích và áp dụng luật hình sự.
+ Có những điều luật xác định ranh giới dứt khoát: Hành vi được quy định trong
BLHS chỉ có thể là tội phạm mà không thể là vi phạm pháp luật khác.
Ví dụ: Hành vi giết người (Điều 123);
+ Có những điều luật xác định không dứt khoát: Hành vi được quy định trong
BLHS có thể là tội phạm trong trường hợp này nhưng ở trong trường hợp khác chỉ
là vi phạm pháp luật khác khác.
Ví dụ: Hành vi buôn bán trái phép hàng hoá qua biên giới có giá trị 90 triệu đồng.
-> Người thực hiện hành vi này đã bị xử phạt hành chính thì chỉ có thể là tội phạm.
-> Người thực hiện hành vi này lần đầu thì chỉ có thể bị xử lý hành chính.
Phần 4. Bài tập giải quyết tình huống:
4.1. Tình huống
Ông A và bà B là hai vợ chồng, họ có ba con chung là X sinh năm 1993, Y và Z
sinh đôi năm 2005. Do cuộc sống bất hòa, Ông A và Bà B đã sống ly thân nhiều
năm nay. X ở với mẹ, còn Y và Z về sống với bố. X là đứa con hư hỏng, tuy đã đi
làm và có thu nhập cao nhưng luôn có những hành động ngược đãi, hành hạ mẹ để
xin tiền ăn chơi. Sau một lần gây thương tích nặng cho mẹ, X đã bị tòa án kết án về
hành vi này. Năm 2018, bà B bị tai nạn lao động và chết. Trước khi chết, bà B có di
chúc để lại cho em gái mình là bà C ½ số tài sản của mình. Toà án xác định khối tài
sản chung giữa ông A và bà B là 900 triệu VNĐ, bà B không có tài sản riêng nào khác. 16 Yêu cầu:
1. Chia thừa kế trong trường hợp này
2. Giả sử bà C khước từ nhận di sản thừa kế, di sản của bà B sẽ được chia như thế nào?
4.2. Giải quyết yêu cầu
Để giải quyết yêu cầu chia tài sản thừa kế của vợ chồng ông A và bà B theo quy
định của pháp luật, chúng ta cần căn cứ vào Bộ luật Dân sự 2015 của Việt Nam. *Chia thừa kế:
a) Xác định di sản thừa kế:
Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015, di sản là tài sản riêng của người chết
và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác và theo
Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình, tài sản chung của vợ chồng trong
trường hợp một bên qua đời là tài sản sẽ chia đôi, trừ khi có thỏa thuận
khác. Trong tình huống này: Tài sản chung của ông A và bà B là 900 triệu đồng.
-Phần của bà B trong tài sản chung là 450 triệu đồng (½ tài sản chung),
đây là di sản để lại sau khi bà B qua đời và tài sản của ông A cũng là 450 triệu đồng.
-Bà B không có tài sản riêng nào khác.
b) Xác định quyền thừa kế tài sản theo di chúc của bà B:
Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá
nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi qua đời. Trong
tình huống này, bà B có lập di chúc để lại “½ tài sản của mình cho bà C” (em
gái bà B), tức là 225 triệu đồng.
c) Xác định người thừa kế phần tài sản còn lại theo pháp luật: 17
- Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, nếu người chết có di sản mà không
được phân chia hết qua di chúc, phần còn lại sẽ được chia thừa kế theo pháp
luật. Những người thừa kế theo pháp luật hàng thứ nhất gồm: Chồng là ông A Các con chung: X, Y và Z
- Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, người bị
kết án về hành vi ngược đãi, hành hạ nghiêm trọng đối với người để lại di
sản có thể bị truất quyền thừa kế. Trong trường hợp này, X đã bị kết án vì
ngược đãi bà B, nên có khả năng X bị loại khỏi hàng thừa kế.
- Vậy phần tài sản còn lại của bà B: 225 triệu đồng (450 triệu đồng trừ đi 225
triệu đồng) sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật hàng thứ
nhất (Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự về hàng thừa kế theo pháp luật: Hàng
thừa kế thứ nhất bao gồm cha mẹ, vợ chồng và con của người để lại di sản.),
gồm ông A, Y và Z (X bị truất quyền thừa kế).
Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, những người thừa kế cùng hàng được
chia phần bằng nhau. Do đó, 225 triệu đồng sẽ được chia đều cho ông A, Y và Z, mỗi người nhận: 225/3 = 75 (triệu đồng)
d) Điều chỉnh lại quyền thừa kế theo Điều 644 BLDS 2015:
“Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất
của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật,
trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc
chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con thành niên mà không có khả năng lao động.” 18