










Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
NỘI DUNG ...................................................................................................... 2
I. Tồn tại xã hội và ý thức xã hội ..................................................................... 2
1. Tồn tại xã hội ............................................................................................ 2
2. Ý thức xã hội ............................................................................................ 2
2.1 Khái niệm ý thức xã hội ....................................................................... 2
2.2 Kết cấu của ý thức xã hội ..................................................................... 3
2.3 Các hình thái của ý thức xã hội ........................................................... 3
II. Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội .................... 4
III. Ý nghĩa phương pháp luận ......................................................................... 5
IV. Vận dụng lý luận trên để lý giải hiện tượng mê tín dị đoan trong xã hội
Việt Nam hiện nay ............................................................................................ 6
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 7
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 8 MỞ ĐẦU
Ý thức là một trong hai phạm trù cơ bản của triết học. Nó là hình thức cao phản ánh thực tại
khách quan hình thức mà riêng con người mới có .Tác động của ý thức xã hội đối với con
người là vô cùng to lớn.
Nền kinh tế nước ta đi từ một điểm xuất phát thấp chúng ta phải làm gì để tránh nguy cơ tụt
hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới? Câu hỏi này đặt cho mỗi chúng ta một
vấn để đó là sự lựa chọn bước đi và trật tự ưu tiên dễ phát triển kinh Lễ, như vậy chúng ta
cần có tri thức vị trí thức là khoa học .Tuy nhiên chỉ chú trọng vào tri thức mà bỏ quên công
tác văn hóa tư tưởng thì sẽ không phát huy được sức mạnh của truyền thống dân tộc.
Hiện nay nước ta đang trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa cho nên việc tìm hiểu các
hình thái ý thức xã hội ,tồn tại xã hội là rất cần thiết Ngoài ra nước ta đang phát triển một
nền kinh tế thị trưởng, đất nước ngày càng mở cửa vì thế cho nên các quốc gia có cơ hội
được tìm hiểu các phong tục tập quán, nền văn hóa của nhau tuy nhiên hiện nay nước ta vân
còn xuất hiện hiện tượng mê tín dị đoan.
Chính vì vậy em muốn được tìm hiểu thêm về vấn đề này. Đó là lý do em chọn đề tài :
“Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Vận dụng lý luận này để
lý giải hiện tượng mê tín dị đoan trong xã hội Việt Nam hiện nay.” 1 NỘI DUNG I.
Tồn tại xã hội và ý thức xã hội 1. Tồn tại xã hội -
Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật
chất của xã hội. Tồn tại xã hội của con người là thực tại xã hội khách quan, là một kiểu vật
chất xã hội, là các quan hệ xã hội vật chất được ý thức xã hội phản ánh. Trong các quan hệ
xã hội vật chất ấy thì quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và quan hệ giữa con người
với con người là những quan hệ cơ bản nhất. -
Tồn tại xã hội gồm các thành phần chính như phương thức sản xuất vật chất;
điều kiện tự nhiên-môi trường địa lý; dân số và mật độ dân số v.v, trong đó phương thức sản
xuất vật chất là thành phần cơ bản nhất. Các quan hệ vật chất khác giữa gia đình, giai cấp,
dân tộc v.v cũng có vai trò nhất định đối với tồn tại xã hội. 2. Ý thức xã hội 2.1
Khái niệm ý thức xã hội
- Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm tình cảm, tập quán, truyền
thống, quan điểm, tư tưởng, lý luận v.v nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội
trong những giai đoạn phát triển khác nhau. Nói cách khác, ý thức xã hội là những quan hệ
tinh thần giữa con người với nhau, là mặt tinh thần trong quá trình lịch sử. Ý thức xã hội
có cấu trúc bên trong xác định, bao gồm những mức độ khác nhau (ý thức xã hội thông
thường và ý thức lý luận (khoa học); tâm lý xã hội và hệ tư tưởng) và các hình thái của ý
thức xã hội (ý thức chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học, khoa học v.v). 2 2.2
Kết cấu của ý thức xã hội
Tùy thuộc vào góc độ xem xét, người ta thường chia ý thức xã hội thành ý thức xã hội thông
thường và ý thức lý luận, tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội.
Ý thức xã hội thông thường hay ý thức thường ngày là những tri thức, những quan niệm của
con người hình thành một cách trực tiếp trong các hoạt động trực tiếp hằng ngày nhưng chưa
được hệ thống hóa, chưa được tổng hợp và khái quát hóa.
Ý thức lý luận hay ý thức khoa học là những tư tưởng, những quan điểm được tổng hợp,
được hệ thống hóa và khái quát hóa thành các học thuyết xã hội dưới dạng các khái niệm,
các phạm trù và các quy luật.
Tâm lý xã hội là ý thức xã hội thể hiện trong ý thức cá nhân. Tâm lý xã hội bao gồm toàn bộ
tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, thói quen, tiếp sống, nếp nghĩ, phong tục, tập quán, ước muốn,
v.v. của một người, một tập đoàn người, một bộ phận xã hội hay của toàn thể xã hội hình
thành dưới tác động trực tiếp của cuộc sống hằng ngày của họ và phản ảnh cuộc sống đó.
Hệ tư tưởng là giai đoạn phát triển cao hơn của ý thức xã hội, là sự nhận thức lý luận về tồn
tại xã hội. Hệ tư tưởng có khả năng đi sâu vào bản chất của mọi mối quan hệ xã hội; là kết
quả của sự tổng kết, sự khái quát hóa các kinh nghiệm xã hội để hình thành nên những quan
điểm, những tư tưởng về chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, v.v.. 2.3
Các hình thái của ý thức xã hội
Ý thức xã hội tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Những hình thái chủ yếu của ý thức xã
hội bao gồm: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức lý luận (hay ý
thức khoa học), ý thức thẩm mỹ (hay ý 3
thức nghệ thuật), ý thức tôn giáo. Sự phong phú của các hình thái ý thức xã hội phản ánh sự
phong phủ của đời sống xã hội. II.
Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Quan điểm duy vật lịch sử khẳng định rằng, ý thức xã hội và tồn tại xã hội có mối quan
hệ biện chứng; rằng, các hình thái ý thức xã hội không phải là những yếu tố thụ động; trái
lại, mỗi hình thái ý thức xã hội đều có sự tác động ngược trở lại tồn tại xã hội trước hết là tác
động trở lại cơ sở kinh tế. Đồng thời, các hình thái ý thức xã hội cũng tác động lẫn nhau
theo những cách thức khác nhau. Tồn tại xã hội nào thì có ý thức xã hội ấy. Tồn tại xã
hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm, xu hướng vận động, sự biến đổi và sự phát
triển của các hình thái ý thức xã hội. Nếu xã hội còn tồn tại sự phân chia giai cấp thì ý
thức xã hội nhất định cũng mang tính giai cấp. Khi mà tồn tại xã hội, nhất là phương thức
sản xuất, thay đổi thì những tư tưởng, quan điểm về chính tri, pháp luật, triết học và cả quan
điểm thẩm mỹ lẫn đạo đức dù sớm hay muộn cũng sẽ có những sự thay đổi nhất định. Tuy
nhiên, ý thức xã hội không phải là yếu tố hoàn toàn thụ động hoặc tiêu cực. Mặc dù chịu sự
quy định và sự chỉ phối của tồn tại xã hội nhưng ý thức xã hội không những có tính độc lập
tương đối; có thể tác động trở lại mạnh mẽ đối với tồn tại xã hội mà đặc biệt là còn có thể
vượt trước tồn tại xã hội , thậm chí có thể vượt trước rất xa tồn tại xã hội. Các hình thái ý
thức xã hội có đặc điểm chung là mặc dù bị tồn tại xã hội quy định, song chúng đều có tính
độc lập tương đối thể hiện ở những điểm sau đây: -
Có tính kể thừa, có lôgic phát triển nội tại, có sự tác động qua lại giữa các
hình thái ý thức xã hội. -
Ý thức khoa học, tiến bộ có thể dự bảo triển vọng của xã hội, cũng có thể cải
tạo tồn tại xã hội thông qua thực tiễn của con người; ngược lại, ý 4
thức sai lầm, lạc hậu, có thể xuyên tạc, kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội. III.
Ý nghĩa phương pháp luận
Tồn tại xã hội và ý thức xã hội là hai phương diện thống nhất biện chứng của đời sống xã
hội. Vì vậy công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải được tiến hành đồng thời
trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Cần thấy rằng, thay đổi tồn tại xã hội là điều kiện cơ bản nhất để thay đổi ý thức xã hội; mặt
khác, cũng cần thấy rằng không chỉ những biến đổi trong tồn tại xã hội mới tất yếu dẫn đến
những thay đổi to lớn trong đời sống tinh thần của xã hội mà ngược lại, những tác động của
đời sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng có thể tạo ra những biến đổi
mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại xã hội.
Quán triệt nguyên tắc phương pháp luận đó trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta, một mặt phải coi trọng cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá, phát huy vai trò tác
động tích cực của đời sống tinh thần xã hội đối với quá trình phát triển kinh tế và công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; mặt khác phải tránh tái phạm sai lầm chủ quan duy ý chí
trong việc xây dựng văn hoá, xây dựng con người mới. C hat a n thấy rằng chỉ có thể thực sự
tạo dựng được đời sống tinh thần của xã hội xã hội chủ nghĩa trên cơ sở cải tạo triệt để
phương thức sinh hoạt vật chất tiểu nông truyền thống và xác lập, phát triển được một
phương thức sản xuất mới trên cơ sở thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tính kế thừa của ý thức xã hội có ý nghĩa rất to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa
tinh thần của xã hội xã hội chủ nghĩa. V.I Lênin nhấn mạnh rằng, văn hóa xã hội chủ nghĩa
cần phải phát huy những thành tựu và 5
truyền thống tốt đẹp nhất của nhân loại từ cổ chí kim trên cơ sở thế giới quan Mác xít.
Người nhấn mạnh: “Văn hoá vô sản phải là sự phát triển hợp qui luật của tổng số những
kiến thức mà loài người đã tích luỹ được dưới ách thống trị của xã hội tư bản, xã hội của bọn
địa chủ và xã hội của bọn quan liêu”. Nắm vững nguyên lý về tính kế thừa của ý thức xã hội
có một ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay trên lĩnh vực văn
hóa, tư tưởng. Trong kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, Đảng ta khẳng định:
“Phát triển văn hóa dân tộc đi đôi với mở rộng giao lưu văn hóa với nước ngoài, vừa giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới.” IV.
Vận dụng lý luận trên để lý giải hiện tượng mê tín dị đoan trong xã hội Việt Nam hiện nay
Đây là một nội dung quan trọng trong sự nghiệp xây dựng văn hóa. Toàn xã hội đều quan
tâm và lo ngại về tình trạng sa sút đạo đức, văn minh trong cuộc sống hàng ngày: tình trạng
mê tín dị đoan phát triển, các hủ tục lạc hậu hồi phục lan tràn, các tập quán mới không lành mạnh xuất hiện nhiều.
Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát động nhiều phong trào để khắc phục các hiện tượng
tiêu cực trong xã hội, trong đó mối quan tâm khá lớn tập trung vào việc chống và bài trừ các
tệ nạn mê tín dị đoan.
Hiện tượng mê tín dị doan ở đây được xem là ý thức xã hội. Những hiện tượng mê tín dị
đoan gắn chặt với trạng thái tâm lý xã hội. Các hiện tượng mê tín dị đoan xuất hiện, tồn tại
và phát triển ăn nhập với những hiện tượng tiêu cực về chính trị, kinh tế, xã hội, đặc biệt là
hiện tượng nhiều người giảm lòng tin vào cuộc sống thực tại, mà tìm chỗ dựa tinh thần vào
trong may rủi, trong sức mạnh thiêng liêng mơ hồ. Điều đáng chú ý là, nhu cầu giải trí bằng
sinh hoạt văn hóa của nhân dân quá lớn mà sự đáp ứng của ngành Văn 6
hóa và của toàn xã hội còn hạn chế nên nhiều người, trong đó không ít thanh thiếu niên, đã
tìm cách giải trí qua các hoạt động mê tín.
Do vậy, việc chống mê tín dị đoan và xây dựng nếp sống mới, phong
tục mới là một vấn đề văn hóa lớn, nó quan hệ đến mọi người, mọi gia đình, mọi nhóm
người trong xã hội. Đồng thời là một vấn đề rất phức tạp, phải giải
quyết một cách kiên trì và lâu dài. Cho nên, phải nhận xét nó, phân tích nó bằng một tư duy
khoa học, hết sức tránh mọi sự nôn nóng chủ quan và thô
bạo. Đồng thời, phải xử lý mọi trường hợp một cách có văn hóa, nghĩa là
bằng cách tôn trọng nhân phẩm con người, thuyết phục sâu sắc mọi người.
Phải sử dụng pháp luật một cách thật chính xác và có hiệu lực lớn. Phải đề cao luật pháp một
cách kiên quyết và cũng phải có văn hóa. KẾT LUẬN
Tóm lại mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là mối quan hệ biện chứng, ý thức
xã hội do tồn tại xã hội sinh ra nhưng nó độc lập tương đối. Nếu chỉ thấy tồn tại xã hội quyết
định ý thức xã hội một cách đơn giản sẽ rơi vào chủ nghĩa duy vật tầm thường. Còn nếu
tuyệt đối hóa vai trò tồn tại ý
thức xã hội mà không thấy vai trò quyết định của tồn xã hội đối với ý thức xã hội thì sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm.
Chính vì vậy tìm hiểu mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
sẽ giúp ta nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa chúng. Điều đó có ý nghĩa lí
luận và thực tiễn to lớn. 7 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.
GS.TS.Phạm Văn Đức,Giáo trình học phần Triết học Mác- Lênin, Hà Nội-2019, tr.231-247. 2.
Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, 123doc, từ <
https://123docz.net/document/279473-moi-quan-he-bien-chung-
giua-ton-tai-xa-hoi-va-y-thuc-xa-hoi-van-dung-tim-hieu-tam-ly-xa-hoi-con- nguoi-viet-nam.htm >
3. Văn kiện Quốc hội tòan tập, quyển 2, 1984-1987, Cổng thông tin
điện tử Quốc hội VN, từ <
https://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamItemI D=3675 > 8