Trường Đại học Thương Mại
Khoa Khách Sạn – Du lịch
BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài
Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc Việt Nam. Nhận thức về xây dựng
văn hóa học đường?
Nhóm 3
Lớp học phần: 2316HCMI0131
Giảng viên hướng dẫn: Hoàng Thị Thúy
Hà Nội, tháng 2 năm 2023
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................................2
PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG...........................................................................................................4
I. Cơ sở lí luận..................................................................................................................4
1.1. Quan điểm về nền văn hóa....................................................................................4
1.2. Khái quát về nền văn hóa Việt Nam....................................................................5
II. Thực trạng vận dụng quan điểm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc trong môi trường bậc đại học.................................................7
2.1. Chủ trương của Đảng trong xây dựng văn hóa học đường giai đoạn hiện nay7
2.1.1. Văn hóa học đường.........................................................................................7
2.1.2. Chủ trương của Đảng trong xây dựng văn hóa học đường.........................7
2.2. Thực trạng vận dụng quan điểm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc trong môi trường bậc đại học............................................11
2.2.1. Thành tựu.....................................................................................................11
2.2.2. Hạn chế..........................................................................................................13
2.2.3. Nguyên nhân.................................................................................................15
2.3. Giải pháp phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong môi
trường bậc đại học......................................................................................................16
LỜI KẾT THÚC............................................................................................................20
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................21
2
PHẦN MỞ ĐẦU
Văn hóa vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của con người
hội loài người. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, định hướng cho sự phát triển bền
vững của hội. Văn hóa thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống hội và mọi hành vi
của con người, điều chỉnh suy nghĩ hành vi của con người. Trong suốt chặng đường
hơn 83 năm lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực
dân Pháp đế quốc Mxâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như
trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay, Đảng ta luôn
nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của văn hóa thường xuyên quan tâm lãnh đạo,
phát huy sức mạnh văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Sau đây là đề tài
nghiên cứu của nhóm 3 chúng em với đề tài: “Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc Việt Nam. Nhận thức về xây dựng văn hóa học đường”. Qua sự lãnh đạo của
Đảng ta trong xây dựng và phát triển nền văn hóa từ đó áp dụng vào thực tiễn trong thực
tế tại các trường học. Trong giáo dục, văn hóa đã phát huy vai trò của mình như thế nào?
Nhất đối với những sinh viên đại học, những chủ nhân tương lai của đất nước đã áp
dụng đúng những quan điểm về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dânn tộc
hay chưa?
3
PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
I.1. Quan điểm về nền văn hóa
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc luôn những nét văn hóa riêng mang tính đặc trưng.
Văn hóa là nền tảng cho sự phát triển phồn thịnh của mỗi đất nước, bao gồm toàn bộ các
giá trị vật chất tinh thần được tạo ra trong quá trình lao động, sinh sống... theo bề dài
lịch sử của mỗi quốc gia.
Theo UNESCO, “Văn hóa tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong
quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỉ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ
thống các giá trị, các truyền thống thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của
mỗi dân tộc”
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa chính “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về
mặc, ăn, các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo phát minh đó tức
văn hóa”. Định nghĩa của chủ tịch Hồ Chí Minh cho ta cái nhìn khái quát toàn cảnh
hơn, văn hóa xuất phát từ chính hoạt động của con người - những hoạt động mục
đích sinh tồn trong cuộc sống loài người lặp đi lặp lại mang nét riêng và lưu truyền từ đời
này qua đời khác tạo thành văn hóa.
Văn hoá là một phạm trù gắn với lịch sử hình thành và phát triển của nhân loại. Với
tư cách là kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa con người với con người,
thiên nhiên, hội, trong nếp sống, lối sống, đạo đức hội, văn hoá nghệ thuật…Văn
hoá chính nền tảng tinh thần thể hiện tầm cao chiều sâu về trình độ phát triển của
một dân tộc, một chủ thể thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển toàn diện của văn minh con
người và xã hội trong tiến trình lịch sử. Trong văn hóa sẽ gồm có văn hóa vật chất và văn
hóa tinh thần đều là do con người sáng lập ra nhưng đây là các loại văn hóa không giống
nhau. dụ văn hóa vật chất sử dụng để chỉ khả năng sáng tạo của con người thể hiện
qua các vật thể, đồ sử dụng, dụng cụ do con người làm ra. Văn hóa tinh thần gồm có các
tưởng, giá trị tinh thần, những luận con người sáng tạo ra trong quá trình sinh
sống.
thể thấy văn hóa một nền giá trị không thể thiếu mỗi quốc gia, mỗi dân
tộc. Văn hóa bao trùm toàn bộ khía cạnh đời sống của con người, từ tiếng nói, ngôn ngữ,
tôn giáo, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh... của từng đất nước, đây là tất cả những giá
4
trị do chính con người sáng tạo ra. Văn hóa mang ý nghĩa về mặt tinh thần nhằm phục vụ
cho nhu cầu và lợi ích của con người, của quốc gia, dân tộc.
I.2. Khái quát về nền văn hóa Việt Nam
Đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam chính là đặc điểm nổi bật, thuộc tính riêng của
nền văn hóa khi ta đặt nó so sánh với các nền văn hóa khác trong khu vực và quốc tế. Vận
dụng cách tiếp cận địa - lịch sử, những đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam kết tinh
thành quả lao động, đấu tranh hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, gồm:
Nền văn hóa hình thành từ nền tảng nông nghiệp trồng lúa nước miền sông nước
biển đảo; đề cao giá trị văn hóa gia đình truyền thống; đậm tính cộng đồng, tự trị của văn
hóa làng xã; thấm đậm, bao trùm tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia - dân tộc; đề cao nữ
quyền; trọng nông, xa rừng, nhạt biển; đa dân tộc, thống nhất trong đa dạng; nền văn hóa
mở, thích ứng và tiếp biến hài hoà các nền văn minh nhân loại.
- Nền văn hóa hình thành từ nền tảng nông nghiệp lúa nước:
Từ trước đến nay, Việt Nam được biết đến một nước đi lên từ nông nghiệp
nông nghiệp là nguồn sống chính. Với điều kiện tự nhiên, nước Việt Nam nằm ở khu vực
Đông Nam Á, hình chữ S, chạy dài từ Bắc xuống Nam, diện tích đất liền 331.212
km2
,
đường bờ biển dài 3.260 km. Dựa theo địa lý, biển nước ta rộng gấp hơn 3 lần diện tích
đất liền chiếm khoảng 29% diện tích toàn Biển Đông, nơi tới trên 3.000 hòn đảo
lớn nhỏ.
Việt Nam có 54 dân tộc, dân số hơn 96,2 triệu người, trong đó dân tộc Kinh hơn 82
triệu, chiếm đa số 85,3% (theo tổng điều tra dân số 01/4/2019), sau đó là các dân tộc Tày,
Thái, Mường, Khơ-me. Cư dân của 5 dân tộc này đều lấy nghề trồng lúa nước làm nguồn
sống chính. Từ thời phong kiến, đại bộ phận người Việt sinh sống chủ yếu bằng nghề
trồng trọt và chủ yếu là trồng lúa nước.
- Nền văn hóa đề cao giá trị gia đình truyền thống:
“Gia đình” hai tiếng thiêng liêng, từ đời này qua đời khác giá trị của gia đình
không bao giờ thay đổi. Gia đình chính là tế bào của xã hội, là nơi sinh thành, nuôi dưỡng
cũng như là cái nôi phát triển của mỗi con người. Đặc trưng của dân tộc Việt Nam, giá trị
văn hóa gia đình đúc kết từ sự thích nghi ứng phó của dân tộc đối với tự nhiên
hội trước những thách thức của lịch sử. Giá trị gia đình được thể hiện qua việc thờ cúng
tổ tiên, đótín ngưỡng từ xưa đến nay của người Việt; coi trọng mồ mả, ngày giỗ chạp
của các cụ, ông bà, cha mẹ. Đó sự tôn trọng thành kính nhất của mỗi con người, mỗi
gia đình dành cho người sinh thành ra mình.
- Nền văn hóa mang đậm tính cộng đồng, tính tự trị văn hóa làng xã:
5
Làng xã một tổ chức hội độc đáo trong xã hội phong kiến Việt Nam. Làng xã
thể hiện nét tính chất cộng đồng. Tại đó, các thành viên gắn bó, quan hệ mật thiết
trong mọi sinh hoạt đời sống. Làng quê cha đất tổ, nơi chôn rau cắt rốn, nơi được
mọi người trân trọng gọi là quê hương. Cha ông ta có câu: “Quê hương là chùm khế ngọt/
Cho con trèo hái mỗi ngày”. Tính cộng đồng và tính tự trị là cơ sở để làng Việt mang bản
sắc riêng của mỗi vùng miền. Ở Việt Nam, làng là một thực thể tự trị nhưng làng và nước
lại có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, tạo nên giá trị tình làng nghĩa nước.
- Nền văn hóa thể hiện rõ nét tinh thần yêu nước, ý thức quốc giá - dân tộc:
Lịch sử đã chứng minh dân tộc Việt Nam dân tộc quật cường, hi sinh dưới bao
ách thống trị đô hộ. Trước thách thức của lịch sử, người Việt đã tự vệ cho dân tộc mình
bằng vũ khí văn hóa là đề cao, lan tỏa sâu rộng tinh thần yêu nước thương nòi, ý thức về
quốc gia dân tộc. Tình yêu nước nền tảng vững chắc tạo nên khí thế anh hùng của
quốc gia, của dân tộc. Người Việt Nam hiểu rằng, mất văn hóa là mất nước. Do vậy, yêu
nước trước hết là tình yêu văn hóa, giữ gìn nền văn hóa của quốc gia.
- Nền văn hóa dân tộc đa dạng:
Việt Nam quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc), trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số
nên văn hóa dân tộc Kinh giữ vai trò chủ đạo. Nền văn hóa đa dạng chính tiềm năng,
thế mạnh của đất nước Việt Nam. Mỗi dân tộc lại có những nét đặc trưng cơ bản riêng, từ
đó tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc màu nhưng vẫn tính thống nhất. Thống nhất
quốc kỳ, quốc huy, quốc hiệu, quốc ca… của nước. Thống nhất phép tắc của nhà nước,
lấy tiếng nói người Kinh làm ngôn ngữ phổ thông trong giao tiếp, quy định chữ viết quốc
gia trong mỗi thời kỳ lịch sử...
- Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc:
Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp cách mạng nước ta, nhiệm vụ của văn hóa là:
xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người Việt Nam
phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo.
+ Nền văn hóa tiên tiến:
Thể hiện tinh thần yêu nước tiến bộ nội dung cốt lõi tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩahội theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục
tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con
người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên.
Dân chủ đặc trưng bản của nền văn hóa tiên tiên (tiến bộ), dân chủ yếu tố
làm thay đổi nhiều mặt đời sống văn hóa dân tộc. Dân chủ động lực cho sự phát triển
6
tài năng, nhu cầu sáng tạo của quần chúng nhân dân góp phần làm phong phú, đa dạng
nền văn hóa dân tộc. Dân chủ gắn liền với tự do sáng tạo, tôn trọng tính sáng tạo, ý
kiến cá nhân, giá trị cá nhân trong văn hóa và mọi hoạt động của đời sống xã hội
+ Nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc:
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị truyền thống tốt đẹp, bền vững, những tinh
hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu
tranh dựng nước giữ nước. Đó là, lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc,
tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết nhân - gia đình - Tổ quốc; lòng nhân ái,
khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng
xử, tính giản dị trong cuộc sống; dũng cảm, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống
giặc ngoại xâm (Theo Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Đảng Cộng sản
Việt Nam
+ Liên hệ thực tế:
Nền văn hóa tiên tiến phải có sắc thái riêng, cái độc đáo của truyền thống, tâm hồn,
cốt cách, lối sống, ... của một dân tộc chứa đựng những tinh hoa của quá khứ kết hợp với
những cái tốt đẹp của hiện đại. Nếu không, trước xu hướng toàn cầu hóa, xu hướng áp đặt
văn hóa được truyền bởi sức mạnh vật chất phương tiện kỹ thuật hiện đại sẽ biến
văn hóa của các quốc gia dân tộc thành “bản sao” của nền văn hóa khác.
Bản sắc văn hóa dân tộc không phải nhất thành bất biến mà nó mang tính lịch sử -cụ
thể, luôn luôn tự đổi mới trên cơ sở loại bỏ những yếu tố tiêu cực và lạc hậu, sáng tạo và
xây dựng các giá trị văn hóa mới thích ứng với yêu cầu biến đổi của thời đại.
Như vậy, bên cạnh bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế,
tiếp thu chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác. Giữ gìn
bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói
7
II. Thực trạng vận dụng quan điểm xây dựng phát triển nền văn
hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong môi trường bậc đại
học
II.1. Chủ trương của Đảng trong xây dựng văn hóa học đường giai đoạn hiện
nay
II.1.1. Văn hóa học đường
Văn hóa học đường tập hợp các giá trị, tưởng, thái độ hành vi của các
thành viên trong cộng đồng giáo dục tại một trường học. bao gồm những quy tắc,
truyền thống, đạo đức văn hoá của một trường học cũng như quan hệ giữa các thành
viên trong trường như học sinh, giáo viên, nhân viên phụ huynh. Văn hóa học đường
đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển tư tưởng, phẩm chất, năng lực
và kỹ năng của học sinh cũng như tạo ra một môi trường học tập và làm việc tích cực và
hiệu quả.
Xây dựng văn hóa học đường thực hiện một quá trình quản giáo dục nhằm
mục đích xây dựng, phát triển trường học thành môi trường văn hóa-giáo dục lành mạnh,
các thành viên trong trường hành vi văn hóa chuẩn mực ngày càng ổn định theo
chiều hướng phát triển bền vững. Việc xây dựng văn hóa học đường nhiệm vụ quan
trọng của trường học và cộng đồng giáo dục.
II.1.2. Chủ trương của Đảng trong xây dựng văn hóa học đường
Tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất vào năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định vị trí, ảnh hưởng của văn hoá nghệ thuật trong việc giáo dục thế hệ
trẻ, xây dựng con người Việt Nam yêu nước, độc lập, tự cường, tự chủ. Văn hoá nói
chung và văn hoá học đường nói riêng là vấn đề luôn được Đảng, Quốc hội và Chính phủ
quan tâm, chỉ đạo.
Trong giai đoạn hiện nay, những chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng
văn hoá học đường đã được khẳng định rất trong nhiều văn bản của Thủ tướng Chính
phủ như: Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 03/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-2025”, Quyết
định số 1895/QĐ-TTg ngày 11/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình
“Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống
hiến cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng giai đoạn 2021-2030”. Đây là những quyết định
quan trọng nhằm thực hiện thành công Nghị quyết 29 của Đảng về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục đào tạo, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng,
Bộ trưởng Bộ GD nhấn mạnh: Chủ trương của Đảng trong xây dựng văn hóa học đường
tạo ra một môi trường giáo dục đa dạng, phù hợp với các đối tượng học sinh, từ mầm
8
non đến đại học. Đồng thời, đảm bảo xây dựng phát triển văn hoá học đường phải
được coi một trong những nhiệm vụ lớn, trọng tâm quan trọng phải được đặt lên
hàng đầu của toàn ngành Giáo dục, tại mỗi địa phươngở từng cơ sở giáo dục, đào tạo.
Bên cạnh đó giáo dục phải được phát triển theo hướng đổi mới hiện đại.Ở đó, con
người phải trung tâm phát triển con người phải được quán xuyến trong tất cả các
hoạt động của nhà trường.
Ngành Giáo dục đang triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018,
tập trung phát triển phẩm chất năng lực của người học, lấy việc dạy người làm nội
dung trọng tâm. Việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới giải pháp toàn
diện để củng cố, gia tăng tố chất văn hóa phát triển con người. Trong đó, văn hoá học
đường là môi trường quan trọng để rèn luyện nhân cáchgiáo dục người học trở thành
những con người phát triển toàn diện đức - trí - thể - mỹ, lòng yêu nước, tinh thần tự
hào, tự tôn dân tộc, có ý thức và trách nhiệm cao với đất nước, với gia đình và cộng đồng.
Với vai trò quản nhà nước, Bộ GDĐT đã đang tích cực tham mưu chính sách cho
Chính phủ trực tiếp ban hành nhiều chính sách nhằm từng bước thực hiện tốt công tác
văn hóa học đường, hướng tới giải quyết các vấn đề về hệ giá trị các nguyên tắc ứng
xử căn bản trong học đường một cách lâu dài. Đặc biệt, ngày 1/6/2022, Bộ GDĐT đã đề
xuất để Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Chỉ thị số 08/CT-TTg về việc tăng cường triển
khai công tác xây dựng văn hoá học đường. Chỉ thị sở, căn cứ tạo ra để những
chuyển biến tích cực về văn hóa học đường trong thời gian tới. Đề cập tới vai trò của Hội
nghị “Đẩy mạnh công tác văn hóa học đường”, Bộ trưởng cho hay: Tiếp theo thành công
của Hội nghị văn hoá toàn quốc năm 2021, một số hội nghị, hội thảo các hoạt động
của Bộ GDĐT, cùng Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội tổ chức xoay quanh chủ đề
văn hóa học đường, Hội nghị sẽ tập trung trao đổi, bàn luận về những giải pháp nhằm
tăng cường công tác xây dựng văn hóa học đường; triển khai hiệu quả Chỉ thị số 08/CT-
TTg trong việc tăng cường công tác xây dựng văn hoá học đường, phù hợp với bối cảnh
và yêu cầu tình hình và nhiệm vụ mới.
Khẳng định Đảng, Nhà nước luôn coi trọng và thường xuyên dành sự quan tâm đối
với công tác xây dựng, phát triển văn hóa, con người, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc
hội Trần Thanh Mẫn đồng thời cho rằng: Văn hóa học đường nền tảng để thúc đẩy,
nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, sự phát triển văn hóa, con
người, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới và xu thế hội nhập quốc tế.
Xây dựng văn hóa học đường là một nội dung quan trọng để thực hiện đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục đào tạo.Nhìn nhận những mặt tích cực, cũng như những khó khăn,
hạn chế của công tác văn hóa học đường thời gian qua, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc
hội Trần Thanh Mẫn đề nghị cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức
9
chính trị toàn ngành giáo dục tập trung thực hiện tốt 6 nội dung trọng tâm trong thời
gian tới.
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, vai trò quan trọng của
xây dựng văn hoá học đường kiên trì tổ chức thực hiện, phấn đấu đạt các mục tiêu đề
ra. Nghiên cứu, hoàn thiện lý luận, khoa học, thực tiễn và tăng cường tuyên truyền để tạo
sự thống nhất về nhận thức hành động. Phát huy dân chủ vai trò đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản giáo dục, các thầy giáo, giáo xây dựng văn hoá học đường. Tập
trung xây dựng một số hình điểm nhân rộng mô hình tốt. Thường xuyên theo dõi,
động viên, đôn đốc kiểm tra, định kỳ kết, tổng kết công tác triển khai xây dựng văn
hoá học đường để kịp thời định hướng, điều chỉnh cho phù hợp.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật; kịp thời điều chỉnh, bổ sung,
hoàn thiện hệ thống văn bản chỉ đạo, điều hành, quy chế, hướng dẫn liên quan tới xây
dựng văn hóa học đường. Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, Bộ Giáo dụcĐào
tạo chủ động phối hợp với các quan liên quan, chỉ đạo soát kết, tổng kết việc
thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Thứ ba, gắn việc xây dựng tổ chức thực hiện văn hoá học đường với việc đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục nói chung tổ chức thực hiện đổi mới chương trình
giáo dục nói riêng. Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục lý tưởng, đạo đức
lối sống, giáo dục pháp luật trong nhà trường. Tăng cường nâng cao chất lượng, hiệu
quả các hoạt động giáo dục giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống trong chương trình giáo dục,
đào tạo.
Thứ , phát huy vai trò quan trọng của nhà trường trong tạo dựng các giá trị văn
hóa thiết lập, củng cố, hoàn thiện các nguyên tắc ứng xử. Tập trung xây dựng
hướng dẫn thực hiện các chuẩn mực v văn hóa đạo đức, hành vi ứng xử trong nhà
trường, ngoài nhà trường trên không gian mạng. Xây dựng bộ tiêu chí về môi trường
văn hóa học đường xanh, sạch đẹp, kỷ cương, an toàn, lành mạnhthân thiện. Lấy con
người làm trung tâm, ưu tiên bồi dưỡng phẩm chất yêu nước, tính trung thực và tinh thần
chủ động, sáng tạo, phát huy năng lực tự học, ý thức tự chủ, tự trọng, tự chịu trách nhiệm,
rèn luyện bản lĩnh, tư duy phản biện, phong cách làm việc khoa học.
Thứ năm, huy động các nguồn lực đầu nhằm hoàn thiện, bảo đảm các thiết chế
văn hóa trong nhà trường như thư viện, nhà văn hóa, sân vận động,…; tăng cường các
điều kiện hạ tầng, sở vật chất, cập nhật các quy chuẩn xây dựng trường học bảo đảm
sinh thái phù hợp với môi trường giáo dục. Có giải pháp huy động sự tham gia tích cực
của gia đình, cộng đồng hội; phát huy vai trò của học sinh, sinh viên trong xây
dựng văn hoá học đường.
10
Thứ sáu, Bộ Giáo dục Đào tạo cần phát huy tốt vai trò chủ trì tham mưu, phối
hợp, huy động sự tham gia của toàn hệ thống chính trị, trong đó cần phát huy vai trò của
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, Hội Khuyến học trong xây dựng văn hóa học đường,
nhất là các quan được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ trong Chỉ thị 08. Phó Chủ
tịch Thường trực Quốc hội đề nghị các bộ, ngành, địa phương nghiêm túc, tích cực chỉ
đạo triển khai các nhiệm vụ được phân công.
Tại Hội nghị các tham luận, ý kiến được trao đổi thảo luận xoay quanh các vấn đề
như: Xây dựng văn hóa học đường góp phần xây dựng phát triển văn hóa, con người
Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Công tác chỉ đạo triển khai của
Đoàn, Hội, Đội về các giải pháp phối hợp với ngành Giáo dục trong nhiệm xây dựng văn
hóa học đường; Xây dựng hệ giá trị văn hóa cần hình thành trong học sinh phổ thông Việt
Nam trong giai đoạn mới...
Nhận định văn hóa học đường một phần của văn hóa quốc gia dân tộc, lĩnh
vực đặc biệt quan trọng tạo điều kiện môi trường để hiện thực hóa: “Học để làm người”
của giáo dục, PGS.TS Đào Duy Quát, Nguyên Phó trưởng Ban Thường trực, Ban
tưởng - Văn hóa Trung ương cho rằng: Cần nhận thức văn hóa học đường hệ thống
các giá trị chuẩn mực được kiến tạo không ngừng hoàn thiện qua quá trình tương tác
ứng xử giữa nhà quản lý giáo dục, cán bộ giảng viên, giáo viên, học sinh, sinh viên và các
cộng đồng với nhau. Qua đó, giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng thế hệ trẻ trong các nhà
trường phát triển toàn diện: nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm
hồn, trách nhiệm hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật, tinh thần yêu
nước, tự hào dân tộc, lương tâm trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia
đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.
Thông tin tại Hội nghị, đại diện Sở GDĐT Nghệ An cho biết, bên cạnh những kết
quả, nỗ lực xây dựng văn hóa học đường, hiện nay vẫn biểu hiện xuống cấp, đang
mối lo ngại trở thành vấn đề “nóng” của hội. Nhiều trường học trên địa bàn tỉnh
Nghệ An chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng văn hóa học đường dẫn đến những
hành vi lệch chuẩn như tình trạng bạo lực học đường, lối sống cảm, thờ ơ, thiếu trách
nhiệm với bản thân, gia đình, thầy cô, bạn bè…
Theo thông tin của đại diện Sở GDĐT Hà Nội, thời gian qua, ngành Giáo dục Thủ
đô đã triển khai dạy bộ tài liệu giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho học sinh Thủ
đô đã thu được những kết quả rất khả quan. Hiện, Nội đang xây dựng bộ tài liệu
hướng dẫn dạy cho các lớp mầm non 5 tuổi trên địa bàn thành phố. Sở GDĐT Hà Nội
cũng chỉ đạo các nhà trường, phòng GDĐT các quận, huyện, thị xã thành lập bộ phận làm
công tác tư vấn tâm lý trong trường học. Đến nay đã có 100% các đơn vị trường học (gần
1600 trường học) đã thành lập bộ phận tư vấn tâm lý.
11
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng văn hoá học đường, thư Trung
ương Đoàn Nguyễn Minh Triết đề nghị trong thời gian tới Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
ngành Giáo dục cần chỉ đạo các cấp bộ đoàn, hội, đội phối hợp chặt chẽ để triển khai
nhân rộng cáchình tiêu biểu trong việc triển khai các nội dung gắn với việc giáo dục
tưởng cách mạng, đạo đức lối sống, tình yêu quê hương, đất nước, văn hoá trong học
đường. Tiếp tục phối hợp để gia tăng số lượng, tần suất tổ chức các cuộc thi, chương
trình, diễn đàn cho học sinh, sinh viên trong thời gian tới. Đồng thời, quan tâm, tăng
cường tập huấn, nâng cao kỹ năng cho đội ngũ các thầy giáo về vấn đề giáo dục
tưởng cách mạng, đạo đức lối sống, tình yêu quê hương, đất nước, văn hóa trong học
đường…
Nhận định xây dựng văn hóa học đường một trong những nhiệm vụ quan trọng
để cụ thể hóa chủ trương của Đảng Nhà nước về văn hóa, ông Nguyễn Đắc Vinh đề
nghị Bộ GDĐT chỉ đạo, xây dựng các kế hoạch, chương trình, đề án triển khai Chỉ thị 08
của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường triển khai xây dựng văn hóa học đường; Ủy ban
Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội sẽ đồng hành, bám sát thực hiện để làm từng thành viên
trong nhà trường bao gồm quản lý, giáo viên, học sinh, người lao động đều thẩm thấu,
hình thành và giữ gìn nét văn hóa học đường.
Tóm lại, Chủ trương của Đảng Việt Nam trong xây dựng văn hóa học đường
quyết tâm xây dựng môi trường văn hóa học đường môi trường trong sáng nhất, đẹp
nhất, an toàn nhất, môi trường đậm chất văn hóa nhất. Đồng thời, chính trong môi
trường đó cũng cần làm cho học sinh, sinh viên gia tăng sức đề kháng về văn hóa, đủ
khả năng để sàng lọc, lựa chọn, đánh giá, thẩm thấu, nhận thức phản biện. Chỉ bằng
con đường nâng cao bản lĩnh về văn hóa sức đề kháng về văn hóa mới được nhân
cách, phẩm chất năng lực bền vững. Từ đó, việc phát triển văn hóa học đường sẽ
tinh thần lan tỏa và bền vững
II.2. Thực trạng vận dụng quan điểm xây dựng phát triển nền văn hóa tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong môi trường bậc đại học
II.2.1. Thành tựu
Dưới sự lãnh đạo của Đảng trong hơn 25 năm đổi mới, lĩnh vực văn hóa đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng. tưởng, đạo đức lối sống của sinh viên,
thanh niên đã những chuyển biến tích cực. Nhiều giá trị mới về văn hóa, chuẩn mực
đạo đức được khẳng định nhân rộng trong môi trường học tập. Phong trào "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" và Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh", các phong trào thi đua yêu nước ngày càng được mở rộng
từng bước đi vào thực chất trong đời sống xã hội. Công cuộc bảo tồnphát huy các di
sản văn hoá của dân tộc đã đạt được nhiều tiến bộ. Nhiều di sản văn hoá vật thể, phi vật
12
thể được bảo vệ phát huy giá trị công tác xã hội hoá đã thu hút được đông đảo các tổ
chức học sinh sinh viên nhân tham gia bảo vệ phát huy giá trị di sản văn hoá,
góp phần tích cực gìn giữ bản sắc văn hóa, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp
trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc, dần loại bỏ những sự lỗi thời, lạc hậu.
- Sinh viên biết coi trọng hơn các giá trị văn hóa, nhất là các giá trị di sản văn hóa
truyền thống. Dân chủ trên các lĩnh vực đời sống xã hội được mở rộng; dân trí được nâng
lên, quyền con người được tôn trọng. Con người Việt Nam năng động, tích cực, sáng tạo
hơn. Người dân có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin và hưởng thụ các giá trị văn hóa. Tinh
thần yêu nước, tự hào dân tộc, tính chủ động, tính tích cực hội của sinh viên về các
chủ thể văn hóa được phát huy. Đại đoàn kết dân tộc được mở rộng, tạo sức mạnh trong
xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Môi trường văn hóa được cải thiện một số mặt tiến
bộ; chú trọng xây dựng môi trường học tập văn minh, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,
từng bước tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới. Vai trò của sinh viêngiới trẻ được nâng
lên trong đời sống xã hội .
-Thông qua các hoạt động thực tiễn phong phú, niềm tin của thanh niên,sinh viên
vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xã hội chủ nghĩa và sự phát triển đi lên của đất
nước được củng cố. Thái độ, tinh thần trách nhiệm của sinh viên thanh niên, được nâng
lên, quan tâm trách nhiệm hơn đến những vấn đề của đất nước, của Đảng, của
Đoàn, của Hội. Văn hóa “kính thầy yêu bạn” được nâng cao, hiện tượng sinh viên thanh
niên đánh nhau đã giảm thiểu. Ý thức tự lập, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm
trong thanh niên ngày càng mạnh mẽ, hiện tượng bảo sao làm vậy, hoặc tự biến mình
thành người thừa hành bị động ngày càng ít đi. Tính thực tế trong duy trong học tập
cũng như các hoạt động xã hội của thanh niên ngày càng phát triển. Ngày nay, thanh niên
sinh viên suy nghĩ nhiều hơn tới vấn đề làm sao học tập, làm việc cho có hiệu quả.
-Ngày nay, yêu cầu về chất lượng đối với người thầy cũng rất cao. Đồng thời với
dạy chữ, người thầy còn phải dạy người. Dạy chữ không chỉ đơn thuầntruyền đạt kiến
thức, quan trọng hơn phải tạo cho người học khả năng sáng tạo, khả năng tự thích
nghi với mọi hoàn cảnh. Muốn vậy người học phải nắm được những điều bản chất nhất
những cái cơ bản nhất. Người thầy còn phải là một điển hình tốt về tinh thần tự học, vươn
lên, một tấm gương sáng ngời về đạo đức, về nhân cách đối với học sinh. Như vậy, chất
lượng đòi hỏingười thầyrất cao, rất toàn diện. Trong mấy chục năm qua các trường
đại học của ta đã những bước tiến vượt bậc. Giáo dục đại học đã những đóng góp
đáng kể trong công tác đào tạo cán bộ cho sự nghiệp xây dựng đất nước bảo vệ Tổ
quốc. Đội ngũ giảng viên đại học đã trưởng thành nhanh chóng, trong đó một số cán
bộ xuất sắc, đạt trình độ quốc tế. Vấn đề giáo dục đạo đức, tưởng sống cho thanh niên
phải được đặt lên hàng đầu.
13
- Trước đây thanh niên nhân dân ta thấm nhuần tưởng: Không quý
hơn độc lập, tự do”, chúng ta đã giành lại được độc lập tự do cho Tổ quốc. Ngày nay cần
làm cho mọi người hiểu nỗi nhục của một nước nghèo lạc hậu, ý chí quyết tâm
không chịu để rơi vào cảnh phụ thuộc, làm lệ mới về kinh tế cho các nước giàu. Do
vậy, trên nền giáo dục quảng đại cho đông đảo thanh niên, chúng ta cần đặc biệt quan tâm
đến việc bồi dưỡng, đào tạo người tài. Cần phải thực hiện một chính sách đặc biệt đối với
họ; tạo cho họ những điều kiện tốt nhất để học tập, rèn luyện, cung cấp những giáo viên
giỏi, chương trình học tập đặc biệt, điều kiện sinh hoạt, vật chất đầy đủ khi ra trường
được bố trí vào làm việc ở những nơi có điều kiện tốt nhất để phát huy tài năng.
II.2.2. Hạn chế
Với sự dẫn dắt và chỉ đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc thực hiện mục
tiêu, định hướng: “Xây dựng phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc”, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn ý nghĩa quan trọng đối với
sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cũng còn tồn tại một số
hạn chế cần nhìn nhận và điều chỉnh kịp thời:
- Một bộ phận sinh viên xa rời truyền thống, lịch sử, văn hóa, của dân tộc. Không
ít người thái độ ứng xử, biểu hiện tình cảm thái quá trong các hoạt động giải trí, văn
hóa, nghệ thuật; lãng quên, thờ ơ đối với dòng nhạc dân ca, dòng nhạc cách mạng truyền
thống. Bên cạnh đó, chúng ta thấy một tình trạng đáng báo động của giới trẻ nói chung và
sinh viên nói riêng trong việc hội nhập, tiếp thu văn hóa thế giới, du nhập những hoạt
động văn hóa tiêu cực, không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc.
- Không ít sinh viên đang ngày đêm đang cuốn vào các trò chơi điện tử trực tuyến
mang nặng tính bạo lực, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, thời gian học tập. Có những người
say với các ấn phẩm, văn hóa không lành mạnh, độc hại dẫn đến những hành động
suy đồi đạo đức, vi phạm pháp luật. Mặt khác, những biểu hiện sai lệch của những người
mà giới trẻ coi là thần tượng như ca sĩ, diễn viên điện ảnh hay cũng ảnh hưởng không nhỏ
đến lối sống của một số sinh viên hiện nay. Ngoài ra, ngôn ngữ dùng trong những cuộc
trò chuyện trên các trang mạng hội hay tin nhắn cũng bị một bộ phận học sinh, sinh
viên “biến tấu” với những từ ngữ khó hiểu, thậm chí dung tục sdụng một cách tràn
lan, khó chấp nhận, không còn giữ được sự trong sáng của Tiếng Việt. Thậm chí,
những từ ngữ bị dùng sai bản chất với ngụ ý không lành mạnh.
- Bản thân mỗi học sinh, sinh viên chưa thật sự xây dựng cho mình ý thức tự rèn
luyện, nâng cao trình độ, học hỏi kĩ năng. Bản lĩnh, ý thức tìm hiểu còn hạn chế của sinh
viên trước những loại hình hoạt động văn hóa, nghệ thuật khác nhau cũng một trong
những nguyên nhân đáng chú ý dẫn đến những hạn chế, yếu kém của một bộ phận bạn trẻ
trong việc tham gia giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
14
- Trong thực tế cuộc sống, một số hoạt động văn hóa, nghệ thuật không còn phù
hợp với sở thích giới trẻ, cho nên giới trẻ sinh viên phải tìm đến với những loại hình
nghệ thuật du nhập từ nước ngoài. Tuy nhiên, loại hình này lại chưa được chọn lọc trước
khi tràn lan trong xã hội. Công tác quản lí của các ban, ngành chức năng chưa thực sự
hiệu quả trong việc khắc phục thực trạng này.
- Thực tế hiện nay ở các trường đại học, bên cạnh sự tiến bộ mạnh mẽ của văn hóa
ứng xử, vẫn còn tồn tại những hành vi ứng xử, lời nói, phong cách giao tiếp chưa đúng
mực, chưa văn hóa, nhất sinh viên. Việc giáo dục đạo đức, tưởng các đoàn thể
chính trị, hội có nơi bị xem nhẹ, một bộ phận giới trẻ chogiáo điều, khô khan. Một
bộ phận nhỏ viên chức và sinh viên có biểu hiện của lối sống thực dụng, phủ nhận những
giá trị đạo đức truyền thống, ứng xử chưa đúng với môi trường phạm, môi trường
công sở, làm ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử trong trường.
- Về mặt rộng hơn văn hóa còn bao gồm cả giáo dục khoa học thuật. Trong
nền kinh tế tri thức hiện nay với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, sự
bùng nổ của công nghệ thông tin thì kiến thức giáo dục là nền tảng cơ sở nhất. Có thể nói,
hội học tập cung cấp các điều kiện, hội để mỗi người tự nâng cao trình độ, hoàn
thiện bản thân, phát huy cao độ năng lực sáng tạo để thích ứng với những biến đổi của
tình hình kinh tế - xã hội trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.
- Nền giáo dục tronghội học tập hướng vào việc xây dựng cho con người năng
lực đón nhận, xử lý, sử dụng, truyền bá,… thông tin để xã hội bắt kịp sự phát triển của tri
thức nhân loại. Bên cạnh những lợi ích hết sức thiết thực mang lại từ nền giáo dục mở, từ
sự hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng với thế giới, giới trẻ, học sinh, sinh viên ít nhiều
không tránh khỏi những tác động bởi những mặt trái của cơ chế thị trường, của văn hóa
phương Tây, đótưởng đề cao chủ nghĩa nhân, sự tha thứ về đạo đức, nhân cách,
lối sống hưởng thụ, đua đòi, trụy lạc.
- Việc thực hiện đường lối xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc thể hiện đối với sinh viên đại học. Trong trường học, sinh viên được giáo dục
việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, lòng yêu nước, yêu đồng bào, tự hào dân tộc, tôn
trọng, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa nhưng sinh viên bậc đại học không quan tâm,
học hời hợt cho qua đối với những môn học như vậy. Đó một trong những yếu tố tác
động đến nhận thức bản sắc văn hóa của dân tộc.
- Không những thế, tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những văn hóa dân tộc,
chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỉ đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân
tộc. Không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà con người chà đạp lên tình nghĩa gia
đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp. Buôn lậu tham nhũng phát triển, mat
15
tuý mại dâm và các tệ nạn xã hội, khác gia tăng. Nạn mê tín dị đoan khá phổ biến. Nhiều
hủ tục cũ và mới lan tràn, nhất là trong việc cưới, đám tang, lễ hội.
Hơn lúc nào hết, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, việc giữ gìn phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc đang nhiệm vụ cấp bách trong tiến trình công nghiệp hóa hiện
đại hóa. Đó nền tảng, sở để đất nước ta hòa nhập sâu rộng với thế giới nhưng
không hòa tan, vẫn phát huy được niềm tự hào của dân tộc, bản sắc văn hóa riêng của con
người đất nước Việt Nam. Tóm lại, việc phát hiện những hạn chế tồn tại cũng
hội để Đảng tiếp tục khắc phục những yếu kém, đồng thời hoàn thiện thêm đường lối của
mình.
II.2.3. Nguyên nhân
II.2.3.1. Nguyên nhân của thành tựu
Những thành tựu trong sự xây dựng văn hóa một mặt chứng tỏ đường lối các
chính sách của Đảng Nhà nước ta đã đang phát huy tác dụng tích cực, định hướng
đúng đắn cho sự phát triển đời sống văn hóa, hội, mặt đó kết quả của sự tham gia
tích cực của nhân dân những nỗ lực to lớn của các lực lượng hoạt động trên lĩnh vực
văn hóa.
Việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, biết tiếp thu vận dụng chọn
lọc các tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng sáng tạo vào nền văn hóa của nước nhà.
Nhân dân ta có truyền thống đoàn kết, ham học hỏi, cần cù chịu khó, cố gắng phấn
đấu tới cùng vì mục tiêu của nước nhà. Đặc biệt là thế hệ trẻ sinh viên ngày nay
II.2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế
- Về vấn đề ứng xử với môi trường cảnh quan: thể hiện một sự lệch lạc trong quan
niệm của một bộ phận không nhỏ những sinh viên học thức. Những việc làm sai trái
nếu được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ khiến người ta coi bình thường người ta lại
không thấy sợ, không thấy xấu hổ về điều họ làm, lâu dần sẽ trở thành thói quen. Và điều
này là vô cùng tai họa
- Về trang phục và cách ăn mặc: do những người trẻ tuổi thường đứng đầu trào lưu
mới, do vậy văn hóa ăn mặc từ du nhập từ nước ngoài và được sinh viên tiếp nhận là điều
không tránh khỏi.đặc biệt , sinh viên luôn mang trong mình suy nghĩ “tôi mặc những
tôi thích”, tư tưởng không muốn thua kém bạn bè, nên ăn chơi đua đòi .
- Văn hóa học đường vẫn chưa phải vấn đề được đưa vào phạm vi quản
nghiêm ngặt trong môi trường đại học.
16
- Về giao tiếp giữa các sinh viên: vấn đề này thường xảy ra phổ biến trong hầu hết
các trường. Do trào lưu, sinh viên giao tiếp với nhau, thường sử dụng những câu tục để
nhấn mạnh điều mình muốn nói, sử dụng các từ lóng để trêu đùa nhau, lâu dần thành thói
quen không bỏ được…
- Về môi trường sống những tác động xung quanh : Do hội ngày càng phát
triển nên thế hệ sinh viên được sống trong môi trường rất thoải mái, được nuông chiều và
đặc biệt kéo theo rất dễ bị xa vào những tệ nạn hội, những người bạn xấu xung
quanh. Vì là sinh viên nên ít bị cha mẹ kiểm soát, sống buông thả và thoải mái làm những
điều mình thích dù biết là sai trái.
II.3. Giải pháp phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong
môi trường bậc đại học
*Xây dựng môi trường văn hóa trong các trường đại học là sự chủ động của các chủ
thể trong hội (chủ thể quản nhà nước, chủ thể quản trực tiếp trường đại học,
chủ thể cộng đồng sinh viên, chủ thể cácnhân, doanh nghiệp ngoài xã hội...) tác động
đến các nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa trong trường đại học.
Vận dụng thuyết quản bám sát các thành tố kiến tạo môi trường văn hóa
chúng tôi nêu ra khung phân tích đánh giá xây dựng môi trường văn hóa trong trường đại
học như sau:
Thứ nhất, triển khai các văn bản chỉ đạo, pháp của cấp trên liên quan đến xây
dựng môi trường văn hóa xây dựng các quy định, quy chế, quy ước, quy tắc ứng xử
văn hóa trong trường đại học.
Vận dụng các quan điểm của Đảng nêu trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo các quan điểm nêu trong Nghị quyết
Trung ương 9 khóa XI về văn hóa, con người vào chỉ đạo xây dựng môi trường văn hóa
học đường. Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban
thư khóa XI về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục tưởng
cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015-2030” (24/3/2015);
Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng, thực hiện
hương ước, quy ước (08/5/2018); Quyết định số 1299/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-2025
(03/10/2018); xây dựng trường đại học đạt chuẩn văn hóa trong Phong trào Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa...
Thứ hai, xây dựng cảnh quan môi trường sinh thái nhân văn
17
Bảo vệ hệ sinh thái thực vật, động vật tự nhiên nhân tạo, các yếu tố phi sự sống
khác trong không gian hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của trường đại
học. Giáo dục văn hóa môi trường trong học đường. Đặt mục tiêu đảm bảo cho không
gian của trường học sáng, xanh, sạch, đẹp, an toàn, con người sống hài hòa, thân thiện
với môi trường sinh thái.
Thứ ba, xây dựng nâng cao chất lượng các sản phẩm văn hóa vật chất, tinh thần
trong trường đại học.
Hoàn thiện không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn
hóa trong trường đại học. Đó là thiết chế thư viện, nơi lưu trữ tri thức của nhân loại phục
vụ phát triển văn hóa đọc. Đó hội trường, phòng tập nghệ thuật, sân khấu ngoài trời...
để thu hút giảng viên, sinh viên tham gia sáng tạo hưởng thụ các sản phẩm văn hóa
tinh thần. Đó là khu thể dục, thể thao thu hút giảng viên, sinh viên tham gia các hoạt động
vui chơi, giải trí phát triển văn hóa thể chất như bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, tennis,
thể dục thể hình... Duy trì các câu lạc bộ văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao. Tổ chức
các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, phong trào xã hội thiện nguyện.
Thứ , xây dựng mối quan hệ con người với con người tình nghĩa, nhân văn, thân
thiện với môi trường sinh thái trong mọi hoạt động của nhà trường.
Nhà trường cần xây dựng các chuẩn mực văn hóa học đường, thực chất là xây dựng
nếp sống văn hóa, văn minh trong việc ăn,, đi lại, học tập, vui chơi giải trí... thể hiện
được giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên hội trong trường học. Trước
mắt, các trường đại học cần đôn đốc, chỉ đạo các đơn vị trong trường thực hiện nghiêm,
hiệu quả, chất lượng bộ quy tắc ứng xử văn hóa trong trường học.
Thứ năm, lan tỏa giá trị đích thực của những nhân cách văn hóa trong môi trường
văn hóa học đường.
Coi trọng việc biểu dương nhân rộng người tốt, việc tốt, tập thể, điển hình tiên
tiến, hình hay trong xây dựng môi trường văn hóa học đường. Khen thưởng kịp thời
nhân tố tích cực, những mẫu mực nhân cách văn hóa. Bảo vệ những người trung thực,
thẳng thắn đấu tranh với cái xấu, cái ác... trong môi trường văn hóa học đường.
Thứ sáu, thiết lập các tổ chức tự quản, giám sát việc xây dựng môi trường văn hóa;
chấn chỉnh các hành vi và hoạt động văn hóa lệch chuẩn trong trường đại học.
Phát huy vai trò của các đội tự quản sinh viên trong khu ký túc xá. Đẩy mạnh hoạt
động Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Thanh niên Việt Nam, lấy hội viên
giáo dục hội viên. Đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái bảo vệ nền tảng tư tưởng
18
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Xử kiên quyết, kịp thời những biểu
hiện tiêu cực, hành vi thiếu văn hóa trong môi trường học đường.
*Văn hóa vai trò rất to lớn đối với sự phát triển bền vững đất nước trong thời kỳ đổi
mới, điều này đã một lần nữa được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng:
“Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước
và bảo vệ Tổ quốc”.
Trước yêu cầu đổi mới trong giáo dục hiện nay, đòi hỏi công tác xây dựng VHNT
ở các trường cần được quan tâm đúng mức, tập trung vào bảy nội dung cơ bản sau:
Một , xây dựng bầu không khí dân chủ, lành mạnh trong nhà trường: Xây dựng
bầu không khí trong nhà trường bao gồm các hoạt động xây dựng cải thiện mối quan
hệ hợp tác giữa các thành viên trong nhà trường. Quan tâm xây dựng và duy trì mối quan
hệ tốt đẹp giữa các thành viên trong nhà trường. Đảm bảo sự an toàn trong quá trình
giảng dạy học tập tại nhà trường. Bầu không khí lành mạnh, dân chủ môi trường
chứa đựng nhiều điều tốt đẹp và những chuẩn mực để nhà trường luôn luôn cải tiến, vươn
tới. Đó không chỉ môi trường không gian xanh - sạch - đẹp - tiện nghi,… đó
còn chứa đựng không khí cởi mở, dân chủ, hợp tác, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau giữa các
thành viên trong nhà trường.
Hai là, xây dựng văn hóa quản chuyên nghiệp chuẩn mực trong nhà trường:
Xây dựng văn hóa quản trong nhà trường chính phát triển các nội dung quản lý của
người quản lý hay lãnh đạo trong nhà trường. Nội dung quản lý nhà trường bao gồm các
nội dung về xây dựng chiến lược, sứ mạng, tầm nhìn, quản hoạt động chuyên môn,
quản lý hoạt động truyền thông, quản lý các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của nhà
trường, quản lý môi trường sư phạm, cảnh quan nhà trường... Đó là những giá trị tích cực
trong phong cách, năng lực và hiệu quả quản lý.
Ba , xây dựng văn hóa giảng dạy tích cực của giáo viên trong nhà trường: Nội
dung trong xây dựng văn hóa giảng dạy của giáo viên bao gồm phát triển về phẩm chất,
đạo đức; năng lực giảng dạy giáo dục; năng lực nghiên cứu khoa học; khả năng đổi
mới và sáng tạo của giáo viên. Để xây dựng văn hóa giảng dạy tích cực giáo viên phải thi
đua dạy tốt, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên, đặc biệt
hướng vào đổi mới phương pháp dạy học để phát triển năng lực cho người học.
Bốn , xây dựng văn hóa học tập tích cực, chủ động sáng tạo của người học:
Xây dựng văn hóa học tập chính là phát triển những nội dung trong hoạt động học tập
rèn luyện của học sinh. Người học chủ thể năng động của quá trình dạy học, trung
tâm của hoạt động dạy học. Để xây dựng văn hóa học tập sáng tạo, tích cực, chủ động,
19
phát huy phẩm chất năng lực của người học, người giáo viên phải xây dựng cáci
giảng phát huy được tính sáng tạo, khả năng hợp tác của người học. Giáo dục cho người
học động cơ học tập đúng đắn; học nghiêm túc, có nề nếp và có kỷ luật; học tích cực, chủ
động; học nghiên cứu, sáng tạo; học thân thiện, hợp tác.
Năm , xây dựng văn hóa ứng xử lành mạnh chuẩn mực trong nhà trường:
VHNT một phần được đánh giá qua mối quan hệ ứng xử của các thành viên trong nhà
trường môi trường phạm của nhà trường. Những mối quan hệ đó tạo nên văn hóa
ứng xử trong nhà trường. Xây dựng văn hóa ứng xử trong nhà trường duy trì những
yếu tố tích cực trong các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường. Nhà trường
nơi hình thành nhiều mối quan hệ đan chéo như: nhà quản - cán bộ giáo viên,
thầy - thầy, thầy - trò, trò - thầy, trò - trò… Để những mối quan hệ đó trở nên tốt đẹp, nhà
trường cần phải xây dựng bầu không khí dân chủ: cởi mở, hợp tác, cùng chia sẻ hỗ trợ lẫn
nhau.
Sáu là, xây dựng cảnh quan môi trường phạm hiện đại an toàn trong nhà
trường: Xây dựng một môi trường nhà trường đầy đủ về sở vật chất, tiện nghi an
toàn tạo nên một cảnh quan nhà trường kiểu mẫu. Nhà trường cần tiến hành xây dựng hệ
thống sở vật chất đạt chuẩn theo quy định, một môi trường cảnh quan an toàn, sạch
đẹp. Đồng thời, làm cho nhà trường trở thành môi trường giáo dục tốt, thân thiện, qua đó
người dạy, người học gắn yêu thương nhau hơn, yêu mến trường hơn, trên sở đó
nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên trong nhà trường trong việc tu dưỡng,
rèn luyện, phấn đấu vươn lên.
Bảy , xây dựng các giá trị văn hóa cốt lõi trong của nhà trường: Giá trị điều
nhà trường cam kết thực hiện cho các bên liên quan, các nguyên tắc chỉ đạo hành
vi của các thành viên trong nhà trường. Giá trị chính là các nguyên tắc và niềm tin cơ bản
lâu dài, để định hướng làm việc, hành vi, các quan hệ ra quyết định. Đó cái
nhà trường cố gắng theo đuổi, thậm chí ngay cả khi môi trường bên ngoài thay đổi. Xây
dựng các giá trị văn hóa trong nhà trường chính là việc xác định hệ thống giá trị văn hóa
của nhà trường, xem đâu là giá trị văn hóa đặc trưng, cốt lõi để xây dựng và phát triển trở
thành hệ giá trị xuyên suốt của nhà trường. Giá trị cốt lõi của một nhà trường tạo ra bản
sắc riêng của nhà trường.
20

Preview text:

Trường Đại học Thương Mại
Khoa Khách Sạn – Du lịch BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề tài
Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc Việt Nam. Nhận thức về xây dựng
văn hóa học đường? Nhóm 3
Lớp học phần: 2316HCMI0131
Giảng viên hướng dẫn: Hoàng Thị Thúy
Hà Nội, tháng 2 năm 2023 1 MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................................2
PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG...........................................................................................................4
I. Cơ sở lí luận..................................................................................................................4
1.1. Quan điểm về nền văn hóa....................................................................................4
1.2. Khái quát về nền văn hóa Việt Nam....................................................................5

II. Thực trạng vận dụng quan điểm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc trong môi trường bậc đại học.................................................7

2.1. Chủ trương của Đảng trong xây dựng văn hóa học đường giai đoạn hiện nay 7
2.1.1. Văn hóa học đường.........................................................................................7
2.1.2. Chủ trương của Đảng trong xây dựng văn hóa học đường.........................7

2.2. Thực trạng vận dụng quan điểm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc trong môi trường bậc đại học............................................11

2.2.1. Thành tựu.....................................................................................................11
2.2.2. Hạn chế..........................................................................................................13
2.2.3. Nguyên nhân.................................................................................................15

2.3. Giải pháp phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong môi
trường bậc đại học......................................................................................................16

LỜI KẾT THÚC............................................................................................................20
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................21 2 PHẦN MỞ ĐẦU
Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của con người và xã
hội loài người. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, định hướng cho sự phát triển bền
vững của xã hội. Văn hóa thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội và mọi hành vi
của con người, điều chỉnh suy nghĩ và hành vi của con người. Trong suốt chặng đường
hơn 83 năm lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay, Đảng ta luôn
nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của văn hóa và thường xuyên quan tâm lãnh đạo,
phát huy sức mạnh văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Sau đây là đề tài
nghiên cứu của nhóm 3 chúng em với đề tài: “Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc Việt Nam. Nhận thức về xây dựng văn hóa học đường”. Qua sự lãnh đạo của
Đảng ta trong xây dựng và phát triển nền văn hóa từ đó áp dụng vào thực tiễn trong thực
tế tại các trường học. Trong giáo dục, văn hóa đã phát huy vai trò của mình như thế nào?
Nhất là đối với những sinh viên đại học, những chủ nhân tương lai của đất nước đã áp
dụng đúng những quan điểm về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dânn tộc hay chưa? 3 PHẦN NỘI DUNG I. Cơ sở lí luận
I.1. Quan điểm về nền văn hóa

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc luôn có những nét văn hóa riêng mang tính đặc trưng.
Văn hóa là nền tảng cho sự phát triển phồn thịnh của mỗi đất nước, bao gồm toàn bộ các
giá trị vật chất và tinh thần được tạo ra trong quá trình lao động, sinh sống... theo bề dài
lịch sử của mỗi quốc gia.
Theo UNESCO, “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong
quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỉ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ
thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa chính là “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về
mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là
văn hóa”. Định nghĩa của chủ tịch Hồ Chí Minh cho ta cái nhìn khái quát và toàn cảnh
hơn, văn hóa là xuất phát từ chính hoạt động của con người - những hoạt động vì mục
đích sinh tồn trong cuộc sống loài người lặp đi lặp lại mang nét riêng và lưu truyền từ đời
này qua đời khác tạo thành văn hóa.
Văn hoá là một phạm trù gắn với lịch sử hình thành và phát triển của nhân loại. Với
tư cách là kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa con người với con người,
thiên nhiên, xã hội, trong nếp sống, lối sống, đạo đức xã hội, văn hoá nghệ thuật…Văn
hoá chính là nền tảng tinh thần thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của
một dân tộc, là một chủ thể thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển toàn diện của văn minh con
người và xã hội trong tiến trình lịch sử. Trong văn hóa sẽ gồm có văn hóa vật chất và văn
hóa tinh thần đều là do con người sáng lập ra nhưng đây là các loại văn hóa không giống
nhau. Ví dụ văn hóa vật chất sử dụng để chỉ khả năng sáng tạo của con người thể hiện
qua các vật thể, đồ sử dụng, dụng cụ do con người làm ra. Văn hóa tinh thần gồm có các
tư tưởng, giá trị tinh thần, những lý luận mà con người sáng tạo ra trong quá trình sinh sống.
Có thể thấy văn hóa là một nền giá trị không thể thiếu ở mỗi quốc gia, mỗi dân
tộc. Văn hóa bao trùm toàn bộ khía cạnh đời sống của con người, từ tiếng nói, ngôn ngữ,
tôn giáo, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh... của từng đất nước, đây là tất cả những giá 4
trị do chính con người sáng tạo ra. Văn hóa mang ý nghĩa về mặt tinh thần nhằm phục vụ
cho nhu cầu và lợi ích của con người, của quốc gia, dân tộc.
I.2. Khái quát về nền văn hóa Việt Nam
Đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam chính là đặc điểm nổi bật, thuộc tính riêng của
nền văn hóa khi ta đặt nó so sánh với các nền văn hóa khác trong khu vực và quốc tế. Vận
dụng cách tiếp cận địa lý - lịch sử, những đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam kết tinh
thành quả lao động, đấu tranh hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, gồm:
Nền văn hóa hình thành từ nền tảng nông nghiệp trồng lúa nước ở miền sông nước và
biển đảo; đề cao giá trị văn hóa gia đình truyền thống; đậm tính cộng đồng, tự trị của văn
hóa làng xã; thấm đậm, bao trùm tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia - dân tộc; đề cao nữ
quyền; trọng nông, xa rừng, nhạt biển; đa dân tộc, thống nhất trong đa dạng; nền văn hóa
mở, thích ứng và tiếp biến hài hoà các nền văn minh nhân loại.
- Nền văn hóa hình thành từ nền tảng nông nghiệp lúa nước:
Từ trước đến nay, Việt Nam được biết đến là một nước đi lên từ nông nghiệp và
nông nghiệp là nguồn sống chính. Với điều kiện tự nhiên, nước Việt Nam nằm ở khu vực
Đông Nam Á, hình chữ S, chạy dài từ Bắc xuống Nam, diện tích đất liền 331.212 km2,
đường bờ biển dài 3.260 km. Dựa theo địa lý, biển nước ta rộng gấp hơn 3 lần diện tích
đất liền và chiếm khoảng 29% diện tích toàn Biển Đông, nơi có tới trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ.
Việt Nam có 54 dân tộc, dân số hơn 96,2 triệu người, trong đó dân tộc Kinh hơn 82
triệu, chiếm đa số 85,3% (theo tổng điều tra dân số 01/4/2019), sau đó là các dân tộc Tày,
Thái, Mường, Khơ-me. Cư dân của 5 dân tộc này đều lấy nghề trồng lúa nước làm nguồn
sống chính. Từ thời phong kiến, đại bộ phận người Việt sinh sống chủ yếu bằng nghề
trồng trọt và chủ yếu là trồng lúa nước.
- Nền văn hóa đề cao giá trị gia đình truyền thống:
“Gia đình” là hai tiếng thiêng liêng, từ đời này qua đời khác giá trị của gia đình
không bao giờ thay đổi. Gia đình chính là tế bào của xã hội, là nơi sinh thành, nuôi dưỡng
cũng như là cái nôi phát triển của mỗi con người. Đặc trưng của dân tộc Việt Nam, giá trị
văn hóa gia đình đúc kết từ sự thích nghi và ứng phó của dân tộc đối với tự nhiên và xã
hội trước những thách thức của lịch sử. Giá trị gia đình được thể hiện qua việc thờ cúng
tổ tiên, đó là tín ngưỡng từ xưa đến nay của người Việt; coi trọng mồ mả, ngày giỗ chạp
của các cụ, ông bà, cha mẹ. Đó là sự tôn trọng thành kính nhất của mỗi con người, mỗi
gia đình dành cho người sinh thành ra mình.
- Nền văn hóa mang đậm tính cộng đồng, tính tự trị văn hóa làng xã: 5
Làng xã là một tổ chức xã hội độc đáo trong xã hội phong kiến Việt Nam. Làng xã
thể hiện rõ nét tính chất cộng đồng. Tại đó, các thành viên gắn bó, có quan hệ mật thiết
trong mọi sinh hoạt đời sống. Làng là quê cha đất tổ, là nơi chôn rau cắt rốn, nơi được
mọi người trân trọng gọi là quê hương. Cha ông ta có câu: “Quê hương là chùm khế ngọt/
Cho con trèo hái mỗi ngày”. Tính cộng đồng và tính tự trị là cơ sở để làng Việt mang bản
sắc riêng của mỗi vùng miền. Ở Việt Nam, làng là một thực thể tự trị nhưng làng và nước
lại có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, tạo nên giá trị tình làng nghĩa nước.
- Nền văn hóa thể hiện rõ nét tinh thần yêu nước, ý thức quốc giá - dân tộc:
Lịch sử đã chứng minh dân tộc Việt Nam là dân tộc quật cường, hi sinh dưới bao
ách thống trị đô hộ. Trước thách thức của lịch sử, người Việt đã tự vệ cho dân tộc mình
bằng vũ khí văn hóa là đề cao, lan tỏa sâu rộng tinh thần yêu nước thương nòi, ý thức về
quốc gia – dân tộc. Tình yêu nước là nền tảng vững chắc tạo nên khí thế anh hùng của
quốc gia, của dân tộc. Người Việt Nam hiểu rằng, mất văn hóa là mất nước. Do vậy, yêu
nước trước hết là tình yêu văn hóa, giữ gìn nền văn hóa của quốc gia.
- Nền văn hóa dân tộc đa dạng:
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc), trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số
nên văn hóa dân tộc Kinh giữ vai trò chủ đạo. Nền văn hóa đa dạng chính là tiềm năng,
thế mạnh của đất nước Việt Nam. Mỗi dân tộc lại có những nét đặc trưng cơ bản riêng, từ
đó tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc màu nhưng vẫn có tính thống nhất. Thống nhất
quốc kỳ, quốc huy, quốc hiệu, quốc ca… của nước. Thống nhất phép tắc của nhà nước,
lấy tiếng nói người Kinh làm ngôn ngữ phổ thông trong giao tiếp, quy định chữ viết quốc
gia trong mỗi thời kỳ lịch sử...
- Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc:
Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp cách mạng nước ta, nhiệm vụ của văn hóa là:
xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người Việt Nam
phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo.
+ Nền văn hóa tiên tiến:
Thể hiện tinh thần yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lí tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục
tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con
người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên.
Dân chủ là đặc trưng cơ bản của nền văn hóa tiên tiên (tiến bộ), dân chủ là yếu tố
làm thay đổi nhiều mặt đời sống văn hóa dân tộc. Dân chủ là động lực cho sự phát triển 6
tài năng, nhu cầu sáng tạo của quần chúng nhân dân góp phần làm phong phú, đa dạng
nền văn hóa dân tộc. Dân chủ gắn liền với tự do sáng tạo, tôn trọng cá tính sáng tạo, ý
kiến cá nhân, giá trị cá nhân trong văn hóa và mọi hoạt động của đời sống xã hội
+ Nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc:
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị truyền thống tốt đẹp, bền vững, những tinh
hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu
tranh dựng nước và giữ nước. Đó là, lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc,
tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - Tổ quốc; lòng nhân ái,
khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng
xử, tính giản dị trong cuộc sống; dũng cảm, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống
giặc ngoại xâm … (Theo Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam + Liên hệ thực tế:
Nền văn hóa tiên tiến phải có sắc thái riêng, cái độc đáo của truyền thống, tâm hồn,
cốt cách, lối sống, ... của một dân tộc chứa đựng những tinh hoa của quá khứ kết hợp với
những cái tốt đẹp của hiện đại. Nếu không, trước xu hướng toàn cầu hóa, xu hướng áp đặt
văn hóa được truyền bá bởi sức mạnh vật chất và phương tiện kỹ thuật hiện đại sẽ biến
văn hóa của các quốc gia dân tộc thành “bản sao” của nền văn hóa khác.
Bản sắc văn hóa dân tộc không phải nhất thành bất biến mà nó mang tính lịch sử -cụ
thể, luôn luôn tự đổi mới trên cơ sở loại bỏ những yếu tố tiêu cực và lạc hậu, sáng tạo và
xây dựng các giá trị văn hóa mới thích ứng với yêu cầu biến đổi của thời đại.
Như vậy, bên cạnh bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế,
tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác. Giữ gìn
bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ 7
II. Thực trạng vận dụng quan điểm xây dựng và phát triển nền văn
hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong môi trường bậc đại học
II.1. Chủ trương của Đảng trong xây dựng văn hóa học đường giai đoạn hiện nay
II.1.1. Văn hóa học đường
Văn hóa học đường là tập hợp các giá trị, tư tưởng, thái độ và hành vi của các
thành viên trong cộng đồng giáo dục tại một trường học. Nó bao gồm những quy tắc,
truyền thống, đạo đức và văn hoá của một trường học cũng như quan hệ giữa các thành
viên trong trường như học sinh, giáo viên, nhân viên và phụ huynh. Văn hóa học đường
đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển tư tưởng, phẩm chất, năng lực
và kỹ năng của học sinh cũng như tạo ra một môi trường học tập và làm việc tích cực và hiệu quả.
Xây dựng văn hóa học đường là thực hiện một quá trình quản lý giáo dục nhằm
mục đích xây dựng, phát triển trường học thành môi trường văn hóa-giáo dục lành mạnh,
các thành viên trong trường có hành vi văn hóa chuẩn mực và ngày càng ổn định theo
chiều hướng phát triển bền vững. Việc xây dựng văn hóa học đường là nhiệm vụ quan
trọng của trường học và cộng đồng giáo dục.
II.1.2. Chủ trương của Đảng trong xây dựng văn hóa học đường
Tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất vào năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định vị trí, ảnh hưởng của văn hoá nghệ thuật trong việc giáo dục thế hệ
trẻ, xây dựng con người Việt Nam yêu nước, độc lập, tự cường, tự chủ. Văn hoá nói
chung và văn hoá học đường nói riêng là vấn đề luôn được Đảng, Quốc hội và Chính phủ quan tâm, chỉ đạo.
Trong giai đoạn hiện nay, những chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng
văn hoá học đường đã được khẳng định rất rõ trong nhiều văn bản của Thủ tướng Chính
phủ như: Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 03/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-2025”, Quyết
định số 1895/QĐ-TTg ngày 11/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình
“Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống
hiến cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng giai đoạn 2021-2030”. Đây là những quyết định
quan trọng nhằm thực hiện thành công Nghị quyết 29 của Đảng về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng,
Bộ trưởng Bộ GD nhấn mạnh: Chủ trương của Đảng trong xây dựng văn hóa học đường
là tạo ra một môi trường giáo dục đa dạng, phù hợp với các đối tượng học sinh, từ mầm 8
non đến đại học. Đồng thời, đảm bảo xây dựng và phát triển văn hoá học đường phải
được coi là một trong những nhiệm vụ lớn, trọng tâm và quan trọng phải được đặt lên
hàng đầu của toàn ngành Giáo dục, tại mỗi địa phương và ở từng cơ sở giáo dục, đào tạo.
Bên cạnh đó giáo dục phải được phát triển theo hướng đổi mới và hiện đại.Ở đó, con
người phải là trung tâm và phát triển con người phải được quán xuyến trong tất cả các
hoạt động của nhà trường.
Ngành Giáo dục đang triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018,
tập trung phát triển phẩm chất và năng lực của người học, lấy việc dạy người làm nội
dung trọng tâm. Việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới là giải pháp toàn
diện để củng cố, gia tăng tố chất văn hóa và phát triển con người. Trong đó, văn hoá học
đường là môi trường quan trọng để rèn luyện nhân cách và giáo dục người học trở thành
những con người phát triển toàn diện đức - trí - thể - mỹ, có lòng yêu nước, tinh thần tự
hào, tự tôn dân tộc, có ý thức và trách nhiệm cao với đất nước, với gia đình và cộng đồng.
Với vai trò quản lý nhà nước, Bộ GDĐT đã và đang tích cực tham mưu chính sách cho
Chính phủ và trực tiếp ban hành nhiều chính sách nhằm từng bước thực hiện tốt công tác
văn hóa học đường, hướng tới giải quyết các vấn đề về hệ giá trị và các nguyên tắc ứng
xử căn bản trong học đường một cách lâu dài. Đặc biệt, ngày 1/6/2022, Bộ GDĐT đã đề
xuất để Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Chỉ thị số 08/CT-TTg về việc tăng cường triển
khai công tác xây dựng văn hoá học đường. Chỉ thị là cơ sở, căn cứ tạo ra để những
chuyển biến tích cực về văn hóa học đường trong thời gian tới. Đề cập tới vai trò của Hội
nghị “Đẩy mạnh công tác văn hóa học đường”, Bộ trưởng cho hay: Tiếp theo thành công
của Hội nghị văn hoá toàn quốc năm 2021, một số hội nghị, hội thảo và các hoạt động
của Bộ GDĐT, cùng Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội tổ chức xoay quanh chủ đề
văn hóa học đường, Hội nghị sẽ tập trung trao đổi, bàn luận về những giải pháp nhằm
tăng cường công tác xây dựng văn hóa học đường; triển khai hiệu quả Chỉ thị số 08/CT-
TTg trong việc tăng cường công tác xây dựng văn hoá học đường, phù hợp với bối cảnh
và yêu cầu tình hình và nhiệm vụ mới.
Khẳng định Đảng, Nhà nước luôn coi trọng và thường xuyên dành sự quan tâm đối
với công tác xây dựng, phát triển văn hóa, con người, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc
hội Trần Thanh Mẫn đồng thời cho rằng: Văn hóa học đường là nền tảng để thúc đẩy,
nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, vì sự phát triển văn hóa, con
người, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới và xu thế hội nhập quốc tế.
Xây dựng văn hóa học đường là một nội dung quan trọng để thực hiện đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo.Nhìn nhận những mặt tích cực, cũng như những khó khăn,
hạn chế của công tác văn hóa học đường thời gian qua, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc
hội Trần Thanh Mẫn đề nghị cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức 9
chính trị và toàn ngành giáo dục tập trung thực hiện tốt 6 nội dung trọng tâm trong thời gian tới.
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, vai trò quan trọng của
xây dựng văn hoá học đường và kiên trì tổ chức thực hiện, phấn đấu đạt các mục tiêu đề
ra. Nghiên cứu, hoàn thiện lý luận, khoa học, thực tiễn và tăng cường tuyên truyền để tạo
sự thống nhất về nhận thức và hành động. Phát huy dân chủ và vai trò đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý giáo dục, các thầy giáo, cô giáo xây dựng văn hoá học đường. Tập
trung xây dựng một số mô hình điểm và nhân rộng mô hình tốt. Thường xuyên theo dõi,
động viên, đôn đốc kiểm tra, định kỳ sơ kết, tổng kết công tác triển khai xây dựng văn
hoá học đường để kịp thời định hướng, điều chỉnh cho phù hợp.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật; kịp thời điều chỉnh, bổ sung,
hoàn thiện hệ thống văn bản chỉ đạo, điều hành, quy chế, hướng dẫn liên quan tới xây
dựng văn hóa học đường. Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, Bộ Giáo dục và Đào
tạo chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan, chỉ đạo rà soát sơ kết, tổng kết việc
thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Thứ ba, gắn việc xây dựng và tổ chức thực hiện văn hoá học đường với việc đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục nói chung và tổ chức thực hiện đổi mới chương trình
giáo dục nói riêng. Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục lý tưởng, đạo đức
lối sống, giáo dục pháp luật trong nhà trường. Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu
quả các hoạt động giáo dục giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống trong chương trình giáo dục, đào tạo.
Thứ tư, phát huy vai trò quan trọng của nhà trường trong tạo dựng các giá trị văn
hóa và thiết lập, củng cố, hoàn thiện các nguyên tắc ứng xử. Tập trung xây dựng và
hướng dẫn thực hiện các chuẩn mực về văn hóa đạo đức, hành vi ứng xử trong nhà
trường, ngoài nhà trường và trên không gian mạng. Xây dựng bộ tiêu chí về môi trường
văn hóa học đường xanh, sạch đẹp, kỷ cương, an toàn, lành mạnh và thân thiện. Lấy con
người làm trung tâm, ưu tiên bồi dưỡng phẩm chất yêu nước, tính trung thực và tinh thần
chủ động, sáng tạo, phát huy năng lực tự học, ý thức tự chủ, tự trọng, tự chịu trách nhiệm,
rèn luyện bản lĩnh, tư duy phản biện, phong cách làm việc khoa học.
Thứ năm, huy động các nguồn lực đầu tư nhằm hoàn thiện, bảo đảm các thiết chế
văn hóa trong nhà trường như thư viện, nhà văn hóa, sân vận động,…; tăng cường các
điều kiện hạ tầng, cơ sở vật chất, cập nhật các quy chuẩn xây dựng trường học bảo đảm
sinh thái phù hợp với môi trường giáo dục. Có giải pháp huy động sự tham gia tích cực
của gia đình, cộng đồng và xã hội; phát huy vai trò của học sinh, sinh viên trong xây
dựng văn hoá học đường. 10
Thứ sáu, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phát huy tốt vai trò chủ trì tham mưu, phối
hợp, huy động sự tham gia của toàn hệ thống chính trị, trong đó cần phát huy vai trò của
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, Hội Khuyến học trong xây dựng văn hóa học đường,
nhất là các cơ quan được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ trong Chỉ thị 08. Phó Chủ
tịch Thường trực Quốc hội đề nghị các bộ, ngành, địa phương nghiêm túc, tích cực chỉ
đạo triển khai các nhiệm vụ được phân công.
Tại Hội nghị các tham luận, ý kiến được trao đổi thảo luận xoay quanh các vấn đề
như: Xây dựng văn hóa học đường góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người
Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Công tác chỉ đạo triển khai của
Đoàn, Hội, Đội về các giải pháp phối hợp với ngành Giáo dục trong nhiệm xây dựng văn
hóa học đường; Xây dựng hệ giá trị văn hóa cần hình thành trong học sinh phổ thông Việt
Nam trong giai đoạn mới...
Nhận định văn hóa học đường là một phần của văn hóa quốc gia dân tộc, là lĩnh
vực đặc biệt quan trọng tạo điều kiện môi trường để hiện thực hóa: “Học để làm người”
của giáo dục, PGS.TS Đào Duy Quát, Nguyên Phó trưởng Ban Thường trực, Ban Tư
tưởng - Văn hóa Trung ương cho rằng: Cần nhận thức văn hóa học đường là hệ thống
các giá trị chuẩn mực được kiến tạo và không ngừng hoàn thiện qua quá trình tương tác
ứng xử giữa nhà quản lý giáo dục, cán bộ giảng viên, giáo viên, học sinh, sinh viên và các
cộng đồng với nhau. Qua đó, giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng thế hệ trẻ trong các nhà
trường phát triển toàn diện: nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm
hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật, tinh thần yêu
nước, tự hào dân tộc, lương tâm trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia
đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.
Thông tin tại Hội nghị, đại diện Sở GDĐT Nghệ An cho biết, bên cạnh những kết
quả, nỗ lực xây dựng văn hóa học đường, hiện nay vẫn có biểu hiện xuống cấp, đang là
mối lo ngại và trở thành vấn đề “nóng” của xã hội. Nhiều trường học trên địa bàn tỉnh
Nghệ An chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng văn hóa học đường dẫn đến những
hành vi lệch chuẩn như tình trạng bạo lực học đường, lối sống vô cảm, thờ ơ, thiếu trách
nhiệm với bản thân, gia đình, thầy cô, bạn bè…
Theo thông tin của đại diện Sở GDĐT Hà Nội, thời gian qua, ngành Giáo dục Thủ
đô đã triển khai dạy bộ tài liệu giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho học sinh Thủ
đô đã thu được những kết quả rất khả quan. Hiện, Hà Nội đang xây dựng bộ tài liệu
hướng dẫn và dạy cho các lớp mầm non 5 tuổi trên địa bàn thành phố. Sở GDĐT Hà Nội
cũng chỉ đạo các nhà trường, phòng GDĐT các quận, huyện, thị xã thành lập bộ phận làm
công tác tư vấn tâm lý trong trường học. Đến nay đã có 100% các đơn vị trường học (gần
1600 trường học) đã thành lập bộ phận tư vấn tâm lý. 11
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng văn hoá học đường, Bí thư Trung
ương Đoàn Nguyễn Minh Triết đề nghị trong thời gian tới Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và
ngành Giáo dục cần chỉ đạo các cấp bộ đoàn, hội, đội phối hợp chặt chẽ để triển khai
nhân rộng các mô hình tiêu biểu trong việc triển khai các nội dung gắn với việc giáo dục
lý tưởng cách mạng, đạo đức lối sống, tình yêu quê hương, đất nước, văn hoá trong học
đường. Tiếp tục phối hợp để gia tăng số lượng, tần suất tổ chức các cuộc thi, chương
trình, diễn đàn cho học sinh, sinh viên trong thời gian tới. Đồng thời, quan tâm, tăng
cường tập huấn, nâng cao kỹ năng cho đội ngũ các thầy cô giáo về vấn đề giáo dục lý
tưởng cách mạng, đạo đức lối sống, tình yêu quê hương, đất nước, văn hóa trong học đường…
Nhận định xây dựng văn hóa học đường là một trong những nhiệm vụ quan trọng
để cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về văn hóa, ông Nguyễn Đắc Vinh đề
nghị Bộ GDĐT chỉ đạo, xây dựng các kế hoạch, chương trình, đề án triển khai Chỉ thị 08
của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường triển khai xây dựng văn hóa học đường; Ủy ban
Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội sẽ đồng hành, bám sát thực hiện để làm từng thành viên
trong nhà trường bao gồm quản lý, giáo viên, học sinh, người lao động đều thẩm thấu,
hình thành và giữ gìn nét văn hóa học đường.
Tóm lại, Chủ trương của Đảng Việt Nam trong xây dựng văn hóa học đường là
quyết tâm xây dựng môi trường văn hóa học đường là môi trường trong sáng nhất, đẹp
nhất, an toàn nhất, và là môi trường đậm chất văn hóa nhất. Đồng thời, chính trong môi
trường đó cũng cần làm cho học sinh, sinh viên gia tăng sức đề kháng về văn hóa, có đủ
khả năng để sàng lọc, lựa chọn, đánh giá, thẩm thấu, nhận thức và phản biện. Chỉ bằng
con đường nâng cao bản lĩnh về văn hóa và sức đề kháng về văn hóa mới có được nhân
cách, phẩm chất và năng lực bền vững. Từ đó, việc phát triển văn hóa học đường sẽ có
tinh thần lan tỏa và bền vững
II.2. Thực trạng vận dụng quan điểm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong môi trường bậc đại học II.2.1. Thành tựu
Dưới sự lãnh đạo của Đảng trong hơn 25 năm đổi mới, lĩnh vực văn hóa đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng. Tư tưởng, đạo đức và lối sống của sinh viên,
thanh niên đã có những chuyển biến tích cực. Nhiều giá trị mới về văn hóa, chuẩn mực
đạo đức được khẳng định và nhân rộng trong môi trường học tập. Phong trào "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" và Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh", các phong trào thi đua yêu nước ngày càng được mở rộng và
từng bước đi vào thực chất trong đời sống xã hội. Công cuộc bảo tồn và phát huy các di
sản văn hoá của dân tộc đã đạt được nhiều tiến bộ. Nhiều di sản văn hoá vật thể, phi vật 12
thể được bảo vệ và phát huy giá trị công tác xã hội hoá đã thu hút được đông đảo các tổ
chức học sinh sinh viên và cá nhân tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá,
góp phần tích cực gìn giữ bản sắc văn hóa, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp
trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc, dần loại bỏ những sự lỗi thời, lạc hậu.
- Sinh viên biết coi trọng hơn các giá trị văn hóa, nhất là các giá trị di sản văn hóa
truyền thống. Dân chủ trên các lĩnh vực đời sống xã hội được mở rộng; dân trí được nâng
lên, quyền con người được tôn trọng. Con người Việt Nam năng động, tích cực, sáng tạo
hơn. Người dân có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin và hưởng thụ các giá trị văn hóa. Tinh
thần yêu nước, tự hào dân tộc, tính chủ động, tính tích cực xã hội của sinh viên về các
chủ thể văn hóa được phát huy. Đại đoàn kết dân tộc được mở rộng, tạo sức mạnh trong
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Môi trường văn hóa được cải thiện và có một số mặt tiến
bộ; chú trọng xây dựng môi trường học tập văn minh, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,
từng bước tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới. Vai trò của sinh viên và giới trẻ được nâng
lên trong đời sống xã hội .
-Thông qua các hoạt động thực tiễn phong phú, niềm tin của thanh niên,sinh viên
vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xã hội chủ nghĩa và sự phát triển đi lên của đất
nước được củng cố. Thái độ, tinh thần trách nhiệm của sinh viên thanh niên, được nâng
lên, quan tâm và có trách nhiệm hơn đến những vấn đề của đất nước, của Đảng, của
Đoàn, của Hội. Văn hóa “kính thầy yêu bạn” được nâng cao, hiện tượng sinh viên thanh
niên đánh nhau đã giảm thiểu. Ý thức tự lập, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm
trong thanh niên ngày càng mạnh mẽ, hiện tượng bảo sao làm vậy, hoặc tự biến mình
thành người thừa hành bị động ngày càng ít đi. Tính thực tế trong tư duy trong học tập
cũng như các hoạt động xã hội của thanh niên ngày càng phát triển. Ngày nay, thanh niên
sinh viên suy nghĩ nhiều hơn tới vấn đề làm sao học tập, làm việc cho có hiệu quả.
-Ngày nay, yêu cầu về chất lượng đối với người thầy cũng rất cao. Đồng thời với
dạy chữ, người thầy còn phải dạy người. Dạy chữ không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến
thức, mà quan trọng hơn là phải tạo cho người học khả năng sáng tạo, khả năng tự thích
nghi với mọi hoàn cảnh. Muốn vậy người học phải nắm được những điều bản chất nhất
những cái cơ bản nhất. Người thầy còn phải là một điển hình tốt về tinh thần tự học, vươn
lên, một tấm gương sáng ngời về đạo đức, về nhân cách đối với học sinh. Như vậy, chất
lượng đòi hỏi ở người thầy là rất cao, rất toàn diện. Trong mấy chục năm qua các trường
đại học của ta đã có những bước tiến vượt bậc. Giáo dục đại học đã có những đóng góp
đáng kể trong công tác đào tạo cán bộ cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ
quốc. Đội ngũ giảng viên đại học đã trưởng thành nhanh chóng, trong đó có một số cán
bộ xuất sắc, đạt trình độ quốc tế. Vấn đề giáo dục đạo đức, lí tưởng sống cho thanh niên
phải được đặt lên hàng đầu. 13
- Trước đây thanh niên và nhân dân ta thấm nhuần tư tưởng: “ Không có gì quý
hơn độc lập, tự do”, chúng ta đã giành lại được độc lập tự do cho Tổ quốc. Ngày nay cần
làm cho mọi người hiểu nỗi nhục của một nước nghèo và lạc hậu, có ý chí quyết tâm
không chịu để rơi vào cảnh phụ thuộc, làm nô lệ mới về kinh tế cho các nước giàu. Do
vậy, trên nền giáo dục quảng đại cho đông đảo thanh niên, chúng ta cần đặc biệt quan tâm
đến việc bồi dưỡng, đào tạo người tài. Cần phải thực hiện một chính sách đặc biệt đối với
họ; tạo cho họ những điều kiện tốt nhất để học tập, rèn luyện, cung cấp những giáo viên
giỏi, chương trình học tập đặc biệt, điều kiện sinh hoạt, vật chất đầy đủ và khi ra trường
được bố trí vào làm việc ở những nơi có điều kiện tốt nhất để phát huy tài năng. II.2.2. Hạn chế
Với sự dẫn dắt và chỉ đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc thực hiện mục
tiêu, định hướng: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc”, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa quan trọng đối với
sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cũng còn tồn tại một số
hạn chế cần nhìn nhận và điều chỉnh kịp thời:
- Một bộ phận sinh viên xa rời truyền thống, lịch sử, văn hóa, của dân tộc. Không
ít người có thái độ ứng xử, biểu hiện tình cảm thái quá trong các hoạt động giải trí, văn
hóa, nghệ thuật; lãng quên, thờ ơ đối với dòng nhạc dân ca, dòng nhạc cách mạng truyền
thống. Bên cạnh đó, chúng ta thấy một tình trạng đáng báo động của giới trẻ nói chung và
sinh viên nói riêng trong việc hội nhập, tiếp thu văn hóa thế giới, du nhập những hoạt
động văn hóa tiêu cực, không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc.
- Không ít sinh viên đang ngày đêm đang cuốn vào các trò chơi điện tử trực tuyến
mang nặng tính bạo lực, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, thời gian học tập. Có những người
say mê với các ấn phẩm, văn hóa không lành mạnh, độc hại dẫn đến những hành động
suy đồi đạo đức, vi phạm pháp luật. Mặt khác, những biểu hiện sai lệch của những người
mà giới trẻ coi là thần tượng như ca sĩ, diễn viên điện ảnh hay cũng ảnh hưởng không nhỏ
đến lối sống của một số sinh viên hiện nay. Ngoài ra, ngôn ngữ dùng trong những cuộc
trò chuyện trên các trang mạng xã hội hay tin nhắn cũng bị một bộ phận học sinh, sinh
viên “biến tấu” với những từ ngữ khó hiểu, thậm chí dung tục và sử dụng một cách tràn
lan, khó chấp nhận, không còn giữ được sự trong sáng của Tiếng Việt. Thậm chí, có
những từ ngữ bị dùng sai bản chất với ngụ ý không lành mạnh.
- Bản thân mỗi học sinh, sinh viên chưa thật sự xây dựng cho mình ý thức tự rèn
luyện, nâng cao trình độ, học hỏi kĩ năng. Bản lĩnh, ý thức tìm hiểu còn hạn chế của sinh
viên trước những loại hình hoạt động văn hóa, nghệ thuật khác nhau cũng là một trong
những nguyên nhân đáng chú ý dẫn đến những hạn chế, yếu kém của một bộ phận bạn trẻ
trong việc tham gia giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. 14
- Trong thực tế cuộc sống, một số hoạt động văn hóa, nghệ thuật không còn phù
hợp với sở thích giới trẻ, cho nên giới trẻ và sinh viên phải tìm đến với những loại hình
nghệ thuật du nhập từ nước ngoài. Tuy nhiên, loại hình này lại chưa được chọn lọc trước
khi tràn lan trong xã hội. Công tác quản lí của các ban, ngành chức năng chưa thực sự có
hiệu quả trong việc khắc phục thực trạng này.
- Thực tế hiện nay ở các trường đại học, bên cạnh sự tiến bộ mạnh mẽ của văn hóa
ứng xử, vẫn còn tồn tại những hành vi ứng xử, lời nói, phong cách giao tiếp chưa đúng
mực, chưa văn hóa, nhất là ở sinh viên. Việc giáo dục đạo đức, lý tưởng ở các đoàn thể
chính trị, xã hội có nơi bị xem nhẹ, một bộ phận giới trẻ cho là giáo điều, khô khan. Một
bộ phận nhỏ viên chức và sinh viên có biểu hiện của lối sống thực dụng, phủ nhận những
giá trị đạo đức truyền thống, ứng xử chưa đúng với môi trường sư phạm, môi trường
công sở, làm ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử trong trường.
- Về mặt rộng hơn văn hóa còn bao gồm cả giáo dục và khoa học kĩ thuật. Trong
nền kinh tế tri thức hiện nay với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, sự
bùng nổ của công nghệ thông tin thì kiến thức giáo dục là nền tảng cơ sở nhất. Có thể nói,
xã hội học tập cung cấp các điều kiện, cơ hội để mỗi người tự nâng cao trình độ, hoàn
thiện bản thân, phát huy cao độ năng lực sáng tạo để thích ứng với những biến đổi của
tình hình kinh tế - xã hội trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.
- Nền giáo dục trong xã hội học tập hướng vào việc xây dựng cho con người năng
lực đón nhận, xử lý, sử dụng, truyền bá,… thông tin để xã hội bắt kịp sự phát triển của tri
thức nhân loại. Bên cạnh những lợi ích hết sức thiết thực mang lại từ nền giáo dục mở, từ
sự hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng với thế giới, giới trẻ, học sinh, sinh viên ít nhiều
không tránh khỏi những tác động bởi những mặt trái của cơ chế thị trường, của văn hóa
phương Tây, đó là tư tưởng đề cao chủ nghĩa cá nhân, sự tha thứ về đạo đức, nhân cách,
lối sống hưởng thụ, đua đòi, trụy lạc.
- Việc thực hiện đường lối xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc thể hiện đối với sinh viên đại học. Trong trường học, sinh viên được giáo dục
việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, lòng yêu nước, yêu đồng bào, tự hào dân tộc, tôn
trọng, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa nhưng sinh viên bậc đại học không quan tâm,
học hời hợt cho qua đối với những môn học như vậy. Đó là một trong những yếu tố tác
động đến nhận thức bản sắc văn hóa của dân tộc.
- Không những thế, tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những văn hóa dân tộc,
chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỉ đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân
tộc. Không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà con người chà đạp lên tình nghĩa gia
đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp. Buôn lậu và tham nhũng phát triển, mat 15
tuý mại dâm và các tệ nạn xã hội, khác gia tăng. Nạn mê tín dị đoan khá phổ biến. Nhiều
hủ tục cũ và mới lan tràn, nhất là trong việc cưới, đám tang, lễ hội.
Hơn lúc nào hết, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, việc giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc đang là nhiệm vụ cấp bách trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện
đại hóa. Đó là nền tảng, là cơ sở để đất nước ta hòa nhập sâu rộng với thế giới nhưng
không hòa tan, vẫn phát huy được niềm tự hào của dân tộc, bản sắc văn hóa riêng của con
người và đất nước Việt Nam. Tóm lại, việc phát hiện những hạn chế tồn tại cũng là cơ
hội để Đảng tiếp tục khắc phục những yếu kém, đồng thời hoàn thiện thêm đường lối của mình. II.2.3. Nguyên nhân
II.2.3.1. Nguyên nhân của thành tựu

Những thành tựu trong sự xây dựng văn hóa một mặt chứng tỏ đường lối và các
chính sách của Đảng và Nhà nước ta đã và đang phát huy tác dụng tích cực, định hướng
đúng đắn cho sự phát triển đời sống văn hóa, xã hội, mặt đó là kết quả của sự tham gia
tích cực của nhân dân và những nỗ lực to lớn của các lực lượng hoạt động trên lĩnh vực văn hóa.
Việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, biết tiếp thu và vận dụng có chọn
lọc các tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng sáng tạo vào nền văn hóa của nước nhà.
Nhân dân ta có truyền thống đoàn kết, ham học hỏi, cần cù chịu khó, cố gắng phấn
đấu tới cùng vì mục tiêu của nước nhà. Đặc biệt là thế hệ trẻ sinh viên ngày nay
II.2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế
- Về vấn đề ứng xử với môi trường cảnh quan: thể hiện một sự lệch lạc trong quan
niệm của một bộ phận không nhỏ những sinh viên có học thức. Những việc làm sai trái
nếu được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ khiến người ta coi nó là bình thường và người ta lại
không thấy sợ, không thấy xấu hổ về điều họ làm, lâu dần sẽ trở thành thói quen. Và điều này là vô cùng tai họa
- Về trang phục và cách ăn mặc: do những người trẻ tuổi thường đứng đầu trào lưu
mới, do vậy văn hóa ăn mặc từ du nhập từ nước ngoài và được sinh viên tiếp nhận là điều
không tránh khỏi.đặc biệt , sinh viên luôn mang trong mình suy nghĩ “tôi mặc những gì
tôi thích”, tư tưởng không muốn thua kém bạn bè, nên ăn chơi đua đòi .
- Văn hóa học đường vẫn chưa phải là vấn đề được đưa vào phạm vi quản lý
nghiêm ngặt trong môi trường đại học. 16
- Về giao tiếp giữa các sinh viên: vấn đề này thường xảy ra phổ biến trong hầu hết
các trường. Do trào lưu, sinh viên giao tiếp với nhau, thường sử dụng những câu tục để
nhấn mạnh điều mình muốn nói, sử dụng các từ lóng để trêu đùa nhau, lâu dần thành thói quen không bỏ được…
- Về môi trường sống và những tác động xung quanh : Do xã hội ngày càng phát
triển nên thế hệ sinh viên được sống trong môi trường rất thoải mái, được nuông chiều và
đặc biệt kéo theo là rất dễ bị xa vào những tệ nạn xã hội, những người bạn bè xấu xung
quanh. Vì là sinh viên nên ít bị cha mẹ kiểm soát, sống buông thả và thoải mái làm những
điều mình thích dù biết là sai trái.
II.3. Giải pháp phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong
môi trường bậc đại học
*Xây dựng môi trường văn hóa trong các trường đại học là sự chủ động của các chủ
thể trong xã hội (chủ thể quản lý nhà nước, chủ thể quản lý trực tiếp ở trường đại học,
chủ thể cộng đồng sinh viên, chủ thể các cá nhân, doanh nghiệp ngoài xã hội...) tác động
đến các nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa trong trường đại học.
Vận dụng lý thuyết quản lý và bám sát các thành tố kiến tạo môi trường văn hóa
chúng tôi nêu ra khung phân tích đánh giá xây dựng môi trường văn hóa trong trường đại học như sau:
Thứ nhất, triển khai các văn bản chỉ đạo, pháp lý của cấp trên liên quan đến xây
dựng môi trường văn hóa và xây dựng các quy định, quy chế, quy ước, quy tắc ứng xử
văn hóa trong trường đại học.
Vận dụng các quan điểm của Đảng nêu trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và các quan điểm nêu trong Nghị quyết
Trung ương 9 khóa XI về văn hóa, con người vào chỉ đạo xây dựng môi trường văn hóa
học đường. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí
thư khóa XI về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng
cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015-2030” (24/3/2015);
Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng, thực hiện
hương ước, quy ước (08/5/2018); Quyết định số 1299/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-2025
(03/10/2018); xây dựng trường đại học đạt chuẩn văn hóa trong Phong trào Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa...
Thứ hai, xây dựng cảnh quan môi trường sinh thái nhân văn 17
Bảo vệ hệ sinh thái thực vật, động vật tự nhiên và nhân tạo, các yếu tố phi sự sống
khác trong không gian hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của trường đại
học. Giáo dục văn hóa môi trường trong học đường. Đặt mục tiêu đảm bảo cho không
gian của trường học sáng, xanh, sạch, đẹp, an toàn, con người sống hài hòa, thân thiện
với môi trường sinh thái.
Thứ ba, xây dựng và nâng cao chất lượng các sản phẩm văn hóa vật chất, tinh thần trong trường đại học.
Hoàn thiện và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn
hóa trong trường đại học. Đó là thiết chế thư viện, nơi lưu trữ tri thức của nhân loại phục
vụ phát triển văn hóa đọc. Đó là hội trường, phòng tập nghệ thuật, sân khấu ngoài trời...
để thu hút giảng viên, sinh viên tham gia sáng tạo và hưởng thụ các sản phẩm văn hóa
tinh thần. Đó là khu thể dục, thể thao thu hút giảng viên, sinh viên tham gia các hoạt động
vui chơi, giải trí phát triển văn hóa thể chất như bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, tennis,
thể dục thể hình... Duy trì các câu lạc bộ văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao. Tổ chức
các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, phong trào xã hội thiện nguyện.
Thứ tư, xây dựng mối quan hệ con người với con người tình nghĩa, nhân văn, thân
thiện với môi trường sinh thái trong mọi hoạt động của nhà trường.
Nhà trường cần xây dựng các chuẩn mực văn hóa học đường, thực chất là xây dựng
nếp sống văn hóa, văn minh trong việc ăn, ở, đi lại, học tập, vui chơi giải trí... thể hiện
được giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội trong trường học. Trước
mắt, các trường đại học cần đôn đốc, chỉ đạo các đơn vị trong trường thực hiện nghiêm,
hiệu quả, chất lượng bộ quy tắc ứng xử văn hóa trong trường học.
Thứ năm, lan tỏa giá trị đích thực của những nhân cách văn hóa trong môi trường văn hóa học đường.
Coi trọng việc biểu dương và nhân rộng người tốt, việc tốt, tập thể, điển hình tiên
tiến, mô hình hay trong xây dựng môi trường văn hóa học đường. Khen thưởng kịp thời
nhân tố tích cực, những mẫu mực nhân cách văn hóa. Bảo vệ những người trung thực,
thẳng thắn đấu tranh với cái xấu, cái ác... trong môi trường văn hóa học đường.
Thứ sáu, thiết lập các tổ chức tự quản, giám sát việc xây dựng môi trường văn hóa;
chấn chỉnh các hành vi và hoạt động văn hóa lệch chuẩn trong trường đại học.
Phát huy vai trò của các đội tự quản sinh viên trong khu ký túc xá. Đẩy mạnh hoạt
động Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Thanh niên Việt Nam, lấy hội viên
giáo dục hội viên. Đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái bảo vệ nền tảng tư tưởng 18
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Xử lý kiên quyết, kịp thời những biểu
hiện tiêu cực, hành vi thiếu văn hóa trong môi trường học đường.
*Văn hóa có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển bền vững đất nước trong thời kỳ đổi
mới, điều này đã một lần nữa được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng:
“Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước
và bảo vệ Tổ quốc”.
Trước yêu cầu đổi mới trong giáo dục hiện nay, đòi hỏi công tác xây dựng VHNT
ở các trường cần được quan tâm đúng mức, tập trung vào bảy nội dung cơ bản sau:
Một là, xây dựng bầu không khí dân chủ, lành mạnh trong nhà trường: Xây dựng
bầu không khí trong nhà trường bao gồm các hoạt động xây dựng và cải thiện mối quan
hệ hợp tác giữa các thành viên trong nhà trường. Quan tâm xây dựng và duy trì mối quan
hệ tốt đẹp giữa các thành viên trong nhà trường. Đảm bảo sự an toàn trong quá trình
giảng dạy và học tập tại nhà trường. Bầu không khí lành mạnh, dân chủ là môi trường
chứa đựng nhiều điều tốt đẹp và những chuẩn mực để nhà trường luôn luôn cải tiến, vươn
tới. Đó không chỉ là môi trường có không gian xanh - sạch - đẹp - tiện nghi,… mà ở đó
còn chứa đựng không khí cởi mở, dân chủ, hợp tác, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau giữa các
thành viên trong nhà trường.
Hai là, xây dựng văn hóa quản lý chuyên nghiệp và chuẩn mực trong nhà trường:
Xây dựng văn hóa quản lý trong nhà trường chính là phát triển các nội dung quản lý của
người quản lý hay lãnh đạo trong nhà trường. Nội dung quản lý nhà trường bao gồm các
nội dung về xây dựng chiến lược, sứ mạng, tầm nhìn, quản lý hoạt động chuyên môn,
quản lý hoạt động truyền thông, quản lý các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của nhà
trường, quản lý môi trường sư phạm, cảnh quan nhà trường... Đó là những giá trị tích cực
trong phong cách, năng lực và hiệu quả quản lý.
Ba là, xây dựng văn hóa giảng dạy tích cực của giáo viên trong nhà trường: Nội
dung trong xây dựng văn hóa giảng dạy của giáo viên bao gồm phát triển về phẩm chất,
đạo đức; năng lực giảng dạy và giáo dục; năng lực nghiên cứu khoa học; khả năng đổi
mới và sáng tạo của giáo viên. Để xây dựng văn hóa giảng dạy tích cực giáo viên phải thi
đua dạy tốt, có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên, đặc biệt
hướng vào đổi mới phương pháp dạy học để phát triển năng lực cho người học.
Bốn là, xây dựng văn hóa học tập tích cực, chủ động và sáng tạo của người học:
Xây dựng văn hóa học tập chính là phát triển những nội dung trong hoạt động học tập và
rèn luyện của học sinh. Người học là chủ thể năng động của quá trình dạy học, là trung
tâm của hoạt động dạy học. Để xây dựng văn hóa học tập sáng tạo, tích cực, chủ động, 19
phát huy phẩm chất và năng lực của người học, người giáo viên phải xây dựng các bài
giảng phát huy được tính sáng tạo, khả năng hợp tác của người học. Giáo dục cho người
học động cơ học tập đúng đắn; học nghiêm túc, có nề nếp và có kỷ luật; học tích cực, chủ
động; học nghiên cứu, sáng tạo; học thân thiện, hợp tác.
Năm là, xây dựng văn hóa ứng xử lành mạnh và chuẩn mực trong nhà trường:
VHNT một phần được đánh giá qua mối quan hệ ứng xử của các thành viên trong nhà
trường và môi trường sư phạm của nhà trường. Những mối quan hệ đó tạo nên văn hóa
ứng xử trong nhà trường. Xây dựng văn hóa ứng xử trong nhà trường là duy trì những
yếu tố tích cực trong các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường. Nhà trường
là nơi hình thành nhiều mối quan hệ đan chéo như: nhà quản lý - cán bộ và giáo viên,
thầy - thầy, thầy - trò, trò - thầy, trò - trò… Để những mối quan hệ đó trở nên tốt đẹp, nhà
trường cần phải xây dựng bầu không khí dân chủ: cởi mở, hợp tác, cùng chia sẻ hỗ trợ lẫn nhau.
Sáu là, xây dựng cảnh quan và môi trường sư phạm hiện đại và an toàn trong nhà
trường: Xây dựng một môi trường nhà trường đầy đủ về cơ sở vật chất, tiện nghi và an
toàn tạo nên một cảnh quan nhà trường kiểu mẫu. Nhà trường cần tiến hành xây dựng hệ
thống cơ sở vật chất đạt chuẩn theo quy định, một môi trường cảnh quan an toàn, sạch
đẹp. Đồng thời, làm cho nhà trường trở thành môi trường giáo dục tốt, thân thiện, qua đó
người dạy, người học gắn bó yêu thương nhau hơn, yêu mến trường hơn, trên cơ sở đó
nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên trong nhà trường trong việc tu dưỡng,
rèn luyện, phấn đấu vươn lên.
Bảy là, xây dựng các giá trị văn hóa cốt lõi trong của nhà trường: Giá trị là điều
mà nhà trường cam kết thực hiện cho các bên có liên quan, các nguyên tắc chỉ đạo hành
vi của các thành viên trong nhà trường. Giá trị chính là các nguyên tắc và niềm tin cơ bản
và lâu dài, để định hướng làm việc, hành vi, các quan hệ và ra quyết định. Đó là cái mà
nhà trường cố gắng theo đuổi, thậm chí ngay cả khi môi trường bên ngoài thay đổi. Xây
dựng các giá trị văn hóa trong nhà trường chính là việc xác định hệ thống giá trị văn hóa
của nhà trường, xem đâu là giá trị văn hóa đặc trưng, cốt lõi để xây dựng và phát triển trở
thành hệ giá trị xuyên suốt của nhà trường. Giá trị cốt lõi của một nhà trường tạo ra bản
sắc riêng của nhà trường. 20