

















Preview text:
Đề 3 Chính sách kiểm soát giá: Cơ sở lý luận và liên hệ thực tiễn tại Việt Nam khi
chính phủ thực hiện chống dịch Covid 19 Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu:
Giá cả của nền kinh tế thị trường do quy luật cung cầu quyết định. Tuy nhiên, đối
với một số thời điểm khi lượng cung vượt quá lượng cầu hoặc ngược lại thì tình trạng giá
cân bằng xuống quá thấp hoặc lên quá cao gây tác động xấu đến nền kinh tế. Đặc biệt đôi
với một số mặt hàng thiết yếu trong cuộc sống mà nguồn cung do các doanh nghiệp độc
quyền hoặc cạnh tranh độc quyền thì dễ bị đẩy giá lên quá cao. Chính vì vậy, bằng công
cụ quản lý nhà nước các cơ quan chức năng đã sử dụng các biện pháp đặt giá sàn hoặc giá
trần (gọi chung là chính sách kiểm soát giá) để đảm bảo quyền lợi cho nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả quốc gia trên thế
giới, hiện nay đang tiếp tục diễn biến rất phức tạp. Nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái
nghiêm trọng. Nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, hội nhập quốc tế sâu rộng đã và đang
chịu nhiều tác động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, gây
gián đoạn chuỗi cung ứng và lưu chuyển thương mại, làm đình trệ các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ; đã tác động trực tiếp đến các ngành xuất, nhập khẩu, hàng
không, du lịch, dịch vụ lưu trú, ăn uống, y tế, giáo dục, lao động, việc làm; nhiều doanh
nghiệp phá sản, giải thể, tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô... Trong số các ngành chịu
ảnh hưởng lớn nhất của dịch bệnh Covid có thể kể đến ngành sản xuất khẩu trang
Khẩu trang Khẩu trang được khuyến cáo là một tấm chắn đơn giản để giúp ngăn
các giọt bắn từ đường hô hấp vào không khí và sang người khác khi người đeo ho, hắt
hơi, trò chuyện hoặc cao giọng. Đây được gọi là kiểm soát nguồn lây nhiễm dịch bệnh.
Với vai trò quan trọng trong công tác phòng chống dịch bệnh covid 19, thị trường khẩu
trang tại Việt Nam đã có những thời điểm phải đối mặt với việc gom hàng tăng giá gây
ảnh hưởng và bất ổn tới thị trường.
Với những can thiệp cần thiết của chính phủ để kiểm soát giá khẩu trang y tế do đó
thị trường cơ bản đã được kiểm soát.
Việc nghiên cứu đề tài “Phân tích chính sách can thiệp giá của chính phủ
nhằm bình ổn một số mặt hàng nào đó thực tế ở Việt Nam hiện nay” sẽ giúp em hiểu
hơn về ứng dụng của bộ môn kinh tế vi mô trong thực tiễn hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản của chính sách kiểm soát giá, cụ thể là chính
sách đặt giá trần và giá sàn. Tác động của công cụ trên với nhà sản xuất, người
tiêu dùng và đối với thị trường chung
Liên hệ chính sách kiểm soát giá của chính phủ Việt Nam khi chính phủ thực hiện chống dịch Covid 19
Khuyến nghị việc sử dụng chính sách kiểm soát giá
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích và tổng hợp
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH KIỂM SOÁT GIÁ
Kiểm soát giá là việc chính phủ qui định về mức giá tối đa (giá trần) và mức giá
tổi thiểu (giá sàn) để đảm bảo lợi ích cho người sản xuất hoặc người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường.
1.1. Nghiên cứu lý thuyết về cung – cầu hàng hóa 1.1.1 Cầu hàng hóa
Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua sẵn sàng mua và có khả năng
mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.
Tác động của giá tới lượng Cầu
Khi giá tăng thì lượng cầu giảm và ngược lại giá giảm thì lượng cầu tăng
Tác động của các yếu tố khác tới Cầu
+ Thu nhập của người tiêu dùng: Khi thu nhập tăng thi cầu tăng và ngược lại
+ Giá cả hàng hóa có liên quan: Đối với hàng hóa thay thế , Khi sự giảm giá của một
hàng hóa làm giảm lượng cầu về một hàng hóa khác. khi sự giảm giá của một hàng hóa
làng tăng lượng cầu về hàng hóa khác thì hai hàng hóa đó gọi là hàng hóa bổ sung.
+ Tâm lí, tập quan, thị hiếu của người tiêu dùng: Thị hiếu
là sở thích, thói quen hay sự ưu
tiên của người tiêu dùng đối với từng loại hàng hóa hay dịch vụ.
+ Kì vọng về tương lai có thể tác
động tới nhu cầu ở hiện tại.
+ Dân số: Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lượng cầu về hàng hóa. Khi dân
số tăng lên thì mức nhu cầu về hàng hóa cũng sẽ tăng lên.
+ Chính sách của Chính phủ: Các chính sách của Chính phủ trong từng thời kì có ảnh
hưởng đến mức thu nhập của người tiêu dùng và giá cả của hàng hóa và dịch vụ. Do đó
ảnh hưởng đến cầu về hàng hóa. 1.1.2. Cung hàng hóa
Cung là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các
mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định.
Tác động của giá tới lượng Cung
Khi giá tăng thì lượng cung tăng và ngược lại
Tác động của các yếu tố khác tới Cung
+ Giá cả các yếu tố đầu vào: Nếu giá cả các yếu tố đầu vào giảm thì chi phí sản xuất giảm
=> Lợi nhuận tăng do đó cung hàng hóa tăng và ngược lại
+ Công nghệ sản xuất: Ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và số lượng sản phẩm đầu ra. Khi
công nghệ được cải tiến thì năng suất tăng và cung tăng
+ Chính sách của chính phủ nhằm hạn chế hoặc khuyến khích sản xuất (thông qua công
cụ thuế) cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cung
+ Kỳ vọng: dự báo của người sản xuất về những diễn biến thị trường trong tương lai ảnh
hưởng đến cung hiện tại. Nếu các kỳ vọng thuận lợi đối với người bán thì lượng cung
hiện tại sẽ giảm, đường cung dịch chuyển sang trái và ngược lại.
+ Số lượng người bán có ảnh hưởng trực tiếp đến số hàng hoá bán ra trên thị trường. Khi
có nhiều người bán, lượng cung hàng hoá tăng lên khiến đường cung hàng hoá dịch
chuyển sang phải và ngược lại.
1.1.3. Cân bằng thị trường
Trạng thái dư thừa, thiếu hụt thị trường
Dư thừa là trạng thái cầu nhỏ hơn cung
Thiếu hụt là trạng thái cầu lớn hơn cung
Trạng thái cân bằng thị trường
Cân bằng thị trường là trạng thái mà tại đó cung vừa đủ thoả mãn cầu, do đó mà
không có sức ép làm thay đổi giá. Tại mức giá này, chúng ta có lượng cung và lượng cầu
bằng nhau. Khi đó, điểm giao nhau giữa đường cung và đường cầu là điểm cân bằng và
lượng cung và lượng cầu tại mức giá này là lượng cân bằng.
Sự thay đổi của trạng thái cân bằng
Nếu nhu cầu tăng (đường cầu thay đổi về bên phải) và nguồn cung vẫn không đổi,
thì tình trạng thiếu hụt xảy ra, dẫn đến giá cân bằng cao hơn.
Nếu nhu cầu giảm (đường cầu dịch chuyển về bên trái) và nguồn cung vẫn không
đổi, thì thặng dư xảy ra, dẫn đến giá cân bằng thấp hơn.
Nếu cầu vẫn không thay đổi và cung tăng (đường cung dịch chuyển về bên phải),
thì thặng dư xảy ra, dẫn đến giá cân bằng thấp hơn.
Nếu cầu vẫn không thay đổi và cung giảm (đường cung dịch chuyển về bên trái),
thì tình trạng thiếu hụt xảy ra, dẫn đến giá cân bằng cao hơn. 1.2 Giá trần
1.2.1 Khái niệm giá trần
Giá trần là mức giá tối đa mà người bán phải trả.
1.2.2 Mục đích áp dụng giá trần
Khi đặt ra mức trần giá, mục tiêu của chính phủ là kiểm soát giá để bảo vệ người tiêu dùng.
Khi giá cân bằng trên thị trường được coi là quá cao, bằng cách đặt ra một mức giá trần
thấp hơn, chính phủ hy vọng rằng người tiêu dùng sẽ mua được hàng hóa với giá thấp và
điều này được coi là có ý nghĩa xã hội to lớn như những người có thu nhập thấp vẫn có
quyền truy cập vào các hàng hóa quan trọng.
1.2.3 Nguyên tắc đặt giá trần
Giá trần được đặt thấp hơn giá cân bằng
1.2.4 Ảnh hưởng của giá trần
Giả sử rằng không có sự can thiệp của chính phủ, thị trường ở trạng thái cân bằng tại
điểm E, với giá P * và sản lượng Q *. Nếu P * được coi là quá cao, chính phủ đặt giá trần
là P1 trong đó P1 thấp hơn P *. Tại mức giá P1, lượng cung giảm xuống QS1 và lượng cầu tăng lên QD1.
Thị trường không còn ở trạng thái cân bằng. Trên thị trường xảy ra tình trạng khan hàng
hoặc thừa cầu vì lượng cầu lớn hơn lượng cung.
Trên thị trường tự do, trạng thái dư cầu chỉ là tạm thời vì nó tạo ra áp lực tăng giá và điều
này làm cho lượng cầu dư thừa dần bị loại bỏ, và thị trường chuyển sang trạng thái cân bằng.
Tuy nhiên, ở đây, quy định của chính phủ về giá trần khiến giá không thể tăng vượt quá
P1. Điều này khiến thị trường không trở lại trạng thái cân bằng.
Hình 1: Giá trần và tình trạng thiếu hụt (cung vượt cầu)
Hậu quả của việc thiếu hàng hoá là: ở mức giá P1 nhiều người tiêu dùng không thể mua
được hàng hoá để thoả mãn nhu cầu của mình; xếp hàng xảy ra, làm cho việc mua hàng
mất nhiều thời gian hơn; Thị trường ngầm có cơ hội nảy sinh do khan hiếm hàng hóa…
Những hậu quả này có thể gây tổn hại đến lợi ích của người tiêu dùng, không như kỳ
vọng ban đầu của nhà nước. 1.3 Giá sàn
1.3.1 Khái niệm, phân loại Giá sàn
Giá sàn là mức giá tối thiểu mà nhà nước qui định. Trong trường hợp này, người
mua không thể trả giá với mức giá thấp hơn giá sàn. Khi định ra giá sàn về một loại hàng
hoá, nhà nước muốn bảo vệ lợi ích của nhà sản xuất
1.3.2 Đặc điểm Giá sàn
Giá sàn được đặt cao hơn so với giá cân bằng thị trường
1.3.3 Tác động của Giá sàn đến thị trường hàng hóa
Khi định ra giá sàn về một loại hàng hoá, nhà nước muốn bảo vệ lợi ích của những
người cung ứng hàng hoá.
Khi nhà nước cho rằng mức giá cân bằng trên thị trường là thấp, nhà nước có thể
qui định một mức giá sàn - với tính cách là một mức giá tối thiểu mà các bên giao dịch
phải tuân thủ - cao hơn.
1.3.4 Ưu, nhược điểm của chính sách can thiệp
Khi không được mua, bán hàng hoá với mức giá thấp hơn giá sàn, trong trường
hợp này, những người bán hàng hoá dường như sẽ có lợi. Nhờ việc kiếm soát giá của nhà
nước, họ có khả năng bán hàng hoá với mức giá cao hơn giá cân bằng thị trường.
Giá sàn thường được đặt cao hơn so với mức giá cân bằng.
Khi chính phủ đặt mức giá sàn P0, Lượng cung sẽ sản xuất tại Q2 và lượng cầu tại
Q0. Do Q2 > Q0, khi đó thị trường sẽ xảy ra trạng thái dư thừa (dư thừa 1 lượng Q2-Q0)
Nếu Chính phủ áp đặt giá sàn có tính ràng buộc trên thị trường, giá thị trường phải
bằng mức giá sàn. Khi đó, tại mức này cung vượt quá cầu gây tình trạng dư cung. Người
sản xuất không bán hết lượng của mình, gây khó khăn cho sản xuất.
Để khắc phục hạn chế này phải phối hợp đồng bộ với các biện pháp khác để ổn định thị trường.
PHẦN 2 LIÊN HỆ CHÍNH SÁCH KIỂM SOÁT GIÁ CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT
NAM KHI CHÍNH PHỦ THỰC HIỆN CHỐNG DỊCH COVID 19
2.1 Thực trạng chính sách can thiệp giá của chính phủ bằng giá trần
2.1.1 Tình hình thị trường khẩu trang y tế khi dịch bệnh Covid – 19 xảy ra
Việt Nam là nước sản xuất thiết bị y tế không chỉ cung cấp cho nhu cầu trong
nước mà còn xuất khẩu ra thế giới. Trước năm 2020, Việt Nam có 33 cơ sở sản xuất khẩu
trang y tế với mức sản lượng tối đa là 8 triệu chiếc/ ngày tương đương khoảng 200 triệu chiếc mỗi tháng.
Tuy nhiên, nguồn cung nguyên liệu để sản xuất khẩu trang như giấy kháng khuẩn,
vải y tế,… phải phụ thuộc vào nguồn cung cấp nguyên liệu từ Trung Quốc mà chưa tự
chủ được trong khâu nguyên vật liệu sản xuất khẩu trang
Trước dịch bệnh, khẩu trang y tế ngoài phục vụ cho các cơ sở y tế còn được người
dân mua để chống bụi, nhiều người dân đã lựa chọn khẩu trang y tế vì cho rằng khẩu
trang y tế có thể chống được bụi và tác hại của ánh nắng mặt trời. Người dân có thể dễ
dàng mua được khẩu trang y tế tại các hiệu thuốc hoặc các tiệm tạp hóa với mức giá từ 30
– 50 nghìn đồng/hộp (chỉ từ 600 – 1000 đồng/ chiếc) Để phục vụ chống bụi, nhiều nhà
sản xuất đã đưa thêm vào lớp than hoạt tính.
Kể từ khi Việt Nam phát hiện có dịch, giá bán các loại khẩu trang y tế đang “sốt”
từng giờ th. Cụ thể, 1 chiếc khẩu trang 3M có giá 18.000 - 20.000 đồng thì nay tăng lên
50.000 đồng; khẩu trang y tế trang bị lớp than hoạt tính dùng 1 lần thường được bán
với giá 2.000 đồng/chiếc nay tăng lên 5.000 đồng/chiếc, nếu tính theo hộp trước đây chỉ
với giá 40 - 50.000 đồng/hộp nay đã tăng 100.000 - 200.000 đồng/hộp. Đáng nói, mặc dù
giá bán đang được đẩy lên cao nhưng phần nhiều các hiệu thuốc đều trong tình trạng hết
hàng, một vài hiệu thuốc còn số lượng ít phải bán nhỏ giọt, mỗi người chỉ được mua từ 3 - 5 chiếc/lần.
2.1.2. Chính sách giá hiện hành của Chính phủ tác động đến cung khẩu trang y tế
Tháng 3/2020, khi Việt Nam có ca nhiễm Covid 19 đầu tiên thì khẩu trang là mặt
hàng thiết yếu, người tiêu dùng có tâm lý gom khẩu trang, người bán lợi dụng cơ hội tăng
giá khẩu trang lên gấp 5 lần, thậm chí gấp 10 lần. Cơ quan chức năng đã vào cuộc để
kiểm soát giá đối với mặt hàng khẩu trang y tế. Đặt giá trần cho mỗi hộp khẩu trang là
100.000đ/hộp. Đồng thời yêu cầu nhà phân phối niêm yết giá khẩu trang, thanh tra tài
chính tăng cường kiểm tra, xử phạt hành vi không niêm yết giá khẩu trang hoặc niêm yết nhưng tăng giá bán.
Trước tình hình khẩu trang y tế cháy hàng, loạn giá, trong cuộc họp trực tuyến
sáng 1/2 với các địa phương về phòng chống dịch, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đã chỉ
đạo Bộ Y tế sử phạt nghiêm và có thể rút ngay giấy phép nếu hiệu thuốc tăng giá khẩu
trang. Đoàn công tác của Bộ Y tế cũng đã về kiểm tra nhằm nắm tình hình công tác
phòng chống dịch và công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm trong sản xuất kinh
doanh các loại thuốc, hóa chất, khẩu trang…
Được biết, nhằm ổn định thị trường, Cục Quản lý thị trường tỉnh cũng đã yêu cầu
các đội quản lý thị trường tiến hành ký cam kết với các cơ sở kinh doanh khẩu trang bán
đúng theo giá niêm yết. Đồng thời, tăng cường hơn nữa công tác quản lý theo địa bàn
nhằm phát hiện, xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân tăng giá quá mức hoặc có hành vi lợi
dụng tình hình khan hiếm hàng hóa do dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới
của virus Corona để sản xuất, kinh doanh, buôn bán, vận chuyển hàng giả là hàng hóa
dùng phòng, chữa bệnh. Nếu phát hiện các hành vi nói trên có dấu hiệu tội phạm thì
chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Sau khi chính phủ vào cuộc xử lý tình trạng gom hàng đẩy giá khẩu trang lên thì giá
khẩu trang cơ bản được kiểm soát. Đối với khẩu trang kháng khuẩn 3-4 lớp thì giá từ 50 – 70 nghìn đồng/hộp.
Không còn tình trạng người dân đi mua khẩu trang tích trữ và nguồn cung ổn định do
đó tình hình giá khẩu trang được giữ ổn định
2.1.3. Đánh giá ảnh hưởng của chính sách kiểm soát giá đến thị trường khẩu trang y tế
Tác động tích cực
Tình hình dịch bệnh diễn biến khó lường khiến nhu cầu tiêu thụ khẩu trang, các
loại vật tư y tế, nước sát khuẩn, kính chắn giọt bắn... tăng mạnh. Người dân đã từng bước
nâng cao ý thức trong việc bảo vệ sức khỏe, từ đó chủ động chuẩn bị các sản phẩm phòng, chống dịch.
Tuy nhiên, cùng với nguồn cung ứng đa dạng về mẫu mã, chủng loại, giá cả thì
vấn đề về chất lượng sản phẩm được quan tâm hơn cả. Thực tế cho thấy, cùng là khẩu
trang y tế nhưng sản xuất từ những nguyên liệu khác nhau sẽ cho ra chất lượng khác
nhau. Do đó, trên thị trường hiện có rất nhiều loại khẩu trang khác nhau như: 3 lớp, 4 lớp,
5 lớp; có lớp kháng khuẩn, không có lớp kháng khuẩn, N95 có van thở... với nhiều mức giá khác nhau.
Việc siết chặt quy định về phòng chống dịch bệnh và nâng cao ý thức của người
dân đặc biệt với các yêu cầu bắt buộc đeo khẩu trang thì nhu cầu khẩu trang của người
dân tăng cao. Người bán dễ dàng lợi dụng cơ hội này để tăng giá bán và trục lợi.
Việc chính phủ áp dụng giá trần đối với mặt hàng khẩu trang y tế giúp ổn định giá
thị trường khẩu trang y tế, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, qua việc thanh tra, kiểm soát các cơ sở kinh doanh thiết bị y tế và xử
phạt nghiêm nếu không tuân thủ quy định về giá bán thì phần nào cũng đã kiểm soát
được chất lượng những mẫu mã khẩu trang trên thị trường.
Tác động tiêu cực
Việc chính phủ áp giá trần có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt khẩu trang y tế. Đầu
năm 2020 khi cơ quan chức năng vào cuộc xử lý các cơ sở kinh doanh tăng giá khẩu
trang y tế thì đã có nhiều trường hợp “găm hàng” không bán gây thiếu hụt. Tuy nhiên,
tình trạng này sau đó đã được xử lý, đưa thị trường khẩu trang trở về trạng thái cân bằng.
2.2Thực trạng chính sách can thiệp giá của chính phủ bằng giá sàn – tiền lương tối thiểu
2.2.1 Cơ sở quy định về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam năm 2021
Mục đích của lương tối thiểu là để đảm bảo rằng với số tiền tối thiểu đó người lao
động có mức sống tối thiểu. Đối tượng hướng tới của chính sách lương tối thiểu là những
người có thu nhập thấp, lao động giản đơn dễ thay thế.
Trong một thị thị trường lao động, để cho dễ phân tích người ta dùng mô hình
cung cầu. Mô hình cung cầu chúng ta xét tới ở đây là thị trường lao động giản đơn dễ
thay thế, chính là đối tượng mà chính phủ muốn tăng lương cho họ thông qua chính sách lương tối thiểu.
Bộ luật Lao động quy định, mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả
cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường
nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều
kiện phát triển kinh tế - xã hội.
Từ năm 2021, Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu trên cơ sở
khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia, trong đó bao gồm cả tiền lương tối thiểu
vùng, tiền lương tối thiểu theo giờ và tiền lương tối thiểu theo tháng. Trước đó, tại Bộ
luật Lao động 2012 chỉ quy định Chính phủ công bố mức lương tối thiểu vùng.
Trong Bộ luật Lao động 2019 cũng bổ sung thêm các tiêu chí điều chỉnh lương tối
thiểu, bao gồm: mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; tương quan giữa
mức lương tối thiểu và mức lương trên thị trường; chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng
kinh tế; quan hệ cung, cầu lao động; việc làm và thất nghiệp; năng suất lao động và khả
năng chi trả của doanh nghiệp.
Một điểm đáng chú ý nữa liên quan đến lương tối thiểu trong năm 2021 là rất có
thể lương tối thiểu sẽ không tăng. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến tình hình sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội đã báo cáo Chính phủ về việc không tăng tiền lương tối thiểu vùng năm 2021.
Đối tượng áp dụng mức lương tối thiểu vùng năm 2021 gồm những đối tượng nào?
Người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động.
Doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân
và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động.
Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài
tại Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động (trừ trường hợp
điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có
quy định khác với quy định của Nghị định 90/2019/NĐ-CP).
2.2.2 Quy định về mức lương tối thiểu tại Việt Nam năm 2021
Quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh
nghiệp tại Điều 3 Nghị định 90/2019, cụ thể như sau:
Vùng I: 4,42 triệu đồng/tháng;
Vùng II: 3,92 triệu đồng/tháng;
Vùng III: 3,43 triệu đồng/tháng;
Vùng IV: 3,07 triệu đồng/tháng.
Như vậy, mức lương tối thiểu vùng đã có sự thay đổi đáng kể so với quy định cũ trước
năm 2020, giúp bảo đảm cuộc sống cho người lao động.
Khi thực hiện mức lương tối thiểu vùng, doanh nghiệp không được xoá bỏ hoặc cắt giảm
các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, làm việc
trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại.
2.2.3 Tác động của tiền lương tối thiểu lên thị trường lao động
Tác động tích cực
Đối với người lao động
Đảm bảo cuộc sống cơ bản cho người lao động
Mặt trái là Dễ có nguy cơ mất việc làm, tăng lương tối thiểu vùng đồng nghĩa với
việc tạo áp lực cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ
và vừa, khi lợi nhuận không như mong muốn và sức cạnh tranh không cao. Điều
này bắt buộc các doanh nghiệp phải tính đến phương án thay đổi cơ cấu, công
nghệ, thậm chí là cắt giảm lao động, đặc biệt là lao động phổ thông.
Đối với người sử dụng lao động
Tiền lương tối thiểu tăng sẽ làm tăng chi phí cho doanh nghiệp do ngoài trả lương
doanh nghiệp còn phải chịu các khoản bảo hiểm cũng như lương ngừng làm việc
của người lao động Khi tăng lương tối thiểu vùng, các khoản chi phí cho lương,
bảo hiểm, phí công đoàn… của doanh nghiệp đều tăng.
Khi các khoản này tăng, doanh nghiệp sẽ phải tính vào chi phí sản xuất, làm tăng
giá thành sản phẩm, dẫn đến giảm sức cạnh tranh. Do đó, để tồn tại trên thị trường,
không cách nào khác, doanh nghiệp buộc phải cải tiến công nghệ, đẩy mạnh ứng
dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật.
Đây là giải pháp khá hiệu quả để doanh nghiệp tăng năng suất lao động và chất
lượng của quá trình sản xuất, kinh doanh.
Tác động tiêu cực
Khi qui định mức lương tối thiểu cao hơn mức lương cân bằng trên thị trường (và chỉ
trong trường hợp này, chính sách giá sàn mới có ý nghĩa), nhà nước kì vọng rằng những
người lao động sẽ khấm khá hơn, nhờ có được mức lương cao hơn.
Khi chưa có sự can thiệp của nhà nước, thị trường lao động cân bằng tại điểm E,
nơi mà đường cầu DL và đường cung SL về lao động cắt nhau. Mức lương cân bằng là
w*, số lượng lao động cân bằng là L*.
Giả sử nhà nước qui định mức lương tối thiểu là w1 cao hơn mức lương cân bằng
w*. Tại mức lương w1, lượng cầu về lao động của các doanh nghiệp giảm xuống thành
LD1, trong khi lượng cung về lao động lại tăng lên thành LS1.
Thị trường rơi vào trạng thái không cân bằng, với một lương dư cung là (LS1 -
LD1). Lượng dư cung này biểu thị số người thất nghiệp, tức những người muốn đi làm
với mức lương w1 song lại không tìm được việc làm.
Do chính sách của nhà nước, tiền lương không thể tự điều chỉnh theo hướng hạ
xuống để "khử" lượng dư cung nói trên. Nói cách khác, thị trường không còn khả năng tự
điều chỉnh để trở về trạng thái cân bằng.
Như vậy, có thể thấy, mặc dù chính sách tiền lương tối thiểu được thiết kế nhằm
bảo vệ lợi ích của những người lao động, song nó lại có thể làm nảy sinh nhiều vấn đề.
Những người được lợi nhờ chính sách này chỉ nằm trong số những người lao động
may mắn có được việc làm, và số lượng những người này ít hơn trước (LD1 so với L*).
Trong khi đó, số người thất nghiệp tăng lên (trong ví dụ của chúng ta, trước kia
trên thị trường không tồn tại hiện tượng thất nghiệp). Trong số này có cả những người
trước đây vẫn tìm được việc làm do lượng cầu về lao động là L* cao hơn LD1.
Ngoài ra, do trên thị trường tồn tại hiện tượng dư cung, thế mặc cả giữa những
người thuê mướn lao động và những người cung ứng lao động cũng khác trước. Những
người thuê mướn lao động sẽ có một vị thế tốt hơn để có thể đưa ra những qui định bất
lợi cho những người muốn xin việc.
Rõ ràng, chính sách tiền lương tối thiểu nói riêng, cũng như chính sách giá sàn nói
chung cũng có thể gây ra những tổn hại đáng kể cho những người mà ban đầu chính sách này muốn bảo vệ.
CHƯƠNG 3: KHUYẾN NGHỊ VIỆC SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH KIỂM SOÁT GIÁ
Đối với các công cụ kiểm soát giá của chính phủ đều có những điểm mạnh, điểm
yếu khác nhau. Mục đích của các công cụ trên đều giúp đảm bảo lợi ích của người mua
hoặc người bán, tuy nhiên nếu áp dụng trong thời gian dài sẽ dẫn đến tình trạng mất cân bằng trên thị trường.
Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh, chính phủ cũng đã áp dụng mức
giá trần, giá sàn với một số mặt hàng theo thời điểm hết sức linh hoạt, đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường. Kết luận
Thông qua bài tiểu luận, em đã hiểu sâu hơn về công cụ kiểm soát giá của nhà nước
nhằm ổn định thị trường, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng cũng như nhà sản xuất. Cụ thể,
hai công cụ chính là Giá trần và giá sàn. Khi sử dụng công cụ kiểm soát giá mang lại những
tín hiệu tích cực cho thị trường, tuy nhiên nếu quá cứng nhắc trong cách điều hành chính
sách kiểm soát giá sẽ rất dễ gây ra những tác động tiêu cực đến thị trường, cụ thể là tình
trạng dư thừa hoặc thiếu hụt hàng hóa
Qua bài viết em cũng đã áp dụng lý thuyết vào thực tế tìm hiểu các công cụ kiểm
soát giá mà cơ quan chức năng Việt Nam thực hiện nhằm bình ổn giá trong thời kì dịch
bệnh Covid 19. Những biện pháp đó đã mang lại những hiệu quả rõ rệt đảm bảo lợi ích của
người tiêu dùng và nhà sản xuất.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS Nguyễn Văn Dần, ThS Nguyên Hồng Nhung. Giáo trình kinh tế vi mô, NXB Tài chính (2016)
2. PGS.TS Vũ Kim Dũng. Giáo trình kinh tế vi mô, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2018)
3. TS. Doãn Thị Mai Hương, TS. Lương Xuân Dương (2020). Giáo trình Kinh tế vi mô, NXB Lao động - Xã hội.