Bùi Anh Chưởng M.A
Department of Sino - Nom, Faculty of Literature
University of Social Sciences and Humanites, VNU Hanoi
0902080417
buichuongnov1988@gmail.com
NHỮNG TRI THỨC CHUNG VỀ
CHỮ HÁN, CHỮ NÔM
CHỮ HÁN
Tiếng Hán là một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hán Tạng, là ngôn
ngữ chính thức của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Chữ Hán hay còn gọi là chữ Trung Quốc, chữ khối vuông là hệ
thống ký hiệu ghi lại ngôn ngữ Hán.
漢字
ĐẠI CƯƠNG VỀ CHỮ HÁN
SỰ RA ĐỜI CỦA CHỮ HÁN
Huyền thoại về nguồn gốc chữ Hán:
Nổi tiếng nhất thuyết: Thương
Hiệt (倉頡) tạo chữ. Theo truyền
thuyết, Thương Hiệt sử quan của
Hoàng Đế (黄帝), ông quan sát dấu
chân chim thú từ đó sáng tạo nên
chữ viết. Trong sách cổ Thương Hiệt
người dị tướng”: “Đầu rồng,
bốn mắt sáng như đèn, miệng to
như cái chậu. Sách Hoài Nam Tử
chép, ngày Thương Hiệt tạo ra
chữ thóc lúa trên trời tuôn xuống
như mưa, ban đêm quỷ khóc”.
ĐẠI CƯƠNG VỀ CHỮ HÁN
Huyền thoại về nguồn gốc chữ
Hán (2):
Sách Chu Dịch, thiên Hệ từ hạ
chép: Thượng cổ kết thằng
nhi trị(Thời Thượng cổ cai trị
bằng việc thắt nút thừng). Chỉ
việc thắt nút trên sợiy thừng
để ghi nhớ sự việc.
ĐẠI CƯƠNG VỀ CHỮ HÁN
Huyền thoại về nguồn
gốc chữ Hán (3):
Phục Hy vạch rat
quái, sáng tạo chữ viết,
thay thế việc cai trị bằng
“kết thằng”.
Huyền thoại về nguồn gốc
chữ Hán (4):
Kinh Dịch thiên Hệ từ hạ
chép: xuất đồ, Lạc
xuất thư, thánh nhân tắc
chi”.
Các học giả hiện đại cho rằng chữ Hán bắt nguồn từ
nh vẽ. Đến nay, chứng cứ sớm nhất vchữ Hán
với cách một hệ thống văn tự tương đối hoàn
chỉnh văn tự giáp cốt được phát hiện di chỉ Ân
Khư (thuộc thành phố An
ng, tỉnh Nam,
Trung Quốc), có niên đại cách nay vào khoảng hơn
3000 năm. Tđó đến nay, chữ Hán đã có sự biến
đổi, tiến hóa vmặt hình thể, lần lượt từ:
Giáp cốt văn
甲骨文
Kim văn
金文
Đại triện
Tiểu triện
小篆
Lệ thư
隸書
Thảo thư
Khải thư
楷書
Hành thư
行書
Bích
họa
grotte
Chauvet
cách
đây
36.000
năm
Tả
Giang
Hoa
Sơn
nham
họa
Hình
vẽ
trên
vách
núi
Hoa
Sơn
,
Tả
Giang
,
Quảng
Tây
Văn
tự
tượng
nh
cổ
của
Ai
Cập
Phiến
đá
Rosetta
được
phát
hiện
vào
năm
1799
ghi
lại
một
sắc
lệnh
của
vua
Ptolemaios
V (204
-
181 TCN)
bằng
ba
loại
văn
tự
:
Chữ
tượng
nh
Ai
Cập
cổ
,
chữ
Ai
Cập
nh
dân
(Demotic)
chữ
Hy
Lạp
.
Giáp cốt văn (khế văn, giáp cốt
bốc từ):
Là văn tự sử dụng vào thời nhà
Thương, được giới cầm quyền
dùng chủ yếu vào việc ghi chép
bói toán cát hung.
Diễn
biến
nh
th
của
ch
n
Hình thể của chữ giáp cốt đã
xu hướng đi từ độc thể đến
hợp thể.
Chữ giáp cốt đã có kết cấu đối
xứng, ổn định.
Diễn
biến
nh
th
của
ch
n
Diễn
biến
nh
th
của
ch
n
Diễn
biến
nh
th
của
ch
n
Diễn
biến
nh
th
của
ch
n
Kim văn (Chung đỉnh văn,
minh văn)
Kim văn xuất hiện cuối thời
nhà Thương, thông dụng
vào thời Tây chu.
Là gọi chung cho thể chữ
được khắc trên đồ đồng
xanh thời Thương, Tây Chu,
Xuân Thu, Chiến Quốc.
Diễn
biến
nh
th
của
ch
n
Diễn
biến
nh
th
của
ch
n
Ghi chép lại việc cúng tế,
sắc lệnh, chiếu thư, chinh
chiến, săn bắn, minh ước...
Diễn
biến
nh
th
của
ch
n
Diễn
biến
nh
th
của
ch
n
Đại triện (Trựu văn)
Là thể chữ thông dụng vào
thời Đông Chu. Căn cứ vào
sách Hán thư thiên Nghệ
Văn chí, thể chữ này là do
quan Thái sử Trựu của Chu
Tuyên Vương làm ra, nhân
đó mà còn được gọi là Trựu
văn.
Cho đến đại triện, đường
nét của con chữ đã trở nên
đều đặn, kết cấu hình thể
chỉnh tề, dần thoát khỏi
dấu ấn họa hình.

Preview text:

NHỮNG TRI THỨC CHUNG VỀ
CHỮ HÁN, CHỮ NÔM Bùi Anh Chưởng M.A
Department of Sino - Nom, Faculty of Literature
University of Social Sciences and Humanites, VNU – Hanoi 0902080417
buichuongnov1988@gmail.com
ĐẠI CƯƠNG VỀ CHỮ HÁNCHỮ HÁN
➢Tiếng Hán là một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hán Tạng, là ngôn
ngữ chính thức của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
➢Chữ Hán hay còn gọi là chữ Trung Quốc, chữ khối vuông là hệ
thống ký hiệu ghi lại ngôn ngữ Hán. 漢字
ĐẠI CƯƠNG VỀ CHỮ HÁN
SỰ RA ĐỜI CỦA CHỮ HÁN
Huyền thoại về nguồn gốc chữ Hán:
➢Nổi tiếng nhất là thuyết: Thương
Hiệt (倉頡) tạo chữ. Theo truyền
thuyết, Thương Hiệt là sử quan của
Hoàng Đế (黄帝), ông quan sát dấu
chân chim thú từ đó sáng tạo nên
chữ viết. Trong sách cổ Thương Hiệt
là người có “dị tướng”: “Đầu rồng,
bốn mắt sáng như đèn, miệng to
như cái chậu”. Sách Hoài Nam Tử
có chép, ngày Thương Hiệt tạo ra
chữ “thóc lúa trên trời tuôn xuống
như mưa, ban đêm quỷ khóc”.
ĐẠI CƯƠNG VỀ CHỮ HÁN
Huyền thoại về nguồn gốc chữ Hán (2):
➢Sách Chu Dịch, thiên Hệ từ hạ
có chép: “Thượng cổ kết thằng
nhi trị”
(Thời Thượng cổ cai trị
bằng việc thắt nút thừng). Chỉ
việc thắt nút trên sợi dây thừng để ghi nhớ sự việc.
Huyền thoại về nguồn gốc chữ Hán (3): ➢Phục Hy vạch ra bát
quái, sáng tạo chữ viết,
thay thế việc cai trị bằng “kết thằng”.
Huyền thoại về nguồn gốc chữ Hán (4):
Kinh Dịch thiên Hệ từ hạ
có chép: “Hà xuất đồ, Lạc
xuất thư, thánh nhân tắc chi”.

Các học giả hiện đại cho rằng chữ Hán bắt nguồn từ
hình vẽ. Đến nay, chứng cứ sớm nhất về chữ Hán
với tư cách là một hệ thống văn tự tương đối hoàn
chỉnh là văn tự giáp cốt được phát hiện ở di chỉ Ân
Khư (thuộc thành phố An Dương, tỉnh Hà Nam,
Trung Quốc), có niên đại cách nay vào khoảng hơn
3000 năm. Từ đó đến nay, chữ Hán đã có sự biến
đổi, tiến hóa về mặt hình thể, lần lượt từ:
Giáp cốt văn 甲骨文 → Kim văn 金文→ Đại triện 大
篆→ Tiểu triện 小篆 → Lệ thư 隸書 → Thảo thư 草
書→ Khải thư 楷書 → Hành thư 行書
Bích họa ở grotte Chauvet cách đây 36.000 năm
Tả Giang Hoa Sơn nham họa – Hình vẽ trên
vách núi ở Hoa Sơn, Tả Giang, Quảng Tây
Văn tự tượng hình cổ của Ai Cập Phiến đá Rosetta được phát hiện vào năm 1799
ghi lại một sắc lệnh của vua Ptolemaios V (204- 181 TCN) bằng ba loại
văn tự: Chữ tượng hình Ai Cập cổ, chữ Ai Cập bình dân (Demotic) và chữ Hy Lạp.
Diễn biến hình thể của chữ Hán
Giáp cốt văn (khế văn, giáp cốt bốc từ):
➢Là văn tự sử dụng vào thời nhà
Thương, được giới cầm quyền
dùng chủ yếu vào việc ghi chép bói toán cát hung.
Diễn biến hình thể của chữ Hán
➢Hình thể của chữ giáp cốt đã
có xu hướng đi từ độc thể đến hợp thể.
➢Chữ giáp cốt đã có kết cấu đối xứng, ổn định.
Diễn biến hình thể của chữ Hán
Diễn biến hình thể của chữ Hán
Diễn biến hình thể của chữ Hán
Kim văn (Chung đỉnh văn, minh văn)
➢Kim văn xuất hiện cuối thời nhà Thương, thông dụng vào thời Tây chu.
➢Là gọi chung cho thể chữ
được khắc trên đồ đồng
xanh thời Thương, Tây Chu, Xuân Thu, Chiến Quốc.
Diễn biến hình thể của chữ Hán
Diễn biến hình thể của chữ Hán
➢Ghi chép lại việc cúng tế,
sắc lệnh, chiếu thư, chinh
chiến, săn bắn, minh ước...
Diễn biến hình thể của chữ Hán
Diễn biến hình thể của chữ Hán
Đại triện (Trựu văn)
➢ Là thể chữ thông dụng vào
thời Đông Chu. Căn cứ vào
sách Hán thư thiên Nghệ
Văn chí
, thể chữ này là do
quan Thái sử Trựu của Chu Tuyên Vương làm ra, nhân
đó mà còn được gọi là Trựu văn.
➢Cho đến đại triện, đường
nét của con chữ đã trở nên
đều đặn, kết cấu hình thể
chỉnh tề, dần thoát khỏi dấu ấn họa hình.