1
NỀN TẢNG ĐỂ XÂY DỰNG HOẶC SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
Ngô Huy Cương
Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội
Muốn xây dựng hay sửa đổi Hiến pháp trước hết phải xác định được nền tảng của
vấn đề lập hiến. Không thể phủ nhận được rằng việc thừa nhận bảo vệ quyền con
người, tổ chức quyền lực nhà nước là những nội dung không thể thiếu của Hiến pháp.
Tuy nhiên việc xem xét tới chính bản thân Hiến pháp ý nghĩa nền tảng không thể bỏ
qua.
Hiến pháp sở quan trọng nhất để tạo lập nên một cộng đồng chính trị,
trong suốt quá trình tồn tại, luôn luôn được xem nơi chứa đựng các nguyên tắc
qui tắc cao nhất trong sinh hoạt chính trị- pháp của một quốc gia. thế, để một
Hiến pháp đúng với nghĩa của nó, người soạn thảo dự án xây dựng hay sửa đổi Hiến pháp
không thkhông câu trả lời các vấn đề sau bất kể thành viên nào của bất kcộng
đồng chính trị nào đều suy nghĩ về chúng:
(1) Cái gì khiến chúng ta liên kết lại cùng nhau trong một cộng đồng chính trị?
(2) Mô hình lập hiến của chúng ta là gì?
(3) Những mục tiêu nào chúng ta theo đuổi để xác lập tổ chức quyền lực nhà nước
phù hợp?
(4) Các nguyên tắc tổ chức quyền lực là gì?
(5) Quyền lực đó được thi hành như thế nào?
Các câu hỏi nêu trên là những vấn đề bản nhất lần lượt chúng ta phải tìm ra
câu trả lời trước khi bắt tay vào y dựng hay sửa đổi một Hiến pháp cụ thể. Trong một
chừng mực thể, Bài viết này cố gắng luận giải một vài ý tưởng khía cạnh vắn tắt
liên quan tới các vấn đề này.
I. Cái gì khiến chúng ta liên kết lại cùng nhau trong một cộng đồng chính trị?
Bản văn Hiến pháp luôn được xem một văn kiện phản ánh sự thống nhất ý chí
của toàn dân tạo lập nên một cộng đồng chính trị nhất định và ban tính hợp pháp hay tính
chính đáng cho quyền lực của chính quyền. Hiến pháp thể được xem khế ước của
toàn dân, bởi lẽ khế ước hay hợp đồng xét cho cùng sự thống nhất ý chí (hay sự thỏa
thuận) làm phát sinh ra một hậu quả pháp lý nhất định (mà hậu quả pháp đây thể
hiểu là việc làm phát sinh, thay đổi, hay chấm dứt một quyền lợi, quyền lợi đó cộng
đồng chính trị- một quyền lợi chung của các thành viên cộng đồng). Lưu ý rằng: Hiến
pháp chỉ làm phát sinh hay thay đổi quyền lợi chung (cộng đồng chính trị). Sự đánh giá
này không nghĩa tầm thường hóa Hiến pháp như các loại hợp đồng khác nhằm
phản ánh sự đồng lòng chung sống của toàn dân trong một cộng đồng chính trị xác định.
vậy giống với hầu hết các bản Hiến pháp của các nước trên thế giới, Hiến pháp 1992
của Việt Nam tuyên bố tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân(Điều 2), nhắc
tới “ý nguyện” của nhân dân tại Lời nói đầu. Tuy nhiên cách thức thể hiện những tuyên
bố này cần phải xem xét lại một cách tinh tế hơn trong dịp sửa đổi Hiến pháp lần này.
Phải thừa nhận: người ta không bao giờ tham dự vào một khế ước mà không suy
xét tới lợi ích của mình. Nhưng cũng phải thừa nhận: với những loại khế ước có tính cách
2
cộng đồng
1
như vậy, mọi vấn đề dường như được quyết định bởi đa số đó dân chủ
theo nghĩa truyền thống; do đó thể có số ít thành viên không thỏa mãn. Sự không thỏa
mãn này thể kéo theo sự bất ổn của cộng đồng. Từ các thực tế không thể chối bỏ này
những người xây dựng dự án hiến pháp phải tìm phương cách giải quyết. lẽ hai
phương cách- Đó là: (1) Tìm kiếm bằng được thể hiện ràng các giá trị mục tiêu
chung các thành viên cộng đồng cùng nhau tôn thờ; (2) thiết kế các giải pháp cho
thiểu số không thỏa mãn an tâm với hội phát triển hoặc rút lui trật tự. Hai phương
thức này đã được sử dụng kết hợp một cách nhuần nhuyễn trong Hiến pháp 1946 của Việt
Nam. phạm vi nhỏ hơn, nhà làm luật Việt Nam cũng đã nghĩ tới giải pháp thứ hai nêu
trên thể hiện trong Luật Doanh nghiệp 2005 để bảo vệ cổ đông thiểu số hay người
ít vốn trong công ty, bởi các quyết sách lớn trong các công ty đối vốn đều do cộng đồng
chủ sở hữu của nó đưa ra thông qua nghị quyết mà nghị quyết đó có bản chất là hợp đồng
cộng đồng.
Cái khiến mọi thành viên trong một cộng đồng chính trị gắn kết lại với nhau lẽ
không phải một học thuyết, những giá trị căn bản những mục tiêu nhất định
họ tôn thờ. Hiến pháp 1946 (Hiến pháp Hồ Chí Minh) thắng thế bởi những lẽ đó. Lời nói
đầu của Hiến pháp y nêu rất những khát khao chung của toàn dân tộc bảo toàn
lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”, sau đó
chỉ các nguyên tắc hay các mục tiêu chính trong việc xây dựng cộng đồng: (1) Đoàn
kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo”; (2) Đảm bảo các
quyền tự do dân chủ”; (3) Thực hiện chính quyền mạnh mẽ sáng suốt của nhân
dân”. Tâm lý phấn khởi tràn đầy hạnh phúc của nhân dân sự ra đời của Hiến pháp
1946 được thể hiện rất tự nhiên qua câu thơ của chí sỹ lão thành Huỳnh Thúc Kháng:
“Sướng ôi là sướng,
Thoát thân nô mà làm chủ thân ông”
2
.
Niềm hứng khởi tột độ này hầu hết người dân Việt thời bấy giờ. Tuy nhiên
không thể phủ nhận được rằng số ít không thỏa mãn. Vừa nguyên tắc chung, bởi
vậy vừa một giải pháp níu kéo thiểu số đó hoặc để cho họ rút lui một cách trật tự
trong sự tôn trọng các quyền con người, Hiến pháp 1946 khẳng định: Tất cả công dân
Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền công cuộc
kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình” (Điều thứ 7); và “Công dân Việt Nam
quyền: Tự do trú, đi lại trong nước ra nước ngoài” (Điều thứ 10). Các giải pháp
như vậy không khó tìm thấy các nước khi mới giành được thắng lợi qua cuộc cách
mạng xã hội hoặc mới giành được chính quyền từ tay thực dân. Tuy nhiên có thể tìm thấy
những giải pháp rất khác lạ (như thủ tiêu, giết chóc, giam cầm… những nhân không
thỏa mãn) một số cộng đồng chính trị như nước Đức phát xít, Campuchia dưới thời
Khơ me đỏ…
Như vậy thể nói, bên cạnh các giá trị căn bản các mục tiêu chung giúp các
thành viên trong một cộng đồng chính trị nhất định liên kết lại với nhau còn phải các
giải pháp thu hút thiểu skhông thỏa mãn chung sống để y dựng đất nước hoặc để cho
họ rút lui có trật tự.
1
Trong phân loại hợp đồng, có một cách phân loại hợp đồng thành hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng
đồng
2
Đại học Quốc gia Hà Nội- Khoa Luật, Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị
Quốc gia, 2009, tr. 533- 534
3
GS. TSKH Đào Trí Úc cho rằng: Hiến pháp một bản khế ước xã hội của nhân
dân, và Hiến pháp 1992 phản ánh những giá trị cao quý của dân tộc như truyền thống lao
động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước giữ nước, truyền thống đoàn
kết, nhân nghĩa, kiên cường bất khuất (Lời nói đầu, Hiến pháp 1992), dân giàu, nước
mạnh, hội công bằng, dân chủ, văn minh”, “ấm no, tự do, hạnh phúc”, con người “có
điều kiện phát triển toàn diện” (Điều 3, Hiến pháp 1992)
3
.
Tuy nhiên Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung 2001) không thể hiện rõ đó
một bản khế ước của toàn dân, bởi tại Lời nói đầu của Hiến pháp này có đoạn viết:
“Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - nin tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện
Cương lĩnh y dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân Việt
Nam nguyện phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng, nêu cao tinh thần tự
lực, tự cường xây dựng đất nước, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình,
hữu nghị, hợp c với tất cả các nước, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp, giành những
thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Đoạn văn này cho thấy nhân dân Việt Nam… nguyện thi hành Hiến pháp”, chứ
Hiến pháp không thực sự do nhân dân làm ra. Giải thích như vậy là phù hợp logic bởi
Điều 83 của Hiến pháp này tuyên bố: “Quốc hội quan đại biểu cao nhất của nhân
dân”, “Quốc hội cơ quan duy nhất quyền lập hiến lập pháp”. hai vấn đề
phát sinh từ ý tưởng của Lời nói đầu các tuyên bố này: Thứ nhất, không bản văn
nào thể hiện sự y quyền của nhân dân cho Quốc hội đại diện cho mình, Quốc hội tự
tuyên bố mình là đại diện của nhân dân; thứ hai, việc bầu cử Đại biểu Quốc hội không
thể được xem hành vi ủy quyền bởi chính sự bầu cử đó cũng do Quốc hội qui định
trong Hiến pháp hay trong một đạo luật khác do mình tự làm ra. vậy đây là các vấn đề
cần nghiên cứu sửa đổi đầu tiên để xây dựng nền tảng của lập hiến bảo đảm tính hợp
pháp hay tính chính đáng của chính quyền đúng với tưởng quan trọng của Đảng Cộng
sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
4
. Dự kiến
sửa đổi Hiến pháp 1992 nên theo hướng trả lại quyền lập hiến cho nhân dân buộc Nhà
nước phải thi hành Hiến pháp bởi chính sự thi hành Hiến pháp của nhân dân thành tố
quan trọng của Nhà nước pháp quyền bảo đảm cho Nhà nước luôn luôn Nhà nước
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Mặc không thể phủ nhận được rằng truyền thống yêu nước, thương nòi được
đề cập đến trong Hiến pháp 1992 một trong những giá trị thể khiến người dân Việt
Nam hợp nhau lại đxây dựng bảo vệ đất nước, nhưng cũng cần thấy rằng ngoài ra
Hiến pháp 1992 (ngay cả Lời nói đầu) chưa tính đến nền tảng lợi ích sâu xa nhất của mối
liên kết cộng đồng. Hiện nay rất nhiều người Việt Nam định cư, làm ăn sinh sống
nước ngoài. Không thể nói họ không yêu nước, thương nòi, nhưng về nước để hòa nhập
vào cộng đồng chính trị thì lvẫn một câu hỏi lớn. vậy xây dựng một xã hội hài
hòa không quá nhấn mạnh tới việc phân chia giai cấp các nhóm lợi ích thể
một gợi ý đáng suy nghĩ trong dịp sửa đổi, bổ sung Hiến pháp lần y. Hiến pháp 2002
của Thụy S (ngoài câu chuyện tín ngưỡng) thể một kinh nghiệm tốt cho việc xử lý
các vấn đề nêu trên. Lời nói đầu của bản Hiến pháp này viết:
3
GS. TSKH Đào Trí Úc, “Hiến pháp trong đời sống xã hội và quốc gia”, Hiến pháp: Những vấn đề lý luận
và thực tiễn (Sách chuyên khảo), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr. 28 & 31
4
Xem Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam
4
“Nhân danh Chúa toàn năng!
Chúng tôi, nhân dân Thụy Sỹ và các Tiểu bang,
Xét rằng, chúng tôi nhận thức được trách nhiệm của mình về sự tạo lập cộng
đồng;
kiên quyết đổi mới mối liên kết giữa chúng tôi để tăng cường tự do dân chủ,
độc lập và hòa bình trong sự đoàn kết và cởi mở với thế giới;
quyết định sống đa dạng trong sự thống nhất tôn trọng lẫn nhau;
nhận thức được các mục tiêu và trách nhiệm chung đối với các thế hệ tương lai;
biết rằng chỉ những ai gìn giữ tự do mới được hưởng tự do, sức mạnh của
một dân tộc được đo bằng sự hạnh phúc của người yếu nhất trong số thành viên của dân
tộc đó;
bởi thế, giờ đây, chúng tôi thông qua bản Hiến pháp sau:…”.
Các giá trị Việt Nam trong thời gian qua bị biến động nhiều. Do vậy xây dựng
một xã hội hài hòa có lẽ là một vấn đề cần tính đến. Sự hài hòa ở đây phải được giải thích
trên nhiều phương diện như truyền thống, văn a, dân tộc, kinh tế chính trị cùng với
các mục tiêu chung của toàn dân tộc. Tìm lại các vấn đề này trong Hiến pháp 1946 có thể
có các gợi ý quan trọng.
II. Mô hình lập hiến của chúng ta là gì?
Bản văn Hiến pháp không thể được xem xét tách rời chủ nghĩa lập hiến. thể
thể thấy bản văn Hiến pháp phần quan trọng nhất của chủ nghĩa lập hiến thể hiện
những vấn đề cốt lõi nhất của chủ nghĩa lập hiến. Vì vậy Hiến pháp được phân chia thành
nhiều loại khác nhau bởi chủ nghĩa lập hiến cũng có những mô hình khác nhau mặc dù
chung một hạt nhân luận quan trọng phản ánh sự khao khát chế ngự quyền lực của
nhà cầm quyền để bảo vtự do của con người bằng các nguyên tắc, qui tắc cụ thể tạo nên
trật tự cao nhất trong sinh hoạt chính trị- pháp lý ở một cộng đồng chính trị nhất định.
Hạ viện Nhật Bản cho rằng “Chủ nghĩa lập hiến thể được định nghĩa như một
nền chính trị Hiến pháp hay một nền chính trị nghị viện”
5
. Tại đây chủ nghĩa lập hiến
hình phù hợp với Nhật Bản: Chính thể đại nghị Nhật Hoàng. Chủ nghĩa lập hiến
Việt Nam hiện nay có lịch sử hình thành cùng với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi
ách thống trị của thực dân Pháp được phát triển bởi các nhà cách mạng tiền bối như
Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… được làm nổi bật biến thành hiện thực bởi
tưởng Hồ Chí Minh. GS. TSKH Đào Trí Úc đã tóm tắt chủ nghĩa lập hiến Việt Nam
theo tư tưởng Hồ Chí Minh như sau:
“Như vậy, theo tưởng lập hiến Hồ Chí Minh, Hiến pháp sự tổng hòa của các
yếu tố: tư tưởng về dân chủ, sự ràng buộc của quyền lực nhà nước bởi Hiến pháp và pháp
luật để qua đó kiểm soát quyền lực, sự bảo đảm của các nguyên tắc pháp quyền, tôn
trọng bảo đảm nhân quyền. thể nói rằng, đó những định hướng tiền đề
tưởng của chủ nghĩa lập hiến mang tính phổ biến tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp thu,
được kiểm nghiệm trong thực tiễn Việt Nam”; “Chủ nghĩa lập hiến trong tưởng
pháp quyền của Hồ Chí Minh chủ nghĩa lập hiến dựa trên truyền thống tôn trọng đại
nghĩa của dân tộc Việt Nam, là tư tưởng khoan dung và nhân nghĩa”
6
.
5
House of Representatives, Japan, History of Constitutionalism in Japan, p.7
6
GS. TSKH Đào Trí Úc, “Chủ nghĩa lập hiến hiện đại ở Việt Nam: Những thành tựu và các vấn đề đang
đặt ra”, Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn (Sách chuyên khảo), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
tr. 73- 74
5
Nhận thức của tác giả các đoạn văn trên cho thấy ngoài hạt nhân chủ yếu của chủ
nghĩa lập hiến được du nhập từ Phương Tây, chủ nghĩa lập hiến Việt Nam còn có thêm
tưởng về khoan dung nhân nghĩa. lẽ vẫn còn thiếu khi không đề cập tới chủ
nghĩa lập hiến Việt Nam luôn luôn được truyền bá như một thứ khí tưởng để giải
phóng dân tộc, gìn giữ đất nước và hội nhập quốc tế. Các đặc trưng này của chủ nghĩa lập
hiến Việt Nam được thể hiện rất nét qua tưởng của các nhà cách mạng tiền bối, qua
“Việt Nam yêu cầu diễn ca”, đỉnh cao qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980
1992. Điều quan trọng cần bàn là, ngoài việc nhận thức các đặc điểm của chủ nghĩa lập
hiến Việt Nam, nên thể hiện như thế nào các đặc điểm này trong dịp sửa đổi Hiến pháp
lần này.
Các công trình nghiên cứu gần đây nhất Việt Nam về chủ nghĩa lập hiến còn
vắng bóng một trào lưu mới về chủ nghĩa lập hiến trên thế giới mà trào lưu này đang xuất
hiện Việt Nam qua thực tiễn phát triển dân chủ, quyền con người hội nhập quốc tế.
Đó chủ nghĩa lập hiến đa cấp hay chủ nghĩa đa hiến pháp. Đáng lưu ý rằng trong công
cuộc cải cách hiến pháp Trung Quốc hiện nay, chủ nghĩa lập hiến đa cấp đang được
nghiên cứu và là một khuynh hướng.
Trong bài viết Hướng tới Chủ nghĩa lập hiến đa cấp: Một hình mới của cải
cách hiến pháp tại Trung Quốc?của Shi Shifeng (đưa ra tại Hội nghị thế giới lần thứ
VII của Hiệp hội quốc tế về luật hiến pháp (IACL) họp tại Athen từ ngày 11 tới ngày 15
tháng 6 năm 2007) nhìn nhận chủ nghĩa lập hiến đa cấp dưới hai giác độ: Thứ nhất,
nhìn nhận từ qui trình, chủ nghĩa lập hiến đa cấp là một mô hình hoàn thiện của chủ nghĩa
lập hiến; thứ hai, nhìn nhận từ hệ quả, chủ nghĩa lập hiến đa cấp một trật tự hiến pháp
được duy trì bởi hiến pháp đa tầng
7
. Chủ nghĩa lập hiến đa cấp phát sinh từ Phương y
trong bối cảnh tản quyền để tăng cường dân chủ, bảo vệ quyền con người hình thành
các khu vực trên thế giới. Ingolf Pernice đã giải khái niệm này trong thực tiễn của
Cộng đồng Châu Âu như sau:
“… khái niệm chủ nghĩa lập hiến đa cấp tập trung vào: mối liên hệ giữa luật quốc
gia và luật của Cộng đồng Châu Âu từ quan điểm của không chỉ của các quốc gia mà còn
của các công dân. Dựa trên tiền đề rằng, trong các nền dân chủ hiện đại, các công dân
nền tảng và nguồn gốc của bất kể quyền lực công cộng và quyền lực ra quyết định nào dù
thuộc các định chế của quốc gia hay của Cộng đồng Châu Âu (không nói tới các định chế
toàn cầu), cuối cùng dẫn tới việc hiểu rằng hai cấp chính quyền là các thành tố cơ bản của
một hệ thống phục vụ cho các lợi ích của các công dân, đó các chính quyền của các
nước và chính quyền của Cộng đồng Châu Âu”
8
.
Cũng như sự du nhập chnghĩa lập hiến trước kia, chủ nghĩa lập hiến đa cấp du
nhập vào Trung Quốc màu sắc khác đôi chút do hoàn cảnh trong ngoài Trung
Quốc
9
. Thực tiễn Việt Nam đang dần bị lôi cuốn vào chủ nghĩa lập hiến đa cấp nhưng
chưa ý thức một cách đầy đủ về nó. Quan hệ với ASEAN việc tản quyền cho các địa
7
Shi Shifeng, Towards Multiple- Constitutionalism: A New Paradigm for Constitutional Reform in China?,
The VIIth World Congress of the International Association of Constitutional Law (IACL), Athens 11- 15
June 2007, Workshop 11-Subnational Constitutions in federal constitutional states.
8
Ingolf Pernice, The Treaty of Lisbon: Multilevel Constitutionalism in Action, Walter Hallstein- Institut,
Humboldt- Universitat zu Berlin, WHI- Paper 2/09, p. 24
9
Xem Shi Shifeng, Towards Multiple- Constitutionalism: A New Paradigm for Constitutional Reform in
China?, The VIIth World Congress of the International Association of Constitutional Law (IACL), Athens
11- 15 June 2007, Workshop 11-Subnational Constitutions in federal constitutional states.
6
phương thực chất đã có sphân tầng trong luật công trong đó có nhiều nguyên tắc
qui tắc của luật hiến pháp.
Để chủ động, lẽ chúng ta nên suy tính thật kvề việc chấp nhận hình lập
hiến nào trong đó cả chủ nghĩa lập hiến đa cấp trước khi bắt tay vào sửa đổi Hiến
pháp 1992. Sự thật nếu chúng ta không thiết lập chế bảo hiến cho hiến pháp của quốc
gia mà trong khi luật công ở tầng dưới và luật của ASEAN và của các tổ chức khác có
chế thi hành hiệu quả, thì vấn đề chủ quyền có nhiều vấn đề phải bàn. Nhân đây cũng cần
nghiên cứu kỹ lưỡng về nội dung cách thức của việc tản quyền (nhất trong việc xây
dựng Luật Thủ đô) phân loại, cũng như thẩm quyền ký kết, gia nhập các điều ước
quốc tế. Về nguyên tắc nói chung, tất cả các điều ước quốc tế liên quan tới quyền con
người và các nguyên tắc, qui tắc hiến pháp phải có sự phê chuẩn của Quốc hội. Tuy nhiên
điều ước nào được xếp vào các loại đó cũng vấn đề cần nghiên cứu kđể không gây
chẫm trễ trong quan hệ quốc tế. Chẳng hạn Việt Nam coi hiệp định hàng không hiệp
định chính phủ trong khi CHLB Đức xem là hiệp định nhà nước.
III. Những mục tiêu nào chúng ta theo đuổi để xác lập tổ chức quyền lực nhà
nước phù hợp?
lẽ mục tiêu lớn nhất không ai không chấp nhận đương nhiên làm cho
cộng đồng vững mạnh và phát triển, nói theo cách khác, trước hết không làm phá vỡ cộng
đồng. Vậy mỗi thành viên cộng đồng mỗi nhóm thành viên đều phải được chăm lo
chung bởi Hiến pháp. Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định hội hội
chủ nghĩa là mục tiêu chung của nhân dân Việt Nam và giải thích khái niệm xã hội xã hội
chủ nghĩa như sau:
“Xã hội hội chủ nghĩa nhân dân ta y dựng một xã hội: Dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân n làm chủ; nền kinh tế phát triển cao
dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; nền văn hoá
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,
điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn
kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển; Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị
và hợp tác với các nước trên thế giới”
10
.
Trong giải thích khái niệm này, Đảng đã đặt ra rất nhiều các mục tiêu riêng rẽ cho
xã hội Việt Nam trong giai đoạn tới. Tuy nhiên cần tóm tắt lại để nói rõ trong Lời nói đầu
của Hiến pháp một số điều khoản đầu tiên. thể hiểu: dân chủ, thống nhất trong đa
dạng văn hóa, đáp ứng như cầu sống phát triển toàn diện của con người, nhà nước
pháp quyền hội chủ nghĩa, hữu nghị hợp tác quốc tế các giá trị căn bản của
hội hội chủ nghĩa. Về bản các mục tiêu này không khác so với các mục tiêu tóm
tắt được diễn đạt trong Hiến pháp 1946. Tuy nhiên khái niệm “Nhà nước pháp quyền
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” cần phải có sự lý giải sâu hơn.
IV. Các nguyên tắc tổ chức quyền lực là gì?
Từ các mục tiêu nêu trên thể thấy hai nguyên tắc luôn được xem xét tới
trong việc tổ chức quyền lực nhà nước Việt Nam. Đó là: (1) Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân; (2) Đảng Cộng sản Việt Nam lực lượng lãnh đạo Nhà nước
10
Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011)
7
hội. thể hiểu việc xa rời một trong hai nguyên tắc này đều xa rời định hướng
hội chủ nghĩa. Các nguyên tắc trên thể hiểu tóm tắt là nguyên tắc dân chủ nguyên
tắc Đảng lãnh đạo. Tuy nhiên, trong tất cả các xã hội, hai nguyên tắc này sự mâu
thuẫn, nhưng không loại trừ nhau. Về mặt tâm lý, đảng cầm quyền luôn luôn muốn chính
sách của mình phải đi vào đời sống một cách nhanh nhất, nên sự lựa chọn chính trị
thường nghiêng về chế độ thủ trưởng, trong tổ chức chính thể, thường nghiêng về
hành pháp. Trong khi đó dân chủ bản chất quyết định bởi đa số, nói cách khác mọi
người phải được biết, bàn tham gia vào việc ra quyết định, nên thường làm chậm cho
quá trình đi vào đời sống của các chính sách. Lập pháp thhiện nét nhất bản chất của
dân chủ. Vậy việc khó khăn nhất trong tổ chức nhà nước làm thế nào để cân đối hai
mặt của mâu thuẫn không loại trừ nhau y. Điều đó dẫn đến, cùng với các mục tiêu y
dựng cộng đồng đề ra và truyền thống, một câu hỏi: Lựa chọn chính thể nào?
Hiện nay ở nước ta tổ chức chính thể tập quyền nghiêng về lập pháp, nhưng cũng
vẫn muốn xây dựng hành pháp mạnh đáp ứng nhanh nhất các biến đổi của tình hình trong
nước quốc tế, hay hiểu theo nghĩa khác, đưa ngay các chính sách cần thiết vào cuộc
sống. Rõ ràng Chính phủ phải giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ liên quan tới
đối nội đối ngoại với yêu cầu đồng bộ thống nhất, trong khi khả năng giải quyết bị
hạn chế nhiều nguyên nhân trong đó cả nguyên nhân đội ngũ công chức chưa đủ
sức đáp ứng. Giải pháp quan trọng nhất lẽ tăng cường cho Chủ tịch nước trong các
chức năng đối ngoại giải quyết những vấn đề chính trị căn bản tức thời của Nhà
nước. Nếu Tổng thư Chủ tịch nước thì thể giải quyết được phần lớn các vấn đề
phát sinh tmâu thuẫn giữa hai nguyên tắc dân chủ đảng lãnh đạo. Trung Quốc, Nga,
Pháp, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ có thể có những kinh nghiệm đáng tham khảo.
Khi nói đến tổ chức quyền lực nhà nước nước ta, người ta thường nhắc đến
“Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, nhân dân”. đây
nhắc hai vấn đề chính trị nền tảng nhưng mâu thuẫn nhau. Nói tới nhà nước của nhân
dân, do nhân dân, nhân dân là nói tới phần cốt yếu của dân chủ hạt nhân lý luận
là “quyết định bởi đa số”. Còn nói tới Nhà nước pháp quyền là nói tới một học thuyết hay
một tư tưởng có hạt nhân lý luận là nhà nước phải bị ràng buộc bởi pháp luật để bảo vệ tự
do của nhân con người. vậy dân chủ gần gũi với lập pháp, còn nhà nước pháp
quyền gần gũi với pháp. Lập pháp pháp hai cách tác động xã hội đối lập nhau
nhưng không thể thiếu trong tổ chức nhà nước. Lập pháp đưa chính sách từ trên xuống áp
đặt chung cho toàn hội. Trong khi đó pháp áp đặt chính sách cho các trường hợp
tranh chấp cụ thể, qua đó giải thích và bổ sung cho lập pháp. Nhà nước pháp quyền chỉ có
thể xây dựng trên nền tảng dân chủ, bởi thế ngày nay khi nói tới dân chủ hiện đại hay dân
chủ tự do tức là nói: nhà nước pháp quyền là một trong các thành tố của dân chủ với công
thức ngắn gọn “cai trị bởi đa số với các quyền của thiểu số”
11
. Hiểu một cách đơn giản
dân chủ và nhà nước pháp quyền phải được diễn đạt riêng rẽ trong mối liên hệ gắn bó với
nhau.
Cũng như vậy các nhánh quyền lực nhà nước được phân chia như thế nào theo
chính thể tổng thống, chính thể đại nghị, chính thể quốc hội hay cộng hòa lưỡng tính thì
quyền lực nhà nước cũng đều thống nhất nhân dân. Việc phân chia như vậy một thủ
thuật hay phương cách của nhân dân thông qua Hiến pháp chế ngự quyền lực đó để bảo
vệ chính mình. Việc lựa chọn chính thể phụ thuộc vào nhu cầu của nhân dân phù hợp với
mục tiêu xây dựng cộng đồng mà nhân dân đề ra.
11
[http://en.wikipedia.org/wiki/Democracy], Democracy
8
V. Quyền lực đó được thi hành như thế nào?
Hiến pháp phải hiệu lực thì mới nói tới chuyện thi hành. Khi nói tới hiệu lực
của một văn bản pháp luật hay một hợp đồng, phần nhiều luật gia Việt Nam hiện nay chỉ
nói tới thời điểm hiệu lực, điều kiện hiệu lực, cho rằng sự ban hành hay ký kết
nếu không vi phạm điều kiện hiệu lực văn bản đó hay hợp đồng đó hiệu lực.
Nhưng khi được hỏi nội dung của hiệu lực y thì ít thấy câu trả lời. Về mặt pháp lý,
khi nghiên cứu hiệu lực của một văn bản hay một hợp đồng, người ta thường nghiên cứu:
nó tác động tới ai, tác động tới cái gì và tác động như thế nào.
Hiến pháp 1992 dường ntác động tới tất cả (chính trị, kinh tế, văn hóa, hội,
lãnh thổ, an ninh, quốc phòng, quyền nghĩa vụ bản của công dân, chính thể…),
nhưng khó có câu trả lời nó tác động như thế nào.
Luật lệ nói một cách đơn giản nơi tập hợp các qui tắc hễ bị vi phạm thì
người vi phạm phải gánh chịu một chế tài tương ứng chế tài đó cũng đã được luật lệ
ấn định sẵn. Vậy Hiến pháp 1992 ấn định quyền nghĩa vụ của các quan trong bộ
máy nhà nước, nhưng nếu chúng bị các cơ quan nhà nước vi phạm hay không thi hành thì
chế tài đối với sự vi phạm và không thi hành đó là gì, xét về mặt pháp lý?
Nhân dân trao quyền lực của mình cho Nhà nước, cũng giống như bất kỳ người
ủy quyền nào, cũng đều mong muốn người được y quyền thi hành nghiêm chỉnh quyền
lực được giao. Điều đó nghĩa quan nhà nước phải thi hành nghiêm chỉnh Hiến
pháp (văn bản y quyền của nhân dân cho Nhà nước). Muốn thi hành được Hiến pháp
phải giải quyết được hai vấn đề bản sau: Thứ nhất, phải xây dựng các chế tài (đây
được xem như điều kiện cần); và thứ hai, phải xây dựng cơ chế áp dụng chế tài bao gồm:
các tố quyền (ai quyền nại ra các vi phạm hiến pháp cách thức nại ra như thế nào);
định chế tiếp nhận tố quyền (cơ quan bảo hiến); thủ tục tiến hành xem xét giải quyết
các vi phạm; chế thi hành phán quyết (đây được xem như điều kiện đủ). Việc
chế tài chế áp dụng chế tài đối với vi phạm khiến cho Hiến pháp trở thành một đạo
luật, chứ không phải một tuyên ngôn cách mạng hay một cam kết đơn phương của
chính quyền.
Hiến pháp 1992 có nhắc đến việc xem xét lại các văn bản vi hiến, nhưng thiếu chế
tài và một chế áp dụng hữu hiệu. Các vi phạm khác chưa được quan tâm đến. Đã đành
văn hóa chính trị, văn hóa pháp lý, trình độ dân trí trình độ của các luật gia Việt Nam
còn có hạn, nhưng việc thiết lập một cơ chế bảo hiến hữu hiệu nên được nghiên cứu kỹ để
xây dựng từng bước trong dịp sửa đổi Hiến pháp 1992 lần này.
VI. Thay cho lời kết
Việc sửa đổi Hiến pháp không chỉ công việc của một vài luật gia quen biết
chức sắc công việc của toàn dân. ảnh hưởng tới lợi ích chung của cả cộng đồng
từng thành viên của cộng đồng. Thiết nghĩ cần trả lời cho được và thật chín chắn các
câu hỏi trên, và từ đó theo logic, xây dựng các điều khoản cụ thể khác. Tuy nhiên bài viết
này cũng chỉ là một lời bàn./.

Preview text:

NỀN TẢNG ĐỂ XÂY DỰNG HOẶC SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP Ngô Huy Cương
Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội
Muốn xây dựng hay sửa đổi Hiến pháp trước hết phải xác định được nền tảng của
vấn đề lập hiến. Không thể phủ nhận được rằng việc thừa nhận và bảo vệ quyền con
người, và tổ chức quyền lực nhà nước là những nội dung không thể thiếu của Hiến pháp.
Tuy nhiên việc xem xét tới chính bản thân Hiến pháp có ý nghĩa nền tảng không thể bỏ qua.
Hiến pháp là cơ sở quan trọng nhất để tạo lập nên một cộng đồng chính trị, và
trong suốt quá trình tồn tại, nó luôn luôn được xem là nơi chứa đựng các nguyên tắc và
qui tắc cao nhất trong sinh hoạt chính trị- pháp lý của một quốc gia. Vì thế, để có một
Hiến pháp đúng với nghĩa của nó, người soạn thảo dự án xây dựng hay sửa đổi Hiến pháp
không thể không có câu trả lời các vấn đề sau mà bất kể thành viên nào của bất kỳ cộng
đồng chính trị nào đều suy nghĩ về chúng:
(1) Cái gì khiến chúng ta liên kết lại cùng nhau trong một cộng đồng chính trị?
(2) Mô hình lập hiến của chúng ta là gì?
(3) Những mục tiêu nào chúng ta theo đuổi để xác lập tổ chức quyền lực nhà nước phù hợp?
(4) Các nguyên tắc tổ chức quyền lực là gì?
(5) Quyền lực đó được thi hành như thế nào?
Các câu hỏi nêu trên là những vấn đề cơ bản nhất mà lần lượt chúng ta phải tìm ra
câu trả lời trước khi bắt tay vào xây dựng hay sửa đổi một Hiến pháp cụ thể. Trong một
chừng mực có thể, Bài viết này cố gắng luận giải một vài ý tưởng và khía cạnh vắn tắt
liên quan tới các vấn đề này.
I. Cái gì khiến chúng ta liên kết lại cùng nhau trong một cộng đồng chính trị?
Bản văn Hiến pháp luôn được xem là một văn kiện phản ánh sự thống nhất ý chí
của toàn dân tạo lập nên một cộng đồng chính trị nhất định và ban tính hợp pháp hay tính
chính đáng cho quyền lực của chính quyền. Hiến pháp có thể được xem là khế ước của
toàn dân, bởi lẽ khế ước hay hợp đồng xét cho cùng là sự thống nhất ý chí (hay sự thỏa
thuận) làm phát sinh ra một hậu quả pháp lý nhất định (mà hậu quả pháp lý ở đây có thể
hiểu là việc làm phát sinh, thay đổi, hay chấm dứt một quyền lợi, và quyền lợi đó là cộng
đồng chính trị- một quyền lợi chung của các thành viên cộng đồng). Lưu ý rằng: Hiến
pháp chỉ làm phát sinh hay thay đổi quyền lợi chung (cộng đồng chính trị). Sự đánh giá
này không có nghĩa tầm thường hóa Hiến pháp như các loại hợp đồng khác mà nhằm
phản ánh sự đồng lòng chung sống của toàn dân trong một cộng đồng chính trị xác định.
Vì vậy giống với hầu hết các bản Hiến pháp của các nước trên thế giới, Hiến pháp 1992
của Việt Nam tuyên bố “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” (Điều 2), và nhắc
tới “ý nguyện” của nhân dân tại Lời nói đầu. Tuy nhiên cách thức thể hiện những tuyên
bố này cần phải xem xét lại một cách tinh tế hơn trong dịp sửa đổi Hiến pháp lần này.
Phải thừa nhận: người ta không bao giờ tham dự vào một khế ước mà không suy
xét tới lợi ích của mình. Nhưng cũng phải thừa nhận: với những loại khế ước có tính cách 1
cộng đồng1 như vậy, mọi vấn đề dường như được quyết định bởi đa số vì đó là dân chủ
theo nghĩa truyền thống; do đó có thể có số ít thành viên không thỏa mãn. Sự không thỏa
mãn này có thể kéo theo sự bất ổn của cộng đồng. Từ các thực tế không thể chối bỏ này
những người xây dựng dự án hiến pháp phải tìm phương cách giải quyết. Có lẽ có hai
phương cách- Đó là: (1) Tìm kiếm bằng được và thể hiện rõ ràng các giá trị và mục tiêu
chung mà các thành viên cộng đồng cùng nhau tôn thờ; (2) thiết kế các giải pháp cho
thiểu số không thỏa mãn an tâm với cơ hội phát triển hoặc rút lui có trật tự. Hai phương
thức này đã được sử dụng kết hợp một cách nhuần nhuyễn trong Hiến pháp 1946 của Việt
Nam. Ở phạm vi nhỏ hơn, nhà làm luật Việt Nam cũng đã nghĩ tới giải pháp thứ hai nêu
trên và thể hiện nó trong Luật Doanh nghiệp 2005 để bảo vệ cổ đông thiểu số hay người
ít vốn trong công ty, bởi các quyết sách lớn trong các công ty đối vốn đều do cộng đồng
chủ sở hữu của nó đưa ra thông qua nghị quyết mà nghị quyết đó có bản chất là hợp đồng cộng đồng.
Cái khiến mọi thành viên trong một cộng đồng chính trị gắn kết lại với nhau có lẽ
không phải là một học thuyết, mà là những giá trị căn bản và những mục tiêu nhất định
họ tôn thờ. Hiến pháp 1946 (Hiến pháp Hồ Chí Minh) thắng thế bởi những lẽ đó. Lời nói
đầu của Hiến pháp này nêu rất rõ những khát khao chung của toàn dân tộc là “bảo toàn
lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ
”, sau đó
chỉ rõ các nguyên tắc hay các mục tiêu chính trong việc xây dựng cộng đồng: (1) “Đoàn
kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo
”; (2) “Đảm bảo các
quyền tự do dân chủ
”; và (3) “Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân
dân
”. Tâm lý phấn khởi và tràn đầy hạnh phúc của nhân dân vì sự ra đời của Hiến pháp
1946 được thể hiện rất tự nhiên qua câu thơ của chí sỹ lão thành Huỳnh Thúc Kháng: “Sướng ôi là sướng,
Thoát thân nô mà làm chủ thân ông”2.
Niềm hứng khởi tột độ này có ở hầu hết người dân Việt thời bấy giờ. Tuy nhiên
không thể phủ nhận được rằng có số ít không thỏa mãn. Vừa là nguyên tắc chung, bởi
vậy vừa là một giải pháp níu kéo thiểu số đó hoặc để cho họ rút lui một cách có trật tự
trong sự tôn trọng các quyền con người, Hiến pháp 1946 khẳng định: “Tất cả công dân
Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc
kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình” (Điều thứ 7); và “Công dân Việt Nam
có quyền: Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài” (Điều thứ 10). Các giải pháp
như vậy không khó tìm thấy ở các nước khi mới giành được thắng lợi qua cuộc cách
mạng xã hội hoặc mới giành được chính quyền từ tay thực dân. Tuy nhiên có thể tìm thấy
những giải pháp rất khác lạ (như thủ tiêu, giết chóc, giam cầm… những cá nhân không
thỏa mãn) ở một số cộng đồng chính trị như nước Đức phát xít, Campuchia dưới thời Khơ me đỏ…
Như vậy có thể nói, bên cạnh các giá trị căn bản và các mục tiêu chung giúp các
thành viên trong một cộng đồng chính trị nhất định liên kết lại với nhau còn phải có các
giải pháp thu hút thiểu số không thỏa mãn chung sống để xây dựng đất nước hoặc để cho
họ rút lui có trật tự.
1 Trong phân loại hợp đồng, có một cách phân loại hợp đồng thành hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng
2 Đại học Quốc gia Hà Nội- Khoa Luật, Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị
Quốc gia, 2009, tr. 533- 534 2
GS. TSKH Đào Trí Úc cho rằng: Hiến pháp là một bản khế ước xã hội của nhân
dân, và Hiến pháp 1992 phản ánh những giá trị cao quý của dân tộc như truyền thống lao
động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, truyền thống đoàn
kết, nhân nghĩa, kiên cường bất khuất (Lời nói đầu, Hiến pháp 1992), “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, “ấm no, tự do, hạnh phúc”, con người “có
điều kiện phát triển toàn diện” (Điều 3, Hiến pháp 1992)3.
Tuy nhiên Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung 2001) không thể hiện rõ đó là
một bản khế ước của toàn dân, bởi tại Lời nói đầu của Hiến pháp này có đoạn viết:
“Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân Việt
Nam nguyện phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng, nêu cao tinh thần tự
lực, tự cường xây dựng đất nước, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình,
hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp, giành những
thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Đoạn văn này cho thấy “nhân dân Việt Nam… nguyện thi hành Hiến pháp”, chứ
Hiến pháp không thực sự do nhân dân làm ra. Giải thích như vậy là phù hợp và logic bởi
Điều 83 của Hiến pháp này tuyên bố: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân”, và “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”. Có hai vấn đề
phát sinh từ ý tưởng của Lời nói đầu và các tuyên bố này: Thứ nhất, không có bản văn
nào thể hiện sự ủy quyền của nhân dân cho Quốc hội đại diện cho mình, và Quốc hội tự
tuyên bố mình là đại diện của nhân dân; và thứ hai, việc bầu cử Đại biểu Quốc hội không
thể được xem là hành vi ủy quyền bởi chính sự bầu cử đó cũng do Quốc hội qui định
trong Hiến pháp hay trong một đạo luật khác do mình tự làm ra. Vì vậy đây là các vấn đề
cần nghiên cứu sửa đổi đầu tiên để xây dựng nền tảng của lập hiến và bảo đảm tính hợp
pháp hay tính chính đáng của chính quyền đúng với tư tưởng quan trọng của Đảng Cộng
sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân4. Dự kiến
sửa đổi Hiến pháp 1992 nên theo hướng trả lại quyền lập hiến cho nhân dân và buộc Nhà
nước phải thi hành Hiến pháp bởi chính sự thi hành Hiến pháp của nhân dân là thành tố
quan trọng của Nhà nước pháp quyền và bảo đảm cho Nhà nước luôn luôn là Nhà nước
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Mặc dù không thể phủ nhận được rằng truyền thống yêu nước, thương nòi được
đề cập đến trong Hiến pháp 1992 là một trong những giá trị có thể khiến người dân Việt
Nam hợp nhau lại để xây dựng và bảo vệ đất nước, nhưng cũng cần thấy rằng ngoài ra
Hiến pháp 1992 (ngay cả Lời nói đầu) chưa tính đến nền tảng lợi ích sâu xa nhất của mối
liên kết cộng đồng. Hiện nay có rất nhiều người Việt Nam định cư, làm ăn sinh sống ở
nước ngoài. Không thể nói họ không yêu nước, thương nòi, nhưng về nước để hòa nhập
vào cộng đồng chính trị thì có lẽ vẫn là một câu hỏi lớn. Vì vậy xây dựng một xã hội hài
hòa và không quá nhấn mạnh tới việc phân chia giai cấp và các nhóm lợi ích có thể là
một gợi ý đáng suy nghĩ trong dịp sửa đổi, bổ sung Hiến pháp lần này. Hiến pháp 2002
của Thụy Sỹ (ngoài câu chuyện tín ngưỡng) có thể là một kinh nghiệm tốt cho việc xử lý
các vấn đề nêu trên. Lời nói đầu của bản Hiến pháp này viết:
3 GS. TSKH Đào Trí Úc, “Hiến pháp trong đời sống xã hội và quốc gia”, Hiến pháp: Những vấn đề lý luận
và thực tiễn (Sách chuyên khảo)
, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr. 28 & 31
4 Xem Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011)
của Đảng Cộng sản Việt Nam 3
“Nhân danh Chúa toàn năng!
Chúng tôi, nhân dân Thụy Sỹ và các Tiểu bang,
Xét rằng, chúng tôi nhận thức được trách nhiệm của mình về sự tạo lập cộng đồng;
kiên quyết đổi mới mối liên kết giữa chúng tôi để tăng cường tự do và dân chủ,
độc lập và hòa bình trong sự đoàn kết và cởi mở với thế giới;
quyết định sống đa dạng trong sự thống nhất tôn trọng lẫn nhau;
nhận thức được các mục tiêu và trách nhiệm chung đối với các thế hệ tương lai;
và biết rằng chỉ những ai gìn giữ tự do mới được hưởng tự do, và sức mạnh của
một dân tộc được đo bằng sự hạnh phúc của người yếu nhất trong số thành viên của dân tộc đó;
bởi thế, giờ đây, chúng tôi thông qua bản Hiến pháp sau:…”.
Các giá trị ở Việt Nam trong thời gian qua bị biến động nhiều. Do vậy xây dựng
một xã hội hài hòa có lẽ là một vấn đề cần tính đến. Sự hài hòa ở đây phải được giải thích
trên nhiều phương diện như truyền thống, văn hóa, dân tộc, kinh tế và chính trị cùng với
các mục tiêu chung của toàn dân tộc. Tìm lại các vấn đề này trong Hiến pháp 1946 có thể
có các gợi ý quan trọng.
II. Mô hình lập hiến của chúng ta là gì?
Bản văn Hiến pháp không thể được xem xét tách rời chủ nghĩa lập hiến. Có thể
thể thấy bản văn Hiến pháp là phần quan trọng nhất của chủ nghĩa lập hiến và thể hiện
những vấn đề cốt lõi nhất của chủ nghĩa lập hiến. Vì vậy Hiến pháp được phân chia thành
nhiều loại khác nhau bởi chủ nghĩa lập hiến cũng có những mô hình khác nhau mặc dù có
chung một hạt nhân lý luận quan trọng là phản ánh sự khao khát chế ngự quyền lực của
nhà cầm quyền để bảo vệ tự do của con người bằng các nguyên tắc, qui tắc cụ thể tạo nên
trật tự cao nhất trong sinh hoạt chính trị- pháp lý ở một cộng đồng chính trị nhất định.
Hạ viện Nhật Bản cho rằng “Chủ nghĩa lập hiến có thể được định nghĩa như một
nền chính trị Hiến pháp hay một nền chính trị nghị viện”5. Tại đây chủ nghĩa lập hiến có
mô hình phù hợp với Nhật Bản: Chính thể đại nghị và Nhật Hoàng. Chủ nghĩa lập hiến ở
Việt Nam hiện nay có lịch sử hình thành cùng với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi
ách thống trị của thực dân Pháp và được phát triển bởi các nhà cách mạng tiền bối như
Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… và được làm nổi bật và biến thành hiện thực bởi tư
tưởng Hồ Chí Minh. GS. TSKH Đào Trí Úc đã tóm tắt chủ nghĩa lập hiến ở Việt Nam
theo tư tưởng Hồ Chí Minh như sau:
“Như vậy, theo tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh, Hiến pháp là sự tổng hòa của các
yếu tố: tư tưởng về dân chủ, sự ràng buộc của quyền lực nhà nước bởi Hiến pháp và pháp
luật để qua đó mà kiểm soát quyền lực, sự bảo đảm của các nguyên tắc pháp quyền, tôn
trọng và bảo đảm nhân quyền. Có thể nói rằng, đó là những định hướng và tiền đề tư
tưởng của chủ nghĩa lập hiến mang tính phổ biến mà tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp thu,
được kiểm nghiệm trong thực tiễn Việt Nam”; và “Chủ nghĩa lập hiến trong tư tưởng
pháp quyền của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa lập hiến dựa trên truyền thống tôn trọng đại
nghĩa của dân tộc Việt Nam, là tư tưởng khoan dung và nhân nghĩa”6.
5 House of Representatives, Japan, History of Constitutionalism in Japan, p.7
6 GS. TSKH Đào Trí Úc, “Chủ nghĩa lập hiến hiện đại ở Việt Nam: Những thành tựu và các vấn đề đang
đặt ra”, Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn (Sách chuyên khảo), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 73- 74 4
Nhận thức của tác giả các đoạn văn trên cho thấy ngoài hạt nhân chủ yếu của chủ
nghĩa lập hiến được du nhập từ Phương Tây, chủ nghĩa lập hiến ở Việt Nam còn có thêm
tư tưởng về khoan dung và nhân nghĩa. Có lẽ vẫn còn thiếu khi không đề cập tới chủ
nghĩa lập hiến ở Việt Nam luôn luôn được truyền bá như một thứ vũ khí tư tưởng để giải
phóng dân tộc, gìn giữ đất nước và hội nhập quốc tế. Các đặc trưng này của chủ nghĩa lập
hiến Việt Nam được thể hiện rất rõ nét qua tư tưởng của các nhà cách mạng tiền bối, qua
“Việt Nam yêu cầu diễn ca”, và đỉnh cao là qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và
1992. Điều quan trọng cần bàn là, ngoài việc nhận thức các đặc điểm của chủ nghĩa lập
hiến Việt Nam, nên thể hiện như thế nào các đặc điểm này trong dịp sửa đổi Hiến pháp lần này.
Các công trình nghiên cứu gần đây nhất ở Việt Nam về chủ nghĩa lập hiến còn
vắng bóng một trào lưu mới về chủ nghĩa lập hiến trên thế giới mà trào lưu này đang xuất
hiện ở Việt Nam qua thực tiễn phát triển dân chủ, quyền con người và hội nhập quốc tế.
Đó là chủ nghĩa lập hiến đa cấp hay chủ nghĩa đa hiến pháp. Đáng lưu ý rằng trong công
cuộc cải cách hiến pháp ở Trung Quốc hiện nay, chủ nghĩa lập hiến đa cấp đang được
nghiên cứu và là một khuynh hướng.
Trong bài viết “Hướng tới Chủ nghĩa lập hiến đa cấp: Một mô hình mới của cải
cách hiến pháp tại Trung Quốc?” của Shi Shifeng (đưa ra tại Hội nghị thế giới lần thứ
VII của Hiệp hội quốc tế về luật hiến pháp (IACL) họp tại Athen từ ngày 11 tới ngày 15
tháng 6 năm 2007) có nhìn nhận chủ nghĩa lập hiến đa cấp dưới hai giác độ: Thứ nhất,
nhìn nhận từ qui trình, chủ nghĩa lập hiến đa cấp là một mô hình hoàn thiện của chủ nghĩa
lập hiến; thứ hai, nhìn nhận từ hệ quả, chủ nghĩa lập hiến đa cấp là một trật tự hiến pháp
được duy trì bởi hiến pháp đa tầng7. Chủ nghĩa lập hiến đa cấp phát sinh từ Phương Tây
trong bối cảnh tản quyền để tăng cường dân chủ, bảo vệ quyền con người và hình thành
các khu vực trên thế giới. Ingolf Pernice đã lý giải khái niệm này trong thực tiễn của
Cộng đồng Châu Âu như sau:
“… khái niệm chủ nghĩa lập hiến đa cấp tập trung vào: mối liên hệ giữa luật quốc
gia và luật của Cộng đồng Châu Âu từ quan điểm của không chỉ của các quốc gia mà còn
của các công dân. Dựa trên tiền đề rằng, trong các nền dân chủ hiện đại, các công dân là
nền tảng và nguồn gốc của bất kể quyền lực công cộng và quyền lực ra quyết định nào dù
thuộc các định chế của quốc gia hay của Cộng đồng Châu Âu (không nói tới các định chế
toàn cầu), cuối cùng dẫn tới việc hiểu rằng hai cấp chính quyền là các thành tố cơ bản của
một hệ thống phục vụ cho các lợi ích của các công dân, đó là các chính quyền của các
nước và chính quyền của Cộng đồng Châu Âu”8.
Cũng như sự du nhập chủ nghĩa lập hiến trước kia, chủ nghĩa lập hiến đa cấp du
nhập vào Trung Quốc có màu sắc khác đôi chút do hoàn cảnh trong và ngoài Trung
Quốc9. Thực tiễn Việt Nam đang dần dà bị lôi cuốn vào chủ nghĩa lập hiến đa cấp nhưng
chưa ý thức một cách đầy đủ về nó. Quan hệ với ASEAN và việc tản quyền cho các địa
7 Shi Shifeng, Towards Multiple- Constitutionalism: A New Paradigm for Constitutional Reform in China?,
The VIIth World Congress of the International Association of Constitutional Law (IACL), Athens 11- 15
June 2007, Workshop 11-Subnational Constitutions in federal constitutional states.
8 Ingolf Pernice, The Treaty of Lisbon: Multilevel Constitutionalism in Action, Walter Hallstein- Institut,
Humboldt- Universitat zu Berlin, WHI- Paper 2/09, p. 24
9 Xem Shi Shifeng, Towards Multiple- Constitutionalism: A New Paradigm for Constitutional Reform in
China?
, The VIIth World Congress of the International Association of Constitutional Law (IACL), Athens
11- 15 June 2007, Workshop 11-Subnational Constitutions in federal constitutional states. 5
phương thực chất đã có sự phân tầng trong luật công mà trong đó có nhiều nguyên tắc và
qui tắc của luật hiến pháp.
Để chủ động, có lẽ chúng ta nên suy tính thật kỹ về việc chấp nhận mô hình lập
hiến nào mà trong đó có cả chủ nghĩa lập hiến đa cấp trước khi bắt tay vào sửa đổi Hiến
pháp 1992. Sự thật nếu chúng ta không thiết lập cơ chế bảo hiến cho hiến pháp của quốc
gia mà trong khi luật công ở tầng dưới và luật của ASEAN và của các tổ chức khác có cơ
chế thi hành hiệu quả, thì vấn đề chủ quyền có nhiều vấn đề phải bàn. Nhân đây cũng cần
nghiên cứu kỹ lưỡng về nội dung và cách thức của việc tản quyền (nhất là trong việc xây
dựng Luật Thủ đô) và phân loại, cũng như thẩm quyền ký kết, gia nhập các điều ước
quốc tế. Về nguyên tắc nói chung, tất cả các điều ước quốc tế có liên quan tới quyền con
người và các nguyên tắc, qui tắc hiến pháp phải có sự phê chuẩn của Quốc hội. Tuy nhiên
điều ước nào được xếp vào các loại đó cũng là vấn đề cần nghiên cứu kỹ để không gây
chẫm trễ trong quan hệ quốc tế. Chẳng hạn Việt Nam coi hiệp định hàng không là hiệp
định chính phủ trong khi CHLB Đức xem là hiệp định nhà nước.
III. Những mục tiêu nào chúng ta theo đuổi để xác lập tổ chức quyền lực nhà nước phù hợp?
Có lẽ mục tiêu lớn nhất mà không ai không chấp nhận và đương nhiên là làm cho
cộng đồng vững mạnh và phát triển, nói theo cách khác, trước hết không làm phá vỡ cộng
đồng. Vậy mỗi thành viên cộng đồng và mỗi nhóm thành viên đều phải được chăm lo
chung bởi Hiến pháp. Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định xã hội xã hội
chủ nghĩa là mục tiêu chung của nhân dân Việt Nam và giải thích khái niệm xã hội xã hội chủ nghĩa như sau:
“Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao
dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có
điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn
kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị
và hợp tác với các nước trên thế giới”10.
Trong giải thích khái niệm này, Đảng đã đặt ra rất nhiều các mục tiêu riêng rẽ cho
xã hội Việt Nam trong giai đoạn tới. Tuy nhiên cần tóm tắt lại để nói rõ trong Lời nói đầu
của Hiến pháp và một số điều khoản đầu tiên. Có thể hiểu: dân chủ, thống nhất trong đa
dạng văn hóa, đáp ứng như cầu sống và phát triển toàn diện của con người, nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hữu nghị và hợp tác quốc tế là các giá trị căn bản của xã
hội xã hội chủ nghĩa. Về cơ bản các mục tiêu này không khác gì so với các mục tiêu tóm
tắt được diễn đạt trong Hiến pháp 1946. Tuy nhiên khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” cần phải có sự lý giải sâu hơn.
IV. Các nguyên tắc tổ chức quyền lực là gì?
Từ các mục tiêu nêu trên có thể thấy có hai nguyên tắc luôn được xem xét tới
trong việc tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Đó là: (1) Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân; và (2) Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và
10 Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011)
6
xã hội. Có thể hiểu việc xa rời một trong hai nguyên tắc này đều là xa rời định hướng xã
hội chủ nghĩa. Các nguyên tắc trên có thể hiểu tóm tắt là nguyên tắc dân chủ và nguyên
tắc Đảng lãnh đạo. Tuy nhiên, trong tất cả các xã hội, hai nguyên tắc này có sự mâu
thuẫn, nhưng không loại trừ nhau. Về mặt tâm lý, đảng cầm quyền luôn luôn muốn chính
sách của mình phải đi vào đời sống một cách nhanh nhất, nên sự lựa chọn chính trị
thường nghiêng về chế độ thủ trưởng, và trong tổ chức chính thể, thường nghiêng về
hành pháp. Trong khi đó dân chủ có bản chất là quyết định bởi đa số, nói cách khác mọi
người phải được biết, bàn và tham gia vào việc ra quyết định, nên thường làm chậm cho
quá trình đi vào đời sống của các chính sách. Lập pháp thể hiện rõ nét nhất bản chất của
dân chủ. Vậy việc khó khăn nhất trong tổ chức nhà nước là làm thế nào để cân đối hai
mặt của mâu thuẫn không loại trừ nhau này. Điều đó dẫn đến, cùng với các mục tiêu xây
dựng cộng đồng đề ra và truyền thống, một câu hỏi: Lựa chọn chính thể nào?
Hiện nay ở nước ta tổ chức chính thể tập quyền nghiêng về lập pháp, nhưng cũng
vẫn muốn xây dựng hành pháp mạnh đáp ứng nhanh nhất các biến đổi của tình hình trong
nước và quốc tế, hay hiểu theo nghĩa khác, đưa ngay các chính sách cần thiết vào cuộc
sống. Rõ ràng Chính phủ phải giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ liên quan tới
đối nội và đối ngoại với yêu cầu đồng bộ và thống nhất, trong khi khả năng giải quyết bị
hạn chế vì nhiều nguyên nhân trong đó có cả nguyên nhân đội ngũ công chức chưa đủ
sức đáp ứng. Giải pháp quan trọng nhất có lẽ là tăng cường cho Chủ tịch nước trong các
chức năng đối ngoại và giải quyết những vấn đề chính trị căn bản và tức thời của Nhà
nước. Nếu Tổng bí thư là Chủ tịch nước thì có thể giải quyết được phần lớn các vấn đề
phát sinh từ mâu thuẫn giữa hai nguyên tắc dân chủ và đảng lãnh đạo. Trung Quốc, Nga,
Pháp, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ có thể có những kinh nghiệm đáng tham khảo.
Khi nói đến tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta, người ta thường nhắc đến
“Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Ở đây
nhắc hai vấn đề chính trị nền tảng nhưng mâu thuẫn nhau. Nói tới nhà nước của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân là nói tới phần cốt yếu của dân chủ mà có hạt nhân lý luận
là “quyết định bởi đa số”. Còn nói tới Nhà nước pháp quyền là nói tới một học thuyết hay
một tư tưởng có hạt nhân lý luận là nhà nước phải bị ràng buộc bởi pháp luật để bảo vệ tự
do của cá nhân con người. Vì vậy dân chủ gần gũi với lập pháp, còn nhà nước pháp
quyền gần gũi với tư pháp. Lập pháp và tư pháp có hai cách tác động xã hội đối lập nhau
nhưng không thể thiếu trong tổ chức nhà nước. Lập pháp đưa chính sách từ trên xuống áp
đặt chung cho toàn xã hội. Trong khi đó tư pháp áp đặt chính sách cho các trường hợp
tranh chấp cụ thể, qua đó giải thích và bổ sung cho lập pháp. Nhà nước pháp quyền chỉ có
thể xây dựng trên nền tảng dân chủ, bởi thế ngày nay khi nói tới dân chủ hiện đại hay dân
chủ tự do tức là nói: nhà nước pháp quyền là một trong các thành tố của dân chủ với công
thức ngắn gọn “cai trị bởi đa số với các quyền của thiểu số”11. Hiểu một cách đơn giản
dân chủ và nhà nước pháp quyền phải được diễn đạt riêng rẽ trong mối liên hệ gắn bó với nhau.
Cũng như vậy các nhánh quyền lực nhà nước dù được phân chia như thế nào theo
chính thể tổng thống, chính thể đại nghị, chính thể quốc hội hay cộng hòa lưỡng tính thì
quyền lực nhà nước cũng đều thống nhất ở nhân dân. Việc phân chia như vậy là một thủ
thuật hay phương cách của nhân dân thông qua Hiến pháp chế ngự quyền lực đó để bảo
vệ chính mình. Việc lựa chọn chính thể phụ thuộc vào nhu cầu của nhân dân phù hợp với
mục tiêu xây dựng cộng đồng mà nhân dân đề ra.
11 [http://en.wikipedia.org/wiki/Democracy], Democracy 7
V. Quyền lực đó được thi hành như thế nào?
Hiến pháp phải có hiệu lực thì mới nói tới chuyện thi hành. Khi nói tới hiệu lực
của một văn bản pháp luật hay một hợp đồng, phần nhiều luật gia Việt Nam hiện nay chỉ
nói tới thời điểm có hiệu lực, điều kiện có hiệu lực, và cho rằng sự ban hành hay ký kết
nếu không vi phạm điều kiện có hiệu lực là văn bản đó hay hợp đồng đó có hiệu lực.
Nhưng khi được hỏi nội dung của hiệu lực ấy là gì thì ít thấy câu trả lời. Về mặt pháp lý,
khi nghiên cứu hiệu lực của một văn bản hay một hợp đồng, người ta thường nghiên cứu:
nó tác động tới ai, tác động tới cái gì và tác động như thế nào.
Hiến pháp 1992 dường như tác động tới tất cả (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
lãnh thổ, an ninh, quốc phòng, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, chính thể…),
nhưng khó có câu trả lời nó tác động như thế nào.
Luật lệ nói một cách đơn giản là nơi tập hợp các qui tắc mà hễ bị vi phạm thì
người vi phạm phải gánh chịu một chế tài tương ứng mà chế tài đó cũng đã được luật lệ
ấn định sẵn. Vậy Hiến pháp 1992 ấn định quyền và nghĩa vụ của các cơ quan trong bộ
máy nhà nước, nhưng nếu chúng bị các cơ quan nhà nước vi phạm hay không thi hành thì
chế tài đối với sự vi phạm và không thi hành đó là gì, xét về mặt pháp lý?
Nhân dân trao quyền lực của mình cho Nhà nước, cũng giống như bất kỳ người
ủy quyền nào, cũng đều mong muốn người được ủy quyền thi hành nghiêm chỉnh quyền
lực được giao. Điều đó có nghĩa là cơ quan nhà nước phải thi hành nghiêm chỉnh Hiến
pháp (văn bản ủy quyền của nhân dân cho Nhà nước). Muốn thi hành được Hiến pháp
phải giải quyết được hai vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất, phải xây dựng các chế tài (đây
được xem như điều kiện cần); và thứ hai, phải xây dựng cơ chế áp dụng chế tài bao gồm:
các tố quyền (ai có quyền nại ra các vi phạm hiến pháp và cách thức nại ra như thế nào);
định chế tiếp nhận tố quyền (cơ quan bảo hiến); thủ tục tiến hành xem xét và giải quyết
các vi phạm; và cơ chế thi hành phán quyết (đây được xem như điều kiện đủ). Việc có
chế tài và cơ chế áp dụng chế tài đối với vi phạm khiến cho Hiến pháp trở thành một đạo
luật, chứ không phải là một tuyên ngôn cách mạng hay một cam kết đơn phương của chính quyền.
Hiến pháp 1992 có nhắc đến việc xem xét lại các văn bản vi hiến, nhưng thiếu chế
tài và một cơ chế áp dụng hữu hiệu. Các vi phạm khác chưa được quan tâm đến. Đã đành
văn hóa chính trị, văn hóa pháp lý, trình độ dân trí và trình độ của các luật gia Việt Nam
còn có hạn, nhưng việc thiết lập một cơ chế bảo hiến hữu hiệu nên được nghiên cứu kỹ để
xây dựng từng bước trong dịp sửa đổi Hiến pháp 1992 lần này. VI. Thay cho lời kết
Việc sửa đổi Hiến pháp không chỉ là công việc của một vài luật gia quen biết có
chức sắc mà là công việc của toàn dân. Nó ảnh hưởng tới lợi ích chung của cả cộng đồng
và từng thành viên của cộng đồng. Thiết nghĩ cần trả lời cho được và thật chín chắn các
câu hỏi trên, và từ đó theo logic, xây dựng các điều khoản cụ thể khác. Tuy nhiên bài viết
này cũng chỉ là một lời bàn./. 8