













Preview text:
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM HỌC PHẦN
GIAO TIẾP VÀ ỨNG XỬ SƯ PHẠM CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO TIẾP VÀ ỨNG XỬ SƯ PHẠM I. GIAO TIẾP
1. Khái niệm giao tiếp:
Giao tiếp là quá trình thiết lập và vận hành sự tiếp xúc tâm lí giữa các chủ thể để thỏa
mãn nhu cầu của các chủ thể đó:
- Giao tiếp là mối quan hệ giữ các chủ thể: Trong giao tiếp người này lấy người kia
làm đối tượng của mình và làm xuất hiện cả hai sản phẩm đều là tinh thần ở phía các
chủ thể tham gia giao tiếp. Trong quá trình giao tiếp diễn ra đồng thời và thống nhất
với nhau giữa hai quá trình: chủ thể hóa đối tượng và quá trình đối tượng hóa chủ
thể. Từ đó, tâm lí của các chủ thể được hình thành và phát triển. Với nghĩa đó, trong
giao tiếp các chủ thể sinh thành lẫn nhau.
- Giao tiếp được thực hiện theo cơ chế gián tiếp. Trong quá trình giao tiếp với nhau,
con người đã sử dụng hai loại phương tiện:
+ Phương tiện phi ngôn ngữ: diện mạo bên ngoài, nét mặt, đồ vật.
+ Phương tiện ngôn ngữ (nói và viết). Giao tiếp bằng ngôn ngữ có hai quá trình: biểu
đạt và hiểu biểu đạt.
2. Các loại giao tiếp:
Có nhiều cách phân loại giao tiếp:
a. Căn cứ vào phương tiện giao tiếp, có 3 loại giao tiếp sau:
- Giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết): đây là hình thức giao tiếp đặc trưng
của con người bằng cách sử dụng những tín hiệu chung là từ, ngữ.
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 1
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
- Giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ: giao tiếp bằng cử chỉ, nét mặt, điệu bộ…Sự
kết hợp giữa các động tác khác nhau thể hiện sắc thái khác nhau.
- Giao tiếp vật chất: giao tiếp thông qua hành động với vật thể.
b. Căn cứ vào khoảng cách, có thể có hai loại giao tiếp cơ bản:
- Giao tiếp trực tiếp: giao tiếp mặt đối mặt, các chủ thể trực tiếp phát và nhận tín hiệu của nhau.
- Giao tiếp gián tiếp: giao tiếp qua thư từ, phương tiện kĩ thuật hoặc khi qua ngoại
cảm, thần giao cách cảm…. II.
GIAO TIẾP SƯ PHẠM:
1. Khái niệm giao tiếp sư phạm:
Giao tiếp sư phạm là giao tiếp có tình nghề nghiệp giữa giáo viên và học viên trong
quá trình dạy học và giáo dục nhằm thiết lập và vận hành sự tiếp xúc tâm lí giữa giáo
viên và học viên, giữa học viên với học viên để đạt được mục tiêu của quá trình dạy học và giáo dục. 1.1.
Giao tiếp sư phạm là giao tiếp chính thức giữa giáo viên và học viên:
- Mục tiêu của giao tiếp sư phạm là học viên phải tiếp thu được tri thức của từng tiết,
từng bài và hình thành các kĩ năng giao tiếp, các kĩ năng sống.
- Nội dung chủ yếu của giao tiếp sư phạm là nội dung giáo dục.
- Công cụ chủ yếu của giao tiếp sư phạm là ngôn ngữ môn học, ngôn ngữ văn hóa.
- Giao tiếp sư phạm được diễn ra trong khoản thời gian quy định (tiết học). 1.2.
Giao tiếp sư phạm được diễn ra theo nguyên tác nhất định: 1.2.1. Tính mô phạm:
Giáo viên phải có những phẩm chất và hành vi chuẩn mực có tác dụng làm gương,
làm mẫu cho học viên noi theo:
- Sự mẫu mực về trang phục: ăn mặc đúng kiểu cách, sắc màu hài hòa.
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 2
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
- Sự mẫu mực về hành vi. Hành vi là những phản ứng, ứng xử của giáo viên. Hành vi
chuẩn được quy định ở ba tiêu chuẩn sau: đó là những hành vi do Điều lệ nhà trường
quy định; đó là những hành vi được đa số mọi người trong cộng đồng thực hiện; đó
là những hành vi thực hiện được mục đích của giáo viên.
- Hành vi và thái độ của giáo viên phải nhất quán.
1.2.2. Tôn trọng học viên:
Giáo viên phải coi mỗi học viên là một nhân cách, có quyền được học tập, được
tham gia các dạng hoạt động giáo dục do lớp, trường tổ chức.
- Đánh giáo và động viên kịp thời sự tiến bộ cả học viên trong học tập.
- Khi giảng dạy phải bao quát toàn lớp, chú ý đến từng học viên.
- Phân hóa nội dung bài học phù hợp với khả năng nhận thức của học viên (trong tiết
học,học viên nào cũng được làm việc, được phát biểu ý kiến).
- Khi giáo viên mắc lỗi phải thành thật xin lỗi học viên, những câu hỏi của học viên
thuộc phạm vi bài học nhất thiết giáo viên phải trả lời, nếu chưa trả lời được thì phải khất học viên.
- Khi học viên phát biểu, giáo viên phải chăm chú lắng nghe không được ngắt lời, chế giễu.
- Trong tiết học, không được mời học viên ra ngoài, không được nói những lời và
hành vi chế giễu, xúc phạm nhân cách học viên.
1.2.3. Thiện ý trong giao tiếp:
Giáo viên luông nghĩ tốt về học viên, tạo những điều kiện thuận lợi cho học viên
trong quá trình học tập.
- Giáo viên phải có trách nhiệm cao khi soạn giáo án. Nhất thiết phải biến đổi ngôn
ngữ sách giáo khoa, giáo trình thành ngôn ngữ của mình (trừ tên bài học, các đề mục
, các định nghĩa, công thức, quy tắc). Thiết kế nhiệm vụ học phải kèm theo gợi ý.
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 3
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
- Giáo viên phải có trách nhiệm cao khi tổ chức học viên học bài mới, thực hành. Nếu
học viên chưa làm được, giáo viên cần gọi ý hoặc làm mẫu (một lần).
- Giáo viê phải công bằng trong việc nhận xét, đánh giá học viên (vừa đánh giá định
tính, vừa đánh giá định lượng).
- Giáo viên pải tin tưởng khi giao việc cho học viên. Mỗi học viên phải đảm nhận một
công việc của lớp và theo nguyên tắc luân phiên nhau chỉ huy.
1.2.4. Đồng cảm trong giao tiếp:
Giáo viên biết đặt vị trí của mình vào vị trí của học viên trong quá trình giao tiếp:
- Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của học viên để có cách ứng xử phù hợp.
- Biết chia sẻ niềm vui, nỗi buồn của học viên.
- Khi giao tiếp với học viên không nên tạo ra sự căng thẳng tâm lí, tạo điều kiện để
học viên được giao tiếp với mình.
- Sự nhập vai phải chân thực và tự nhiên.
2. Các giai đoạn của giao tiếp sư phạm. 2.1.
Mở đầu giao tiếp sư phạm:
Mục tiêu là tạo ra được thiện cảm của học viên đối với giáo viên, tạo ra được tâm thế
sẵn sàng học tập của học viên. Mở đầu giao tiếp được diễn ra ở các trường hợp sau:
- Khi giáo viên dạy lớp mới: giáo viên đến đúng giờ, sau khi ổn định lớp, giáo viên
giwois thiệu đôi nét về bản thân mình. Tiếp theo, cán bộ lớp báo cáo khái quát tình
hình của lớp. Sau đó, giáo viên thông báo tên môn học, mục tiêu môn học, số tiết
môn học, số bài kiểm tra và bài thi, tài liệu học tập. Ở trường hợp này, những thuộc
tính bề ngoài của giáo viên (trang phục, cử chỉ, hành vi, lời nói) là những thông tin
có tính chất áp đặt để học viên đánh giá (ấn tượng ban đầu) vè người giáo viên. Nếu
giáo viên quá cứng răn thì tạo ra hàng rào tâm lí giữa mifh và học viên. Nếu giáo
viên dễ dãi dẫn đến học viên khinh nhờn. Nếu giáo viên mắc lỗi dẫn đến học viên coi thường.
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 4
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
- Khi giáo viên dạy bài mới: cách tốt nhất là giáo viên nêu tình huống có vấn đề (tình
huống phải chứa đựng nội dung bài học mới). 2.2.
Diễn biến quá trình giao tiếp sư phạm
Mục tiêu dạy học được thực hiện ở giai đoạn này. Bản chất của giáo viên và học
viên được bộc lộ ở giai đoạn này. Để giai đoạn này đạt hiệu quả cao, giáo viên cần chú ý:
- Các bước lên lớp đảm bảo tính khoa học và sư phạm.
- Trình bày bảng: tên bài học ghi ở giữa trên cùng bảng, phân chia bảng thành 2 phần
theo chiều dọc, phần bên trái ghi các đề mục và tri thức cơ bản đến bước củng cố
mới được xóa. Phần bên phải là nơi làm việc của giáo viên và học viên và được xóa
khi được chuyển từ mục này sang mục khác. Đến bước củng cố phải xóa toàn bộ bảng.
- Khi sử dụng phương pháp vấn đáp: + Đặt câu hỏi.
+ Dừng lại để học viên có thời gian xem xét câu hỏi và suy nghĩ câu trả lời.
+ Gọi học viên và nghe câu trả lời. Chỉ định một vài học viên nhận xét đánh giá.
+ Nhận xét, đánh giá và đưa ra câu trả lời đúng.
- Khi sử dụng phương pháp thuyết trình:
+ Đặt vấn đề và phát biểu vấn đề.
+ Giải quyết vấn đề: giáo viên có thể giải quyết vấn đề theo 2 logic phổ biến: quy
nạp hoặc diễn dịch. Trong tiết học, thỉnh thoảng giáo viên đặt một số câu hỏi có vấn
đề để học viên trả lời trước lớp, khuyến khích học viên nêu câu hỏi: yêu cầu trong
mỗi phút mỡi người đặt một câu hỏi xung quanh vấn đề giáo viên vừa trình bày.,
dừng lại vài ba phút để học viên nói lên nhận định của họ về ý chính tỏng đoạn giáo viên vừa thuyết trình.
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 5
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
+ Kết luận: yêu cầu học viên tóm tắt nội dung chủ yếu của bài thuyết trình, giáo viên
đưa ra kết luận, đó là sự kết tinh mới dưới dạng cô đọng, chính xác, đầy đủ những
khái quát bản chất của vấn đề đã trình bày ở trên.
- Sử dụng các phương tiện dạy học:
+ Phương tiện trực quan phải chứa đựng nội dung bài học: trực quan là noi để học
viên tiến hành hành động vật chất để phát hiện và tiếp thu tri thức, học viên dùng
trực quân để minh ọa, học viên dùng trực quan để ghi lại kết quả học tập.
+ Phương tiện kĩ thuật hỗ trợ cho phương tiện trực quan. 2.3. Kết thúc:
Mục tiêu của giai đoạn này phải được cả giáo viên và học viên nhận thức được là đã
thực hiện được từng mục tiêu của đề mục và của cả bài viết. Cả hai bên ý thức được
điểm dừng ở đó. Kết thúc phải tạo ra được tâm thế chờ đợ của học viên đối với bài học tiếp theo. CHƯƠNG II
CÁC KĨ NĂNG GIAO TIẾP VÀ ỨNG XỬ SƯ PHẠM I.
KHÁI NIỆM KĨ NĂNG GIAO TIẾP VÀ ỨNG XỬ SƯ PHẠM
Kĩ năng giao tiếp ứng xử sư phạm là hệ thống những thao thác, cử chỉ, điệu bộ hành
vi (kể cả hành vi ngôn ngữ) phối hợp hài hóa hợp lí của giáo viên, nhằm đảm bảo
cho sự tiếp xúc với học viên đạt kết quả cao trong hoạt động dạy học và giáo dục,
với sự tiêu hoa năng lượng tinh thần và cơ bắp ít nhất trong những điều kiện thay đổi.
Kĩ năng giao tiếp ứng xử sư phạm, thực chất là sự phối hợp phức tạp giữa những
chuẩn mực hành vi xã hội (con người, nghề nghiệp) nhưng lại rất cá nhân giữa sự
vận động của cơ mạt, ánh mắt, nụ cười (vận động môi, miệng) tư thế đầu, cổ, vai,
tay, chân (cả những cử động của các ngón tay, bàn tay, cổ tay…) đồng thời với
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 6
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
những ngôn ngữ nói, viết của giáo viên. Sự phối hợp hài hòa, hợp lí giữa các vận
động đều mang một nọi dung tâm lí nhất định, phù hợp với những mục đích, ngôn
ngữ và nhiệm vụ giao tiếp cần đạt được mà giáo viên là chủ thể.
Kĩ năng giao tiếp ứng xử sư phạm được hình thành qua các con đường:
- Những thói quan ứng xử từ gia đình, quan hệ xã hội.
- Do vốn sống kinh nghiệm cá nhân qua tiếp xúc với mọi người.
- Rèn luyện trong mội trường sư phạm qua các lần thực hành, thực tập giảng dạy, làm
công tác chủ nhiệm tiếp xúc với học viên (thâm niên nghề càng cao thì kĩ năng giao
tiếp sư phạm càng hợp lí).
- Kĩ năng giao tiếp sư phạm bao gồm nhiều nhóm kĩ năng. Hiện nay, có nhiều các
phân chia ác nhóm kĩ năng theo các tiêu chí (cơ sở hoa học) khác nhau. II.
CÁC NHÓM KĨ NĂNG GIAO TIẾP VÀ ỨNG XỬ SƯ PHẠM.
1. Nhớm kĩ năng định hướng giao tiếp.
Kĩ năng định hướng giao tiếp được biểu hiện ở khả năng dựa vào sự biểu lộ bên
ngoài như sắc thái biểu cảm, ngữ điệu của ngôn ngữ, cử chỉ điệu bộ…mà phán đoán
chính xác trạng thái tâm lí của đối tượng giao tiếp.
Kĩ năng định hướng giao tiếp được chi làm 2 giai đoạn:
- Định hướng trước khi tiếp xúc: khi tiếp xúc với học viên, giáo viên cần có những
thông tin cần thiết để phác thảo chân dung tâm lí của đối tượng giao tiếp. Phác thảo
chân dung tâm lí là xây dựng mô hình tâm lí về đối tượng để từ đó, giáo viên dự kiến
được các câu hỏi và các câu trả lời của học viên, dự kiến phản ứng của học viên, dự
kiến những khó khăn của học viên.
- Định hướng trong quá trình giao tiếp: giáo viên tiếp nhận và xử lí thông tin về học
viên khi giao tiếp trực tiếp với học viên để chính xác hóa mô hình tâm lí về học viên.
Nhóm kĩ năng định hướng giao tiếp bao gồm:
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 7
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
- Kĩ năng đọc trên nét mặt, cử chỉ, hành vi lời nói để phán đoán thái độ và trạng thái
tâm lí của đối tượng.
- Kĩ năng chuyển từ tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong của nhân cách học viên.
2. Nhóm kĩ năng định vị:
Kĩ năng định vị là kĩ năng biết xác định được vị trí trong giao tiếp, biết đặt vị trí của
mình vào vị trí đối tượng, biết tạo điều kiện để đối tượng chủ động trong giao tiếp
Điều kiện để có kĩ năng định vị:
- Giáo viên phác thảo chân dung tâm lí tương đối ổn định và phù hợp với đối tượng giao tiếp.
- Đồng nhất mình với đối tượng, sư nhập vai phải chân thực.
Nhóm kĩ năng này được biểu hiện:
- Xác định đúng thời gian và không gian giao tiếp học viên (khi nào thì thuyết trình,
khi nào thì đàm thoại, thảo luận nhóm, khi nào đặt câu hỏi cho các loại học viên).
- Biết chọn thời điểm mở đâu, ngừng, tiếp tục và kết thúc quá trình giao tiếp.
- Hành vi ứng xử phù hợp với nhu cầu, hứng thú, hoàn cảnh học viên.
- Thái độ tôn trọng và chân tình đối với học viên.
3. Nhóm kĩ năng điều khiển đối tượng giao tiếp:
Kĩ năng điều khiển đối tượng giao tiếp là biết thu hút đối tượng, tìm ra đề tài giao tiếp, biết duy trì nó. Biểu hiện:
- Thu hút sự chú ý của hocjv iên vào nội dung bài học.
- Đặt câu hỏi cho cả lớp, các nhóm và từng loại học viên, những gợi ý để học viên suy
nghĩ, trả lời được câu hỏi.
- Thúc đẩy hoặc kìm hãm tốc độ giao tiếp của học viên đối với mình.
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 8
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
- Tạo ra xúc cảm tích cực cho học viên.
4. Nhóm kĩ năng làm chủ bản thân:
Kĩ năng làm chủ bản thân là kĩ năng quản lí, điều khiển bản thân trong quá trình giao
tiếp với học viên để thực hiện được các nhiệm vụ giáo dục.
- Biết nghe và lắng nghe khi học viên phát biểu.
- Biết kiềm chế, che dấu tâm trạng không cần thiết.
- Nhận thức được giới hạn của các cách ứng xử , tránh được những cơn giận, khắc
phục được tính cục cằn, cũng như những trạng thái tâm lí khác (buồn,chán, hoang
mang) nảy sinh khi giáo viên tiếp xúc với học viên.
- Làm chủ được tốc độ khi thuyết trình: không nhanh quá, không chậm quá, khi nào
cần nhấn mạnh, tránh đều đều.
5. Kĩ năng sử dụng phương tiện giao tiếp:
Kĩ năng sử dụng phương tiện giao tiếp là kĩ năng biết chọn từ và biểu hiện ngữ điệu,
sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ phù hợp với mục tiêu, nội dung hoàn cảnh giao tiếp. - Công cụ ngôn ngữ:
+ Sự phối hợp các công cụ phi ngôn ngữ phải hài hòa, phù hợp với đối tượng tình
huống, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp.
+ Sử dụng các công cụ phi ngôn ngữ cần tự nhiên, chân thật đúng với bản chất của mình.
+ Việc thay đổi tư thế, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười… là những tín hiệu giao tiếp sống
động nhằm đánh giá, khích lệ, khen chê của giáo viên đối với học viên. Phương tiện
trực quan cần đưa đúng lúc, đúng chỗ nhằm minh họa. Trang phục hợp kiểu cách, hài hòa. Công cụ ngôn ngữ:
- Sử dụng ngôn ngữ độc thoại:
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 9
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
+ Cách diễn đạt dễ hiểu, mạch lạc, rõ ràng, đạt chuẩn Tiếng Việt.
+ Nội dung bài giảng xúc tích nhiều thông tin, đảm bảo được tính khoa học, hệ
thống trong bài giảng kích thích được tính tích cực hoạt động nhận thức, liên tưởng
với tri thức của học viên.
+ Dạng kiến thức mới, khái niệm mới cần có ví dụ minh họa.
+ Nhất thiết giáo viên phải biết đổi ngôn ngữ viết trong sách giáo khoa, giáo trình
bằng ngôn ngữ nói của chính mình, để làm chủ lời nói.
- Sử dụng ngôn ngữ đối thoại:
+ Câu nói ngắn gọn, dễ hiểu. + Có nội dung rõ ràng.
+ Nhất thiết học viên phải trả lời được.
Kĩ năng sử dung phương tiện giao tiếp sư phạm vừa mang tính khoa học (hợp lí) vừa
mang tính nghệ thuật (cơ động, mềm dẻo, linh hoạt). Công cụ ngôn ngữ giữ vai trò chủ đạo
trong dạy học. Trong một phsu người ta có thể hiểu được 650 – 700 từ, nhưng khi nói một
phút trung bình chỉ đạt từ 150 -160 từ. Như vậy, người nghe có khoảng ¾ thời gian để
nhận xét, đánh giá, chấp nhận hoặc bác bỏ những gì giáo viên đang giảng.
6. Nhóm kĩ năng ứng xử sư phạm:
Kĩ năng ứng xử sư phạm là kĩ năng sử dụng một cách hợp lí nhất, hiệu quả nhất về
mặt sư phạm các tác động của giáo dục.
Nhóm kĩ năng này bao gồm các kĩ năng sau:
- Kĩ năng xác định giơi shanj của các cách ứng xử sư phạ (khen, chê, động viên..) nếu
quá ngưỡng hoặc dưới ngưỡng dẫn đến phản sư phạm hoặc không có tác dụng.
- Kĩ năng sử dụng các tác động sư phạm phù hợp với từng cá nhân học viên và tập thể
học viên để đảm bảo được hiệu quả giáo dục.
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 10
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
- Kĩ năng xử lí các tình huống sư phạm. Tình huống sư phạm là tình huống có vấn đề
xuất hiện trong quá trình dạy học đòi hỏi giáo viên phải giaari quyết ngay nwhng
phải đảm bảo được mục tiêu giáo dục. Các bước xử lí tình huống sư phạm:
Bước 1: PHân tích tình huống, xác định được các dữ kiện của tình huống, bối cảnh
nảy sinh tình huống, xác định mâu thuẫn cơ bản của tình huống và nguyên nhân nảy
sinh tình huống yêu cầu đặt ra của tình huống.
Bước 2: Nêu các cách giải quyết tình huống. Phân tích và lựa chọn một cách giải quyết tối ưu nhất.
Bước 3: Đánh giá lại cách giải quyết đã lựa chọn và quyết định sử dụng để xử lí tình huống sư phạm.
Bước 4: Đánh giá để rút ra bài học kinh nghiệm. III.
PHONG CÁCH DẠY HỌC CỦA GIÁO VIÊN
1. Khái niệm phong cách dạy học:
Phong cách dạy học của giáo viên là hệ thống hành vi tương đối ổn định, được giáo
viên đó sử dụng nhằm gây ảnh hưởng đến hoạt động của học viên và được học viên
cảm nhận những hành vi ổn định đó.
Căn cứ và xu hướng hành vi của giáo viên:
- Các hành vi chủ yêu hướng vào công việc (là hành vi công việc): giáo viên định
hướng, tổ chức hoạt động học của học viên bằng cách đề ra yêu cầu và hướng dẫn
chi tiết làm gì? Tiến hành như thế nào? ở đâu? Thời điểm nào? Nhiệm vụ phải thực hiện là gì?
- Các hành vi hướng vào quan hệ với học viên (là hành vi quan hệ): giáo viên hướng
đến việc duy trì đến những mối quan hệ cá nhân giữa mình với học viên và giữa học
viên với nhau, bằng cách mở rộng các kênh giao tiếp, tạo ra sự hỗ trợ về mặt tâm lí –
xã hội để học viên thực hiện nhiệm vụ học tập của mình.
Kết hợp 2 tiêu chí trên có 4 mô hình phong cách điển hình của giáo viên:
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 11
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
Phong cách 1: Hành vi công việc và hành vi quan hệ đều thấp. Đây là những giáo
viên có phong cách tự do.Những giáo viên này có xư hương giao quyền tối đa cho
học viên tự mình quyết định công việc học của mình. Giáo viên chỉ can thiệp vào
quá trình học của học viên khi thấy thực sự cần thiết (gọi là T1).
Phong cách 2: Hành vi công việc cao và hành vi quan hệ thấp. Giáo viên có mặt
đúng giờ trên lớp, thực hiện đầy đủ các công việc của giáo viên. Đối với học viên,
thường hướng dẫn cụ thể, chi tiết các nhiệm vụ học tập. Đây là giáo viên vì công
việc, nghiêm khắc và khó tính (gọi là T2).
Phong cách 3: Hành vi công việc thấp và hành vi quan hệ cao. Giáo viên có xu
hướng thiết lập quan hệ thân thiện, gần gũi với học viên, quan tâm đến việc động
viên người học khi có điều kiện, giáo viên thường ít đưa ra các chỉ dẫn và tổ chức
việc học của học viên (gọi là T3).
Phong cách 4: Hnafh vi công việc cao và hành vi quan hệ cao. Giáo viên quan tâm
đến việc học của học viên, hướng dẫn cụ thể nhiệm vụ học tập đồng thời quan tâm
đến học viên, gần gũi, quan tâm khi có điều kiện (gọi là T4).
Trên đây là các mô hình điển hình của giáo viên, còn có các mô hình trung gian
khác. Các mô hình này chỉ phẩn ánh định hướng, hành vi của giáo viên, không nhằm
phản ánh nhân cách của giáo viên, hông sử dụng mô hình này trong việc đánh giá
giáo viên. Không có mô hình nào tuyệt đối tốt cho mọi trường hợp. Giáo viên cần
biết sử dụng linh hoạt các phong cách cho phù hợp với từng loại học viên và cho
từng tình huống dạy học cụ thể.
2. Các mẫu học viên điển hình và cách sử dụng phong cách dạy học của giáo viên:
a. Các mẫu học viên điển hình:
Trong dạy học, phân loại học viên dựa vào mức độ sẵn sàng của họ đối với việc học.
Mức độ sẵn sàng là mức độ một cá nhân hay nhóm sẵn sàng thực hiện một nhiệm vụ
học tập nhất định. Đây là một trạng thái tâm lí đáp ứng yêu cầu nhất định, trong các
tình huống học tập xác định. Mỗi nhiệm vụ học tập khác nhau, mỗi tình huống dạy
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 12
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
học khác nhau, ở mỗi học viên sẽ xuất hiện mức độ sẵn sàng học tập khác nhau, dẫn
đến hiệu quẩ học tập khác nhau.
Mức độ sẵn sàng cho học tập được hình thành bởi 2 yếu tố: khả năng hiện tại đối với
việc học được xác định bởi mức độ tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng và phương pháp
hành động mà học viên (hoặc nhóm) hiện có thể đáp ứng nhiệm vụ học tập cụ thể,
thiện ý đối với học tập là mức độ nhu cầu, động cơ, sự gắn bó và tâm thế sẵn sàng
của hocjv iên đón nhận nhiệm vụ học tập.
Dựa vào 2 yếu tố trên, nhóm học viên trong lớp thành 4 mô hình điển hình.
Nhóm học viên có mức độ sẵn sàng thấp (H1): Học viên có khả năng học tập và thái
độ học tập thấp. Với nhóm học viên này, rất cần có sự chỉ dẫn cụ thể, các mệnh lệnh,
các yêu cầu rõ ràng, giáo sát chặt chẽ, khi giao việc, giáo viên cần chỉ rõ phải làm gì,
làm như thế nào? Bằng phương tiện nào? Đạt đến mức độ nào? Động cơ học tập
chưa cao, chưa ổn định. Giáo viên cần thiết lập các kênh giao tiếp đa dạng, thân tình
với học viên. Phong cách dạy học phù hợp với nhóm học viên này là T4 (hành vi
công việc và hành vi quan hệ cao).
Nhóm học viên có mức độ sẵn sàng trung bình, năng lực học tập thấp, thiện ý cao,
ổn định (H2): Học viên gặp hó khăn trong học tập, mặc dù cố gắng, động cơ học tập
cao. Nguyên nhân chủ yếu là hạn chế về năng lực học tập. Đối với học vien, không
nên ra lệnh hay yêu cầ như đối với học viên nhóm H1. Học viên mong muốn được
giảng giảng chi tiết và cách thức tiến hành học. Những học viên này “thừa trách
nhiệm nhưng thiếu khả năng” thường rất dễ bị bi quan, tự ti. Do đó, giảng giải của
giáo viên cần tinh tế. Phong cách dạy học phù hợp với nhóm học viên này là T2
(hành vi công việc cao, hành vi quan hệ thấp).
Nhóm học viên có mức độ sẵn sàng trung bình, năng lực học tập cao, thiện ý thấp
(H3) hoặc chưa ổn định: Khả năng nhận thức tốt, có tri thức, kĩ năng cơ bản để tiếp
thu môn học. Động cơ học tập thấp, không hào hứng lắm với công việc (là họ thiếu
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 13
TRUNG TÂM NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
“lửa” mặc dù thừa khả năng). Giáo viên dạy nhóm này, không nhất thiết phải nhấn
mạnh các yêu cầu và chỉ dẫn cụ thể: phải làm gì?phải làm thế nào? Cái mà học viên
này cần là quan hệ và sự trợ giúp về mặt tâm lí kể cả sự tin tưởng giao phó, được
đánh giá, được tôn trọng và phát huy năng lực của mình. Phong cách dạy học phù
hợp với nhóm học viên này là T3 (hành vi công việc thấp và hành vi quan hệ cao).
Nhóm học viên có mức độ sẵn sàng học tập cao (H4): Họ là những người có năng
lực tri thức, kinh nghiệm và kĩ năng thực hiện các hành động học tập do giáo viên
gợi ý, có động cơ học mạnh mẽ, có nhu cầu được thử thách, được khẳng định. Vì
vậy, một sự giao phó, ủy thác các tình huống học tập có độ khó khăn cao, nhiều ý
tưởng và giải pháp mới là biện pháp dạy học có hiện quả đối với các học viên này.
Phong cách dạy học phù hợp với nhóm học viên này là T1 (hành vi công việc và
hành vi quan hệ đều thấp). TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Anh (chủ biên). Tâm lí học giao tiếp. NXB ĐHSP. 2004.
2. Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh. Giao tiếp sư phạm. NXBGD, 2001.
3. Lê Thị Bừng, Hải Vang. Tâm lí học ứng xử. NXBGD,1997.
4. Nguyễn Văn Hộ, Trịnh Thúc Loan. Ứng xử sư phạm. NXB DDHQGHN, 2005.
5. Trần Khánh Đức. Sư phạm kĩ thuật. NXBGD, 2002.
Giao tiếp ứng xử sư phạm Page 14