







Preview text:
Bài đọc tuần 2
the theory and empirics of exchange rates vietnam
3.5 A General Monetary Model of Exchange Rates
Dornbusch (1976b, pp. 153–156) developed a more general monetary model of exchange
rates, which in no way precludes the role of real factors, as these may be expected to
enter as determinants of the demand for real balances and thus exert an effect on the
nominal exchange rate. As the exchange rate is determined as part of the general (real and
monetary) equilibrium of the system, there is no relevant sense in which one would want
to assert that the exchange rate is an exclusively monetary phenomenon. Such a view
portrays monetary and real variables as jointly influencing the equilibrium level of the exchange rate.
A more general monetary model can be derived by assuming that purchasing power
parity holds only for traded goods. For this purpose, the purchasing power parity equation (3.5) is rewritten as pT = s + p∗ T (3.30)
where pT(p∗ T) is the domestic (foreign) currency price of traded goods. By assuming
that the price level is a weighted average of the prices of traded and non-traded goods, we have
p = θpN + (1 − θ)pT (3.31) p∗ = θ∗ p∗ N + (1 − θ∗ )p∗ T (3.32)
where θ(θ∗) denotes the share of non-traded goods and traded goods in the domestic
(foreign) price index. If equal weights for non-traded and traded goods are used to
construct domestic and foreign price indexes (θ = θ∗), combining equations (3.31) and (3.32) yields
pT − p∗ T = (p − p∗ ) + θ[(pT − p∗ T) − (pN − p∗ N)]. (3.33)
By substituting equation (3.33) into equations (3.30) and (3.6), we obtain an exchange
rate equation of the general monetary model of exchange rates
s = (m − m∗ ) − α(y − y∗ ) + β(i − i ∗ ) + θ[(pT − p∗ T) − (pN − p∗ N)] (3.34)
where the nominal exchange rate is determined by the demand for and supply of money
as well as the relative price structures.
Dornbusch (1976b) argues that equation (3.34) represents a view of the exchange rate
that is appropriate for full equilibrium or the “long run,” hence providing a benchmark
for judging departures and alternatives. The general monetary model represented by
equation (3.34) upholds the assumption of instantaneous clearance across all markets by
explicitly imposing the condition of monetary stock equilibrium, goods market
equilibrium, and purchasing power parity for traded goods. It also shows that either of
these conditions may not hold in the short run, which means that the exchange rate may
depart from the underlying prediction. Therefore, if monetary disturbances overshadow
real disturbances, the exchange rate will be determined exclusively in the asset market,
and not in the goods market. Moreover, if the prices of goods are sticky in the short run,
the exchange rate determination process will be dominated by asset markets (more
specifically by capital mobility and money market equilibrium).
3.6. Policy Implications of the Flexible-Price Monetary Model
The flexible-price monetary model implies that money stocks and inflationary
expectations are key determinants of the exchange rate and stresses the role of monetary
policy in influencing these determinants. Specifically, the model postulates that money
stocks are exogenously controlled by national central banks and that the public’s
expectations about the future purchasing power of various currencies are strongly shaped
by current policy actions and announcements. The model produces a number of policy implications.(9)
First, given the foreign monetary growth rate, a pre-announced permanent reduction in
domestic monetary expansion is the most effective means to halt and reverse depreciation
of the domestic currency. This is because the announcement (as new information)
immediately affects the exchange rate through the price expectations channel. However,
this policy implication is valid only when the public firmly believe that the preannounced
policy target is a reliable indicator of the future growth rate of the money supply.
Second, exchange rate movements occur when domestic monetary policies are divergent
and inconsistent across countries. Consequently, dissimilar monetary policies (that is,
international differences in the rates of monetary growth per unit of real output) cause the
money/output ratios to diverge, which in turn gives rise to differences in relative
inflationary expectations and hence in relative interest rates, eventually affecting
exchange rates. For the stability of exchange rates, therefore, countries must abandon
divergent policies for a uniform rule tying the money growth rate to the growth rate of
real income. It is, however, worth noting that, within the context of the monetary model,
it is impossible for a single country to stabilize its exchange rate by adhering to a
monetary rule if other countries persist in monetary fine-tuning. In short, exchange rate
stability is virtually impossible when countries pursue incompatible monetary policies.
Finally, a policy of monetary coordination is the key to exchange rate stability. If all
countries agree to adopt the same monetary expansion rule (for example, a rule calling
for a constant rate of domestic monetary growth fixed in relation to the trend growth rate
of domestic output), they will all enjoy the same long-run stable domestic inflation rate.
The floating exchange rates of these countries will be virtually as constant as an
institutionally fixed rate. In this case, policy coordination would allow countries to enjoy
the advantages of fixed exchange rates while retaining some degree of national monetary autonomy 3.7. Recapitulation
The monetary model may be viewed as being restrictive in the sense that agents only hold
money, in which case the exchange rate moves to equilibrate the international demand for
stocks of money. For example, the flexible-price monetary model assumes not only that
there are no barriers segmenting international goods markets (such as transportation costs
and trade barriers), but also that domestic and foreign goods are perfect substitutes.
Similarly, the model makes an analogous assumption for bond markets. Not only are
there no barriers segmenting international bond markets (such as transaction costs and
capital controls), it is also the case that domestic and foreign bonds are perfect
substitutes. In essence, the flexibleprice model postulates that there is only one good
(perfect price flexibility, implying purchasing power parity) and only one bond (perfect
asset substitutability, implying uncovered interest parity). In the flexible-price model, the
exchange rate is determined by stock equilibrium in money markets, which is achieved
very quickly (if not continuously) through continuous adjustment of goods prices and
bond returns, thereby maintaining complete neutrality of monetary policy on a continuous
basis. The model yields an equation in which the exchange rate is determined by relative
prices, which are in turn determined by the relative money supply, relative income, and
interest differential under stable domestic and foreign monetary conditions. We have
already derived several versions of the flexible-price model as represented by equations (3.7) and (3.19). Bản dịch
Chương 3. Lý thuyết và thực nghiệm về tỷ giá hối đoái Việt Nam
3.5.3 Mô hình tiền tệ tổng quát về tỷ giá hối đoái
Dornbusch (1976b, trang 153–156) đã phát triển một mô hình tiền tệ tổng quát hơn về tỷ
giá hối đoái, không loại trừ vai trò của các yếu tố thực,vì chúng có thể được kỳ vọng sẽ
tham gia vào việc xác định cầu về số dư tiền thực và ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái danh
nghĩa. Khi tỷ giá hối đoái được xác định như một phần của trạng thái cân bằng chung
(thực tế và tiền tệ) của hệ thống, không có lý do gì để khẳng định rằng tỷ giá hối đoái chỉ
là hiện tượng tiền tệ. Quan điểm này cho thấy các biến số tiền tệ và thực tế cùng ảnh
hưởng đến mức cân bằng của tỷ giá hối đoái.
Một mô hình tiền tệ tổng quát hơn có thể được tạo ra bằng cách giả định rằng sức mua
tương đương chỉ áp dụng cho hàng hóa được giao dịch. Với mục đích này, phương trình
ngang giá sứuc mua (3.5) được viết lại thành pT = s + p∗T (3.30),
trong đó pT(p∗T) là giá của hàng hóa được giao dịch trong nước (nước ngoài). Bằng cách
giả định rằng mức giá là trung bình có trọng số của giá của hàng hóa được giao dịch và
không giao dịch, chúng ta có: p=θpN+(1−θ)pT(3.31)
p∗=θ∗p∗N+(1−θ∗)p∗T(3.32)
Trong đó θ(θ∗) biểu thị tỷ trọng của hàng hóa không giao dịch và hàng hóa giao dịch
trong chỉ số giá trong nước (nước ngoài). Nếu sử dụng trọng số bằng nhau cho hàng hóa
không giao dịch và hàng hóa giao dịch để xây dựng chỉ số giá trong nước và nước ngoài
(θ = θ∗), kết hợp phương trình (3.31) và (3.32) ta có:
pT−p∗T=(p−p∗)+θ[(pT−p∗T)−(pN−p∗N)](3.33)
Bằng cách thay thế phương trình (3.33) vào phương trình (3.30) và (3.6), chúng ta thu được
phương trình tỷ giá hối đoái của mô hình tiền tệ tổng quát:
s=(m−m∗)−α(y−y∗)+β(i−i∗)+θ[(pT−p∗T)−(pN−p∗N)](3.34)
Trong đó tỷ giá hối đoái danh nghĩa được xác định bởi cung và cầu tiền tệ cũng như cấu trúc giá tương đối.
Dornbusch (1976b) đã lập luận rằng phương trình (3.34) đại diện cho một
quan điểm về tỷ giá hối đoái phù hợp cho trạng thái cân bằng hoàn toàn
hoặc “dài hạn,” do đó cung cấp một tiêu chuẩn để đánh giá hướng đi và các
phương án thay thế. Mô hình tiền tệ tổng quát được biểu diễn bởi phương
trình (3.34) duy trì giả định về khả năng thanh toán tức thời trên tất cả các
thị trường bằng cách áp đặt rõ ràng điều kiện cân bằng số dư tiền thực, cân
bằng thị trường hàng hóa và ngang giá sức mua cho hàng hóa được giao
dịch. Nó cũng cho thấy rằng một trong những điều kiện này có thể không
đúng trong ngắn hạn, điều này có nghĩa là tỷ giá hối đoái có thể khác so với
dự đoán cơ bản. Do đó, nếu các biến động tiền tệ áp đảo các biến động thực
tế, tỷ giá hối đoái sẽ được xác định độc quyền trên thị trường tài sản, không
phải trên thị trường hàng hóa. Hơn nữa, nếu giá của hàng hóa ônd định trong
ngắn hạn, quá trình xác định tỷ giá hối đoái sẽ bị chi phối bởi thị trường tài
sản (cụ thể là bởi khả năng di chuyển vốn và cân bằng thị trường tiền tệ)
3.6 ý nghĩa chính sách của mô hình tiền tệ giá linh hoạt
Mô hình tiền tệ giá linh hoạt ngụ ý rằng lượng cung tiền và kỳ vọng về lạm
phát là các yếu tố quan trọng xác định tỷ giá hối đoái và nhấn mạnh vai trò
của chính sách tiền tệ trong việc ảnh hưởng đến những yếu tố này. Cụ thể,
mô hình cho rằng lượng cung tiền được kiểm soát từ bên ngoài bởi các ngân
hàng trung ương quốc gia và kỳ vọng của công chúng về sức mua trong
tương lai của các loại tiền tệ khác nhau được định hình mạnh mẽ bởi các
hành động và tuyên bố chính sách hiện tại. Mô hình này đưa ra một số
khuyến nghị chính sách.(9)
Trước hết, với tốc độ tăng trưởng tiền tệ nước ngoài, việc giảm vĩnh viễn việc
mở rộng tiền tệ trong nước được công bố trước là phương tiện hiệu quả nhất
để ngăn chặn và đảo ngược sự mất giá của đồng nội tệ. Điều này là do thông
báo (dưới dạng thông tin mới) ngay lập tức ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
thông qua kênh kỳ vọng về giá. Tuy nhiên, khuyến nghị chính sách này chỉ
có hiệu lực khi công chúng tin tưởng rằng mục tiêu chính sách được thông
báo trước đó là một chỉ số đáng tin cậy về tốc độ tăng trưởng của nguồn cung tiền trong tương lai.
Thứ hai, sự biến động của tỷ giá hối đoái xảy ra khi chính sách tiền tệ trong
nước không đồng nhất và không nhất quán giữa các quốc gia. Do đó, các
chính sách tiền tệ không giống nhau (tức là sự khác biệt quốc tế về tốc độ
tăng trưởng tiền theo đơn vị sản lượng thực) dẫn đến sự phân kỳ của tỷ lệ
tiền/sản lượng, từ đó tạo ra sự khác biệt về kỳ vọng lạm phát tương đối và do
đó là lãi suất tương đối, ảnh hưởng cuối cùng đến tỷ giá hối đoái. Để đảm
bảo tính ổn định của tỷ giá hối đoái, các quốc gia phải từ bỏ các chính sách
không đồng nhất để thay bằng một quy tắc thống nhất liên kết tốc độ tăng
trưởng tiền với tốc độ tăng trưởng thu nhập thực. Tuy nhiên, lưu ý rằng, trong
bối cảnh của mô hình tiền tệ, một quốc gia không thể ổn định tỷ giá hối đoái
bằng cách tuân theo quy tắc tiền tệ nếu các quốc gia khác tiếp tục điều
chỉnh tiền tệ. Tóm lại, tính ổn định của tỷ giá hối đoái gần như không thể khi
các quốc gia theo đuổi các chính sách tiền tệ không tương thích.
Cuối cùng, chính sách điều phối tiền tệ là chìa khóa để ổn định của tỷ giá hối
đoái. Nếu tất cả các quốc gia đồng ý áp dụng cùng một quy tắc mở rộng tiền
tệ (ví dụ, một quy tắc yêu cầu tốc độ tăng trưởng tiền trong nước cố định
tương qaun với xu hướng tăng trưởng của sản lượng trong nước), họ sẽ cùng
thụ hưởng mức lạm phát trong nước ổn định trong dài hạn. Tỷ giá hối đoái
thả nổi của các quốc gia này sẽ gần như không thay đổi như tỷ giá hối đoái
được cố định theo thể chế. Trong trường hợp này, sự phối hợp chính sách cho
phép các quốc gia tận hưởng lợi ích của tỷ giá hối đoái cố định trong khi vẫn
giữ lại một mức độ tự chủ tiền tệ quốc gia nhất định. 3.7 Tóm tắt lại:
Mô hình tiền tệ có thể được coi là hạn chế trong việc các đại lý chỉ nắm giữ
tiền, trong trường hợp này tỷ giá hối đoái chuyển để cân bằng nhu cầu quốc
tế về lượng cung tiền. Ví dụ, mô hình tiền tệ linh hoạt giả định không chỉ
không có rào cản chia tách thị trường hàng hóa quốc tế (như chi phí vận
chuyển và rào cản thương mại), mà còn giả địng hàng hóa trong nước và
nước ngoài là những sản phẩm thay thế hoàn hảo. Tương tự, mô hình cũng
giả định tương tự cho thị trường trái phiếu. Không chỉ không có rào cản chia
tách thị trường trái phiếu quốc tế (như chi phí giao dịch và kiểm soát vốn),
mà còn là trường hợp trái phiếu trong nước và nước ngoài là hoàn toàn thay
thế nhau. Tóm lại, mô hình tiền tệ linh hoạt giả định rằng chỉ có một loại
hàng hóa ( linh hoạt giá hoàn hảo, hàm ý ngang giá sức mua) và chỉ có một
loại trái phiếu (khả năng thay thế tài sản hoàn hảo, hàm ý ngang giá lãi suất
không bảo hiểm). Trong mô hình giá linh hoạt, tỷ giá hối đoái được xác định
bởi cân bằng lượng cung cầu tiền tệ, một trạng thái đạt được rất nhanh
(thậm chí có thể là liên tục) thông qua việc điều chỉnh liên tục giá hàng hóa
và lợi suất trái phiếu, từ đó duy trì tính trung lập hoàn toàn của chính sách
tiền tệ trên cơ sở liên tục. Mô hình cho ra một phương trình trong đó tỷ giá
hối đoái được xác định bởi giá tương đối, giá tương đối được xác định bởi
lượng cung tiền tương đối, thu nhập tương đối và chênh lệch lãi suất dưới
điều kiện tiền tệ trong nước và nước ngoài ổn định. Chúng tôi đã rút ra một
số phiên bản của mô hình tiền tệ linh hoạt như được biểu diễn bởi các
phương trình (3.7) và (3.19).h Bản tóm tắt
Mô hình tiền tệ tổng quát do Dornbusch (1976b) phát triển là một mô hình kinh tế vĩ mô giải
thích cách thức tỷ giá hối đoái được xác định. Mô hình này khác biệt với các mô hình tiền tệ
truyền thống ở chỗ nó không chỉ xem xét các yếu tố tiền tệ mà còn bao gồm cả các yếu tố thực
như giá cả hàng hóa, thu nhập và lãi suất. Mô hình tiền tệ linh hoạt là một trường hợp đặc biệt
của mô hình tiền tệ tổng quát
Mô hình được tóm tắt bởi phương trình tỷ giá hối đoái sau:
s = (m - m*) - α(y - y*) + β(i - i*) + θ[(pT - p*T) - (pN - p*N)] Trong đó:
s: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
m: Lượng cung tiền trong nước
m:* Lượng cung tiền nước ngoài
y: Thu nhập trong nước
y:* Thu nhập nước ngoài
i: Lãi suất trong nước
i:* Lãi suất nước ngoài
θ: Tỷ trọng của hàng hóa không giao dịch trong chỉ số giá
pT: Giá hàng hóa giao dịch trong nước
p*T: Giá hàng hóa giao dịch nước ngoài
pN: Giá hàng hóa không giao dịch trong nước
p*N: Giá hàng hóa không giao dịch nước ngoài
α: Hệ số nhạy cảm của tỷ giá hối đoái với thu nhập
β: Hệ số nhạy cảm của tỷ giá hối đoái với chênh lệch lãi suất
Ý nghĩa của mô hình:
Tỷ giá hối đoái được xác định bởi cung và cầu tiền tệ, cấu trúc giá tương đối và kỳ vọng về lạm phát.
Các yếu tố thực như thu nhập và lãi suất có thể ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái.
Mô hình có thể được sử dụng để phân tích các tác động của chính sách tiền tệ và các cú
sốc kinh tế khác đối với tỷ giá hối đoái.
Hạn chế của mô hình:
Mô hình giả định thị trường hàng hóa và trái phiếu hoàn toàn hiệu quả.
Mô hình không tính đến các yếu tố phi tiền tệ khác có thể ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái,
chẳng hạn như rủi ro chính trị và tâm lý thị trường. Kết luận:
Mô hình tiền tệ tổng quát là một công cụ hữu ích để hiểu cách thức tỷ giá hối đoái được xác
định. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng mô hình này có một số hạn chế và không nên được sử dụng như
một công cụ dự đoán duy nhất.