NGOẠI NGÔN
NGÔN NGỮ THÂN THỂ
*Ánh mắt, nét mặt, nụ cười
- Ánh mắt:
Ánh mắt được ví như cửa sổ của tâm hồn. Ánh mắt phản ánh tâm trạng, xúc cảm
của con người như vui, buồn, tức giận, sợ hãi, lo lắng hay yên tâm. Ánh mắt cũng
có thể cho ta biết mong muốn, ý nghĩ của người đối thoại. Ánh mắt không chỉ bộc
lộ tâm hồn ca con người mà còn là con đường chủ yếu qua đó các thông tin cảm
tính từ môi trường bên ngoài là do mắt cung cấp. Vì vậy, trong giao tiếp, chúng ta
nhất thiết phải biết sử dụng mắt, biết giao tiếp bằng mắt. Nhưng sử dụng mắt như
thế nào thì đây lại là một vấn đ không đơn giản. Để sử dụng mắt có hiệu quả,
chúng ta cần lưu ý một số điểm sau đây:
+ Nhìn thẳng vào người đối thoại: Chúng ta nên nhìn tự nhiên, nhẹ nhàng như bao
quát toàn bộ con người đối diện chứ không phải là nhìn xoáy vào một điểm nào đó
trên khuôn mặt của họ. Có người, khi tiếp xúc với người khác thường không biết
nhìn vào đâu nên lúng túng; có người thì lảng tránh ánh mắt của người khác, nhìn
quanh, nhìn lung tung. Theo các nhà tâm lý học, nếu bạn không nhìn thẳng vào
người khác thường có nghĩa rằng bạn cảm thấy tự ti, thấp kém hoặc sợ sệt; bạn có
điều không muốn để họ biết. Ngược lại, nếu bạn nhìn thẳng thì có nghĩa là bạn rất
thành thực, thẳng thắn và chân thành,...
Chính vì vậy, cái nhìn lảng tránh thường biểu hiện sự giả dối, thiếu thành thật hay
thiếu tự tin; còn nhìn thẳng vào người khác thể hiện sự tự tin, ngay thăng của chính
bạn trong khi tiếp xúc với người khác.
+ Không nhìn chăm chú vào người khác: Việc nhìn chăm chú hay nhìn chằm chằm
vào người khác gây cho họ cảm giác đang lo lắng, khó chịu, tựa như là họ có một
sai sót, một điểm nào đó không bình thường và đang bị người khác soi mói. Chính
vì vậy, các nhà tâm lý học Mỹ lưu ý chúng ta là không nên nhìn chăm chú vào con
người, mà chỉ nên nhìn đồ vật nào đó, ví dụ như một bông hoa đẹp, một tác phẩm
nghệ thuật,...
+ Không nhìn người khác với ánh mắt coi thường, giễu cợt, hoặc không thèm để ý:
Việc bộc lộ ra những tức ti, nhìn bằng “nửa con mắt”, khiêu khích, giễu cợt hoặc
coi thường trước một con người hay sự việc mà chúng ta không ưa thích chỉ chứng
tỏ rằng chúng ta là một con người hẹp hòi, ích kỷ. Cho nên, hãy hạn chế tối đa
những ánh mắt mang tính tiêu cực để có thể tạo được một không khí đầy thiện cảm
hơn khi giao tiếp.
+ Không đảo mắt hoặc đưa mắt liếc nhìn một cách vụng trộm: Trong giao tiếp, việc
đảo mắt, đưa mắt nhìn một cách vụng trộm thường được xem là biểu hiện của
những người không đường hoàng, thiếu đứng đắn, thậm chí là gian xảo, dối trá. Vì
vậy, khi trò chuyện với người khác mà bạn muốn đưa mắt quan sát sang người
khác hoặc vật khác thì hãy tiến hành một cách từ từ, chậm rãi và tự nhiên, nhẹ
nhàng, tránh đảo mắt hoặc liếc nhanh một cách vụng trộm. Có được như vậy,
chúng ta sẽ thể hiện được sự quang minh và cả sự tự tin của bản thân chúng ta.
+ Không nheo mắt hoặc nhắm cả hai mắt trước mặt người khác: Việc nheo mắt,
nháy mắt hoặc nhắm cả hai mắt thường bao hàm rất nhiều ý nghĩa và ẩn ý. Vì vậy,
trước đối tượng mới tiếp xúc lần đầu mà không phải người thân quen thì chúng ta
không nên làm như vậy. Ví như ở phương Tây, những hành động này thường được
xem là những động tác gợi tình, hay có một hàm ý đại loại như vậy - Nét mặt
Nét mặt biểu hiện thái độ, cảm xúc ca con người như: vui, buồn, ngạc nhiên, sợ
hãi, tức giận, đau khổ hay ghê tởm (ghét),... Những biểu cảm khác nhau qua nét
mặt là do những sự kết hợp khác nhau về vị trí của mắt, lông mày, môi quy định.
Leonardo de Vinci từng nói: “Khi ta khóc, lông mày và miệng thay đổi khác nhau
tùy theo nguyên nhân khóc”. Hay như khi ta buồn, lông mày, mắt, miệng đều xệ
xuống; khi ngạc nhiên thì tất cả đều cong lên, tròn ra. Chính vì vậy, nét mặt cho ta
biết tính cách và trạng thái của con người. Người vô tư, lạc quan, thì nét mặt
thường vui vẻ, tươi sáng; còn người vất vả, phải lo nghĩ nhiều thì nét mặt thường
căng thẳng, 2 lông mày thường nhíu lại,...
Trong giao tiếp, cùng với ánh mắt, nụ cười, nét mặt là yếu tố thường được người
khác chú ý quan sát. Nó góp phần quan trọng vào việc tạo nên hình ảnh, ấn tượng
của mình đối với người khác.
- Nụ cười: Nụ cười là một phương tiện giao tiếp quan trọng chứa đựng nhiều nội
dung phong phú. Nụ cười không chỉ biểu hiện thái độ, tình cảm của con người mà
cả những nét tính cách nhất định ca họ. Thực tế cho thấy, một bộ mặt tươi cười
luôn được hoan nghênh vì nó mang lại cho người khác cảm giác thoải mái, tự tin
cũng như mang lại những tín hiệu của sự tốt lành, của tình hữu hảo và lòng chân
thành.
Trong giao tiếp, không có gì tệ hại bằng những bộ mặt cau có, lầm lì, lạnh lùng,
không biết mm cười và không có cảm xúc. Tuy nhiên, không phải nụ cười nào
cũng giống nhau và mang lại những hiệu quả tích cực như nhau. Nụ cười thân
thiện, tươi tắn luôn được chào đón. Nhưng nếu bạn chỉ nhếch mép lên cười, hay
cười ha hả, cười ré lên nơi công cộng, cười mỉa mai, cười nhạt,... lại thường mang
đến ý nghĩa tiêu cực hơn. * Tư thế/dáng điệu và động tác
- Tư thế
Từ ngày xưa, tư thế của con người rất được coi trọng, thể hiện phong cách của con
người, và được các bậc cha mẹ giáo dục cho con cái ngay từ thuở ấu thơ. Tư thế có
vai trò quan trọng trong giao tiếp, bao gồm ba tư thế ch yếu là tư thế đi, đứng, và
tư thế ngồi.
+ Tư thế đi: Tư thế đi cũng thể hiện một phần bản chất của con người. Tư thế đi
nhanh, nhẹ nhàng, đầu ngẩng cao, ngực thẳng, lưng thẳng thể hiện người tự tin,
năng động, đầy nghị lực. Ngược lại, đi nhanh nhưng đầu cúi xuống, bụng thóp,
lưng còng, nghĩa là lầm lũi đi thường ho biết bạn là con người tất bật, vất vả,
không biết nhìn xa, trông rộng. Ngoài ra còn rất nhiều tư thế, hay dáng đi như dáng
đi khệnh khang, hoặc dò dẫm, hay thong thả cũng thể hiện chính bạn là con người
như thế nào.
+ Tư thế đứng: Nên đứng thăng người, đầu ngẩng cao, vai thẳng, lưng thẳng, hai
tay buông tự nhiên,... cho thấy chúng ta là người đàng hoàng, tự tin. Tránh đứng
nghiêng, lệch một bên, hay đút tay vào túi, chắp tay ra sau, khoanh tay, chống
nạnh,... vì đó là dấu hiệu của sự thiếu cởi mở, thiếu tôn trọng đối phương.
+ Tư thế ngồi: Nên ngồi thẳng, lưng, đầu thẳng nhưng vẫn có được sự thoải mái, tự
nhiên, tỏ ra bạn là người có tinh thần cao và đang sẵn sàng tiếp chuyện. Đối với nữ
giới (nếu mặc váy) nên ngồi vắt chéo qua mắt cá chân, tay để trên tay vịn, lên bàn
hoặc trên đùi, mắt nhìn thẳng đối phương. Lúc ngồi xuống, cần phải nhẹ nhàng,
chắc chắn, không gây ồn. Tránh ngồi nghiêng, ngồi duỗi chân hay rung đùi, rung
chân, hoặc nửa ngồi nửa nằm,...
- Động tác: Động tác được biểu hiện qua các cử chỉ của đầu (như gật, lắc
đầu), các cử chỉ bằng tay (như vẫy tay, vung tay khi nói, chỉ trỏ,...), hay các cử chỉ
khác của cơ thể như uốn éo, dậm chân, ưỡn ngực,... Động tác là một loại ngôn ngữ
không lời, góp phần thể hiện nội dung giao tiếp được sôi nổi, sinh động, hấp dẫn
và lôi cuốn hơn. Sẽ rất thú vị khi ta được nghe kể một câu chuyện dưới sự biểu
cảm của những động tác minh họa cho các chi tiết trong câu chuyện đó. Tuy nhiên,
trong giao tiếp, chúng ta cần phải lưu ý một số động tác được coi là bất lịch sự, hay
biểu hiện thái độ thiếu tôn trọng, coi thường người khác như: đưa ngón tay chỉ chỉ,
trỏ trỏ vào mặt người khác, gác chân lên bàn, chĩa mũi chân vào phía người đối
thoại; hay việc ngoáy mũi, ngoáy tai, gãi cắm, gãi tay, hếch cằm, nhả khói vào
người khác,... Tất cả những động tác này đều gây phản cảm cho người đối diện.
Chính vì vậy, chúng ta cần nên thận trọng trước những động tác của mình khi giao
tiếp.
Ngoài ra còn có những động tác, hành vi mang tính tích cực như: bắt tay, ôm hôn,
vỗ vai,... Những hành vi này thể hiện mức độ thân mật ca tình cảm. Ví dụ như cái
siết tay chặt thể hiện sự khăng khít cũng như sự quan tâm, thích thú đặc biệt đi
với đối phương. Nhất là hành động bắt tay kèm thêm vỗ vai cho thấy ban đã chiếm
được cảm tình và sự chào đón của người khác.
NGÔN NGỮ VẬT THỂ
- Ăn mặc: Cách ăn mặc của chúng ta không những thể hiện khiếu thẩm mỹ,
văn hóa giao tiếp mà còn thể hiện thái độ ca chúng ta đối với người khác và đối
với công việc. Tại công sở, việc chúng ta ăn mặc nghiêm túc, lịch sự cho mọi
người thấy rằng chúng ta là những người nghiêm chỉnh và có tinh thần trách
nhiệm, coi trng công việc.
Trong trường hợp xã giao, nói chung, mặc dù quần áo luôn nhiều chủng loại,
muôn hình muôn vẻ, đầy màu sắc, tùy theo sở thích cá nhân hay đặc trưng của dân
tộc, nhưng có hai cách ăn mặc chủ yếu, đó là: lễ phục và thường phục. Trong
những trường hợp long trọng, nghiêm trang, nghi lễ chính thức t lễ phục phù hợp
hơn; còn trong giao tiếp thông thường thì mặc thường phục. Tuy nhiên, trong ; bất
kỳ trường hợp, ăn mặc đều phải sạch sẽ, chỉnh tề, màu sắc hài hòa, phù hợp với
hoàn cảnh giao tiếp. Mặc dù nhiều người quan niệm rằng “tốt gỗ hơn tốt nước sơn
vì thế mà coi thường chuyện ăn mặc, nhiều khi tùy tiện cẩu thả thì không được.
ởi vì hình ảnh bên trong của chúng ta được xác lập chính qua hình ảnh bề ngoài
của mình, trong đó ăn mặc có vị trí quan trọng. Không ai có thể tưởng tượng được
sự phản cảm khi trong buổi mít tinh quan trọng của công ty mà một nhân viên lại
ăn mặc cẩu thả, nhăn nhúm, áo không bỏ trong quần, đi dép lê loẹt quẹt,... mặc dù
vẫn biết người đó là một người tốt. Cũng có người cho rằng, ăn mặc cần phải giản
dị, không nên cầu kỳ, nhưng không nên nhầm lẫn giữa giản dị với xuềnh xoàng,
tùy tiện, cẩu thả. Giản d nhưng vẫn phải nghiêm túc, chnh tề, sạch sẽ và lịch sự.
Và cũng cần tránh ăn mặc quá “gợi cảm”, nhất là đối với phái nữ, dẫn đến tình
trạng khó xử cho người đối diện và dễ làm nảy sinh những lời đàm tiếu, dị nghị.

Preview text:

NGOẠI NGÔN
NGÔN NGỮ THÂN THỂ
*Ánh mắt, nét mặt, nụ cười - Ánh mắt:
Ánh mắt được ví như cửa sổ của tâm hồn. Ánh mắt phản ánh tâm trạng, xúc cảm
của con người như vui, buồn, tức giận, sợ hãi, lo lắng hay yên tâm. Ánh mắt cũng
có thể cho ta biết mong muốn, ý nghĩ của người đối thoại. Ánh mắt không chỉ bộc
lộ tâm hồn của con người mà còn là con đường chủ yếu qua đó các thông tin cảm
tính từ môi trường bên ngoài là do mắt cung cấp. Vì vậy, trong giao tiếp, chúng ta
nhất thiết phải biết sử dụng mắt, biết giao tiếp bằng mắt. Nhưng sử dụng mắt như
thế nào thì đây lại là một vấn đề không đơn giản. Để sử dụng mắt có hiệu quả,
chúng ta cần lưu ý một số điểm sau đây:
+ Nhìn thẳng vào người đối thoại: Chúng ta nên nhìn tự nhiên, nhẹ nhàng như bao
quát toàn bộ con người đối diện chứ không phải là nhìn xoáy vào một điểm nào đó
trên khuôn mặt của họ. Có người, khi tiếp xúc với người khác thường không biết
nhìn vào đâu nên lúng túng; có người thì lảng tránh ánh mắt của người khác, nhìn
quanh, nhìn lung tung. Theo các nhà tâm lý học, nếu bạn không nhìn thẳng vào
người khác thường có nghĩa rằng bạn cảm thấy tự ti, thấp kém hoặc sợ sệt; bạn có
điều không muốn để họ biết. Ngược lại, nếu bạn nhìn thẳng thì có nghĩa là bạn rất
thành thực, thẳng thắn và chân thành,...
Chính vì vậy, cái nhìn lảng tránh thường biểu hiện sự giả dối, thiếu thành thật hay
thiếu tự tin; còn nhìn thẳng vào người khác thể hiện sự tự tin, ngay thăng của chính
bạn trong khi tiếp xúc với người khác.
+ Không nhìn chăm chú vào người khác: Việc nhìn chăm chú hay nhìn chằm chằm
vào người khác gây cho họ cảm giác đang lo lắng, khó chịu, tựa như là họ có một
sai sót, một điểm nào đó không bình thường và đang bị người khác soi mói. Chính
vì vậy, các nhà tâm lý học Mỹ lưu ý chúng ta là không nên nhìn chăm chú vào con
người, mà chỉ nên nhìn đồ vật nào đó, ví dụ như một bông hoa đẹp, một tác phẩm nghệ thuật,...
+ Không nhìn người khác với ánh mắt coi thường, giễu cợt, hoặc không thèm để ý:
Việc bộc lộ ra những tức tối, nhìn bằng “nửa con mắt”, khiêu khích, giễu cợt hoặc
coi thường trước một con người hay sự việc mà chúng ta không ưa thích chỉ chứng
tỏ rằng chúng ta là một con người hẹp hòi, ích kỷ. Cho nên, hãy hạn chế tối đa
những ánh mắt mang tính tiêu cực để có thể tạo được một không khí đầy thiện cảm hơn khi giao tiếp.
+ Không đảo mắt hoặc đưa mắt liếc nhìn một cách vụng trộm: Trong giao tiếp, việc
đảo mắt, đưa mắt nhìn một cách vụng trộm thường được xem là biểu hiện của
những người không đường hoàng, thiếu đứng đắn, thậm chí là gian xảo, dối trá. Vì
vậy, khi trò chuyện với người khác mà bạn muốn đưa mắt quan sát sang người
khác hoặc vật khác thì hãy tiến hành một cách từ từ, chậm rãi và tự nhiên, nhẹ
nhàng, tránh đảo mắt hoặc liếc nhanh một cách vụng trộm. Có được như vậy,
chúng ta sẽ thể hiện được sự quang minh và cả sự tự tin của bản thân chúng ta.
+ Không nheo mắt hoặc nhắm cả hai mắt trước mặt người khác: Việc nheo mắt,
nháy mắt hoặc nhắm cả hai mắt thường bao hàm rất nhiều ý nghĩa và ẩn ý. Vì vậy,
trước đối tượng mới tiếp xúc lần đầu mà không phải người thân quen thì chúng ta
không nên làm như vậy. Ví như ở phương Tây, những hành động này thường được
xem là những động tác gợi tình, hay có một hàm ý đại loại như vậy - Nét mặt
Nét mặt biểu hiện thái độ, cảm xúc của con người như: vui, buồn, ngạc nhiên, sợ
hãi, tức giận, đau khổ hay ghê tởm (ghét),... Những biểu cảm khác nhau qua nét
mặt là do những sự kết hợp khác nhau về vị trí của mắt, lông mày, môi quy định.
Leonardo de Vinci từng nói: “Khi ta khóc, lông mày và miệng thay đổi khác nhau
tùy theo nguyên nhân khóc”. Hay như khi ta buồn, lông mày, mắt, miệng đều xệ
xuống; khi ngạc nhiên thì tất cả đều cong lên, tròn ra. Chính vì vậy, nét mặt cho ta
biết tính cách và trạng thái của con người. Người vô tư, lạc quan, thì nét mặt
thường vui vẻ, tươi sáng; còn người vất vả, phải lo nghĩ nhiều thì nét mặt thường
căng thẳng, 2 lông mày thường nhíu lại,...
Trong giao tiếp, cùng với ánh mắt, nụ cười, nét mặt là yếu tố thường được người
khác chú ý quan sát. Nó góp phần quan trọng vào việc tạo nên hình ảnh, ấn tượng
của mình đối với người khác.
- Nụ cười: Nụ cười là một phương tiện giao tiếp quan trọng chứa đựng nhiều nội
dung phong phú. Nụ cười không chỉ biểu hiện thái độ, tình cảm của con người mà
cả những nét tính cách nhất định của họ. Thực tế cho thấy, một bộ mặt tươi cười
luôn được hoan nghênh vì nó mang lại cho người khác cảm giác thoải mái, tự tin
cũng như mang lại những tín hiệu của sự tốt lành, của tình hữu hảo và lòng chân thành.
Trong giao tiếp, không có gì tệ hại bằng những bộ mặt cau có, lầm lì, lạnh lùng,
không biết mỉm cười và không có cảm xúc. Tuy nhiên, không phải nụ cười nào
cũng giống nhau và mang lại những hiệu quả tích cực như nhau. Nụ cười thân
thiện, tươi tắn luôn được chào đón. Nhưng nếu bạn chỉ nhếch mép lên cười, hay
cười ha hả, cười ré lên nơi công cộng, cười mỉa mai, cười nhạt,... lại thường mang
đến ý nghĩa tiêu cực hơn. * Tư thế/dáng điệu và động tác - Tư thế
Từ ngày xưa, tư thế của con người rất được coi trọng, thể hiện phong cách của con
người, và được các bậc cha mẹ giáo dục cho con cái ngay từ thuở ấu thơ. Tư thế có
vai trò quan trọng trong giao tiếp, bao gồm ba tư thế chủ yếu là tư thế đi, đứng, và tư thế ngồi.
+ Tư thế đi: Tư thế đi cũng thể hiện một phần bản chất của con người. Tư thế đi
nhanh, nhẹ nhàng, đầu ngẩng cao, ngực thẳng, lưng thẳng thể hiện người tự tin,
năng động, đầy nghị lực. Ngược lại, đi nhanh nhưng đầu cúi xuống, bụng thóp,
lưng còng, nghĩa là lầm lũi đi thường ho biết bạn là con người tất bật, vất vả,
không biết nhìn xa, trông rộng. Ngoài ra còn rất nhiều tư thế, hay dáng đi như dáng
đi khệnh khang, hoặc dò dẫm, hay thong thả cũng thể hiện chính bạn là con người như thế nào.
+ Tư thế đứng: Nên đứng thăng người, đầu ngẩng cao, vai thẳng, lưng thẳng, hai
tay buông tự nhiên,... cho thấy chúng ta là người đàng hoàng, tự tin. Tránh đứng
nghiêng, lệch một bên, hay đút tay vào túi, chắp tay ra sau, khoanh tay, chống
nạnh,... vì đó là dấu hiệu của sự thiếu cởi mở, thiếu tôn trọng đối phương.
+ Tư thế ngồi: Nên ngồi thẳng, lưng, đầu thẳng nhưng vẫn có được sự thoải mái, tự
nhiên, tỏ ra bạn là người có tinh thần cao và đang sẵn sàng tiếp chuyện. Đối với nữ
giới (nếu mặc váy) nên ngồi vắt chéo qua mắt cá chân, tay để trên tay vịn, lên bàn
hoặc trên đùi, mắt nhìn thẳng đối phương. Lúc ngồi xuống, cần phải nhẹ nhàng,
chắc chắn, không gây ồn. Tránh ngồi nghiêng, ngồi duỗi chân hay rung đùi, rung
chân, hoặc nửa ngồi nửa nằm,... -
Động tác: Động tác được biểu hiện qua các cử chỉ của đầu (như gật, lắc
đầu), các cử chỉ bằng tay (như vẫy tay, vung tay khi nói, chỉ trỏ,...), hay các cử chỉ
khác của cơ thể như uốn éo, dậm chân, ưỡn ngực,... Động tác là một loại ngôn ngữ
không lời, góp phần thể hiện nội dung giao tiếp được sôi nổi, sinh động, hấp dẫn
và lôi cuốn hơn. Sẽ rất thú vị khi ta được nghe kể một câu chuyện dưới sự biểu
cảm của những động tác minh họa cho các chi tiết trong câu chuyện đó. Tuy nhiên,
trong giao tiếp, chúng ta cần phải lưu ý một số động tác được coi là bất lịch sự, hay
biểu hiện thái độ thiếu tôn trọng, coi thường người khác như: đưa ngón tay chỉ chỉ,
trỏ trỏ vào mặt người khác, gác chân lên bàn, chĩa mũi chân vào phía người đối
thoại; hay việc ngoáy mũi, ngoáy tai, gãi cắm, gãi tay, hếch cằm, nhả khói vào
người khác,... Tất cả những động tác này đều gây phản cảm cho người đối diện.
Chính vì vậy, chúng ta cần nên thận trọng trước những động tác của mình khi giao tiếp.
Ngoài ra còn có những động tác, hành vi mang tính tích cực như: bắt tay, ôm hôn,
vỗ vai,... Những hành vi này thể hiện mức độ thân mật của tình cảm. Ví dụ như cái
siết tay chặt thể hiện sự khăng khít cũng như sự quan tâm, thích thú đặc biệt đối
với đối phương. Nhất là hành động bắt tay kèm thêm vỗ vai cho thấy ban đã chiếm
được cảm tình và sự chào đón của người khác.
NGÔN NGỮ VẬT THỂ -
Ăn mặc: Cách ăn mặc của chúng ta không những thể hiện khiếu thẩm mỹ,
văn hóa giao tiếp mà còn thể hiện thái độ của chúng ta đối với người khác và đối
với công việc. Tại công sở, việc chúng ta ăn mặc nghiêm túc, lịch sự cho mọi
người thấy rằng chúng ta là những người nghiêm chỉnh và có tinh thần trách
nhiệm, coi trọng công việc.
Trong trường hợp xã giao, nói chung, mặc dù quần áo luôn có nhiều chủng loại,
muôn hình muôn vẻ, đầy màu sắc, tùy theo sở thích cá nhân hay đặc trưng của dân
tộc, nhưng có hai cách ăn mặc chủ yếu, đó là: lễ phục và thường phục. Trong
những trường hợp long trọng, nghiêm trang, nghi lễ chính thức thì lễ phục phù hợp
hơn; còn trong giao tiếp thông thường thì mặc thường phục. Tuy nhiên, trong ; bất
kỳ trường hợp, ăn mặc đều phải sạch sẽ, chỉnh tề, màu sắc hài hòa, phù hợp với
hoàn cảnh giao tiếp. Mặc dù nhiều người quan niệm rằng “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”
vì thế mà coi thường chuyện ăn mặc, nhiều khi tùy tiện cẩu thả thì không được.
ởi vì hình ảnh bên trong của chúng ta được xác lập chính qua hình ảnh bề ngoài
của mình, trong đó ăn mặc có vị trí quan trọng. Không ai có thể tưởng tượng được
sự phản cảm khi trong buổi mít tinh quan trọng của công ty mà một nhân viên lại
ăn mặc cẩu thả, nhăn nhúm, áo không bỏ trong quần, đi dép lê loẹt quẹt,... mặc dù
vẫn biết người đó là một người tốt. Cũng có người cho rằng, ăn mặc cần phải giản
dị, không nên cầu kỳ, nhưng không nên nhầm lẫn giữa giản dị với xuềnh xoàng,
tùy tiện, cẩu thả. Giản dị nhưng vẫn phải nghiêm túc, chỉnh tề, sạch sẽ và lịch sự.
Và cũng cần tránh ăn mặc quá “gợi cảm”, nhất là đối với phái nữ, dẫn đến tình
trạng khó xử cho người đối diện và dễ làm nảy sinh những lời đàm tiếu, dị nghị.