-
Thông tin
-
Quiz
Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty CP hợp lực | Chuyên đề tốt nghiệp môn kinh tế phát triển
Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty CP hợp lực | Tiểu luận môn kinh tế phát triển được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!
Toán cho các nhà kinh tế 59 tài liệu
Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty CP hợp lực | Chuyên đề tốt nghiệp môn kinh tế phát triển
Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty CP hợp lực | Tiểu luận môn kinh tế phát triển được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!
Môn: Toán cho các nhà kinh tế 59 tài liệu
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Preview text:
lOMoAR cPSD| 44919514
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN -------- --------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÔNG TY CP HỢP LỰC
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Lê Thị Hồng Phượng Sinh viên thực hiện : Trần Xuân Dũng Mã sinh viên : 11200935 Lớp chuyên ngành
: Kinh tế phát triển 62A HÀ NỘI, 02/2024 lOMoAR cPSD| 44919514 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản chuyên đề này là công trình nghiên cứu khoa học, độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong chuyên đề là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Sinh viên Trần Xuân Dũng lOMoAR cPSD| 44919514 MỤ ỤC L C LỜI CAM
ĐOAN..................................................................................................................i MỤ ỤC L
C............................................................................................................................ ii LỜ Ở ẦI M Đ
U.....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. CƠ Ở S LÍ LUẬ ỀN V NĂNG LỰ ẠC C NH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP.................................................................................................................. .............5
1.1. Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.............5
1.1.1. Khái ni m và vai trò v c nh tranhệ ề ạ
.................................................................5 1.1.2. Khái ni m v năng l c c nh
tranhệ ề ự ạ ...................................................................8
1.1.3. Các c p đ năng l c c nh tranhấ ộ ự
ạ........................................................................8
1.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp......................................................9 1.2.1. Khái ni mệ
....................................................................................................................9 1.2.2. N i hàmộ
.......................................................................................................................9
1.2.3. Tiêu chí đánh giá năng l c c nh tranh c a doanh nghiự ạ ủệp...................11
1.3. Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.........14 1.3.1. Các nhân t vĩ môố
..................................................................................................14
1.3.2. Các nhân t môi trố ường
ngành........................................................................15
1.3.3. Các nhân t n i b doanh nghi pố ộ ộ
ệ ..................................................................16
1.4. Các công cụ đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp................18 1.4.1. Ma tr n IFEậ
..............................................................................................................18 1.4.2. Ma tr n SWOTậ
........................................................................................................19 1.4.3. Ma tr n CPMậ
...........................................................................................................20 lOMoAR cPSD| 44919514 LỜ Ở ẦI M Đ U
1. Tính c p thi t cấế ủ ềa đ tài
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh đóng một vai trò vô cùng quan trọng
và được coi là động lực cho sự phát triển của mỗi doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh
tế nói chung, nó làm cho ban quản trị doanh nghiệp phải tìm mọi cách để sản xuất, kinh
doanh có hiệu quả. Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triên của mọi thành phần
kinh tế, góp phần xóa bỏ những độc quyền, bất bình đắng trong kinh doanh, như ngành
xây dựng phát triển sẽ thúc đẩy ngành sản xuất gạch, xi măng phát triển theo. Kết quả
của quá trình cạnh tranh sẽ quyết định doanh nghiệp nào tiếp tục tồn tại và phát triển,
doanh nghiệp nào sẽ phải ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh lại. Do đó, vấn đề nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trở thành một vấn đề quan trọng mà bất cứ
doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm.
Trước đây, tùy từng thời kỳ kinh tế nhà nước sẽ có những chính sách bảo hộ riêng đối
với từng ngành. Nhưng khi kinh tế hội nhập, việc bảo hộ đó sẽ không còn nữa nên các
doanh nghiệp cạnh tranh một cách công bằng trong một thị trường chung.
Các doanh nghiệp phải có sự tương đồng với đối thủ cạnh tranh và từ đó tìm ra điểm
khác biệt của riêng mình. Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc
làm hết sức quan trọng tạo nên sự sống còn của mỗi doanh nghiệp. Để có được năng lực
cạnh tranh vững mạnh doanh nghiệp cần có chiến lược cạnh tranh đúng đắn thông qua
các chính sách giá hợp lý, sản phẩm đạt chất lượng, phân phối sản phẩm thuận tiện. Luôn
không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của mình và cố gắng tạo dựng uy tín,
hình ảnh, thương hiệu của công ty mình trong tâm trí khách hàng.
Nhận thấy vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh tại doanh nghiệp là một vấn đề hết sức
quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, trải qua quá trình học tập lý thuyết tại
trường, sự trải nghiệm thực tập tại Công ty cổ phần Hợp Lực em đã quyết định lựa chọn
đề tài: "Nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần Hợp Lực" làm đề tài tốt nghiệp
của mình nhằm đưa ra một bức tranh tổng thể về năng lực cạnh tranh cũng như đề xuất
một số giải pháp khả thi giúp ban lãnh đạo có được những quyết định đúng đắn trong
chiến lược kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
2. Tổng quan nghiên cứu
Hiện nay, đã có rất nhiều công trình, bài báo về nâng cao năng lực cạnh tranh
trong các tổ chức, doanh nghiệp như: -
Thạch Huê (2019), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
là vấn đề then chốt”, Bản tin Thông tấn xã Việt Nam đăng tải ngày 25/06/2019.
Chỉ ra nền kinh tế Việt Nam đang xếp cuối cùng trong nền kinh tế ASEAN, vì thế
việc nâng cao trình độ quản trị của các doanh nghiệp và nỗ lực cải thiện môi trường lOMoAR cPSD| 44919514
kinh doanh được xem là nhiệm vu hàng đầu đối với cả chính phủ và các nhà quản trị doanh nghiệp. -
Phạm Thị Phượng (2017), “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
của cácdoanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam trong thời kì cách mạng công
nghiệp 4.0”, Hội thảo quốc gia khoa học Quản trị và Kinh doanh. Đánh giá năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán
và đưa ra giải pháp giúp các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. -
Bạch Ngọc Hoàng Ánh (2018), “Ảnh hưởng của nhân tố năng lực
cạnh tranh đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, Luận án tiến sĩ
ngành Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh”. -
Kiều Thị Tuấn (2019), “Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Công Thương
ngày 02/7/2019. Bài viết đã chỉ ra thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
cho các doanh nghiệp như: nâng cao trình độ học vấn đối với nhà quản trị doanh
nghiệp, nâng cao trình độ tổ chức quản lý doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực,
chất lượng sản phẩm… -
Nguyễn Thu Hiền (2012), Nâng cao năng lực cạnh tranh của các
ngânhàng thương mại nhà nước Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,
Luận án tiến sĩ ngành Tài chính - ngân hàng, Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh. -
Nguyễn Văn Thụy (2015), Ảnh hưởng của nhân tố năng lực cạnh tranh
đến kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa
bàn TP. Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ ngành Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng về năng lực cạnh tranh của Công ty CP Hợp Lực, từ
đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty CP Hợp Lực.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty CP Hợp Lực những năm gần đây. lOMoAR cPSD| 44919514
- Định hướng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty những năm tới.
4. Đố ượi t ng và ph m vi nghiên cạ ứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tại Công ty CP Hợp Lực
- Về thời gian: tìm hiểu thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần
Hợp Lực trong giai đoạn 2021 – 2023, đề xuất giải pháp đến năm 2027.
- Về nội dung: Nghiên cứu năng lực cạnh tranh tại Công ty CP Hợp Lực.
5. Phương pháp nghiên cứ ều đ tài
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, trong chuyên đề có sử dụng
các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản sau:
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: có được từ nội bộ và bên ngoài.
+ Thông tin từ nội bộ: Các số liệu hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
và các tài liệu khác liên quan trong Công ty.
+ Thông tin từ bên ngoài: Các thông tin, báo cáo tổng kết về ngành xây dựng Việt Nam.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: tổng hợp những số liệu về thông tin công
ty cổ phần Hợp Lực như lịch sử hình thành và phát triển, kết quả kinh doanh, các
năng lực cạnh tranh trong các năm 2021 – 2023 đã thu thập được để phân tích số
liệu theo các phương pháp so sánh.
- Phương pháp thống kê: Dựa trên các số liệu thống kê về năng lực cạnh tranh
tại Công ty CP Hợp Lực nói riêng.
6. K t c u cế ấ ủa chuyên đề
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sơ lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty CP Hợp Lực
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty CP Hợp Lực lOMoAR cPSD| 44919514
CHƯƠNG 1. CƠ Ở S LÍ LUẬ ỀN V
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Nhữ ấ ề ơ ả ềng v n đ c b n v năng lự ạc c nh tranh của doanh nghi pệ
1.1.1. Khái ni m và vai trò v c nh tranhệ ề ạ
1.1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
Theo tác giả Hoàng Phê (2015), Từ điển tiếng Việt thì: “Cạnh tranh được phát
biểu là sự tranh đua nhau để giành lấy lợi ích về phía mình, giữa những người, những
tổ chức có cùng lĩnh vực hoạt động như nhau”.
Theo Michael Porter (2016), Chiến lược cạnh tranh: “Cạnh tranh theo cấp độ
doanh nghiệp còn được hiểu là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về
khách hàng, thị phần hay nguồn lực. Tuy nhiên, bản chất cạnh tranh ngày nay không
phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách
hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn
mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh”.
Theo từ điển thương mại Anh- Pháp - Việt thì vấn đề cạnh tranh lại được
nói đến một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn: “Cạnh tranh là tình trạng giành giật
nhau về khách hàng và thị trường”.
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, “cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động
tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh
doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu nhằm giành các điều
kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”.
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nói chung cạnh tranh có thể hiểu
là sự đấu tranh của hai hay nhiều bên cùng tham gia vào một hoạt động với cùng
một mục đích. Mục đích ấy có thể là quyền hành, là vị thế có lợi cho mình trên các
phương diện. Trong kinh tế thị trường đó là sự dành giật về thị phần, quyền kiểm
soát mua hoặc bán các loại sản phẩm. Là một phạm trù phức tạp cạnh tranh có liên
quan đến nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Trong nền
kinh tế thị trường, “cạnh tranh là một hiện tượng tất yếu xảy ra đặc biệt là kinh tế
thị trường tư bản chủ nghĩa.”
Theo Philip Kotler (2003), Quản trị Marketing: “Cạnh tranh có tác dụng rất
tích cực “thúc đẩy con người nỗ lực hơn, sáng tạo, tăng năng suất lao động, làm cho lOMoAR cPSD| 44919514
quá trình của cải của quốc gia tăng lên, cạnh tranh chủ yếu diễn ra thông qua thị
trường và giá cả, do đó cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với thị trường và tự do cạnh
tranh có thể tự điều tiết các quan hệ cung - cầu, sản lượng, phân công lao động, tạo
sự cân bằng cung cầu xã hội mà không cần sự can thiệp của Nhà nước”.
“Có thể thấy, cạnh tranh là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếu
cho sự phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia.
Cạnh tranh giúp khai thác một cách hiệu quả nguồn lực thiên nhiên và tạo ra
các phương tiện mới để thoả mãn nhu cầu cá nhân ở mức giá thấp hơn và chất lượng
cao hơn, từ đó nâng cao được đời sống vật chất và tinh thần của con người. Nhờ
cạnh tranh đã thúc đẩy đổi mới công nghệ và gia tăng năng suất, tạo ra những thành
tựu mới trên nhiều lĩnh vực.
1.1.1.2. Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có những vai trò quan trọng sau:
Thứ nhất, cạnh tranh là động lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội. Cạnh tranh
là sự chạy đua kinh tế, mà muốn thắng trong bất kì cuộc chạy đua nào cũng đòi hỏi
phải có sức mạnh và kĩ năng. Cạnh tranh luôn có mục tiêu lâu dài là thu hút về mình
ngày càng nhiều khách hàng nên nó buộc các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ phải tạo ra những sản phẩm có chất lượng ngày càng cao với giá thành ngày
càng hạ. Cạnh tranh luôn mang đến hệ quả là doanh nghiệp nào có tiềm lực, có chiến
lược kinh doanh đúng đắn, hiệu quả sẽ tiếp tục vươn lên tồn tại, doanh nghiệp nào
không đáp ứng được nhu cầu của thị trường sẽ bị loại khỏi cuộc chơi. Bởi vậy, cạnh
tranh là liều thuốc thần kì tạo động lực cho sự phát triển kinh tế-xã hội.
Thứ hai, cạnh tranh khuyến khích việc áp dụng khoa học, kĩ thuật mới, cải tiến
công nghệ nhằm kinh doanh có hiệu quả. Điều đó dẫn đến kết quả là sẽ có nhiều sản
phẩm tốt hơn sẵn có trên thị trường. Trong kinh doanh, doanh nghiệp nào có sản
phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường với giá phải chăng thì nhanh chóng chiếm
lĩnh thị trường và thu lợi nhuận cao. Điều này khiến các đối thủ cạnh tranh về sản
phẩm cùng loại phải quan tâm đến cải tiến về hình thức và chất lượng sản phẩm
bằng cách áp dụng công nghệ mới, tiến bộ khoa học kĩ thuật. Vì vậy, cạnh tranh
cũng là cơ hội bắt buộc các doanh nghiệp phải nghiên cứu tiếp cận với công nghệ
mới, tiến bộ khoa học kĩ thuật vì chỉ có khoa học, công nghệ mới có thể trợ giúp
hữu hiệu cho sản xuất, kinh doanh giảm giá thành sản phẩm, tăng tính năng và chất lOMoAR cPSD| 44919514
lượng sản phẩm. Như vậy, cạnh tranh còn là nguồn gốc, động lực để phát triển khoa
học kĩ thuật và công nghệ cao.
Thứ ba, cạnh tranh dẫn đến giá thấp hơn cho người tiêu dùng và làm thoả mãn
nhu cầu của người tiêu dùng. Thông qua quy luật cung càu, cạnh tranh có khả năng
nhanh nhạy trong việc phát hiện và đáp ứng mọi nhu cầu và thị hiếu của người tiêu
dùng. Sự lựa chọn và sức tiêu thụ hàng hoá của họ là thước đo chính xác cho yêu
cầu về chất lượng và độ phù hợp của một sản phẩm. Cạnh tranh gây tác động hên
tục đến giá cả sản phẩm trên thị trường, buộc các doanh nghiệp phải phản ứng tự
phát để chọn phương án kinh doanh sao cho chi phí nhỏ hiệu quả cao, chất lượng
tổt để phù hợp với mong muốn của người tiêu dùng. Bởi vậy, trong điều kiện có
cạnh tranh, người tiêu dùng là thượng đế, là trung tâm thị trường quyết định sự sống
còn của sản phẩm, buộc các nhà kinh doanh phải thoả mãn nhu cầu của họ. Người
tiêu dùng có quyền lựa chọn sản phẩm mà họ muốn mua.
Thứ tư, cạnh ưanh buộc các doanh nghiệp cũng như các quốc gia phải sử dụng
các nguồn lực đặc biệt là nguồn tài nguyên một cách tối ưu nhẩt.Khi tham gia thị
trường có tính cạnh tranh, các doanh nghiệp phải cân nhắc khi sử dụng các nguồn
lực vào kinh doanh. Họ phải tính toán để sử dụng các nguồn lực này sao cho hợp lí
và có hiệu quả nhất. Do đó, các nguồn lực đặc biệt là nguồn tài nguyên phải được
vận động, chu chuyển hợp lí để phát huy hết khả năng vốn có đưa lại năng suất, chất lượng cao.
Môi trường cạnh tranh là môi trường mà ở đó, các doanh nghiệp luôn phải vận
động, đổi mới, cải tiến không chỉ công nghệ mà cả chủng loại, kiểu dáng, phương
thức kinh doanh. Theo cách đó, cạnh tranh tạo ra sự đổi mới liên tục và động lực
phát triển liên tục. Vì những lẽ trên đây mà một nhà nước văn minh trong cơ chế thị
trường hiện đại phải là nhà nước có nhiệm vụ và chức năng phát hiện, thừa nhận
bảo vệ và khuyến khích những khả năng và thuộc tính tốt đẹp của cạnh tranh. Bên
cạnh đó, để khắc phục những khuyết tật của thị trường do cạnh tranh đem lại, mỗi
quốc gia đều phải có chính sách cạnh tranh và trên cơ sở đó, điều tiết hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.
1.1.2. Khái ni m v năng lệ ề ự ạc c nh tranh
Trong cạnh tranh sẽ có người có năng lực cạnh tranh mạnh, yếu hoặc trong các
sản phẩm sẽ có khả năng cạnh tranh mạnh, yếu khác nhau. Vì vậy, khả năng cạnh
tranh này gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh. lOMoAR cPSD| 44919514
Theo Michael Porter, “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy
trì, mở rộng thị phần và đạt được lợi nhuận cao của doanh nghiệp. Đây là quan niệm
khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa,
dịch vụ so với đối thủ và khả năng thu lợi của các doanh nghiệp”. (Nguồn: Michael
Porter (2016), Chiến lược cạnh tranh, Nxb Trẻ, Hà Nội).
Từ những khái niệm nêu trên, có thể hiểu năng lực cạnh tranh chính là khả
năng sử dụng các khả năng sử dụng các nguồn lực đã được kết hợp một cách có
mục đích để giành lấy lợi ích về phía mình
1.1.3. Các c p đ năng lấ ộ ự ạc c nh tranh
Về cơ bản, năng lực cạnh tranh được phân thành 4 cấp độ, bao gồm:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia: Có thể hiểu, năng lực cạnh tranh quốc gia là
toàn bộ các chính sách, thể chế và các nhân tố quyết định đến năng suất, sự phát
triển và tính bền vững của một nền kinh tế.
- Năng lực cạnh tranh ngành: cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh
giữa doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn.
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là tổng hợp năng lực nắm giữ và
nâng cao thị phần trong sản xuất hàng hóa, dịch vụ và đáp ứng được các yêu cầu
của thị trường. Nói cách khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính là khai
thác thực lực và lợi thế bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp để tối đa hóa lợi
ích của mình vừa thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng. Đồng thời cải tiến vị thế
của doanh nghiệp so với đối thủ.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: thể hiện năng lực của sản phẩm,
dịch vụ đó thay thế một sản phẩm, dịch vụ khác dựa trên các yếu tố như: giá cả, đặc
tính, chất lượng… Có thể nói, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là một yếu
tố xây dựng nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ở cấp độ doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh có thể được hiểu là việc doanh
nghiệp sử dụng các thế mạnh của các nguồn lực (vốn, nguồn nhân lực, sản phẩm…)
để tạo ra các lợi thế cạnh tranh, từ đó vượt qua các đối thủ cạnh tranh, giành lấy thị
phần và khách hàng về phía mình. Ngoài ra, năng lực cạnh tranh còn có thể đánh
giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. lOMoAR cPSD| 44919514
1.2. Năng lự ạc c nh tranh của doanh nghi pệ
1.2.1. Khái ni mệ
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nào là thực lực bên trong doanh nghiệp
đó. Năng lực cạnh tranh là những yếu tố nội hàm của doanh nghiệp và chúng không
chỉ được thể hiện qua các nguồn lực như nhân lực, tài lực, vật lực và tổ chức quản
trị trong một doanh nghiệp mà cần phải được đánh giá, so sánh với các đối thủ thủ
cạnh tranh trực tiếp trong cùng một ngành trên cùng một thị trường. Trên cơ sở các
so sánh, đánh giá đó, doanh nghiệp sẽ thấy được lợi thế cạnh tranh của mình là
những điểm mạnh hơn đối thủ hoặc đối thủ không có. Trong cạnh tranh nhất định
sẽ có “kẻ thắng, người thua”. Tuy nhiên, để chiến thắng trên thương trường, doanh
nghiệp không phải tìm mọi cách tiêu diệt, triệt tiêu đối thủ để chiếm lấy khách hàng
hay thị phần mà là phải nhận ra được và cố gắng phát huy những lợi thế cạnh tranh
của mình nhằm thỏa mãn tốt hơn, đem lại những quyền lợi và dịch vụ tốt hơn cho
khách hàng hiện có cũng như hấp dẫn được khách hàng của đối tác cạnh tranh.
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng ác liệt như hiện nay, không ai có thể
làm thỏa mãn hết tất cả nhu cầu của khách hàng bởi vì doanh nghiệp nào cũng có
những ưu điểm và nhược điểm. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
chính là sử dụng một cách hiệu quả nhất, hợp lý nhất các nguồn lực hữu hạn của
mình (nhân lực, vật lực, tài lực, cách quản trị, điều hành) trong điều kiện thị trường
thực tế để tự mình đứng vững, tồn tại và phát triển trong tương lai.
1.2.2. Nội hàm
Như đã trình bày ở phần khái niệm, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
được cấu thành từ các yếu tố bên trong của doanh nghiệp bao gồm: năng lực về thị
trường, năng lực tài chính, năng lực sản xuất
Năng lực về thị trường
Năng lực về thị trường chính là khối lượng dịch vụ (bán hàng) có thể trong
một khoảng thời gian cố định ở mức giá ổn định. Hoặc nhu cầu hiệu quả cho họ.
Theo quy luật, một thước đo thời gian trong tính toán là một năm dương lịch. Các
chỉ số chính của khía cạnh này được thể hiện bằng tiền tương đương (đô la, euro,
rúp, nhân dân tệ và như vậy). Trong các trường hợp khác, năng lực thị trường có thể
được thể hiện trực tiếp theo mặt hàng. Nhưng khi tính các chiến lược và triển vọng
hoặc phân tích tình hình hiện tại, các cấu trúc tài chính không quan tâm đến số
lượng đơn vị sản phẩm có thể bán cho người tiêu dùng và doanh thu sẽ là bao nhiêu. lOMoAR cPSD| 44919514
Khả năng thị trường là một chỉ số cần thiết nếu công ty dự định tăng sự hiện
diện của mình trong ngành hoặc phát triển các khu vực bán hàng mới cho hàng hoá.
Yếu tố này có hai cấp độ: thực tế và khả năng dự đoán được. Mục đích là phản ánh
mong muốn của người mua một loại sản phẩm nhất định để có được một sản phẩm
mới hoặc để có một dịch vụ mới. Khả năng thị trường hiện tại là không có nghĩa là
luôn luôn giống với tiềm năng một. Tính toán cũng có tính đến khu vực và các khu
vực địa lý. Để làm điều này, một phân tích các chỉ thị thứ cấp trên thị trường bán
hàng (đánh giá, dữ liệu thống kê, phân tích đánh giá trên báo chí). Tính toán bao
gồm các thông số về chi phí và hành vi của người tiêu dùng các sản phẩm cụ thể
(khối lượng mua một lần, chi phí tài chính cho hàng hoá, định nghĩa trong việc lựa
chọn loại sản phẩm, động cơ và nhiều hơn nữa).
Năng lực tài chính
Khả năng tài chính là yếu tố quyết định đến mọi hoạt động va hình ảnh doanh
nghiệp đối với bên ngoài. Tất cả hoạt động phát triển quy mô sản xuất kinh doanh,
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm trang thiết bị, đào tạo, nghiên cứu – phát
triển…đều phụ thuộc vào năng lực tài chính của doanh nghiệp. Bộ phận tài chính
có trách nhiệm chính trong việc đảm bảo các nguồn tài chính để doanh nghiệp sử
dụng kịp thời và hiệu quả.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện qua nguồn tài trợ từ các tổ
chức tín dụng, qua quy mô vốn tự có, khả năng huy động, sử dụng và quản lý vốn
có hiệu quả trong doanh nghiệp ...v.v. Trước hết, năng lực tài chính gắn với tiền vốn,
là một yếu tố đầu vào rất quan trọng của doanh nghiệp. Do đó, nếu sử dụng tiền vốn
có hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí tiền vay rất lớn, từ đó làm giảm chi
phí chung, giảm giá thành sản phẩm tăng sức cạnh tranh.
Như vậy, năng lực tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp. Vì
vậy, để nâng cao năng lực tài chính, doanh nghiệp phải quay tiền vốn thật nhanh, sử
dụng đúng mục đích, đúng quy định, kiểm soát chặt chẽ, tránh thất thoát, tích lũy và
tăng vốn tự có, giữ mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức tín dụng để huy động tiền
kịp thời cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Năng lực sản xuất
Khả năng tạo ra sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, giá thành rẻ và quy mô
sản xuất đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Chỉ có như vậy mới tạo ra sức cạnh
tranh lớn cho doanh nghiệp. lOMoAR cPSD| 44919514
Yếu tố công nghệ ngày càng có ảnh hưởng lớn tới năng lực sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Công nghệ trên thế giới hiện đang trải qua quá trình phát
triển nhanh chóng. Việc lựa chọn công nghệ nào cho doanh nghiệp có ý nghĩa quyết
định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Công nghệ được lựa chọn phải phù
hợp với điều kiện, môi trường kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp và trong tương
lai nó phải được phát huy hiệu quả nhằm giúp cho doanh nghiệp có ưu thế hơn đối thủ.
1.2.3. Tiêu chí đánh giá năng lự ạc c nh tranh của doanh nghi pệ
1.2.3.1. Năng lực cạnh tranh tài chính của doanh nghiệp
-Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROA)
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận sau thuế = trên vốn kinh doanh
VKD hay tài sản bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết, bình quân 1 đồng vốn kinh doanh bỏ ra trong kỳ, doanh
nghiệp thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn, chứng
tỏ hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý càng cao.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm. Hệ số này đo lường mức lợi
nhuận sau thuế thu được trên mỗi đồng vốn của chủ sở hữu trong kỳ và được xác định như sau:
Tỷ suất lợi nhuận vốn =
Lợi nhuận sau thuế chủ sở hữu (ROE)
Vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết bình quân mỗi đồng vốn chủ sở hữu sử dụng trong kỳ thì
tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp tất cả các khía cạnh về trình độ quản trị tài
chính, năng lực hoạch định và thực thi các chính sách tài chính, chiến lược kinh doanh
của doanh nghiệp trong mỗi thời kỳ.
Nếu ROE càng lớn thì doanh nghiệp càng có khả năng huy động thêm vốn ở
thị trường tài chính để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình và ngược lại. Tuy
nhiên không phải lúc nào ROE cao là thuận lợi, bởi vì có thể do tỷ trọng vốn chủ sở lOMoAR cPSD| 44919514
hữu trong tổng quy mô vốn của doanh nghiệp là nhỏ do doanh nghiệp đang tận dụng
ưu thế của đòn bẩy tài chính. Khi đó rủi ro tài chính của doanh nghiệp là rất cao.
1.2.3.2. Năng lực năng suất lao động
Năng suất lao động là số lượng sản phẩm đươc người lao động sản xuất ra
trong một đơn vị thời gian.
Khái niệm năng suất lao động phản ánh tính lợi nhuận, tính hiệu quả và giá
trị chất lượng và là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội được lượng
hóa bằng mức tăng giá trị gia tăng của tất cả nguồn lực.
Có hai loại năng suất lao động đó là năng suất lao động cá biệt và năng suất
lao động xã hội. Trên thị trường hàng hóa được trao đổi không phải theo giá trị cá
biệt mà là giá trị xã hội. Chính vì vậy, năng suất lao động có ảnh hưởng đến giá trị
xã hội của hàng hóa là năng suất lao động xã hội.
1.2.3.3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Chuỗi giá trị là quá trình tạo ra giá trị lợi ích phản ánh thông qua sản phẩm
dịch vụ của doanh nghiệp để cung ứng cho khách hàng. Các yếu tố hình thành chuỗi
giá trị bao gồm: Các yếu tố phụ trợ như tài chính, công nghệ, nhân sự và thể chế
hành chính và các yếu tố cơ bản cụ thể như:
Hậu cần đầu vào có hoạt động kho bãi, các hoạt động liên quan tới mua các
nguyên phụ liệu. Nếu việc hoạt động này diễn ra nhanh chóng sẽ giúp giảm chi phí,
nhanh chóng đủ các yếu tố đầu vào giúp doanh nghiệp nhanh chóng đưa vào sản
xuất và biến đổi thành các sản phẩm có giá trị.
Sản xuất: là quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra, giúp các doanh nghiệp tạo ra giá trị.
Hậu cần đầu ra: Bao gồm các hoạt động như kho bãi, vận chuyển hàng hoá tới nơi cần thiết.
Marketing và bán hàng là yếu tố quan trọng, bởi tại hoạt động này công ty sẽ
thể hiện bộ mặt, diện mạo của bản thân trước các khách hàng. Nếu Marketing và
bán hàng hiệu quả sẽ giúp công ty đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ. Điều nàu mang lại
giá trị cho công ty một cách bền vững.
Dịch vụ: Đây là một yếu tố không phải công ty nào cũng chú ý. Nhưng nêu
để thành công thì việc cung ứng các dịch vụ đi kèm cho khách hàng là một phần lOMoAR cPSD| 44919514
không thể thiếu được. Dịch vụ góp phần tạo ra giá trị cho sản phẩm của công ty
chuyển hoá thành các giá trị, lợi ích cho khách hàng.
Doanh nghiệp muốn khai thác triệt để cần phải nắm vững từng hoạt động và
sử dụng các phương thức thích hợp để tạo ra năng lực cạnh tranh cho mình, hoặc tối
ưu hoá từng chức năng; hoặc kết hợp tối ưu hoá sự phân phối giữa các chức năng;
hoặc kết hợp tối ưu hoá sự phối hợp giữa bên trong với bên ngoài.
Doanh nghiệp có các sản phẩm đa dạng, khác biệt hóa thì sẽ có năng lực cạnh
tranh lớn hơn so với các doanh nghiệp có sản phẩm chất lượng kém hơn, lại không
thay đổi và cũng ít mẫu mã hơn.
1.2.3.4. Năng lực cạnh tranh về thị trường
Thị phần hay tỷ trọng trong thị trường (market share) là tỷ trọng của một
doanh nghiệp cá biệt trong tổng mức tiêu thụ hay sản lượng của một thị trường. Số
liệu về tỷ trọng thị trường được dùng để tính mức độ tập trung hóa người bán trong một thị trường.
Thị phần của DN A = Doanh thu công ty A/ Doanh thu toàn ngành *100%
Các nhà đầu tư và các nhà phân tích theo dõi sự tăng và giảm thị phần một
cách rất cẩn thận, bởi vì đây có thể là một dấu hiệu của khả năng cạnh tranh tương
đối của các sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty. Khi tổng thị trường cho một sản
phẩm hoặc dịch vụ tăng lên, một công ty duy trì được thị phần của mình sẽ tăng
doanh thu ở mức độ và tốc độ tương tự như tổng thị trường. Một công ty uy tín đang
phát triển thị phần sẽ tăng doanh thu nhanh hơn các đối thủ cạnh tranh.
Thị phần tăng có thể cho phép một công ty đạt được quy mô hoạt động lớn
hơn và cải thiện khả năng sinh lời. Một công ty có thể cố gắng mở rộng thị phần của
mình bằng cách giảm giá, sử dụng quảng cáo hoặc giới thiệu sản phẩm mới hay
khác biệt. Ngoài ra, nó cũng có thể tăng kích thước thị phần của nó bằng cách hấp
dẫn những đối tượng hoặc nhân khẩu học khác. lOMoAR cPSD| 44919514
Với tầm quan trọng ấy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh về thị phần đều
được các doanh nghiệp quan tâm và ưu tiên hàng đầu. Muốn tăng thị phần, ngoài
việc hoàn thiện chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp cũng cần phải chú trọng
các dịch vụ quảng cáo, khuếch trương, dịch vụ sau bán hàng…
1.3. Các nhân tố tác động đ n năng lế
ự ạc c nh tranh của doanh nghiệp
1.3.1. Các nhân tố vĩ mô
1.3.1.1. Nhân tố kinh tế
Các chính sách phát triển kinh tế, chính sách thương mại, chính sách cạnh
tranh, chính sách đầu tư... Nhằm khuyến khích hay hạn chế, ưu tiên hay kìm hãm sự
phát triển của từng ngành cụ thể, do đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thuộc ngành đó.
Thêm vào đó, tình hình phát triển kinh tế của quốc gia có tác động lớn đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế phát triển ổn định,
nền tài chính quốc gia ổn định, lạm phát ở mức kiểm soát được, quá trình tích tụ và
tập trung tư bản nhanh giúp tăng nguồn vốn đầu tư phát triển. Đồng thời sự phát
triển kinh tế kéo theo mức sống của người dân tăng, cầu tăng lên. Đây là một yếu tố
thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp. Ngược lại một nền kinh tế đang trong thời
kỳ suy thoái, nền tài chính quốc gia không ổn định, đồng tiền mất giá, tỷ lệ lạm phát
cao, sức mua giảm xuống. Trong điều kiện như vậy doanh nghiệp sẽ phải đối mặt
với nhiều khó khăn thách thức để đứng vững được trên thị trường.
1.3.1.2. Nhân tố môi trường chính trị, pháp lý
Hệ thống chính sách pháp luật trong nước và nước ngoài cũng như các quy
định do các tổ chức quốc tế ban hành đều có tác động đến các doanh nghiệp Việt
Nam khi tham gia vào hội nhập và cạnh tranh toàn cầu. Hệ thống pháp luật và chính
sách là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị
trường. Nó tạo khuân khổ hoạt động cho doanh nghiệp, đảm bảo môi trường cạnh
tranh lành mạnh và bình đẳng. Vì vậy tính ổn định và chặt chẽ của nó có tác động
rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Môi trường pháp lý lành mạnh
một mặt tạo thuận lợi cho mọi doanh nghiệp kinh doanh, mặt khác doanh nghiệp
dựa vào đó mà điều chỉnh hoạt động của mình để hài hòa lợi ích của các doanh
nghiệp khác trong xã hội và trên thương trường quốc tế, đảm bảo cạnh tranh bình
đẳng giữa các doanh nghiệp của nước mình với nhau và giữa doanh nghiệp của mình
với các doanh nghiệp nước khác. Môi trường pháp lý sẽ tạo ra những thuận lợi cho lOMoAR cPSD| 44919514
một số doanh nghiệp này nhưng có thể tạo ra những bất lợi cho một số doanh nghiệp
khác. Việc nắm bắt kịp thời những thay đổi của các chính sách để có những điều
chỉnh nhằm thích nghi với điều kiện mới là một yếu tố để doanh nghiệp thành công.
1.3.1.3. Các xu hướng phát triển trên thế giới có ảnh hưởng đến lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp
Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa có tác động đến tất cả các lĩnh vực của
các nước trên thế giới. Nó vừa thúc đẩy sự phát triển nhưng cũng đem lại nhiều
thách thức và sức ép cạnh tranh cho các doanh nghiệp.
Xu hướng tự do hóa thương mại sẽ thúc đẩy cạnh tranh trong kinh doanh
ngày càng mạnh mẽ hơn. Xu hướng này làm cho thị trường có nhiều biến động dẫn
đến nhiều sự thay đổi trong tổ chức quản lý, cơ cấu đầu tư...
Xu hướng phát triển khoa học công nghệ trên thế giới cũng như trong khuân
khổ quốc gia đều ảnh hưởng mạnh tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hoạt
động trong những ngành có tốc độ phát triển về công nghệ cao thì công nghệ chính
là nguồn lực tạo ra sức mạnh cạnh tranh, là vũ khí cạnh tranh của doanh nghiệp. Do
đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải có khả năng nắm bắt và đón đầu được sự phát triển
khoa học công nghệ, phải đầu tư đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất, hiệu quả
hoạt động nhằm tăng khả năng cạnh tranh.
1.3.1.4. Nhân tố văn hóa - xã hội
Các quan niệm về chất lượng cuộc sống, các trào lưu xã hội, sự ảnh hưởng
của các nền văn hóa cũng tác động đến hành vi tiêu dùng qua đó tác động đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
1.3.2. Các nhân tố môi trường ngành
1.3.2.1. Đối thủ cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là yếu tố tác động trực tiếp nhất đến khả năng
duy trì vị thế của doanh nghiệp. Đó là lực lượng đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Mỗi quyết định hành động của đối thủ đều có những
tác động nhất định đến hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp luôn phải dự đoán hành động của đối thủ để chủ động có những
chiến lược, sách lược đối phó nhằm củng cố và nâng cao vị thế của mình trên thị trường. lOMoAR cPSD| 44919514
Thêm vào đó các đối thủ cạnh tranh tiềm năng cũng là một trong các yếu tố
doanh nghiệp phải lưu tâm để có các biện pháp đối phó kịp thời nhằm giữ vững địa vị của mình.
1.3.2.2. Sản phẩm thay thế
Với trình độ kỹ thuật cao, từ đó tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm có thể thay
thế cho nhau. Hiện tượng này, đó đang và sẽ gây trở ngại cho việc tiêu thụ các sản
phẩm của các doanh nghiệp, làm cho môi trường cạnh tranh trở nên gay gắt hơn.
Đây là đối thủ bất ngờ và rất khó đối phó mà doanh nghiệp phải lường trước. Để giữ
vững vị thế của mình không còn cách nào khác là doanh nghiệp phải cải tiến, đổi
mới công nghệ để tạo được sản phẩm có tính khác biệt cao về chất lượng, kiểu dáng, giá cả...
1.3.3. Các nhân tố ộ ộ ni b doanh nghi pệ
1.3.3.1. Nguồn nhân lực
Nhân lực là nguồn lực rất quan trọng, từ xưa đến nay con người luôn là yếu
tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trình độ của nguồn nhân
lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có giá trị và giá trị sử dụng cao. Sản phẩm có hàm
lượng kỹ thuật cao sẽ có lợi thế bán được số lượng nhiều hơn, với giá cả cao hơn,
từ đó lợi nhuận của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên, uy tín và danh tiếng của doanh
nghiệp ngày càng lớn. Nhờ uy tín và danh tiếng đó mà doanh nghiệp có điều kiện
phát triển thị trường, nâng cao vị thế của mình trên thị trường hơn.
1.3.3.2. Tổ chức quản lý doanh nghiệp
Trình độ tổ chức quản lý là yếu tố quan trọng hàng đầu. Có tổ chức tốt
doanh nghiệp thì mới làm tốt mọi việc. Nếu các yếu tố khác tốt mà tổ chức quản lý
không tốt thì hoạt động của doanh nghiệp chắc chắn không đạt hiệu quả. Trình độ
tổ chức quản lý của doanh nghiệp thể hiện ở phương pháp quản lý và tính hiệu quả
của phương pháp đó, hệ thống tổ chức, văn hóa doanh nghiệp...Nếu một doanh
nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp lý, phân công trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng thì
mọi hoạt động sẽ trôi chảy, hiệu quả cao. Ngược lại, một cơ cấu tổ chức chồng chéo,
quyền lực không được phân chia thì hiệu quả hoạt động sẽ kém.
Trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp thì Ban lãnh đạo, phẩm chất và tài
năng của họ có vai trò quan trọng bậc nhất, quyết định đến sự thành bại của doanh
nghiệp. Bất cứ doanh nghiệp nào, với quy mô nào, kết quả và hiệu quả hoạt động
đều phụ thuộc vào đức và tài của đội ngũ lãnh đạo cũng như cơ cấu tổ chức của bộ lOMoAR cPSD| 44919514
máy quản lý, vào việc xác định chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, cá nhân và
việc thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận đó.
Cơ cấu tổ chức không phải là bộ khung cứng nhắc, nó cũng phải thay đổi tùy
thuộc vào môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp ứng với từng thời kỳ
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Một phương pháp quản lý hiện đại, hệ thống tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt dễ
thích ứng khi môi trường kinh doanh thay đổi cộng với văn hóa doanh nghiệp tốt sẽ
giúp củng cố vững chắc vị thế của doanh nghiệp trên thương trường.
1.3.3.3. Chính sách, chiến lược của doanh nghiệp
Chính sách và chiến lược của doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng, làm cho
hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Chiến lược kinh doanh ảnh hưởng
đến việc tạo dựng và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Một mặt
chiến lược được xây dựng dựa trên các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, phát
huy yếu tố sở trường của doanh nghiệp nhằm cạnh tranh với đối thủ. Mặt khác,
thông qua chiến lược doanh nghiệp có thể tạo dựng, duy trì và phát triển các lợi thế
cạnh tranh mới, và do đó khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao.
Chính sách và chiến lược vạch phương hướng và mục tiêu hoạt động cho doanh
nghiệp, giúp doanh nghiệp hạn chế được rủi ro, vượt qua khó khăn thử thách để đi
tới thành công. Chính sách và chiến lược gồm nhiều loại: chính sách nhân sự, chính
sách sản phẩm mới, chính sách thị trường, chính sách khách hàng...Vạch ra được
chính sách và chiến lược đúng là điều cơ bản để doanh nghiệp đạt thắng lợi trong cạnh tranh.
Nói tóm lại, trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có cạnh tranh. Đặc biệt là
ngày nay trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập kinh tế thế giới của nước ta thì
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế lại diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Để tồn tại và
phát triển bền vững doanh nghiệp phải có năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp được quyết định bởi nhiều yếu tố. Mỗi yếu tố có thể trở thành lợi
thế cạnh tranh nếu doanh nghiệp biết cách đầu tư, xây dựng và phát triển nó trong
bối cảnh cụ thể của thị trường và cạnh tranh. Hơn nữa, muốn có được năng lực cạnh
tranh mạnh, doanh nghiệp phải qua một quá trình xây dựng bộ máy tổ chức, lãnh
đạo, xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh, tạo dựng được môi trường bên
trong và bên ngoài tốt để làm cơ sở vững chắc cho hoạt động của mình. Doanh
nghiệp là một tế bào kinh tế – xã hội, nó tồn tại và hoạt động trong môi trường có lOMoAR cPSD| 44919514
hàng loạt các yếu tố tác động, ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của nó. Doanh
nghiệp cần thấy rõ ảnh hưởng của các yếu tố này để có biện pháp tích cực nhằm hạn
chế hoặc loại trừ các ảnh hưởng tiêu cực, phát huy các ảnh hưởng tích cực để tạo
dựng năng lực cạnh tranh của mình ngày một cao hơn.
1.4. Các công cụ đánh giá năng lự ạc c nh tranh của doanh nghi pệ
1.4.1. Ma tr n IFEậ
Ma trận IFE hay ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ trong tiếng Anh là Internal Factor Evaluation Matrix.
Yếu tố nội bộ được xem là rất quan trọng trong mỗi chiến lược kinh doanh
và các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra, sau khi xem xét tới các yếu tố nội bộ,
nhà quản trị chiến lược cần lập ma trận các yếu tố này nhằm xem xét khả năng năng
phản ứng và nhìn nhận những điểm mạnh, yếu. Từ đó giúp doanh nghiệp tận dụng
tối đã điểm mạnh để khai thác và chuẩn bị nội lực đối đầu với những điểm yếu và
tìm ra những phương thức cải tiến điểm yếu này.
Ma trận IFE được sử dụng để tóm tắt và đánh giá những mặt mạnh và mặt
yếu quan trọng của các bộ phận kinh doanh chức năng và nó cũng cung cấp cơ sở
để xác định và đánh giá mối quan hệ giữa các bộ phận này.
Cách xây dựng ma trận
Theo Fred R. David, để xây dựng ma trận IFE chúng ta phải trải qua năm bước sau đây:
Bước 1: Liệt kê các yếu tố thành công then chốt như đã xác định trong qui
trình phân tích nội bộ. Sử dụng tất cả (thường từ 10 đến 20) yếu tố bên trong, bao
gồm cả những điểm mạnh và điểm yếu.
Bước 2: Ấn định tầm quan trọng bằng cách phân loại từ 0,0 (không quan
trọng) tới 1,0 (quan trọng nhất) cho mỗi yếu tố. Tầm quan trọng được ấn định cho
mỗi yếu tố nhất định cho thấy tầm quan trọng tương đối của yếu tố đó đối với sự
thành công của công ty trong ngành. Tổng cộng tất cả các mức độ quan trọng này phải bằng 1,0.
Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố đại diện cho điểm yếu lớn nhất
(phân loại bằng 1), điểm yếu nhỏ nhất (phân loại bằng 2), điểm mạnh nhỏ nhất (phân
loại bằng 3), điểm mạnh lớn nhất (phân loại bằng 4). Như vậy, sự phân loại này dựa
trên cơ sở công ty trong khi mức độ quan trọng ở bước 2 dựa trên cơ sở ngành.