



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KHÁCH SẠN – DU LỊCH
---------------- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ Đề tài:
NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN TÍCH LŨY VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆT NAM HIỆN NAY Nhóm: 4
Lớp học phần: 27111003341
Người hướng dẫn: TS. Võ Tá Tri Hà Nam, tháng 4 năm 2022 MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN....................................................................................3
PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................4
PHẦN NỘI DUNG............................................................................5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN.......................................................5
1. Bản chất của tích lũy tư bản......................................................5
2. Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản.............7
3. Một số hệ quả của tích lũy tư bản.............................................9
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN TÍCH LŨY
CỦA C.MÁC VÀO VIỆT NAM HIỆN NAY.................................12
1. Quá trình mở rộng sản xuất ở Việt Nam hiện nay...................12
2. Sự hình thành các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.......................14
3. Sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội........................................17
KẾT LUẬN.....................................................................................19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................20 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên chúng em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại Học
Thương mại đã tạo điều kiện để sinh viên chúng em có một môi trường học
tập thoải mái về cơ sở hạ tầng cũng như cơ sở vật chất.
Chúng em xin cảm ơn khoa Lý luận chính trị đã giúp chúng em được mở
mang tri thức về bộ môn Kinh tế chính trị. Qua đó chúng em có thể hình
thành kỹ năng giải quyết có căn cứ khoa học quan hệ lợi ích của mình khi
khởi nghiệp hoặc tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội trong bối cảnh xã hội hiện nay.
Chúng em chân thành cảm ơn thầy Võ Tá Tri đã hướng dẫn tận tình để nhóm
chúng em hoàn thành bài thảo luận này. Hi vọng thông qua những nỗ lực tìm
hiểu của tất cả các thành viên, nhóm 4 sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về lý luận
tích lũy và cách mà Việt Nam vận dụng lý luận này để phát triển nền kinh tế.
Với những giới hạn về kiến thức và thời gian, trong quá trình tìm hiểu nhóm
em không tránh khỏi thiếu sót, mong thầy và các bạn tận tình góp ý để chúng
em hoàn thiện hơn nữa những kiến thức của mình.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! PHẦN MỞ ĐẦU
Tích lũy tư bản là một yếu tố quan trọng quyết định đối với sự hình thành
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, một hệ thống các nước tư bản đầu
tiên trên thế giới đã hình thành và phát triển vô cùng mạnh mẽ mà lịch sử đã
cho thấy. Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng tích lũy tư bản còn là sự
đòi hỏi khách quan của bất cứ một giai đoạn phát triển nào ở bất cứ quốc gia
nào trên thế giới. Nếu không tích lũy và huy động nguồn lực tư bản cho quốc
gia mình thì nền kinh tế xã hội quốc gia đó sẽ không phát triển mạnh mẽ và
cường thịnh được. Đối với Việt Nam tích lũy luôn là điều kiện tiên quyết để
tái sản xuất mở rộng. Có tích lũy mới có thể làm cho nền kinh tế tăng trưởng
và phát triển, đưa đất nước vững vàng đi theo con đường chủ nghĩa xã hội mà
chúng ta đã lựa chọn. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang
tiến hành công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa thì nhu cầu về vốn để xây
dựng các công trình nền tảng và cái tiến kỹ thuật áp dụng khoa học tiên tiến
là càng cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết.
Qua bài thảo luận sau đây chúng em xin được trình bày đề tài: “Nghiên cứu
lý luận tích lũy và vận dụng vào Việt Nam hiện nay”.
Bài thảo luận của chúng em được chia thành 2 chương bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận
1. Bản chất của tích lũy tư bản
2. Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản
3. Một số hệ quả của tích lũy tư bản Chương 2:
Vận dụng nghiên cứu lý luận tích lũy của C.Mác vào Việt Nam hiện nay.
1. Quá trình mở rộng sản xuất ở Việt Nam hiện nay.
2. Sự hình thành các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.
3. Sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Bản chất của tích lũy tư bản
Để chỉ ra bản chất của tích lũy tư bản, cần nghiên cứu về tái sản xuất. Tái sản xuất :
- Định nghĩa : Là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và tiếp diễn một cách liên tục không ngừng. - Phân loại :
Gồm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
+ Tái sản xuất giản đơn : Là sự lặp lại quá trình sản xuất quy mô như cũ.
Trong trường hợp này, ứng với nền sản với xuất tư bản chủ nghĩa, toàn bộ giá
trị thặng dư đã được nhà tư bản tiêu dùng cho cá nhân.
Tuy nhiên, tư bản không những được bảo tồn mà còn phải không ngừng lớn lên
Tái sản xuất mở rộng: Là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn hơn
trước, đặc trưng của nền sản xuất lớn.
Thực chất và động cơ của tích lũy tư bản
- Muốn tái sản xuất mở rộng nhà tư bản không thể sử dụng hết giá trị thặng
dư cho tiêu dùng cá nhân, mà phải sử dụng một phần giá trị thặng dư đó được
gọi là tư bản phụ thêm. Quá trình này chính là tích lũy tư bản.
- Thực chất của tích lũy tư bản là sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dư
thành tư bản hay là quá trình tư bản hóa giá trị thặng dư. Một cách cụ thể,
tích lũy tư bản là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng. Sở dĩ
giá trị thặng dư có thể chuyển hóa thành tư bản được là vì giá trị thặng dư đã
mang sẵn những yếu tố vật chất của tư bản mới.
Ví dụ: Xét một mô hình ѕản хuất của một nhà tư bản: Năm thứ nhất quу mô
ѕản хuất là: 800c + 200ᴠ + 200m. Giả định 200m không bị nhà tư bản tiêu
dùng tất cả cho cá nhân mà được phân thành 100m dùng để tích lũу à ᴠ 100m
dành cho tiêu dùng cá nhân của nhà tư bản. Phần 100m dùng để tích lũу được
phân thành 80c + 20ᴠ khi đó quу mô ѕản хuất của năm ѕau ѕẽ là: 880c + 220ᴠ + 220m ( ᴠ
ới điều kiện tỉ ѕuất lợi nhuận m’ không đổi). Như ᴠậу,
ᴠ ào năm thứ 2 quу mô của tư bản bất biến ᴠ
à tư bản khả biến đều
tăng lên, giá trị thặng dư cũng tăng lên tương ứng. Và cứ như ậу ᴠ thì quу mô
ѕản хuất ngàу càng được mở rộng, tích lũу tư bản ngàу càng lớn, phần giá trị
thặng dư thành tư bản ngàу càng tăng lên
- Điều kiện tích lũy tư bản : Muốn tích lũy để tái sản xuất mở rộng phải có
hai điều kiện : Một phần sản phẩm thặng dư chuyển hóa thành tư bản và phải
có lao động phụ thêm (tăng thêm lao động mới, kéo dài thời gian lao động
hoặc tăng cường độ lao động)
- Nguồn gốc duy nhất của tư bản là giá trị thặng dư, là lao động không được
trả công của công nhân bị tư bản chiếm không để biến thành công cụ bóc lột
công nhân và tư bản tích lũy chiếm tỉ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản.
C.Mác nói rằng “Tư bản ứng trước chỉ là một giọt nước trong dòng sông tích
lũy mà thôi”. Nhờ có tích lũy tư bản, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trở
thành thống trị và không ngừng mở rộng sự thống trị đó.
- Quá trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hóa biến
thành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa. Khác với nền kinh tế giản đơn sự
trao đổi theo nguyên tắc ngang giá. Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa dẫn
đến kết quả là nhà tư bản chẳng những chiếm đoạt một phần lao động của
công nhân mà còn sở hữu hợp pháp lao động không công đó. Sự thay đổi căn
bản trong quan hệ sở hữu hoàn toàn không vi phạm quy luật giá trị.
- Nguyên nhân sâu xa nhất của việc tích lũy tư bản là việc theo đuổi giá trị
thặng dư tối đa. Khát vọng đó buộc các nhà tư bản phải không ngừng mở
rộng quy mô sản xuất để tăng quy mô giá trị thặng dư.
- Động cơ thúc đẩy tích lũy tư bản và tái sản xuất mở rộng là quy luật kinh tế
tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản - quy luật giá trị thặng dư. Mặt khác, do tính
cạnh tranh quyết liệt buộc các nhà tư bản phải không ngừng làm tư bản của
mình tăng nhanh lên bằng cách tăng nhanh tư bản tích lũy.
2. Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản
Với một khối giá trị thặng dư nhất định thì quy mô của tích lũy phụ thuộc
vào tỉ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó thành quỹ tích lũy và quỹ
tiêu dùng của nhà tư bản. Nếu nhà tư bản sử dụng khối lượng giá trị thặng dư
đó quá nhiều cho chi tiêu cá nhân thì lượng tích lũy ít đi. Khi đó quy mô tích
lũy của nhà tủ bản sẽ giảm đi. Ngược lại việc tiêu dùng ít sẽ làm tăng khối
lượng tư bản tích lũy, khi đó nhà tư bản có vốn mở rộng thêm sản xuất, nâng
cao kĩ thuật giành phần thắng lợi trên thương trường. Tuy nhiên khó đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của bản thân nhà tư bản. Do đó vấn đề cân đối giữa nhu
cầu tiêu dùng của bản thân và lượng tư bản phụ thêm bỏ vào sản xuất là vấn
đề đầu tiên phải giải quyết của nhà tư bản.
Nhưng nếu tỉ lệ phân chia đó đã được xác định, thì quy mô của tích lũy tư
bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư. Do đó những nhân tố ảnh
hưởng đến khối lượng giá trị thặng dư cũng chính là nhân tố quyết định quy
mô của tích lũy tư bản. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quy mô tích lũy gồm:
Thứ nhất, trình độ bóc lột sức lao động : Tỉ suất giá trị thặng dư tăng sẽ tạo
tiền đề để tăng quy mô giá trị thặng dư. Từ đó tạo điều kiện để tăng quy mô
tích lũy. Để nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư, ngoài sử dụng các phương pháp
sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối, nhà
tư bản còn có thể sử dụng các biện pháp cắt giảm tiền công, tăng ca, tăng
cường độ lao động, … Như vậy công nhân không những bị nhà tư bản chiếm
đoạt giá trị thặng dư mà còn bị chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, biến
một phần tiêu dùng cá nhân của công nhân thành tích lũy tư bản.
Công thức tính tỉ suất giá trị thặng dư là: m’ = m x 100%. v
Trong đó: m’ là tỷ suất giá trị thặng dư m là giá trị thặng dư v là tư bản khả biến.
Ví dụ: Ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động cần thiết 4 giờ và thời gian
lao động thặng dư là 4 giờ. Mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là 8 đơn
vị thì giá trị thặng dư tuyệt đối ở đây sẽ là 32.
Và tỉ suất giá trị thặng dư là: m’ = 32 x 100% = 100%. 32
Nếu kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa với mọi điều kiện khác không đổi
thì giá trị thặng dư tuyệt đối tăng lên là 48. Và tỷ suất giá trị thặng dư cũng
tăng lên thành: m’ = 48 x 100% = 150%. 32
Thứ hai, trình độ năng suất lao động xã hội : Năng suất lao động tăng làm
cho giá trị tư liệu sinh hoạt giảm xuống, giá trị sức lao động giảm giúp cho
nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn, góp phần tăng quy mô tích
lũy. Tăng năng suất lao động thì khối lượng sản phẩm cũng tăng lên dẫn đến
giảm giá trị hàng hóa làm cho giá cả của hàng hóa giảm. Nhà tư bản mua
được nhiều tư liệu sản xuất hơn làm tăng khối lượng giá trị thặng dư. Với
một tỉ suất giá trị thặng dư không đổi hay thậm trí đang giảm xuống thì khối
lượng sản phẩm thặng dư vẫn tăng lên miễn là tỷ suất giá trị thặng dư giảm
xuống chậm hơn với mức tăng của sức sản xuất lao động. Vì vậy, với một tỷ
lệ phân chia không đổi sự tiêu dùng của nhà tư bản vẫn có thể tăng lên mà
không cần giảm quỹ tích lũy. Chẳng những quy mô tái sản xuất được mở
rộng về mặt vật thể, mà sản xuất giá trị thặng dư cũng tăng lên nhanh hơn giá
trị của tư bản phụ thêm.
Thứ ba, sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng ( Sử dụng
hiệu quả máy móc ) :
+ Tư bản sử dụng : Là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộ
quy mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm.
+ Tư bản tiêu dùng : Là phần giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộ quy
mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm.
+ C. Mác gọi sử dụng hiệu quả máy móc là chênh lệch giữa tư bản sử dụng
và tư bản tiêu dùng . Theo C. Mác, máy móc được sử dụng toàn bộ tính năng
của nó, song giá trị chỉ được tính dần vào giá trị sản phẩm qua khấu hao. Sau
mỗi chu kỳ như thế, máy móc vẫn hoạt động toàn bộ nhưng giá trị của bản
thân nó đã giảm dần do tính giá khấu hao để chuyển vào giá trị sản phẩm. Hệ
quả là, mặc dù giá trị đã bị khấu hao, song tính năng hay giá trị sử dụng thì
vẫn nguyên như cũ, như lực lượng phục vụ không công trong sản xuất. Máy
móc, thiết bị càng hiện đại, thì sự chênh lệch đó càng lớn, do đó sự phục vụ
không công càng lớn, tư bản lợi dụng được những thành tựu trong quá khứ
càng nhiều, nhờ vậy quy mô tích lũy tư bản càng lớn.
Thứ tư, quy mô của tư bản ứng trước : Quy mô tư bản lớn thì khối lượng
giá trị thặng dư lớn vậy nên khối lượng tích lũy cũng sẽ lớn. Quy mô tư bản
đầu tư lớn thì sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng lại càng
lớn và làm cho quy mô tích lũy tăng lên.
3. Một số hệ quả của tích lũy tư bản
- Theo C. Mác, quá trình tích lũy trong nền kinh tế thị trường tư bản dẫn tới
các hệ quả kinh tế thị trường tư bản dẫn tới các hệ quả kinh tế mang tính quy luật như sau :
Thứ nhất, tích lũy tư bản làm tăng cấu tạo hữu cơ tư bản.
Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị được quyết định bởi cấu tạo kỹ
thuật và phản ánh sự biến đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản.
C.Mác cho rằng, nền sản xuất có thể được quan sát qua hình thái hiện vật
cũng có thể quan sát qua hình thái giá trị.
Nếu quan sát qua hình thái hiện vật thì mối quan hệ tỷ lệ giữa số lượng tư
liệu sản xuất và số lượng sức lao động được coi là cấu tạo kỹ thuật.
Cấu tạo kỹ thuật này, nếu quan sát qua hình thái giá trị phản ánh ở mối quan
hệ giữa tư bản bất biến với tư bản khả biến. Tỷ lệ giá trị này được gọi là cấu
tạo hữu cơ. Cấu tạo hữu cơ luôn có xu hướng tăng do cấu tạo kỹ thuật cũng
vận động theo xu hướng tăng lên về lượng.
Vì vậy, quá tình tích lũy tư bản không ngừng làm tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản.
Thứ hai, tích lũy tư bản làm tăng tích tụ và tập trung tư bản.
Trong quá trình tái sản tư bản chủ nghĩa, quy mô của tư bản cá biệt cũng tăng
lên thông qua quá trình tích tụ và tập trung tư bản.
Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tư bản
hóa giá trị thặng dư. Tích tụ tư bản làm tăng quy mô tư bản cá biệt đồng thời
làm tăng quy mô tư bản xã hội do giá trị thặng dư được biến thành tư bản phụ
thêm. Tích tụ tư bản là kết quả trực tiếp của tích lũy tư bản.
Tập trung tư bản là sự tăng lên của quy mô tư bản cá biệt mà không làm tăng
quy mô tư bản xã hội do hợp nhất các tư bản cá biệt vào một chỉnh thể tạo
thành một tư bản cá biệt lớn hơn. Tập trung tư bản có thể được thực hiện
thông qua sáp nhập các tư bản cá biệt với nhau.
Tích tụ và tập trung tư bản góp phần tạo tiền đề để có thể thu được nhiều giá
trị thặng dư hơn cho người mua hàng hóa sức lao động.
Thứ ba, quá trình tích lũy tư bản không ngừng làm tăng chênh lệch giữa
thu nhập của nhà tư bản với thu nhập của người lao động làm thuê cả
tuyệt đối lẫn tương đối.
Thực tế, xét chung trong toàn bộ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thu nhập mà
các nhà tư bản có được lớn hơn rất nhiều lần so với thu nhập dưới dạng tiền
công của người lao động làm thuê, C.Mác đã quan sát thấy thực tế này và gọi
đó là sự bần cùng hóa người lao động. Cùng với sự gia tăng quy mô sản xuất
và cấu tạo hữu cơ của tư bản, tư bản khả biến có xu hướng giảm tương đối so
với tư bản bất biến, dẫn tới nguy cơ thừa nhân khẩu. Do đó, quá tình tích lũy
tư bản có tính hai mặt, một mặt thể hiện tích lũy sự giàu sang về phía giai cấp
tư sản; mặt khác tích lũy sự bần cùng về phía giai cấp công nhân làm thuê.
Bần cùng hóa giai cấp công nhân làm thuê biểu hiện dưới hai hình thái là bần
cùng hóa tương đối và bần cùng hóa tuyệt đối. Bần cùng hóa tương đối là
cùng với đà tăng trưởng của lực lượng sản xuất, phần sản phẩm phân phối
cho giai cấp công nhân làm thuê tuy có tăng tuyệt đối, nhưng lại giảm tương
đối so với phần dành cho giai cấp tư sản. Bần cùng hóa tuyệt đối thể hiện sự
sụt giảm tuyệt đối về mức sống của giai cấp công nhân làm thuê. Bần cùng
hóa tuyệt đối thường xuất hiện đối với bộ phận giai cấp công nhân làm thuê
trong các điều kiện kinh tế khó khăn, đặc biệt trong khủng hoảng kinh tế.
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN TÍCH
LŨY CỦA C.MÁC VÀO VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Quá trình mở rộng sản xuất ở Việt Nam hiện nay
1.1. Thực trạng
- Trong thời gian qua, với xu thế toàn cầu hóa, sự chuyển giao và hội nhập
quốc tế về khoa học, công nghệ đã khiến nền kinh tế nước ta phát triển mạnh
mẽ. Những công cụ lao động giản đơn mang tính chất tiểu thủ công nghiệp
đã được thay thế bằng những dây chuyền máy móc thiết bị tối tân, hiện đại.
Sức lao động của con người được giải phóng, lao động chân tay dần được
thay thế bởi lao động trí óc, lao động giản đơn dần được thay thế bằng sự
chuyên môn hóa ngày càng cao. Những sự thay đổi lớn lao của công cụ sản
xuất đã làm cho năng suất lao động tăng vượt bậc, khi lượng sản phẩm làm ra
ngày càng nhiều và có chất lượng cao. Nhờ quá trình tích lũy vốn thay thế
các quá trình sản xuất nhỏ lẻ thành quá trình sản xuất lớn hơn với quy trình
công nghệ phù hợp với nền kinh tế thị trường.
- Ở nước ta nông nhiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế, nên
việc mở rộng sản xuất nông nghiệp là vô cùng cần thiết. Nhờ quá trình tích
lũy vốn nên trong nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể thông
qua việc đầu tư máy móc thiết bị, nâng cao trình độ cho người nông dân, mở
các buổi hội thảo dưới sự hướng dẫn của người nước ngoài. Nhiều nơi việc
làm nông không còn làm bằng thủ công mà đã chuyển sang dây chuyền với
quy mô khép kín và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
Từ đó nông nghiệp đã đạt được những thành tựu kim ngạch xuất khẩu, các
mặt hàng nông – lâm – thủy sản sẽ đạt 15 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng nông
nghiệp 4,0% lên 4,5%/năm, GDP nông nghiệp tăng từ 3,3% đến 3,5%/năm,
tốc độ tăng trưởng kinh tế nông thôn đạt 7,8-8%/năm.
1.2. Ưu điểm:
- Mở rộng sản xuất hàng hóa là để trao đổi đáp ứng nhu cầu của xã hội nên
người sản xuất có điều kiện để chuyên môn hóa cao. Trình độ tay nghề được
nâng cao do tích lũy kinh nghiệm, tiếp thu được trí thức mới. Công cụ chuyên
đùng được cải tiến, kỹ thuật mới được áp dụng do đó cạnh tranh ngày càng
gay gắt khiến cho năng suất lao động tăng lên, chất lượng ngày càng được cải thiện và tốt hơn.
- Mở rộng sản xuất hàng hóa làm cho Việt Nam từ một đất nước kém phát
triển trở thành một đất nước đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Đời sống vật chất càng ngày càng đầy đủ cũng như đời sống
tinh thần được cải thiện và ngày càng phong phú.
1.3. Nhược điểm:
- Làm phân hóa đời sống dân cư, phân hóa giàu nghèo dẫn đến khủng hoảng
kinh tế, thất nghiệp, lạm phát. Xã hội phát sinh nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội
gắn liền với tình trạng kinh tế sa sút, gây rối loạn xã hội
- Để tối thiểu hóa đầu tư, tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp bất chấp sức
khỏe người tiêu dùng, làm hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Vì
chạy theo lợi nhuận tối đã dẫn đén sử dụng bừa bãi, tàn phá tài nguyên và
hủy diệt môi trường, sinh thái.
1.4. Giải pháp:
- Nhà nước cần phải tăng cường điều chỉnh và quản lý vĩ mô một cách kiên
quyết và khôn khéo để mọi hoạt động vào khuôn khổ và đều tuân theo pháp
luật. Nhà nước cần thiết lập khuôn khổ pháp luật về kinh tế kết hợp với các
luật về bảo vệ môi trường sinh thái để xác định hành vi kinh doanh là hợp
pháp hay không và có các biện pháp xử lý khi có cá nhân hay tổ chức vi phạm.
- Nhà nước phải sử dụng có ý thức các quy luật kinh tế khách quan vào quản
lý kinh tế sản xuất hàng hóa để phát huy những uy thế vốn có và ngăn ngừa,
hạn chế những mặt trái khuyết điểm của nó.
2. Sự hình thành các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.
2.1. Thực trạng
Việc xây dựng tập đoàn kinh tế là chủ trương của Đảng và Nhà nước
nhằm đưa nền kinh tế phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới. Đảng và nhà
nước cũng đã xác định rõ một số lĩnh vực trọng điểm cần phải hình thành tập đoàn kinh tế.
Trong năm 2006 và đầu năm 2007, tám tập đoàn kinh tế quốc gia trong
các lĩnh vực mũi nhọn như Bưu chính-Viễn thông, Than-Khoáng sản, Dầu
khí, Điện lực, Công nghiệp tàu thuỷ, Dệt may, Cao su, Tài chính-Bảo hiểm
đã được thành lập. Đây là những tổng công ty có quy mô lớn mạng lưới
thành viên có quan hệ mật thiết, liên doanh và hợp tác với nhiều đối tác.
Tuy nhiên trong quá trình thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước đã xuất
hiện sự lúng túng trong giải quyết các vấn đề cụ thể khi xây dựng đề án. Các
vấn đề nảy sinh đó là:
+ Mối quan hệ và liên kết giữa các đơn vị trong tập đoàn.
+ Cơ chế thực hiện liên kết.
+ Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý (thành phần, quyền, trách nhiệm và mối
quan hệ giữa các bộ phân quản lý trong bộ máy của tập đoàn).
+ Thương hiệu của tập đoàn, quy mô, vốn điều lệ và các vấn đề khác để xác lập tập đoàn.
Ngay như địa vị pháp lý của tập đoàn vẫn còn những ý kiến khác nhau
như tập đoàn có hay không có tư cách pháp nhân, đăng ký hay không đăng
ký, có hay không có bộ máy quản lý riêng. Như vậy, trong những năm vừa
qua vẫn còn rất nhiều những quan điểm khác nhau về nguyên tắc hình thành
tập đoàn kinh tế trên cơ sở Tổng công ty nhà nước.
Về vốn mà các tập đoàn sử dụng là Tám tập đoàn kinh tế cùng với 96 tổng
công ty, công ty lớn của Nhà nước sở hữu gần 400.000 tỷ đồng, chiếm hầu
hết vốn của Nhà nước có tại các doanh nghiệp nhà nước. Các tập đoàn và
tổng công ty đang nắm giữ 75% tài sản cố định của quốc gia, khoảng 60%
tổng tín dụng ngân hàng trong nước và tổng vốn vay nước ngoài nhưng chỉ
tạo ra khoảng 40% tổng sản phẩm trong nước tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ
sở hữu của các đơn vị này là 17%, 28,8% thu ngân sách. Tính đến cuối năm
2007, tổng số vốn chủ sở hữu của các tập đoàn và tổng công ty đã tăng 18%,
tổng tài sản tăng 26%. Bên canh những tập đoàn kinh tế lớn nhà nước còn có
các tập đoàn kinh tế tư nhân như FPT, Đồng Tâm, Kinh Đô, Hòa Phát,
Hoàng Anh Gia Lai, Vincom, Trung Nguyên,… Các tập đoàn này đều có vốn
góp, cổ phần chi phối lẫn nhau ở các công ty con, công ty liên kết, ngân hàng,
đối tác chiến lược trong và ngoài nước với hàng ngàn cổ đông. Các tập đoàn
kinh tế tư nhân cũng góp phần làm thúc đẩy nền kinh tế phát triển và làm
tăng % GDP quốc doanh của Việt Nam
2.2. Ưu điểm:
- Một là, công cụ hữu hiệu điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo nên sức mạnh kinh
tế quốc gia. Trong nền kinh tế nhiều thành phần, các tập đoàn kinh tế nhà
nước nắm giữ các lĩnh vực, ngành nghề quan trọng, giữ vai trò trụ cột của
nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế theo định hướng Đảng và nhà nước.
- Hai là, làm gia tăng sức mạnh cạnh tranh của cả tập đoàn và công ty thành
viên. Thực tế ở nước ta, mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước là mô hình liên
kết kinh tế tiên tiến và có sức mạnh nhất. Với đặc điểm là mô hình có quy mô
lớn, nguồn lao động dồi dào, thị trường và công nghệ vượt trội, các tập đoàn
kinh tế nhà nước có một vị thế khác biệt so với các doanh nghiệp kinh doanh cùng loại.
- Ba là, tổ chức kinh doanh mang lại lợi nhuận thích đáng cho nhà nước. Với
mục tiêu kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận trong thị trường, các tập đoàn kinh
tế nhà nước phải khai thác nguồn vốn nhà nước nhằm tạo ra lợi nhuận bổ
sung cho ngân sách nhà nước, đồng thời, tạo ra việc làm và thu nhập hợp
pháp nhằm nâng cao đời sống về mọi mặt của người lao động.
2.3. Nhược điểm:
- Một là, mục tiêu, hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước
chưa tương xứng với nguồn lực nhà nước đầu tư. Nhiều tập đoàn kinh tế thay
vì phải tập trung vào ngành nghề chính, thực hiện các mục tiêu kinh tế và
chính trị trọng yếu của kinh tế nhà nước, lại mở rộng quy mô đầu tư đầu
ngành trong khi thực tế năng lực tài chính lại hạn chế.
- Hai là, công tác giám sát, kiểm soát nội bộ tập đoàn kinh tế còn nhiều hạn
chế dẫn đến không phát triển kịp thời để có biện pháp ngăn chặn, giảm thiểu
tổn thất trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Thực hiện quá trình tái cơ cấu
và cổ phần hóa trong nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước thời gian qua vẫn còn
chậm, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đổi mới doanh nghiệp của nhà nước.
2.4. Giải pháp:
- Trọng tâm là tăng đầu tư, tăng đổi mới sáng tạo và áp dụng khoa học công
nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động để doanh nghiệp nhà nước thực hiện vị trí,
vai trò mở đường, dẫn dắt.
- Gắn phát triển doanh nghiệp nhà nước với chiến lược phát triển ngành, lĩnh
vực của nền kinh tế. Thay đổi nhận thức, quan điểm về cổ phần hóa, thoái
vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.
- Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước thông
qua việc phân công một bộ làm đầu mối quản lý nhà nước thực hiện giám sát
hoạt động của cơ quan đại diện chủ sở hữu.
3. Sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội
Phân hóa giàu nghèo ở nước ta ngày càng nghiêm trọng và ai cũng nhận ra
qua thực tế cuộc sống hàng ngày. Ở Việt Nam, sự phân hóa giàu nghèo diễn
ra ngay từ thời kỳ quản lý kinh tế - xã hội theo cơ chế tập trung, quan liêu,
bao cấp. Tuy nhiên, lúc đó sự chênh lệch giàu nghèo, phân hóa thu nhập và
những biểu hiện của phân tầng xã hội chưa rạch ròi, rõ nét, bị che khuất bởi
chủ nghĩa bình quân và chế độ công hữu với cơ cấu giai cấp “hai giai một
tầng” (giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và tầng lớp trí
thức). Chỉ từ sau khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện (1986),
xóa bỏ cơ chế quản lý cũ, thực hiện phát triển kinh tế nhiều thành phần theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì sự chênh lệch giàu nghèo,
phân tầng xã hội mới bộc lộ một cách rõ ràng và ngày càng trở nên sâu sắc.
Lúc này đã xuất hiện những công trình nghiên cứu về cơ cấu xã hội và phân
tầng xã hội nhằm cung cấp những căn cứ lý luận và thực tiễn giúp Đảng và
nhà nước kịp thời đưa ra những định hướng chiến lược và những chính sách
phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với thời kỳ chuyển đổi cơ chế và mô hình
quản lý phát triển đất nước
Cách đây 20 năm, khi vừa mới thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, Việt
Nam có quá nửa tổng số hộ dân sống dưới mức nghèo khổ, nay thì cả nước
chỉ còn khoảng 10% tổng số hộ nghèo và hầu như không còn hộ đói. Cũng
cách đây 20 năm, có đến 2/3 tổng số hộ ở khu vực nông thôn sống ở mức
nghèo khổ và cũng có một tỷ lệ không nhỏ số hộ còn bị đói, giờ thì tỷ lệ này
đã giảm khá nhanh. Tuy đạt được những kết quả tích cực, nhưng tỷ lệ nghèo
và quy mô số người nghèo ở Việt Nam còn lớn. Việc phân bố số người nghèo
không chỉ chênh lệch ở tỷ lệ cao thấp qua các vùng, mà còn ở quy mô số
người tuyệt đối. Theo số liệu thống kê của nhà nước:
+ Vùng Đồng bằng sông Hồng có khoảng 1,23 triệu người,
+ Vùng trung du và miền núi phía Bắc có 2,76 triệu người,
+ Vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung có 3,21 triệu người,
+ Vùng Tây Nguyên có khoảng trên 1 triệu người,
+ Đông Nam bộ có gần 213.000 người
+ Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có trên 1,84 triệu người.
Với một đất nước liên tục phải gánh chịu thiên tai như Việt Nam thì ranh
giới giữa mức cận nghèo và nghèo là rất mong manh nên nguy cơ số hộ
nghèo tăng lên rất dễ xảy ra. Thực tế trên cho thấy, bất bình đẳng trong thu
nhập ở nước ta ngày càng rõ nét và gay gắt hơn, tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ
yếu ở những vùng khó khăn, có nhiều yếu tố bất lợi như điều kiện tự nhiên
khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng kém, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất
manh mún, sơ khai. Ngoài ra, còn xuất hiện một số đối tượng nghèo mới ở
những vùng đang trong quá trình đô thị hóa và nhóm lao động nhập cư vào
đô thị, họ thường gặp khó khăn nhiều hơn và phải chấp nhận mức thu nhập
thấp hơn lao động sở tại. Đây là những yếu tố làm gia tăng tình trạng tái
nghèo và tạo ra sự không đồng đều trong tốc độ giảm nghèo giữa các vùng trong cả nước.
Hiện nay, hệ số chênh lệch giàu nghèo của Việt Nam cao hơn nhiều nước đã
trải qua thời kỳ dài phát triển kinh tế thị trường. Nhìn chung, cơ chế thị
trường của chúng ta còn mới mẻ, thậm chí có người cho là nền kinh tế thị
trường hoang dã, đã tạo ra những kẽ hở để cho một bộ phận lách cơ chế hoặc
lợi dụng cơ chế để trục lợi, tham nhũng. Số người làm giàu dạng này thường
không đóng góp bao nhiêu để chia sớt gánh nặng của nhà nước mà còn làm
cho tiềm lực kinh tế ngày càng suy giảm. Vì thế, nếu không nhanh chóng
hoàn thiện thể chế, nhất là thể chế dân chủ, nhà nước pháp quyền, đồng thời
xử lý vấn đề lợi ích nhóm, sở hữu chéo, lạm dụng độc quyền… thì chênh lệch
giàu – nghèo hiện đang quá lớn lại sẽ càng tăng nhanh. KẾT LUẬN
Tích luỹ tư bản không chỉ là mỗi sản phẩm của chủ nghĩa tư bản. Nó
còn tồn tại trong các phương thức sản xuất xã hội khác nó chỉ khác nhau về
tên gọi mà thôi. Ngày nay vấn đề tích luỹ có vai trò rất quan trọng trong việc
quyết định thành công về mặt kinh tế của các nước trên thế giới nói chung và
Việt Nam nói riêng. Hiểu về tích luỹ tư bản sẽ giúp là có quyết định dùng dần
trong việc tích luỹ vốn ở Việt Nam, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Qua bài thảo luận này bọn em đã hiểu rõ hơn về tích luỹ tư bản và cách
mà Việt Nam vận dụng lí luận này vào việc phát triển kinh tế. Về mặt lí
thuyết bọn em đã nêu được bản chất, những nhân tố ảnh hưởng và một số hệ
quả của tích lũy tư bản. Về vận dụng, bọn em đã nêu được 3 khía cạnh mà
Việt Nam đã vận dụng tích lũy tư bản trong quá trình phát triển từ đó nhận
định ưu nhược điểm trong việc vận dụng và đưa ra giải pháp.
Với vốn kiến thức kinh tế chính trị đã học được từ các thầy và quá
trình nghiên cứu tìm tòi trong một thời gian đã giúp chúng em hiểu vấn đề
này ngày càng sáng tỏ hơn. Song cũng không tránh khỏi thiếu sót. Mong thầy
nhận xét và góp ý để bài thảo luận của chúng em được hoàn thiện hơn.