1. GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ:
1.1 Giới thiệu ngắn gọn về nạn đói năm 1945:
Nạn đói năm 1945 một thảm họa nhân đạo kinh hoàng xảy ra miền Bắc Bắc
Trung Bộ Việt Nam. Nguyên nhân do chính sách vét của phát xít Nhật
thực dân Pháp buộc người dân nhổ lúa để trồng đay phục vụ chiến tranh, đồng thời
tịch thu, trưng mua lúa gạo để tích trữ vận chuyển về Nhật hoặc ra mặt trận,
thiên tai, mất mùa Miền Bắc Việt Nam liên tiếp phải hứng chịu những trận
lụt lớn vào năm 1944, làm mất mùa nghiêm trọng các cuộc tấnchiến tranh bởi
công của quân Đồng Minh đã phá hủy hệ thống đường sá, cầu cống, gây cản trở
việc vận chuyển lương thực từ miền Nam ra miền Bắc. Hậu quả của đã làm
khoảng 2 triệu người chết đói trong vòng chưa đầy một năm (cuối 1944 - giữa
1945) , làm cho hội rối ren, kinh tế suy sụp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng so
sánh nạn đói năm 1945 Việt Nam với tổn thất của cuộc chiến tranh Pháp- Đức,
Người viết “Nạn đói kém nguy hiểm hơn nạn chiến tranh. Thí dụ, trong 6 năm
chiến tranh, nước Pháp chỉ chết 1 triệu người, nước Đức chỉ chết chừng 3 triệu
người. Thế mà, nạn đói nửa năm Bắc Bộ ta đã chết hơn 2 triệu người…” (Trích
Hồ Chủ Tịch hào chống nạn đói năm 1945). (Hương, 2015) “Đây thực sự
một cơn ác mộng, một nỗi đau day dứt, nhức nhối, không thể nào quên trong lòng
mỗi người dân Việt Nam trong tất thảy mọi người lương tri trên toàn thế
giới’’- lời cảm thán của các tác giả trong cuốn Nạn đói năm 1945 Việt Nam -
Những chứng tích lịch sử.
2. VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CHIẾN DỊCH GIẢI QUYẾT
NẠN ĐÓI
2.1 Bối cảnh nhận thức lãnh đạo của Đảng:
2.1.1 Bối cảnh lúc ấy
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945), Việt Nam giành được độc
lập, nhưng chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với tình hình cực kỳ phức
tạp: "Thù trong, giặc ngoài" Đồng thời, nạn đói năm 1945 (Ất Dậu) kéo dài từ
cuối 1944 đến giữa 1945 vẫn hoành hành, gây thiệt hại nặng nề cả về kinh tế,
hội,... Sau Tháng Tám, nạn đói không còn "thảm họa cũ" trở thành mối đe
dọa trực tiếp đến sự ổn định chính quyền, với hàng triệu người dân kiệt quệ, lang
thang, thậm chí dẫn đến bất ổn hội như cướp bóc hoặc phản loạn.
2.1.2 Nhận thức của Đảng ta :
Tại phiên họp Chính phủ lâm thời đầu tiên (3/9/1945), Hồ Chí Minh dưới sự lãnh
đạo của Đảng tuyên bố cứu đói nhiệm vụ cấp bách hàng đầu, song song với
diệt giặc dốt giặc ngoại xâm. Khẩu hiệu "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc
ngoại xâm" trở thành kim chỉ nam, thể hiện nhận thức chiến lược: Nạn đói không
chỉ vấn đề nhân đạo "giặc" kẻ thù phải diệt trừ để bảo vệ cách mạng.
Đảng ban hành Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" ngày 25/11/1945, xác định bốn
nhiệm vụ chủ yếu: Củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ
nội phản, cải thiện đời sống nhân dân (trọng tâm chống nạn đói). Chỉ thị nhấn
mạnh khẩu hiệu "Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết", kêu gọi đoàn kết toàn dân,
xây dựng nhà nước dân chủ, kết hợp kháng chiến với kiến quốc (xây dựng đất
nước) (PV, 2021)
Ý nghĩa: Chỉ thị này văn kiện chiến lược quan trọng, thể hiện tầm nhìn xa của
Đảng: Không chỉ cứu đói ngắn hạn còn xây dựng nền tảng lâu dài cho kháng
chiến toàn dân. vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào thực tiễn Việt
Nam, biến nạn đói thành hội để tuyên truyền, đoàn kết các tầng lớp hội (nông
dân, trí thức, sản dân tộc), củng cố chính quyền.
2.2 Các hoạt động cụ thể dưới sự lãnh đạo của Đảng:
-Phá kho thóc Nhật: Cuối năm 1944 đầu 1945, nạn đói khủng khiếp Bắc
Bộ Trung Bộ làm khoảng hai triệu người chết. Trước tình hình đó, tháng 3/1945,
Đảng đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”. Phong trào nhanh chóng
lan rộng, hàng nghìn kho thóc của Nhật bị phá, cứu sống hàng triệu người dân.
Phong trào không chỉ giải quyết nạn đói trước mắt còn ý nghĩa chính trị to
lớn: khơi dậy lòng tin của quần chúng vào Việt Minh, vạch tội ác của phát xít
Nhật, thực dân Pháp tay sai, đồng thời hình thức tập hợp lực lượng cách
mạng, chuẩn bị trực tiếp cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.
-Phong trào “hũ gạo cứu đói, sẻ cơm nhường áo :Sau Cách mạng Tháng
Tám 1945, chính quyền cách mạng non trẻ của nước ta trong thế “ngàn cân treo
sợi tóc”, vừa chống thù trong giặc ngoài, vừa đối diện nạn đói khủng khiếp ngân
khố cạn kiệt. Trong bối cảnh đó, ngày 28-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết
bài kêu gọi “Sẻ cơm nhường áo” đăng trên báo Cứu quốc, tha thiết đề nghị đồng
bào cả nước cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa để dành gạo
cứu đói cho dân nghèo, chính Người nêu gương thực hiện trước. Lời kêu gọi
nhân văn ấy đã nhanh chóng lan tỏa, được đồng bào khắp nơi hưởng ứng, hình
thành phong trào “Hũ gạo tình thương”, “Hũ gạo kháng chiến”, cứu giúp hàng vạn
người thoát chết đói, đồng thời góp phần nuôi quân, giữ vững cuộc kháng chiến
(BỘ, 2021). Không chỉ giải quyết khó khăn trước mắt, sự kiện còn thể hiện quan
điểm “lấy dân làm gốc” của Bác Hồ, coi đói nghèo một thứ giặc nguy hiểm
ngang hàng với giặc ngoại xâm giặc dốt. Phong trào “sẻ cơm nhường áo” đã
khơi dậy tinh thần đoàn kết, truyền thống nhân ái, đùm bọc lẫn nhau của dân tộc,
để lại những giá trị sâu sắc lâu bền, tiếp tục được phát huy trong các phong trào
tương thân tương ái, xóa đói giảm nghèo, cũng như trong công cuộc xây dựng
bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
-Tăng gia sản xuất cải cách kinh tế: Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đất
nước đứng trước muôn vàn khó khăn: thù trong giặc ngoài, nạn đói khủng khiếp,
ruộng đất bỏ hoang, sản xuất đình đốn, ngân khố quốc gia cạn kiệt. Trước tình hình
đó, Đảng Chính phủ đã kịp thời đề ra chính sách khuyến khích toàn dân tăng gia
sản xuất với khẩu hiệu “Tăng gia sản xuất, thực túc binh cường”, coi đây giải
pháp chiến lược để chống “giặc đói”. Nhân dân được vận động khai hoang, tận
dụng đất trống, vườn tược để trồng thêm khoai, sắn, ngô, rau; cải tiến công cụ sản
xuất, thực hành tiết kiệm; đồng thời phát động phong trào “Hũ gạo tình thương”,
“Hũ gạo kháng chiến” nhằm cứu giúp người nghèo nuôi quân kháng chiến.
Chỉ trong vòng 5 tháng, sản lượng hoa màu đã tăng gấp bốn lần so với thời Pháp
thuộc, đạt hơn 614.000 tấn, quy đổi khoảng 506.000 tấn thóc, đủ đắp thiếu hụt
lương thực, giúp nhân dân thoát đói, giá gạo giảm, đời sống dần ổn định (BỘ,
2021) . Chính sách tăng gia sản xuất không chỉ giải quyết cấp bách nạn đói còn
củng cố niềm tin của nhân dân vào chính quyền cách mạng, khơi dậy tinh thần tự
lực tự cường, đoàn kết, tương thân tương ái, đồng thời đặt nền móng cho sự phát
triển kinh tế lâu dài khẳng định tưởng “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh.
2.3 Ý nghĩa lịch sử sáng tạo của Đảng:
- Ý nghĩa lịch sử:
+ Vực dậy dân tộc: Giải quyết kịp thời nạn đói, cứu sống hàng triệu người,
giúp nhân dân thoát khỏi thảm họa do thực dân, phát xít gây ra.
+ Củng cố khối đoàn kết dân tộc: Tập hợp, khơi dậy tinh thần yêu nước, tương
thân tương ái, biến nhân dân thành một khối thống nhất.
+ Tăng cường niềm tin vào chế độ mới: Nhân dân tin tưởng vào chính quyền
cách mạng, làm thất bại âm mưu phá hoại của kẻ thù.
+ Tạo tiền đề cho Cách mạng Tháng Tám: Củng cố lực lượng quần chúng, góp
phần quyết định vào thắng lợi giành chính quyền.
- Sự sáng tạo của Đảng:
+ Kết hợp biện pháp cấp bách lâu dài: Vừa phá kho thóc cứu đói trước mắt,
vừa phát động tăng gia sản xuất để giải quyết tận gốc.
+ Phát huy truyền thống dân tộc: Khơi dậy tinh thần “sẻ cơm nhường áo”,
phong trào “hũ gạo tình thương”, nêu cao đoàn kết, nhân ái.
+ Đề ra khẩu hiệu sát hợp thực tiễn: “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”, “Tăng
gia sản xuất, thực túc binh cường” đúng nguyện vọng bức thiết của nhân dân.
+ Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, tưởng Hồ Chí Minh: Lấy dân
làm gốc, coi nhân dân vừa mục tiêu vừa động lực của cách mạng.
3. BÀI HỌC ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
3.1. Bài học lịch sử từ năm 1945
-Đoàn kết sức mạnh cốt lõi: Dựa trên kinh nghiệm từ cuộc chiến chống
nạn đói 1945, chúng ta thấy rằng sức mạnh của dân tộc không chỉ đến từ các chính
sách, còn từ sự đồng lòng, nhất trí của toàn dân. Đây bài học xương máu cho
mọi giai đoạn phát triển.
-Chính sách phải dựa trên lòng dân: Đảng Nhà nước chỉ thành công khi
các chủ trương, đường lối nhận được sự ủng hộ hưởng ứng của nhân dân. Sự tham
gia của người dân trong phong trào "Hũ gạo cứu đói", "Nhường cơm sẻ áo" không chỉ
hành động cứu giúp, còn minh chứng cho sự đồng lòng, tin tưởng vào sự
lãnh đạo.
-Đổi mới để tồn tại phát triển: Bài học từ năm 1945 cho thấy, khi đứng
trước thử thách sống còn, chúng ta cần phải sự thay đổi, đổi mới duy, cách làm.
duy này tiếp tục được vận dụng trong công cuộc đổi mới, chuyển từ nền kinh tế
tập trung sang kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa.
3.2. Liên hệ thời kỳ đổi mới
3.2.1. Trong bối cảnh hiện đại, tinh thần đoàn kết dân tộc tiếp tục được phát
huy:
a, Trong phát triển kinh tế hội
Tinh thần đoàn kết dân tộc không chỉ giới hạn việc hỗ trợ vật chất còn thể
hiện qua sự đồng lòng, chung tay xây dựng một nền kinh tế vững mạnh, hiện đại.
-Chung tay chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ mới: Trong bối cảnh cách
mạng công nghiệp 4.0, sự đồng lòng của toàn dân trong công cuộc chuyển đổi số đã
trở thành một phong trào thi đua rộng khắp. Từ Chính phủ, doanh nghiệp đến từng
người dân đều tích cực học hỏi, ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả công việc
chất lượng cuộc sống. Thủ tướng đã phát động Phong trào thi đua "Cả nước thi
đua đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số," một minh chứng ràng cho thấy sự đoàn kết
trong việc nắm bắt hội vượt qua thách thức của thời đại.
-Hợp tác, hỗ trợ nhau trong làm ăn, sản xuất, xóa đói giảm nghèo: Tinh
thần "lá rách ít đùm rách nhiều" được thể hiện qua các hình kinh tế tập thể như
hợp tác xã. Những hình này không chỉ giúp con nông dân liên kết sản xuất,
nâng cao giá trị sản phẩm còn tạo ra một mạng lưới hỗ trợ vững chắc, cùng nhau
vượt qua khó khăn về vốn, công nghệ thị trường.
b, Trong đại dịch COVID-19
Đại dịch COVID-19 một phép thử lớn, nhưng cũng hội để tinh thần
đoàn kết dân tộc được thắp sáng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
-Cả nước chung tay ủng hộ Quỹ vắc-xin, nhường khu cách ly, chia sẻ
lương thực: Khi dịch bệnh bùng phát, hình ảnh những "ATM gạo," những "chuyến
xe 0 đồng" hay những gói "an sinh" đã lan tỏa khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn.
Hàng triệu người dân, doanh nghiệp, kiều bào đã quyên góp hàng nghìn tỷ đồng
vào Quỹ vắc-xin, thể hiện niềm tin sự đồng lòng cùng Chính phủ chống dịch.
Trong ngày phát động (27/5), Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Nội đã tiếp nhận ủng
hộ của 19 đơn vị, tổ chức, quan, doanh nghiệp các nhà hảo tâm hỗ trợ công tác
phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn thành phố với tổng số tiền hàng hóa
trị giá 12,545 tỷ đồng; Trong đó, tiền mặt gần 12 tỷ đồng hàng hóa trị giá hơn 800
triệu đồng” (An, 2021). Sự nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn
minh chứng sinh động cho câu nói "Một miếng khi đói bằng một gói khi no".
-Lực lượng tuyến đầu, nhân dân, chính phủ cùng một ý chí: Lời kêu
gọi "chống dịch như chống giặc" đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của toàn dân.
Lực lượng y bác sĩ, chiến công an, quân đội tuyến đầu đã làm việc ngày đêm
không nghỉ để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Hàng triệu người dân tự giác chấp hành
các quy định giãn cách, chung tay với chính quyền trong công tác phòng, chống dịch.
Điều này đã tạo nên một bức tường thành vững chắc, giúp Việt Nam vượt qua giai
đoạn khó khăn nhất của đại dịch.
c, Trong thiên tai, bão
Truyền thống "lá lành đùm rách" của dân tộc Việt Nam luôn được phát huy
mạnh mẽ mỗi khi đất nước phải đối mặt với thiên tai.
-Đồng bào cả nước quyên góp, ủng hộ người dân vùng lũ: Hình ảnh
những chuyến hàng cứu trợ, những lời động viên, những khoản tiền quyên góp của
đồng bào khắp mọi miền đất nước gửi về miền Trung, Tây Bắc trong những trận bão
lịch sử như bão Yagi hay bão Damrey đã khắc sâu vào lòng người. Chính phủ
cũng đã chỉ đạo hỗ trợ trước mắt 1.500 tấn gạo cho tỉnh Quảng Bình để cứu trợ khẩn
cấp cho các hộ dân nguy thiếu đói tại vùng ngập lũ. (Văn, 2016) ; “Các hoạt
động cứu trợ, thiện nguyện, ủng hộ vật chất, tiền mặt dành cho người dân bị ảnh
hưởng bởi bão đã diễn ra rầm r trên khắp cả nước. Tính riêng số tiền người dân
trong ngoài nước, các tổ chức, doanh nghiệp ủng hộ qua Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tính đến 17h00 ngày 16/9 1.236 tỷ đồng. (Nguyễn, 2024) Kiều bào đã quyên
góp được hơn 5 tỷ đồng.Những hành động này không chỉ mang ý nghĩa vật chất
còn nguồn động viên tinh thần to lớn, giúp người dân vùng thêm sức mạnh để
vượt qua mất mát sớm ổn định cuộc sống.
-Phát huy truyền thống “lá lành đùm rách”: Đây không chỉ một
phong trào còn văn hóa, bản sắc của người Việt. Tinh thần tương thân, tương
ái, sẵn sàng chia sẻ khó khăn đã được các thế hệ tiếp nối phát huy. minh
chứng cho một dân tộc sống tình cảm, giàu lòng nhân ái, luôn coi nỗi đau của người
khác như nỗi đau của chính mình
3.2.2. Từ nạn đói 1945 đến "những cơn đói" hiện đại
A, Thực trạng
-"Đói công nghệ": Tình trạng này không chỉ đơn thuần thiếu thiết bị công
nghệ. sự thiếu hụt kiến thức kỹ năng sử dụng công nghệ số, dẫn đến việc bị
gạt ra ngoài lề hội thông tin. Trong một thế giới nơi công nghệ chìa khóa để tiếp
cận hội việc làm, giáo dục, các dịch vụ thiết yếu, những người "đói công nghệ"
sẽ trở nên yếu thế. Họ không thể tận dụng lợi thế của chuyển đổi số, làm gia tăng
khoảng cách giàu nghèo bất bình đẳng trong hội.
-"Đói tinh thần": Trong một hội nhịp sống hối hả, con người dễ cảm
thấy đơn, lạc lõng ngay cả khi họ được bao quanh bởi hàng triệu "người bạn" trên
mạng hội. "Đói tinh thần" sự thiếu hụt kết nối sâu sắc, thiếu sự sẻ chia, thiếu
một môi trường lành mạnh để nuôi dưỡng tâm hồn. biểu hiện qua các vấn đề tâm
ngày càng phổ biến như trầm cảm, lo âu, sự cạn kiệt năng lượng sống, làm suy
giảm năng suất hạnh phúc của mỗi nhân.
B, Giải Pháp:
* "Đói công nghệ"
-Phổ cập công nghệ: Giống như việc phổ cập giáo dục, chúng ta cần đưa
giáo dục công nghệ vào mọi cấp học. Ngoài ra, việc tổ chức các buổi đào tạo kỹ năng
số miễn phí tại các trung tâm văn hóa, nhà văn hóa cộng đồng sẽ giúp mọi lứa tuổi,
đặc biệt người lớn tuổi, tiếp cận được với công nghệ.
-Huy động hội: Cần sự tham gia của toàn hội, từ các tổ chức phi lợi
nhuận đến các nhân. Phát động các dự án tình nguyện như "dạy máy tính cho
người già", "xóa công nghệ" cho trẻ em nông thôn những cách làm hiệu quả.
Những dự án này không chỉ truyền đạt kiến thức còn tạo ra sự kết nối sẻ chia.
-Chính sách: Chính phủ cần những chính sách cụ thể để trợ cấp hoặc hỗ
trợ tài chính cho những người thu nhập thấp để họ thể sở hữu các thiết bị công
nghệ thiết yếu. Điều này không chỉ hỗ trợ vật chất, còn đầu cho tương lai,
đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong kỷ nguyên số.
* "Đói tinh thần"
-Tái thiết lập cộng đồng: Mạng hội ảo không thể thay thế được những kết
nối thực. Cần xây dựng phát triển các không gian giao lưu công cộng, tổ chức các
hoạt động văn hóa, thể thao, nghệ thuật. Điều này giúp mọi người thoát khỏi màn
hình điện thoại, tương tác trực tiếp, tìm thấy niềm vui trong những mối quan hệ
chân thật.
-Hỗ trợ tâm lý: hội cần nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của sức khỏe
tinh thần. Việc phát triển các chương trình, trung tâm vấn tâm miễn phí hoặc chi
phí thấp, dễ dàng tiếp cận cực kỳ cần thiết. Nhà trường doanh nghiệp cũng cần
những chính sách hỗ trợ tâm cho học sinh nhân viên, tạo ra một môi trường
làm việc học tập lành mạnh
3.3 Ý Nghĩa Hiện Nay Từ Nạn Đói 1945
1. Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Nạn đói 1945 chứng minh tầm quan
trọng của sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Đảng để huy động sức mạnh toàn dân.
Ngày nay, vai trò này tiếp tục được khẳng định trong việc dẫn dắt đất nước vượt qua
các cuộc khủng hoảng, từ đại dịch COVID-19 đến những thách thức kinh tế.
2. Gắn kết dân tộc - Nền tảng phát triển bền vững Tinh thần "lá lành đùm
rách" từ nạn đói năm xưa trở thành truyền thống quý báu. Trong bối cảnh hiện đại, sự
gắn kết này không chỉ thể hiện trong việc cứu trợ thiên tai còn sự đồng lòng
trong công cuộc chuyển đổi số, đảm bảo an sinh hội.
3. "Chìa khóa" vượt qua thử thách thời đại mới Bài học về sự chủ động, tự
cường khả năng chống chịu cùng quan trọng. Tinh thần đói năm xưa trở
thành động lực để chúng ta không ngừng đổi mới, sáng tạo, đảm bảo sự phát triển bền
vững vị thế vững chắc của dân tộc trên trường quốc tế
4. KẾT LUẬN
Cuộc chiến giải quyết nạn đói năm 1945 một trang sử hào hùng, thể hiện vai
trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như sức mạnh to lớn của
tinh thần đoàn kết dân tộc. Những bài học rút ra từ thời kỳ này không chỉ mang giá trị
lịch sử còn ý nghĩa sâu sắc trong thời kỳ đổi mới ngày nay. Đoàn kết dân tộc
tiếp tục "chìa khóa vàng" giúp Việt Nam vượt qua khó khăn, vững bước trên con
đường phát triển hội nhập quốc tế
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
An, H. (2021). Chung tay ủng hộ Quỹ Vắc xin, lan tỏa sự yêu thương. Báo Tuổi Trẻ.
BỘ, Đ. X. (2021). 28-9-1945: Bác Hồ kêu gọi “sẻ cơm nhường áo”. báo quân đội nhân
dân.
Hương, H. (2015). Nạn đói kinh hoàng năm 1945: Nỗi đau đớn của 70 năm lịch sử. Báo
Dân Trí.
Nguyễn, P. D.-Q. (2024, 09 19). Kiều bào quyên góp ủng hộ người dân vùng lũ.
Retrieved from vnexpress: https://bitly.li/Y7uT
PV. (2021). Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc của Đảng ngày 25/11/1945. Báo Hải Quân
Việt Nam.
Văn, N. K. (2016). Thủ tướng phát động quyên góp ủng hộ người dân vùng miền
Trung. .sài gòn giải phóng
MỤC LỤC
1. GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ:............................................1
1.1 Giới thiệu ngắn gọn về nạn đói năm 1945:....................................................1
2. VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CHIẾN DỊCH GIẢI QUYẾT
NẠN ĐÓI...........................................................................................................................2
2.1 Bối cảnh nhận thức lãnh đạo của Đảng:....................................................2
2.1.1 Bối cảnh lúc ấy.......................................................................................2
2.1.2 Nhận thức của Đảng ta :.........................................................................2
2.2 Các hoạt động cụ thể dưới sự lãnh đạo của Đảng:.........................................3
- Phá kho thóc Nhật:...................................................................................3
- Phong trào “hũ gạo cứu đói, sẻ cơm nhường áo.......................................3
- Tăng gia sản xuất cải cách kinh tế:......................................................4
2.3 Ý nghĩa lịch sử ng tạo của Đảng:...........................................................4
3. BÀI HỌC ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THỜI KỲ ĐỔI MỚI...................................5
3.1. Bài học lịch sử từ năm 1945.........................................................................5
3.2. Liên hệ thời kỳ đổi mới................................................................................6
3.2.1. Trong bối cảnh hiện đại, tinh thần đoàn kết dân tộc tiếp tục được phát
huy:............................................................................................................................6
a, Trong phát triển kinh tế hội..............................................................6
b, Trong đại dịch COVID-19.......................................................................6
c, Trong thiên tai, bão lũ..............................................................................7
3.2.2. Từ nạn đói 1945 đến "những cơn đói" hiện đại....................................8
3.3 Ý Nghĩa Hiện Nay Từ Nạn Đói 1945..........................................................10
4. KẾT LUẬN.......................................................................................................10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................10

Preview text:

1. GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ:
1.1 Giới thiệu ngắn gọn về nạn đói năm 1945:
Nạn đói năm 1945 là một thảm họa nhân đạo kinh hoàng xảy ra ở miền Bắc và Bắc
Trung Bộ Việt Nam. Nguyên nhân là do chính sách vơ vét của phát xít Nhật và
thực dân Pháp buộc người dân nhổ lúa để trồng đay phục vụ chiến tranh, đồng thời
tịch thu, trưng mua lúa gạo để tích trữ và vận chuyển về Nhật hoặc ra mặt trận,
thiên tai, mất mùa Miền Bắc Việt Nam liên tiếp phải hứng chịu những trận lũ
lụt lớn vào năm 1944, làm mất mùa nghiêm trọng và chiến tranh bởi các cuộc tấn
công của quân Đồng Minh đã phá hủy hệ thống đường sá, cầu cống, gây cản trở
việc vận chuyển lương thực từ miền Nam ra miền Bắc. Hậu quả của nó đã làm
khoảng 2 triệu người chết đói trong vòng chưa đầy một năm (cuối 1944 - giữa
1945) , làm cho xã hội rối ren, kinh tế suy sụp. “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng so
sánh nạn đói năm 1945 ở Việt Nam với tổn thất của cuộc chiến tranh Pháp- Đức,
Người viết “Nạn đói kém nguy hiểm hơn nạn chiến tranh. Thí dụ, trong 6 năm
chiến tranh, nước Pháp chỉ chết 1 triệu người, nước Đức chỉ chết chừng 3 triệu
người. Thế mà, nạn đói nửa năm ở Bắc Bộ ta đã chết hơn 2 triệu người…” (Trích
Hồ Chủ Tịch hô hào chống nạn đói năm 1945).” (Hương, 2015) “Đây thực sự là
một cơn ác mộng, một nỗi đau day dứt, nhức nhối, không thể nào quên trong lòng
mỗi người dân Việt Nam và trong tất thảy mọi người có lương tri trên toàn thế
giới’’- lời cảm thán của các tác giả trong cuốn Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam -
Những chứng tích lịch sử.
2. VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CHIẾN DỊCH GIẢI QUYẾT NẠN ĐÓI
2.1 Bối cảnh nhận thức lãnh đạo của Đảng:
2.1.1 Bối cảnh lúc ấy
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945), Việt Nam giành được độc
lập, nhưng chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với tình hình cực kỳ phức
tạp: "Thù trong, giặc ngoài" Đồng thời, nạn đói năm 1945 (Ất Dậu) – kéo dài từ
cuối 1944 đến giữa 1945 – vẫn hoành hành, gây thiệt hại nặng nề cả về kinh tế, xã
hội,... Sau Tháng Tám, nạn đói không còn là "thảm họa cũ" mà trở thành mối đe
dọa trực tiếp đến sự ổn định chính quyền, với hàng triệu người dân kiệt quệ, lang
thang, thậm chí dẫn đến bất ổn xã hội như cướp bóc hoặc phản loạn.
2.1.2 Nhận thức của Đảng ta :
Tại phiên họp Chính phủ lâm thời đầu tiên (3/9/1945), Hồ Chí Minh – dưới sự lãnh
đạo của Đảng – tuyên bố cứu đói là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu, song song với
diệt giặc dốt và giặc ngoại xâm. Khẩu hiệu "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc
ngoại xâm" trở thành kim chỉ nam, thể hiện nhận thức chiến lược: Nạn đói không
chỉ là vấn đề nhân đạo mà là "giặc" – kẻ thù phải diệt trừ để bảo vệ cách mạng.
Đảng ban hành Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" ngày 25/11/1945, xác định bốn
nhiệm vụ chủ yếu: Củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ
nội phản, và cải thiện đời sống nhân dân (trọng tâm là chống nạn đói). Chỉ thị nhấn
mạnh khẩu hiệu "Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết", kêu gọi đoàn kết toàn dân,
xây dựng nhà nước dân chủ, và kết hợp kháng chiến với kiến quốc (xây dựng đất nước) (PV, 2021)
Ý nghĩa: Chỉ thị này là văn kiện chiến lược quan trọng, thể hiện tầm nhìn xa của
Đảng: Không chỉ cứu đói ngắn hạn mà còn xây dựng nền tảng lâu dài cho kháng
chiến toàn dân. Nó vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào thực tiễn Việt
Nam, biến nạn đói thành cơ hội để tuyên truyền, đoàn kết các tầng lớp xã hội (nông
dân, trí thức, tư sản dân tộc), và củng cố chính quyền.
2.2 Các hoạt động cụ thể dưới sự lãnh đạo của Đảng:
-Phá kho thóc Nhật: Cuối năm 1944 đầu 1945, nạn đói khủng khiếp ở Bắc
Bộ và Trung Bộ làm khoảng hai triệu người chết. Trước tình hình đó, tháng 3/1945,
Đảng đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”. Phong trào nhanh chóng
lan rộng, hàng nghìn kho thóc của Nhật bị phá, cứu sống hàng triệu người dân.
Phong trào không chỉ giải quyết nạn đói trước mắt mà còn có ý nghĩa chính trị to
lớn: khơi dậy lòng tin của quần chúng vào Việt Minh, vạch rõ tội ác của phát xít
Nhật, thực dân Pháp và tay sai, đồng thời là hình thức tập hợp lực lượng cách
mạng, chuẩn bị trực tiếp cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.
-Phong trào “hũ gạo cứu đói, sẻ cơm nhường áo” :Sau Cách mạng Tháng
Tám 1945, chính quyền cách mạng non trẻ của nước ta ở trong thế “ngàn cân treo
sợi tóc”, vừa chống thù trong giặc ngoài, vừa đối diện nạn đói khủng khiếp và ngân
khố cạn kiệt. Trong bối cảnh đó, ngày 28-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết
bài kêu gọi “Sẻ cơm nhường áo” đăng trên báo Cứu quốc, tha thiết đề nghị đồng
bào cả nước cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa để dành gạo
cứu đói cho dân nghèo, và chính Người nêu gương thực hiện trước. Lời kêu gọi
nhân văn ấy đã nhanh chóng lan tỏa, được đồng bào khắp nơi hưởng ứng, hình
thành phong trào “Hũ gạo tình thương”, “Hũ gạo kháng chiến”, cứu giúp hàng vạn
người thoát chết đói, đồng thời góp phần nuôi quân, giữ vững cuộc kháng chiến
(BỘ, 2021). Không chỉ giải quyết khó khăn trước mắt, sự kiện còn thể hiện rõ quan
điểm “lấy dân làm gốc” của Bác Hồ, coi đói nghèo là một thứ giặc nguy hiểm
ngang hàng với giặc ngoại xâm và giặc dốt. Phong trào “sẻ cơm nhường áo” đã
khơi dậy tinh thần đoàn kết, truyền thống nhân ái, đùm bọc lẫn nhau của dân tộc,
để lại những giá trị sâu sắc và lâu bền, tiếp tục được phát huy trong các phong trào
tương thân tương ái, xóa đói giảm nghèo, cũng như trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
-Tăng gia sản xuất cải cách kinh tế: Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đất
nước đứng trước muôn vàn khó khăn: thù trong giặc ngoài, nạn đói khủng khiếp,
ruộng đất bỏ hoang, sản xuất đình đốn, ngân khố quốc gia cạn kiệt. Trước tình hình
đó, Đảng và Chính phủ đã kịp thời đề ra chính sách khuyến khích toàn dân tăng gia
sản xuất với khẩu hiệu “Tăng gia sản xuất, thực túc binh cường”, coi đây là giải
pháp chiến lược để chống “giặc đói”. Nhân dân được vận động khai hoang, tận
dụng đất trống, vườn tược để trồng thêm khoai, sắn, ngô, rau; cải tiến công cụ sản
xuất, thực hành tiết kiệm; đồng thời phát động phong trào “Hũ gạo tình thương”,
“Hũ gạo kháng chiến” nhằm cứu giúp người nghèo và nuôi quân kháng chiến. “
Chỉ trong vòng 5 tháng, sản lượng hoa màu đã tăng gấp bốn lần so với thời Pháp
thuộc, đạt hơn 614.000 tấn, quy đổi khoảng 506.000 tấn thóc, đủ bù đắp thiếu hụt
lương thực, giúp nhân dân thoát đói, giá gạo giảm, đời sống dần ổn định ” (BỘ,
2021) . Chính sách tăng gia sản xuất không chỉ giải quyết cấp bách nạn đói mà còn
củng cố niềm tin của nhân dân vào chính quyền cách mạng, khơi dậy tinh thần tự
lực tự cường, đoàn kết, tương thân tương ái, đồng thời đặt nền móng cho sự phát
triển kinh tế lâu dài và khẳng định tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh.
2.3 Ý nghĩa lịch sử sáng tạo của Đảng: - Ý nghĩa lịch sử: +
Vực dậy dân tộc: Giải quyết kịp thời nạn đói, cứu sống hàng triệu người,
giúp nhân dân thoát khỏi thảm họa do thực dân, phát xít gây ra. +
Củng cố khối đoàn kết dân tộc: Tập hợp, khơi dậy tinh thần yêu nước, tương
thân tương ái, biến nhân dân thành một khối thống nhất. +
Tăng cường niềm tin vào chế độ mới: Nhân dân tin tưởng vào chính quyền
cách mạng, làm thất bại âm mưu phá hoại của kẻ thù. +
Tạo tiền đề cho Cách mạng Tháng Tám: Củng cố lực lượng quần chúng, góp
phần quyết định vào thắng lợi giành chính quyền. -
Sự sáng tạo của Đảng: +
Kết hợp biện pháp cấp bách và lâu dài: Vừa phá kho thóc cứu đói trước mắt,
vừa phát động tăng gia sản xuất để giải quyết tận gốc. +
Phát huy truyền thống dân tộc: Khơi dậy tinh thần “sẻ cơm nhường áo”,
phong trào “hũ gạo tình thương”, nêu cao đoàn kết, nhân ái. +
Đề ra khẩu hiệu sát hợp thực tiễn: “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”, “Tăng
gia sản xuất, thực túc binh cường” – đúng nguyện vọng bức thiết của nhân dân. +
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Lấy dân
làm gốc, coi nhân dân vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng.
3. BÀI HỌC ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
3.1. Bài học lịch sử từ năm 1945
-Đoàn kết sức mạnh cốt lõi: Dựa trên kinh nghiệm từ cuộc chiến chống
nạn đói 1945, chúng ta thấy rằng sức mạnh của dân tộc không chỉ đến từ các chính
sách, mà còn từ sự đồng lòng, nhất trí của toàn dân. Đây là bài học xương máu cho
mọi giai đoạn phát triển.
-Chính sách phải dựa trên lòng dân: Đảng và Nhà nước chỉ thành công khi
các chủ trương, đường lối nhận được sự ủng hộ và hưởng ứng của nhân dân. Sự tham
gia của người dân trong phong trào "Hũ gạo cứu đói", "Nhường cơm sẻ áo" không chỉ
là hành động cứu giúp, mà còn là minh chứng cho sự đồng lòng, tin tưởng vào sự lãnh đạo.
-Đổi mới để tồn tại phát triển: Bài học từ năm 1945 cho thấy, khi đứng
trước thử thách sống còn, chúng ta cần phải có sự thay đổi, đổi mới tư duy, cách làm.
Tư duy này tiếp tục được vận dụng trong công cuộc đổi mới, chuyển từ nền kinh tế
tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
3.2. Liên hệ thời kỳ đổi mới
3.2.1. Trong bối cảnh hiện đại, tinh thần đoàn kết dân tộc tiếp tục được phát huy:
a, Trong phát triển kinh tế – xã hội
Tinh thần đoàn kết dân tộc không chỉ giới hạn ở việc hỗ trợ vật chất mà còn thể
hiện qua sự đồng lòng, chung tay xây dựng một nền kinh tế vững mạnh, hiện đại.
-Chung tay chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ mới: Trong bối cảnh cách
mạng công nghiệp 4.0, sự đồng lòng của toàn dân trong công cuộc chuyển đổi số đã
trở thành một phong trào thi đua rộng khắp. Từ Chính phủ, doanh nghiệp đến từng
người dân đều tích cực học hỏi, ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả công việc
và chất lượng cuộc sống. Thủ tướng đã phát động Phong trào thi đua "Cả nước thi
đua đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số," một minh chứng rõ ràng cho thấy sự đoàn kết
trong việc nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức của thời đại.
-Hợp tác, hỗ trợ nhau trong làm ăn, sản xuất, xóa đói giảm nghèo: Tinh
thần "lá rách ít đùm lá rách nhiều" được thể hiện qua các mô hình kinh tế tập thể như
hợp tác xã. Những mô hình này không chỉ giúp bà con nông dân liên kết sản xuất,
nâng cao giá trị sản phẩm mà còn tạo ra một mạng lưới hỗ trợ vững chắc, cùng nhau
vượt qua khó khăn về vốn, công nghệ và thị trường.
b, Trong đại dịch COVID-19
Đại dịch COVID-19 là một phép thử lớn, nhưng cũng là cơ hội để tinh thần
đoàn kết dân tộc được thắp sáng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
-Cả nước chung tay ủng hộ Quỹ vắc-xin, nhường khu cách ly, chia sẻ
lương thực: Khi dịch bệnh bùng phát, hình ảnh những "ATM gạo," những "chuyến
xe 0 đồng" hay những gói "an sinh" đã lan tỏa khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn.
Hàng triệu người dân, doanh nghiệp, và kiều bào đã quyên góp hàng nghìn tỷ đồng
vào Quỹ vắc-xin, thể hiện niềm tin và sự đồng lòng cùng Chính phủ chống dịch.
“Trong ngày phát động (27/5), Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Hà Nội đã tiếp nhận ủng
hộ của 19 đơn vị, tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp và các nhà hảo tâm hỗ trợ công tác
phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn thành phố với tổng số tiền và hàng hóa
trị giá 12,545 tỷ đồng; Trong đó, tiền mặt gần 12 tỷ đồng và hàng hóa trị giá hơn 800
triệu đồng” (An, 2021). Sự nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn là
minh chứng sinh động cho câu nói "Một miếng khi đói bằng một gói khi no".
-Lực lượng tuyến đầu, nhân dân, chính phủ cùng một ý chí: Lời kêu
gọi "chống dịch như chống giặc" đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của toàn dân.
Lực lượng y bác sĩ, chiến sĩ công an, quân đội ở tuyến đầu đã làm việc ngày đêm
không nghỉ để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Hàng triệu người dân tự giác chấp hành
các quy định giãn cách, chung tay với chính quyền trong công tác phòng, chống dịch.
Điều này đã tạo nên một bức tường thành vững chắc, giúp Việt Nam vượt qua giai
đoạn khó khăn nhất của đại dịch. c, Trong thiên tai, bão lũ
Truyền thống "lá lành đùm lá rách" của dân tộc Việt Nam luôn được phát huy
mạnh mẽ mỗi khi đất nước phải đối mặt với thiên tai.
-Đồng bào cả nước quyên góp, ủng hộ người dân vùng lũ: Hình ảnh
những chuyến hàng cứu trợ, những lời động viên, những khoản tiền quyên góp của
đồng bào khắp mọi miền đất nước gửi về miền Trung, Tây Bắc trong những trận bão
lũ lịch sử như bão Yagi hay bão Damrey đã khắc sâu vào lòng người. “Chính phủ
cũng đã chỉ đạo hỗ trợ trước mắt 1.500 tấn gạo cho tỉnh Quảng Bình để cứu trợ khẩn
cấp cho các hộ dân có nguy cơ thiếu đói tại vùng ngập lũ.” (Văn, 2016) ; “Các hoạt
động cứu trợ, thiện nguyện, ủng hộ vật chất, tiền mặt dành cho người dân bị ảnh
hưởng bởi bão lũ đã diễn ra rầm rộ trên khắp cả nước. Tính riêng số tiền người dân
trong và ngoài nước, các tổ chức, doanh nghiệp ủng hộ qua Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tính đến 17h00 ngày 16/9 là 1.236 tỷ đồng.” (Nguyễn, 2024) Kiều bào đã quyên
góp được hơn 5 tỷ đồng.Những hành động này không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà
còn là nguồn động viên tinh thần to lớn, giúp người dân vùng lũ có thêm sức mạnh để
vượt qua mất mát và sớm ổn định cuộc sống.
-Phát huy truyền thống “lá lành đùm rách”: Đây không chỉ là một
phong trào mà còn là văn hóa, là bản sắc của người Việt. Tinh thần tương thân, tương
ái, sẵn sàng chia sẻ khó khăn đã được các thế hệ tiếp nối và phát huy. Nó là minh
chứng cho một dân tộc sống tình cảm, giàu lòng nhân ái, luôn coi nỗi đau của người
khác như nỗi đau của chính mình
3.2.2. Từ nạn đói 1945 đến "những cơn đói" hiện đại A, Thực trạng
-"Đói công nghệ": Tình trạng này không chỉ đơn thuần là thiếu thiết bị công
nghệ. Nó là sự thiếu hụt kiến thức và kỹ năng sử dụng công nghệ số, dẫn đến việc bị
gạt ra ngoài lề xã hội thông tin. Trong một thế giới nơi công nghệ là chìa khóa để tiếp
cận cơ hội việc làm, giáo dục, và các dịch vụ thiết yếu, những người "đói công nghệ"
sẽ trở nên yếu thế. Họ không thể tận dụng lợi thế của chuyển đổi số, làm gia tăng
khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng trong xã hội.
-"Đói tinh thần": Trong một xã hội có nhịp sống hối hả, con người dễ cảm
thấy cô đơn, lạc lõng ngay cả khi họ được bao quanh bởi hàng triệu "người bạn" trên
mạng xã hội. "Đói tinh thần" là sự thiếu hụt kết nối sâu sắc, thiếu sự sẻ chia, và thiếu
một môi trường lành mạnh để nuôi dưỡng tâm hồn. Nó biểu hiện qua các vấn đề tâm
lý ngày càng phổ biến như trầm cảm, lo âu, và sự cạn kiệt năng lượng sống, làm suy
giảm năng suất và hạnh phúc của mỗi cá nhân. B, Giải Pháp:
* "Đói công nghệ"
-Phổ cập công nghệ: Giống như việc phổ cập giáo dục, chúng ta cần đưa
giáo dục công nghệ vào mọi cấp học. Ngoài ra, việc tổ chức các buổi đào tạo kỹ năng
số miễn phí tại các trung tâm văn hóa, nhà văn hóa cộng đồng sẽ giúp mọi lứa tuổi,
đặc biệt là người lớn tuổi, tiếp cận được với công nghệ.
-Huy động hội: Cần có sự tham gia của toàn xã hội, từ các tổ chức phi lợi
nhuận đến các cá nhân. Phát động các dự án tình nguyện như "dạy máy tính cho
người già", "xóa mù công nghệ" cho trẻ em nông thôn là những cách làm hiệu quả.
Những dự án này không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn tạo ra sự kết nối và sẻ chia.
-Chính sách: Chính phủ cần có những chính sách cụ thể để trợ cấp hoặc hỗ
trợ tài chính cho những người có thu nhập thấp để họ có thể sở hữu các thiết bị công
nghệ thiết yếu. Điều này không chỉ là hỗ trợ vật chất, mà còn là đầu tư cho tương lai,
đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong kỷ nguyên số.
* "Đói tinh thần"
-Tái thiết lập cộng đồng: Mạng xã hội ảo không thể thay thế được những kết
nối thực. Cần xây dựng và phát triển các không gian giao lưu công cộng, tổ chức các
hoạt động văn hóa, thể thao, nghệ thuật. Điều này giúp mọi người thoát khỏi màn
hình điện thoại, tương tác trực tiếp, và tìm thấy niềm vui trong những mối quan hệ chân thật.
-Hỗ trợ tâm lý: Xã hội cần nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của sức khỏe
tinh thần. Việc phát triển các chương trình, trung tâm tư vấn tâm lý miễn phí hoặc chi
phí thấp, dễ dàng tiếp cận là cực kỳ cần thiết. Nhà trường và doanh nghiệp cũng cần
có những chính sách hỗ trợ tâm lý cho học sinh và nhân viên, tạo ra một môi trường
làm việc và học tập lành mạnh
3.3 Ý Nghĩa Hiện Nay Từ Nạn Đói 1945
1. Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Nạn đói 1945 chứng minh tầm quan
trọng của sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Đảng để huy động sức mạnh toàn dân.
Ngày nay, vai trò này tiếp tục được khẳng định trong việc dẫn dắt đất nước vượt qua
các cuộc khủng hoảng, từ đại dịch COVID-19 đến những thách thức kinh tế.
2. Gắn kết dân tộc - Nền tảng phát triển bền vững Tinh thần "lá lành đùm lá
rách" từ nạn đói năm xưa trở thành truyền thống quý báu. Trong bối cảnh hiện đại, sự
gắn kết này không chỉ thể hiện trong việc cứu trợ thiên tai mà còn là sự đồng lòng
trong công cuộc chuyển đổi số, đảm bảo an sinh xã hội.
3. "Chìa khóa" vượt qua thử thách thời đại mới Bài học về sự chủ động, tự
cường và khả năng chống chịu là vô cùng quan trọng. Tinh thần đói năm xưa trở
thành động lực để chúng ta không ngừng đổi mới, sáng tạo, đảm bảo sự phát triển bền
vững và vị thế vững chắc của dân tộc trên trường quốc tế 4. KẾT LUẬN
Cuộc chiến giải quyết nạn đói năm 1945 là một trang sử hào hùng, thể hiện vai
trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như sức mạnh to lớn của
tinh thần đoàn kết dân tộc. Những bài học rút ra từ thời kỳ này không chỉ mang giá trị
lịch sử mà còn có ý nghĩa sâu sắc trong thời kỳ đổi mới ngày nay. Đoàn kết dân tộc
tiếp tục là "chìa khóa vàng" giúp Việt Nam vượt qua khó khăn, vững bước trên con
đường phát triển và hội nhập quốc tế
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
An, H. (2021). Chung tay ủng hộ Quỹ Vắc xin, lan tỏa sự yêu thương. Báo Tuổi Trẻ.
BỘ, Đ. X. (2021). 28-9-1945: Bác Hồ kêu gọi “sẻ cơm nhường áo”. báo quân đội nhân dân.
Hương, H. (2015). Nạn đói kinh hoàng năm 1945: Nỗi đau đớn của 70 năm lịch sử. Báo Dân Trí.
Nguyễn, P. D.-Q. (2024, 09 19). Kiều bào quyên góp ủng hộ người dân vùng lũ.
Retrieved from vnexpress: https://bitly.li/Y7uT
PV. (2021). Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc của Đảng ngày 25/11/1945. Báo Hải Quân Việt Nam.
Văn, N. K. (2016). Thủ tướng phát động quyên góp ủng hộ người dân vùng lũ miền
Trung. sài gòn giải phóng. MỤC LỤC
1. GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ VÀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ:............................................1
1.1 Giới thiệu ngắn gọn về nạn đói năm 1945:....................................................1
2. VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CHIẾN DỊCH GIẢI QUYẾT
NẠN ĐÓI...........................................................................................................................2
2.1 Bối cảnh và nhận thức lãnh đạo của Đảng:....................................................2
2.1.1 Bối cảnh lúc ấy.......................................................................................2
2.1.2 Nhận thức của Đảng ta :.........................................................................2
2.2 Các hoạt động cụ thể dưới sự lãnh đạo của Đảng:.........................................3 -
Phá kho thóc Nhật:...................................................................................3 -
Phong trào “hũ gạo cứu đói, sẻ cơm nhường áo.......................................3 -
Tăng gia sản xuất và cải cách kinh tế:......................................................4
2.3 Ý nghĩa lịch sử và sáng tạo của Đảng:...........................................................4
3. BÀI HỌC ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THỜI KỲ ĐỔI MỚI...................................5
3.1. Bài học lịch sử từ năm 1945.........................................................................5
3.2. Liên hệ thời kỳ đổi mới................................................................................6
3.2.1. Trong bối cảnh hiện đại, tinh thần đoàn kết dân tộc tiếp tục được phát
huy:............................................................................................................................6
a, Trong phát triển kinh tế – xã hội..............................................................6
b, Trong đại dịch COVID-19.......................................................................6
c, Trong thiên tai, bão lũ..............................................................................7
3.2.2. Từ nạn đói 1945 đến "những cơn đói" hiện đại....................................8
3.3 Ý Nghĩa Hiện Nay Từ Nạn Đói 1945..........................................................10
4. KẾT LUẬN.......................................................................................................10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................10