BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI THẢO LUẬN
MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
NHÓM: 5
LỚP HP: 2271TLAW0111
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NAM, 2022
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU …………………………………………………………………1
PHẦN NỘI DUNG
PHẦN I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỪA KẾ
I. KHÁI NIỆM VÀ NGUỒN GỐC THỪA KẾ ………………………………...2
1. Nguồn gốc về thừa kế……………………………………………………………2
2. Khái niệm thừa kế………………………………………………………………..2
II. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ
1. Chủ thể của quan hệ pháp luật thừa kế…………………………………………..3
2. Di sản thừa kế……………………………………………………………………3
3. Thời điểm mở thừa kế, địa điểm mở thừa kế…………………………………….4
4.Người quản lý di sản……………………………………………………………...4
5. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng
thời điểm……………………………………………………………………………5
6. Những người không được hưởng di sản…………………………………………5
7. Thời hiệu thừa kế………………………………………………………………...5
III. THỪA KẾ THEO DI CHÚC
1. Điều kiện có hiệu lực của di chúc………………………………………………..6
2. Hiệu lực pháp luật của di chúc…………………………………………………..8
3. Quyền của người lập di chúc…………………………………………………….9
4. Người thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc………………………….9
5. Di sản dùng vào việc thờ cúng…………………………………………………10
6. Di tặng………………………………………………………………………….10
IV. THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
1. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật……………………………………...11
2. Hàng thừa kế theo luật…………………………………………………………11
3. Thừa kế thế vị………………………………………………………………….12
PHẦN II. PHÂN TÍCH BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ……………………………12
PHẦN KẾT LUẬN………………………………………………………………16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………17
BẢNG PHÂN CHIA CÔNG VIỆC VÀ ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN……….18
PHẦN MỞ ĐẦU
Pháp luật của nước ta bảo vệ những lợi ích bản của mỗi người lao động trên
cơ sở bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích chung của toàn hội, góp phần xóa bỏ
những tàn tích của chế độ phong kiến để lại. Tạo môi trường pháp lý thuận lợi làm
cho nhân dân lao động yên tâm sản xuất tạo ra nhiều của cải vật chất cho hội.
Quyền thừa kế xuất phát từ quan điểm xem gia đình tế bào của hội, phải đảm
bảo quyền lợi chính đáng của mỗi thành viên sự ổn định của từng gia đình. Mặt
khác thông qua quyền thừa kế, giáo dục tinh thần trách nhiệm của mỗi thành viên
đối với gia đình. Do đó xác định được diện những người thừa kế cũng như phương
thức chia tài sản trong pháp luật về thừa kế ý nghĩa quan trọng trong việc thực
hiện các chức năng vai trò của xã hội.
Về thực tiễn, do sự phát triển mạnh mẽ từng ngày, từng giờ của đời sống kinh tế-
hội của đất nước, nên pháp luật về thừa kế hiện hành vẫn chưa thể trù liệu hết
những trường hợp, tình huống xảy ra trên thực tế. Còn một số quy định của pháp
luật về thừa kế mang tính chung chung ,chưa chi tiết, chưa rõ ràng, lại chưa có văn
bản hướng dẫn thi hành cho từng vấn đề cụ thể. vậy, còn nhiều quan điểm
trái ngược nhau, nên khi áp dụng vào thực tế xảy ra tình trạng không nhất quán
trong cách hiểu cũng như cách giải quyết. Điều đó đã xâm phạm quyền thừa kế của
công dân, đôi khi còn gây bất ổn trong đời sống sinh hoạt của mỗi gia đình,cộng
đồng và xã hội.trọng cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn.
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm 5 chúng em chọn vấn đề: “Những vấn đề lý
luận cơ bản về thừa kế ” để làm đề tài thảo luận. Đây là một đề tài có ý nghĩa quan
trọng cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn.
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỪA KẾ
I. KHÁI NIỆM VÀ NGUỒN GỐC THỪA KẾ
1. Nguồn gốc của thừa kế
Từ việc giải đáp một cách duy vật về con người, bản chất con người, tính hiện
thực, con người với tư cách thực thể sinh học - xã hội, với tư cách nhân cách, vị trí
và vai trò của con người trong tiến trình phát triển lịch sử nhân loại, tư tưởng của
C.Mác hướng đến mục đích giải phóng con người, giải phóng xã hội. Ông khẳng
định rằng: “Xã hội tư bản là một bước tiến trong lịch sử phát triển của nhân loại; là
cơ sở cho sự phát triển của bản chất con người, là điều kiện cho sự giải phóng xã
hội”. Bằng hoạt động lao động của mình, con người đã làm biến đổi bản chất tự
nhiên và tạo ra bản chất xã hội của chính mình. Và trong đó hoạt động lao động
sản xuất không những là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội
mà còn là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại của con người. Bởi, thông qua hoạt động
thực tiễn, con người đã để lại những dấu ấn sáng tạo của bản thân mình vào giới tự
nhiên, vào xã hội và qua đó, phát triển, hoàn thiện bản thân mình. Trong quá trình
sản xuất vật chất, con người phải tác động vào tự nhiên. Không ngừng tác động
làm biến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội, đồng thời làm biến đổi bản thân mình. Sản
xuất vật chất qua đó cũng không ngừng phát triển. Mang đến cơ sở, nền tảng cho
nhu cầu tồn tại, đáp ứng chất lượng cuộc sống để tìm kiếm sự phát triển của con
người. Nếu như tài sản có thể tồn tại lâu dài theo nhiều dạng thức khác nhau, thì
con người được sinh ra, rồi cũng sẽ chết đi theo quy luật bất biến của tự nhiên.
Giấc ngủ sau lao động vất và, bến cảng sau biển khơi giông tố, sự bình yên sau
chiến tranh, cái chết sau cuộc đời đều là điều quy luật của tự nhiên. Vì vậy, khi còn
sống, con người khai thác công dụng của tài sản để thỏa mãn nhu cầu của mình.
Khi chết đi, tài sản của họ sẽ được dịch chuyển cho người còn sống. Và đến khi
Nhà nước ra đời, Nhà nước đã điều chỉnh cách dịch chuyển tài sản nói chung,
quyền để lại tài sản nói riêng đã sinh ra khái niệm “thừa kế”.
2. Khái niệm thừa kế
Quyền thừa kế là một quan hệ pháp luật Dân sự với đầy đủ ba thành tố: chủ thể,
khách thể, nội dung như mọi quan hệ pháp luật khác.
- Theo nghĩa rộng: Quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý chỉ tổng hợp các quy
phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của
người chết theo di chúc hoặc theo pháp luật.
=> Quyền thừa kế chính là pháp luật về thừa kế.
- Theo nghĩa hẹp: Quyền thừa kế là quyền của người để lại di sản và quyền của
người nhận di sản.
=> Quyền thừa kế là một quyền năng của chủ thể.
Thừa kế được chia thành thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc.
- Thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản thừa kế của người đã chết cho
người còn sống theo sự định đoạt của người đó khi còn sống. Thừa kế theo di chúc
được quy định tại chương XXII của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản thừa kế của người đã chết
cho người sống theo quy định của pháp luật nếu người chết không để lại di chúc
hoặc để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp. Thừa kế theo pháp luật được
quy định tại chương XXIII của Bộ luật dân sự năm 2015.
II. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ.
1. Chủ thể của quan hệ pháp luật thừa kế
- Người để lại di sản thừa kế: Là người có tài sản sau khi chết để lại cho người
còn sống theo ý chí của họ được thể hiện trong di chúc hay theo quy định của pháp
luật. Người để lại di sản thừa kế chỉ có thể là cá nhân, không phân biệt bất cứ điều
kiện nào (tuổi, địa vị, giới tính, mức độ năng lực hành vi,... ).
- Người thừa kế (đối tượng nhận di sản ):
Người thừa kế theo pháp lý: là cá nhân và phải có quan hệ hôn nhân gia
đình, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng so với người để lại di sản.
Đối tượng thừa kế theo di chúc: có thể là cá nhân hoặc tổ chức còn sống
hoặc còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
2. Di sản thừa kế
- Khái niệm di sản thừa kế được hiểu là tài sản của người chết để lại cho những
người thừa kế.
- Di sản thừa kế bao gồm:
Tài sản riêng của người chết:
+ do chính bản thân họ tạo lập.
+ được thừa kế riêng.
+ được cho, tặng riêng.
Tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác:
+ tài khoản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
+ phần góp vốn kinh doanh: nếu một trong các đồng sở hữu chết thì di sản
thừa kế của người chết chính là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó đã đóng
góp trong khối tài sản chung.
Quyền về tài sản do người chết để lại:
+ Quyền dân sự được phát sinh từ các quan hệ hợp đồng hoặc do việc bồi
thường thiệt hại mà trước khi chết họ đã tham gia vào những quan hệ này
+ Quyền tác giả, quyền sở hữu đất,..
3. Thời điểm mở thừa kế, địa điểm mở thừa kế
- Thời điểm mở thừa kế: Là thời điểm người có tài sản chết. Việc xác định thời
điểm mở thừa kế rất quan trọng bởi:
+ Kể từ thời điểm đó, xác định được chính xác tài sản, quyền và nghĩa vụ về
tài sản của người để lại thừa kế gồm cả những gì và đến khi chia di sản còn bao
nhiêu.
+Thời điểm mở thừa kế là căn cứ xác định những người thừa kế của người đã
chết.
- Địa điểm mở thừa kế: Là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản hoặc nơi
có toàn bộ hoặc phần lớn di sản.
+ Bộ luật dân sự quy định địa điểm mờ thừa kế vì ở nơi đó thường phải tiến
hành những công việc như: Kiểm kê ngay tài sản của người đã chết (trong trường
hợp cần thiết); xác định những ai là người thừa kế theo di chúc hoặc theo luật;
người từ chối nhận di sản…
+ Ngoài ra, nếu có người trong diện thừa kế từ chấp nhận di sản, thì phải thông
báo cho cơ quan Công chúng nhà nước hoặc UBND xã (phường ), thị trấn nơi mở
thừa kế về việc từ chối nhận di sản. Hơn nữa, trong trường hợp có tranh chấp thì
Toà án nhân dân nơi mở thừa kế có thẩm quyền giải quyết.
4. Người quản lý di sản
- Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những
người thừa kế thỏa thuận cử ra.
- Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa
kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý
di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người
quản lý di sản.
- Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý
thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.
- Quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản:
+ Nghĩa vụ của người quản lý di sản: Lập danh mục di sản; bảo quản di sản;
giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế;..
+ Quyền của người quản lý di sản: Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với
những người thừa kế; được thanh toán chi phí bảo quản di sản;..
5. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết
cùng thời điểm
Có những trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau cùng chết
trong một thời điểm (tai nạn, thiên tai, thảm họa,.. ) do không thể xác định được
người nào chết trước (sau đây gọi là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa
kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng,
trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 của Bộ luật này.
6. Những người không được hưởng di sản
Pháp luật luôn luôn tôn trọng và bảo vệ quyền hưởng di sản của người thừa kế.
Nhưng người có hành vi trái pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội, xâm phạm đến
danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản; xâm phạm tính mạng người thừa kế
khác để nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có
quyền hưởng... Những người có hành vi như vậy không còn xứng đáng được quyền
thừa kế, họ bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản. Nhằm đảm bảo giá trị gia
đình, đảm bảo truyền thống, đạo đức xã hội cũng như trật tự và công bằng xã hội
thì Điều 621 Bộ luật dân sự quy định phạm vi những người không được quyền
hưởng di sản do có những hành vi bất xứng:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành
vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng
danh dự, nhân phẩm của người đó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm
hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong
việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc
nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
7. Thời hiệu thừa kế
- Một là, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất
động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện
chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 Pháp
lệnh thừa kế 1990[1] và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Hai là, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình
hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế;
- Ba là, thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người
chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, hết thời hạn
này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có
người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều
236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm
a khoản này.
III. THỪA KẾ THEO DI CHÚC
Thừa kế theo di chúc là việc chuyển tài sản của người đã chết cho những người
thừa kế theo ý chí tự nguyện của người để lại di sản thể hiện trong di chúc.
1. Điều kiện có hiệu lực của di chúc
Di chúc là một giao dịch dân sự mang tính chất đặc biệt, giao dịch dân sự này
chỉ phát sinh hiệu lực khi người lập do người lập di chúc chết.
Xét theo quy định của pháp luật, thì một di chúc có hiệu lực pháp luật khi đáp
ứng các điều kiện sau:
1. Người lập di chúc phải có năng lực chủ thể trong việc lập di chúc
Pháp luật yêu cầu người lập di chúc phải là người đã thành niên và hoàn toàn có
khả năng nhận thức vào thời điểm lập di chúc. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18
tuổi có thể lập di chúc nhưng phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về
việc lập di chúc.
2. Người lập di chúc tự nguyện
“Người lập di chúc phải tự nguyện khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa
hoặc cưỡng ép”. Đây là một trong những điều kiện nhằm đảm bảo di chúc thể hiện
đúng ý nguyện, sự định đoạt, quyết định của người lập di chúc về việc dịch chuyển
tài sản của họ sau khi chết.
Cưỡng ép người lập di chúc có thể là sự cưỡng ép về thể chất hoặc về tinh thần.
Lừa dối người lập di chúc có thể được thực hiện thông qua việc sau: làm tài liệu
giả để cho người có tài sản tin rằng một người đã chết hoặc đã mất tích nên không
để lại di sản cho người đó mà để lại di sản cho người khác,...
3. Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức
xã hội
Nội dung của di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc về việc chỉ định
những người thừa kế, phân chia di sản thừa kế, giao nghĩa vụ cho người thừa kế...
Bản thân di chúc thể hiện ý chí tự định đoạt rất cao của người để lại di chúc trong
việc định đoạt tài sản của mình sau khi qua đời cho những người còn sống, pháp
luật không can thiệp sâu vào sự tự do ý chí đó. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa
là quyền định đoạt ấy không chịu sự ràng buộc nào của pháp luật. Ý chí tự định
đoạt của người lập di chúc phải phù hợp với ý chí của nhà nước và đạo đức xã hội.
Nếu di chúc có nội dung trái với pháp luật và đạo đức xã hội thì có thể bị coi là vô
hiệu.
4. Hình thức của di chúc không trái quy định của luật
Hình thức của di chúc là phương tiện biểu hiện ý chí của người lập di chúc. Căn
cứ theo quy định tại Điều 627 BLDS thì di chúc phải được lập thành văn bản, nếu
như không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Trong một
số trường hợp đặc biệt sẽ yêu cầu phải lập di chúc bằng văn bản hoặc bằng văn bản
và có công chứng/chứng thực. Tùy theo trường hợp mà pháp luật quy định điều
kiện, thủ tục về mặt hình thức và khi không đáp ứng những điều kiện về mặt hình
thức đó thì di chúc bị coi là vô hiệu.
- Di chúc miệng: Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng
thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay
sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời
hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc
phải được công chứng hoặc chứng thực.
- Di chúc bằng văn bản: Là sự thể hiện ý chí của cá nhân dưới hình thức văn
bản. Văn bản này có thể là văn bản viết tay, văn bản đánh máy tuỳ từng trường hợp
cụ thể mà pháp luật quy định.
Theo quy định của pháp luật Dân sự, đối với những bản di chúc được người lập
di chúc thể hiện bằng hình thức văn bản phải đáp ứng các yêu cầu chung về nội
dung. Do đó, khi người lập di chúc muốn bản di chúc của mình thể hiện dưới hình
thức bằng văn bản mà phải có được hiệu lực pháp luật thì người lập di chúc cần
phải đáp ứng các yêu cầu về nội dung đối với mọi di chúc viết như sau:
+ Di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc.
+ Di chúc phải ghi rõ họ tên, nơi cư trú của người lập di chúc.
+ Di chúc phải ghi rõ họ, tên người, tên cơ quan, tổ chức được hưởng di sản.
+ Di chúc phải ghi rõ di sản và nơi có di sảm
Di chúc bằng văn bản có các loại sau:
+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
+ Di chúc bằng văn bản có công chứng
+ Di chúc bằng văn bản có chứng thực
Trong một số trường hợp đặc biệt pháp luật quy định các trường hợp di chúc
bằng văn bản (thỏa mãn đầy dủ các điều kiện có hiệu lực của di chúc do pháp luật
quy định) có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực bao gồm:
+ Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội
trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực;
+ Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ
huy phương tiện đó;
+ Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng có
xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó;
+ Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng
rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị;
+ Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhạn của cơ quan
lãnh sự, đại diện ngoại giao Viẹt Nam ở nước đó;
+ Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù,
người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa
bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.
2. Hiệu lực pháp luật của di chúc
1. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
2. - Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:
+ Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập
di chúc.
+ Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời
điểm mở thừa kế.
- Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc
chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan tổ chức được
chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân cơ quan tổ chức này không có hiệu
lực.
3. - Nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế thì di
chúc không có hiệu lực.
- Nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần
di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các
phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.
5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc
sau cùng có hiệu lực.
3. Quyền của người lập di chúc
Pháp luật ghi nhận người lập di chúc có các quyền sau đây:
+ Chỉ định người thừa kế
+ Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế
+ Phân định phần di sản cho từng người thừa kế
+ Dành 1 phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng
+ Giao nghĩa vụ cho người thừa kế
+ Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản
+ Chỉ định người công bố di chúc
4. Người thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc
1. Vợ hoặc chồng của người chết
2. Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi
3. Con chưa thành niên (con trai, con gái, con nuôi, con đẻ, con trong giá thú, con
ngoài giá thú mà dưới 18 tuổi)
4. Con đã thành niên(từ đủ 18 tuổi trở lên) không có khả năng lao động
- Những người này phải được hưởng ⅔ của một suất thừa kế theo pháp luật nếu
không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc cho hưởng nhưng giá trị phần
di sản được hưởng là quá ít (chưa bằng ⅔ suất của 1 người thừa kế theo pháp luật,
nếu di sản được chia theo pháp luật).
- Nếu người thừa kế từ chối nhận di sản, hoặc họ là những người không có
quyền hưởng di sản thì sẽ không cho người thừa kế được hưởng di sản không phụ
thuộc vào nội dung của di chúc.
5. Di sản dùng vào việc thờ cúng
1. Pháp luật dân sự cho phép người để lại di sản trước khi chết có quyền để lại một
phần di sản dùng vào việc thờ cúng, trừ trường hợp toàn bộ di sản của người chết
không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó.
2. Người quản lí di sản thờ cúng được chỉ định trong di chúc hoặc được những
người thừa kế cử ra nếu người để lại di sản không chỉ định người này. Họ không có
quyền sở hữu đối với di sản, mặc dù có thể thực hiện việc chiếm hữu, sử dụng.
3. Nếu tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để
thờ cúng thuộc về người đang quản lí hợp pháp di sản đó trong số những người
thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
6. Di tặng
- Di tặng là việc người lập di chúc dành 1 phần di sản để tặng cho người khác.
- Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc, nếu không ghi rõ thì sẽ được hiểu là
thừa kế theo di chúc.
- Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di
tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của
người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn
lại của người này.
IV. THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những
người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quyết
định.
1. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật:
- Không có di chúc.
- Di chúc không hợp pháp.
- Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với
người lập di chúc, cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn
tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền
hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.
- Ngoài ra thừa kế theo pháp luật cũng áp dụng với các phần di sản sau:
+ Phần di sản không được định đoạt trong di chúc
+ Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật
+ Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không
có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm
với người lập di chúc, liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di
chúc nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
2. Hàng thừa kế theo pháp luật:
- Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và phải có 1 trong 3 mối
quan hệ với người để lại di sản: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ
nuôi dưỡng.
- Những người hưởng di sản thừa kế theo pháp luật được xếp thành các hàng thừa
kế theo thứ tự ưu tiên 1,2,3. Trong đó:
+ những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
+ những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở
hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng
di sản hoặc từ chối nhận di sản.
a. Hàng thừa kế thứ nhất:
+ Vợ chồng của người chết
+ Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của người chết
+ Con đẻ, con nuôi của người chết
b. Hàng thừa kế thứ hai:
+ Ông bà nội, ông bà ngoại của người chết
+ Anh chị em ruột của người chết
+ Cháu ruột của người chết mà người chết là ông bà nội, ông bà ngoại
c. Hàng thừa kế thứ ba:
+ Cụ nội, cụ ngoại của người chết
+ Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết
+ Cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột,
dì ruột
+ Chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại
3. Thừa kế thế vị:
- Theo quy định tại Điều 613, BLDS 2015 thì người thừa kế là cá nhân phải là
người còn sống vào thời điểm mở thừa kế
- Song trên thực tế có những trường hợp người thừa kế không còn sống vào thời
điểm mở thừa thừa kế (chết trước hoặc chết cùng với người để lại di sản)
Để đảm bảo quyền lợi cho những người có quan hệ huyết thống trực hệ trong
phạm vi gần gũi, pháp luật nước ta quy định:
+ Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng 1 thời điểm với
người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu
được hưởng nếu còn sống
+ Nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng 1 thời điểm với người để lại di sản thì chắt
được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống
GIẢI QUYẾT BÀI TẬP CHIA THỪA KẾ
ĐỀ BÀI: Ông Tám và bà Thư là hai vợ chồng, có con là Tuyết và Như. Tuyết đã
lấy vợ là Hiền và có con là Loan và Toàn. Năm 2016, Tuyết chết không để lại di
chúc. Năm 2020, Ông Tám chết do tai nạn. Trước khi chết, ông Tám có di chúc
hợp pháp là để lại cho Loan và Toàn mỗi cháu ½ tài sản của mình. Biết:
- Tài sản chung của Tuyết và Hiền là 800 triệu đồng
- Trước khi lấy Hiền, Tuyết có tài sản riêng là 500 triệu đồng (không có thỏa thuận
gì cùng Như về khối tài sản này), Dũng (bạn làm ăn của Tuyết) hiện đang giữ số
tài sản này. Dũng và Tuyết có thỏa thuận Dũng không lấy tiền quản lý di sản sau
khi Tuyết chết.
- Tài sản chung của ông Tám và bà Thư là 1,48 tỷ đồng
- Chi phí mai táng cho Tám hết 20tr
- Khi Tám chết Như chưa thành niên.
1. Hãy chia thừa kế trong trường hợp trên.
2. Giả sử Tám và Tuyết chết cùng thời điểm với nhau vào năm 2020 và đều không
để lại di chúc thì việc chia thừa kế có gì khác?
LỜI GIẢI
1. Chia thừa kế trong trường hợp trên
Bước 1: Xác định người được hưởng thừa kế di sản của Tuyết
Theo trường hợp trên trước khi chết Tuyết không để lại di chúc. Vậy những
người được hưởng di sản thừa kế của Tuyết để lại trong trường hợp này là những
người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: Hiền (vợ Tuyết); Loan, Toàn (con); Tám,
Thư (bố mẹ).
Như không được chia thừa kế vì Như thuộc hàng thừa kế thứ hai.
Bước 2: Chia di sản của Tuyết
- Di sản của Tuyết để lại là ½ số tiền chung với Hiền là 400 triệu và tài sản riêng
là 500 triệu. Theo điều 612 BLDS năm 2015.
=> Tổng số tài sản của Tuyết để lại là 400+500=900 triệu
- Số tài sản này được chia làm 5 phần bằng nhau:
Tám=Thư=Hiền=Loan=Toàn=180 triệu. Theo điều 650 BLDS năm 2015.
Như vậy sau khi chia thừa kế xong:+ Tám=Hiền=Loan=Toàn=180 triệu
+ Hiền= 400+180=580 triệu
Bước 3: Xác định người được hưởng thừa kế di sản của Tám
Theo trường hợp trên trước khi chết Tám để lại di chúc
=> Chia theo luật: Theo quy định tại khoản 1 Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 thì
những người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc gồm: Như, Thư, Tuyết. Những
người này sẽ được hưởng bằng ⅔ suất của họ được nhận.
=> Chia theo di chúc: Loan, Toàn được nhận mỗi người ½ số tài sản của Tám.
Bước 4: Chia di sản của Tám
Di sản của Tám để lại là ½ số tiền chung với Thư ( theo điều 612 BLDS năm
2012) trừ đi 20 triệu tiền mai táng là 1,48/2 tỷ - 20 triệu= 720 triệu, mà Tám được
nhận 180 triệu do thừa hưởng từ Tuyết
=> Tổng số tài sản của Tám là: 900 triệu
bên cạnh đó tài sản của Thư là 1,48/2 tỷ= 920 triệu
Di sản thừa kế của Tám để lại là 900 triệu. Do đó, nếu phần di sản trên chia theo
pháp luật thì sẽ chia cho 3 người, do đó mỗi người họ sẽ được hưởng mỗi một
người là 300 triệu.
- Tuy nhiên, do có di chúc nên những người này (Như, Thư, Tuyết) sẽ được hưởng
bằng ⅔ suất của họ được nhận nếu chia theo pháp luật và bằng 300 triệu * ⅔ = 200
triệu. Theo điều 650 BLDS năm 2015.
- Mặt khác do Tuyết chết trước Tám nên theo Điều số 652. Thừa kế thế vị: Trong
trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với
người để lại di sản. Thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu
được hưởng nếu còn sống; Nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với
người để lại di sản. Thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt
được hưởng nếu còn sống ( điều 652 BLDS). Do đó, Loan và Toàn sẽ được nhận
mỗi người ½ số tiền của Tuyết được hưởng từ ông Tám là 100 triệu.
- Theo di chúc Loan, Toàn mỗi người được nhận ½ số tiền của ông Tám là:
Loan=Toàn=( 900-(200x3))/ 2= 150 triệu
Vậy, sau khi chia thừa kế thì những người thừa kế được nhận số tiền như sau:
+ Loan, Toàn mỗi người được nhận số tiền là: 250 triệu + 180 triệu= 430 triệu
+ Thư được nhận thừa kế từ ông Tám tổng là: 920 triệu + 200 triệu = 1 tỷ 120 triệu
+ Như được số tiền là: 200 triệu
+ Hiền được nhận số tiền thừa kế từ Tuyết và tài sản chung của Tuyết và Hiền là
400 triệu. Vậy tổng số tiền của Hiền nhận được sau khi chia là: 180 triệu + 400
triệu = 580 triệu
2. Giả sử Tám và Tuyết chết cùng thời điểm với nhau vào năm 2020 và đều không
để lại di chúc thì việc chia thừa kế có gì khác?
Theo ý trên: tài sản của ông Tám là: 720 triệu, Tuyết 900 triệu, Thư 740
triệu, Hiền là 400 triệu.
Khi ông Tám chết không để lại di chúc theo hàng thừa kế thứ nhất thì Thư, Như,
Tuyết nhận số tiền bằng bằng nhau bằng 720/3 =240 triệu theo điều 650 BLDS
2015.
Tuyết chết cùng thời điểm với ông tám nên theo thừa kế thế vị thì Loan
Toàn mỗi người nhận số tiền bằng nhau bằng 240/2 = 120 triệu theo điều 650
BLDS 2015. Khi Tuyết chết theo hàng thừa kế thứ nhất thì Thư ,Hiền, Loan
Toàn nhận số tiền thừa hưởng là như nhau và bằng 900/4 = 225.
Vậy số tiền mà các thành viên nhận được là:
Số tiền mà Thư nhận được là: 740 + 240 + 225 = 1205 triệu
Số tiền Như nhận được là: 240 triệu
Số tiền mà Hiền nhận được là: 400 + 225 = 625 triệu
Số tiền mà Loan và Toàn nhận được là: 120 + 225 = 345 triệu
KẾT LUẬN
Trên đây là những nội dung tổng hợp, phân tích về quy định liên quan đến thừa
kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc tại hệ thống pháp luật về thừa kế của Việt
Nam. Qua đó, có thể nhận thấy những quy định được đưa ra đã đề cập đến hầu hết
những vấn đề phát sinh, có liên quan đến việc thừa kế dựa trên đúng nguyên tắc về
thừa kế nói chung và đảm bảo quyền, lợi ích của những người liên quan. Tuy nhiên
trước hết cần phải ban hành những văn bản hướng dẫn hay giải thích để tạo ra cách
hiểu thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật, giải quyết trước mắt những
vướng mắc đang xảy ra trên thực tiễn liên quan đến những nội dung nêu trên. Về
lâu dài, khi bộ luật dân sự được hoàn thiện sẽ là hành trang pháp lý vững chắc bảo
đảm quyền lợi cho con người và trật tự trong xã hội trong vấn đề thừa kế theo pháp
luật. Việc quy định như vậy là hết sức cần thiết, sẽ tôn trọng ý chí định đoạt của
người để lại di sản, tôn trọng và bảo vệ sự thoả thuận của những người thừa kế
đồng thời trong trường hợp cần thiết (việc phân chia ngay gây thiệt hại đến giá trị
của di sản, hoặc không đảm bảo cho việc khai thác di sản ...). Vì vậy những điều
khoản trong luật về thừa kế đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết những
vấn đề tranh chấp tài sản.
Qua việc thực hiện đề tài “những lý luận cơ bản về thừa kế” đã giúp chúng em
hiểu được cách thức phân chia tài sản để đảm bảo quyền lợi thừa kế của những
người liên quan. Vậy nhóm 5 chúng em rất mong nhận được những lời nhận xét,
góp ý từ cô để hoàn thiện kiến thức về pháp luật hơn.
Nhóm 5 chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hương Giang (2014), Thừa kế theo pháp luật – Một số vấn đề lý luận và
thực
2. Bộ luật Dân sự 2015, Điều 644. Tiểu Luận Các quy định về thừa kế theo pháp
luật
3. Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật dân sự,
Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử
4. Án lệ số 05/2016/AL về vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế”
5. Đỗ Văn Đại (Chủ biên )(2016 ), Bình luận khoa học, những điểm mới của bộ
luận dân sự 2015, NXB. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam.
6. Phùng Trung Tập (2008 ), Luật thừa kế Việt Nam, NXB. Hà Nội
7. Bộ Tư pháp, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự (Tập 1,2).

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH BÀI THẢO LUẬN
MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG NHÓM: 5 LỚP HP: 2271TLAW0111
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH HÀ NAM, 2022 MỤC LỤC Trang
PHẦN MỞ ĐẦU …………………………………………………………………1 PHẦN NỘI DUNG
PHẦN I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỪA KẾ
I. KHÁI NIỆM VÀ NGUỒN GỐC THỪA KẾ ………………………………...2
1. Nguồn gốc về thừa kế……………………………………………………………2
2. Khái niệm thừa kế………………………………………………………………..2
II. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ
1. Chủ thể của quan hệ pháp luật thừa kế…………………………………………..3
2. Di sản thừa kế……………………………………………………………………3
3. Thời điểm mở thừa kế, địa điểm mở thừa kế…………………………………….4
4.Người quản lý di sản……………………………………………………………...4
5. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng
thời điểm……………………………………………………………………………5
6. Những người không được hưởng di sản…………………………………………5
7. Thời hiệu thừa kế………………………………………………………………...5 III. THỪA KẾ THEO DI CHÚC
1. Điều kiện có hiệu lực của di chúc………………………………………………..6
2. Hiệu lực pháp luật của di chúc…………………………………………………..8
3. Quyền của người lập di chúc…………………………………………………….9
4. Người thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc………………………….9
5. Di sản dùng vào việc thờ cúng…………………………………………………10
6. Di tặng………………………………………………………………………….10
IV. THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
1. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật……………………………………...11
2. Hàng thừa kế theo luật…………………………………………………………11
3. Thừa kế thế vị………………………………………………………………….12
PHẦN II. PHÂN TÍCH BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ……………………………12
PHẦN KẾT LUẬN………………………………………………………………16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………17
BẢNG PHÂN CHIA CÔNG VIỆC VÀ ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN……….18 PHẦN MỞ ĐẦU
Pháp luật của nước ta bảo vệ những lợi ích cơ bản của mỗi người lao động trên
cơ sở bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội, góp phần xóa bỏ
những tàn tích của chế độ phong kiến để lại. Tạo môi trường pháp lý thuận lợi làm
cho nhân dân lao động yên tâm sản xuất tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội.
Quyền thừa kế xuất phát từ quan điểm xem gia đình là tế bào của xã hội, phải đảm
bảo quyền lợi chính đáng của mỗi thành viên và sự ổn định của từng gia đình. Mặt
khác thông qua quyền thừa kế, giáo dục tinh thần trách nhiệm của mỗi thành viên
đối với gia đình. Do đó xác định được diện những người thừa kế cũng như phương
thức chia tài sản trong pháp luật về thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc thực
hiện các chức năng vai trò của xã hội.
Về thực tiễn, do sự phát triển mạnh mẽ từng ngày, từng giờ của đời sống kinh tế-
xã hội của đất nước, nên pháp luật về thừa kế hiện hành vẫn chưa thể trù liệu hết
những trường hợp, tình huống xảy ra trên thực tế. Còn một số quy định của pháp
luật về thừa kế mang tính chung chung ,chưa chi tiết, chưa rõ ràng, lại chưa có văn
bản hướng dẫn thi hành cho từng vấn đề cụ thể. Vì vậy, còn nhiều quan điểm
trái ngược nhau, nên khi áp dụng vào thực tế xảy ra tình trạng không nhất quán
trong cách hiểu cũng như cách giải quyết. Điều đó đã xâm phạm quyền thừa kế của
công dân, đôi khi còn gây bất ổn trong đời sống sinh hoạt của mỗi gia đình,cộng
đồng và xã hội.trọng cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn.
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm 5 chúng em chọn vấn đề: “Những vấn đề lý
luận cơ bản về thừa kế ” để làm đề tài thảo luận. Đây là một đề tài có ý nghĩa quan
trọng cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn.
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỪA KẾ
I. KHÁI NIỆM VÀ NGUỒN GỐC THỪA KẾ
1. Nguồn gốc của thừa kế
Từ việc giải đáp một cách duy vật về con người, bản chất con người, tính hiện
thực, con người với tư cách thực thể sinh học - xã hội, với tư cách nhân cách, vị trí
và vai trò của con người trong tiến trình phát triển lịch sử nhân loại, tư tưởng của
C.Mác hướng đến mục đích giải phóng con người, giải phóng xã hội. Ông khẳng
định rằng: “Xã hội tư bản là một bước tiến trong lịch sử phát triển của nhân loại; là
cơ sở cho sự phát triển của bản chất con người, là điều kiện cho sự giải phóng xã
hội”. Bằng hoạt động lao động của mình, con người đã làm biến đổi bản chất tự
nhiên và tạo ra bản chất xã hội của chính mình. Và trong đó hoạt động lao động
sản xuất không những là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội
mà còn là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại của con người. Bởi, thông qua hoạt động
thực tiễn, con người đã để lại những dấu ấn sáng tạo của bản thân mình vào giới tự
nhiên, vào xã hội và qua đó, phát triển, hoàn thiện bản thân mình. Trong quá trình
sản xuất vật chất, con người phải tác động vào tự nhiên. Không ngừng tác động
làm biến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội, đồng thời làm biến đổi bản thân mình. Sản
xuất vật chất qua đó cũng không ngừng phát triển. Mang đến cơ sở, nền tảng cho
nhu cầu tồn tại, đáp ứng chất lượng cuộc sống để tìm kiếm sự phát triển của con
người. Nếu như tài sản có thể tồn tại lâu dài theo nhiều dạng thức khác nhau, thì
con người được sinh ra, rồi cũng sẽ chết đi theo quy luật bất biến của tự nhiên.
Giấc ngủ sau lao động vất và, bến cảng sau biển khơi giông tố, sự bình yên sau
chiến tranh, cái chết sau cuộc đời đều là điều quy luật của tự nhiên. Vì vậy, khi còn
sống, con người khai thác công dụng của tài sản để thỏa mãn nhu cầu của mình.
Khi chết đi, tài sản của họ sẽ được dịch chuyển cho người còn sống. Và đến khi
Nhà nước ra đời, Nhà nước đã điều chỉnh cách dịch chuyển tài sản nói chung,
quyền để lại tài sản nói riêng đã sinh ra khái niệm “thừa kế”. 2. Khái niệm thừa kế
Quyền thừa kế là một quan hệ pháp luật Dân sự với đầy đủ ba thành tố: chủ thể,
khách thể, nội dung như mọi quan hệ pháp luật khác.
- Theo nghĩa rộng: Quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý chỉ tổng hợp các quy
phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của
người chết theo di chúc hoặc theo pháp luật.
=> Quyền thừa kế chính là pháp luật về thừa kế.
- Theo nghĩa hẹp: Quyền thừa kế là quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản.
=> Quyền thừa kế là một quyền năng của chủ thể.
Thừa kế được chia thành thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc.
- Thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản thừa kế của người đã chết cho
người còn sống theo sự định đoạt của người đó khi còn sống. Thừa kế theo di chúc
được quy định tại chương XXII của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản thừa kế của người đã chết
cho người sống theo quy định của pháp luật nếu người chết không để lại di chúc
hoặc để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp. Thừa kế theo pháp luật được
quy định tại chương XXIII của Bộ luật dân sự năm 2015.
II. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ.
1. Chủ thể của quan hệ pháp luật thừa kế
- Người để lại di sản thừa kế: Là người có tài sản sau khi chết để lại cho người
còn sống theo ý chí của họ được thể hiện trong di chúc hay theo quy định của pháp
luật. Người để lại di sản thừa kế chỉ có thể là cá nhân, không phân biệt bất cứ điều
kiện nào (tuổi, địa vị, giới tính, mức độ năng lực hành vi,... ).
- Người thừa kế (đối tượng nhận di sản ):
Người thừa kế theo pháp lý: là cá nhân và phải có ⁕ quan hệ hôn nhân gia
đình, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng so với người để lại di sản.
Đối tượng thừa kế theo di chúc: có thể là cá nhân ⁕
hoặc tổ chức còn sống
hoặc còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. 2. Di sản thừa kế
- Khái niệm di sản thừa kế được hiểu là tài sản của người chết để lại cho những người thừa kế.
- Di sản thừa kế bao gồm:
⁕ Tài sản riêng của người chết:
+ do chính bản thân họ tạo lập.
+ được thừa kế riêng.
+ được cho, tặng riêng.
⁕ Tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác:
+ tài khoản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
+ phần góp vốn kinh doanh: nếu một trong các đồng sở hữu chết thì di sản
thừa kế của người chết chính là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó đã đóng
góp trong khối tài sản chung.
Quyền về tài sản do người chết để lại: ⁕
+ Quyền dân sự được phát sinh từ các quan hệ hợp đồng hoặc do việc bồi
thường thiệt hại mà trước khi chết họ đã tham gia vào những quan hệ này
+ Quyền tác giả, quyền sở hữu đất,..
3. Thời điểm mở thừa kế, địa điểm mở thừa kế
- Thời điểm mở thừa kế: Là thời điểm người có tài sản chết. Việc xác định thời
điểm mở thừa kế rất quan trọng bởi:
+ Kể từ thời điểm đó, xác định được chính xác tài sản, quyền và nghĩa vụ về
tài sản của người để lại thừa kế gồm cả những gì và đến khi chia di sản còn bao nhiêu.
+Thời điểm mở thừa kế là căn cứ xác định những người thừa kế của người đã chết.
- Địa điểm mở thừa kế: Là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản hoặc nơi
có toàn bộ hoặc phần lớn di sản.
+ Bộ luật dân sự quy định địa điểm mờ thừa kế vì ở nơi đó thường phải tiến
hành những công việc như: Kiểm kê ngay tài sản của người đã chết (trong trường
hợp cần thiết); xác định những ai là người thừa kế theo di chúc hoặc theo luật;
người từ chối nhận di sản…
+ Ngoài ra, nếu có người trong diện thừa kế từ chấp nhận di sản, thì phải thông
báo cho cơ quan Công chúng nhà nước hoặc UBND xã (phường ), thị trấn nơi mở
thừa kế về việc từ chối nhận di sản. Hơn nữa, trong trường hợp có tranh chấp thì
Toà án nhân dân nơi mở thừa kế có thẩm quyền giải quyết.
4. Người quản lý di sản
- Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những
người thừa kế thỏa thuận cử ra.
- Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa
kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý
di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.
- Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý
thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.
- Quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản:
+ Nghĩa vụ của người quản lý di sản: Lập danh mục di sản; bảo quản di sản;
giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế;..
+ Quyền của người quản lý di sản: Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với
những người thừa kế; được thanh toán chi phí bảo quản di sản;..
5. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm
Có những trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau cùng chết
trong một thời điểm (tai nạn, thiên tai, thảm họa,.. ) do không thể xác định được
người nào chết trước (sau đây gọi là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa
kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng,
trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 của Bộ luật này.
6. Những người không được hưởng di sản
Pháp luật luôn luôn tôn trọng và bảo vệ quyền hưởng di sản của người thừa kế.
Nhưng người có hành vi trái pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội, xâm phạm đến
danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản; xâm phạm tính mạng người thừa kế
khác để nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có
quyền hưởng... Những người có hành vi như vậy không còn xứng đáng được quyền
thừa kế, họ bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản. Nhằm đảm bảo giá trị gia
đình, đảm bảo truyền thống, đạo đức xã hội cũng như trật tự và công bằng xã hội
thì Điều 621 Bộ luật dân sự quy định phạm vi những người không được quyền
hưởng di sản do có những hành vi bất xứng:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành
vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng
danh dự, nhân phẩm của người đó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm
hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong
việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc
nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. 7. Thời hiệu thừa kế
- Một là, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất
động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện
chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 Pháp
lệnh thừa kế 1990[1] và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Hai là, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình
hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế;
- Ba là, thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người
chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, hết thời hạn
này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có
người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này. III. THỪA KẾ THEO DI CHÚC
Thừa kế theo di chúc là việc chuyển tài sản của người đã chết cho những người
thừa kế theo ý chí tự nguyện của người để lại di sản thể hiện trong di chúc.
1. Điều kiện có hiệu lực của di chúc
Di chúc là một giao dịch dân sự mang tính chất đặc biệt, giao dịch dân sự này
chỉ phát sinh hiệu lực khi người lập do người lập di chúc chết.
Xét theo quy định của pháp luật, thì một di chúc có hiệu lực pháp luật khi đáp ứng các điều kiện sau:
1. Người lập di chúc phải có năng lực chủ thể trong việc lập di chúc
Pháp luật yêu cầu người lập di chúc phải là người đã thành niên và hoàn toàn có
khả năng nhận thức vào thời điểm lập di chúc. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18
tuổi có thể lập di chúc nhưng phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
2. Người lập di chúc tự nguyện
“Người lập di chúc phải tự nguyện khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa
hoặc cưỡng ép”. Đây là một trong những điều kiện nhằm đảm bảo di chúc thể hiện
đúng ý nguyện, sự định đoạt, quyết định của người lập di chúc về việc dịch chuyển
tài sản của họ sau khi chết.
Cưỡng ép người lập di chúc có thể là sự cưỡng ép về thể chất hoặc về tinh thần.
Lừa dối người lập di chúc có thể được thực hiện thông qua việc sau: làm tài liệu
giả để cho người có tài sản tin rằng một người đã chết hoặc đã mất tích nên không
để lại di sản cho người đó mà để lại di sản cho người khác,...
3. Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Nội dung của di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc về việc chỉ định
những người thừa kế, phân chia di sản thừa kế, giao nghĩa vụ cho người thừa kế...
Bản thân di chúc thể hiện ý chí tự định đoạt rất cao của người để lại di chúc trong
việc định đoạt tài sản của mình sau khi qua đời cho những người còn sống, pháp
luật không can thiệp sâu vào sự tự do ý chí đó. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa
là quyền định đoạt ấy không chịu sự ràng buộc nào của pháp luật. Ý chí tự định
đoạt của người lập di chúc phải phù hợp với ý chí của nhà nước và đạo đức xã hội.
Nếu di chúc có nội dung trái với pháp luật và đạo đức xã hội thì có thể bị coi là vô hiệu.
4. Hình thức của di chúc không trái quy định của luật
Hình thức của di chúc là phương tiện biểu hiện ý chí của người lập di chúc. Căn
cứ theo quy định tại Điều 627 BLDS thì di chúc phải được lập thành văn bản, nếu
như không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Trong một
số trường hợp đặc biệt sẽ yêu cầu phải lập di chúc bằng văn bản hoặc bằng văn bản
và có công chứng/chứng thực. Tùy theo trường hợp mà pháp luật quy định điều
kiện, thủ tục về mặt hình thức và khi không đáp ứng những điều kiện về mặt hình
thức đó thì di chúc bị coi là vô hiệu.
- Di chúc miệng: Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng
thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay
sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời
hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc
phải được công chứng hoặc chứng thực.
- Di chúc bằng văn bản: Là sự thể hiện ý chí của cá nhân dưới hình thức văn
bản. Văn bản này có thể là văn bản viết tay, văn bản đánh máy tuỳ từng trường hợp
cụ thể mà pháp luật quy định.
Theo quy định của pháp luật Dân sự, đối với những bản di chúc được người lập
di chúc thể hiện bằng hình thức văn bản phải đáp ứng các yêu cầu chung về nội
dung. Do đó, khi người lập di chúc muốn bản di chúc của mình thể hiện dưới hình
thức bằng văn bản mà phải có được hiệu lực pháp luật thì người lập di chúc cần
phải đáp ứng các yêu cầu về nội dung đối với mọi di chúc viết như sau:
+ Di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc.
+ Di chúc phải ghi rõ họ tên, nơi cư trú của người lập di chúc.
+ Di chúc phải ghi rõ họ, tên người, tên cơ quan, tổ chức được hưởng di sản.
+ Di chúc phải ghi rõ di sản và nơi có di sảm
Di chúc bằng văn bản có các loại sau:
+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
+ Di chúc bằng văn bản có công chứng
+ Di chúc bằng văn bản có chứng thực
Trong một số trường hợp đặc biệt pháp luật quy định các trường hợp di chúc
bằng văn bản (thỏa mãn đầy dủ các điều kiện có hiệu lực của di chúc do pháp luật
quy định) có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực bao gồm:
+ Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội
trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực;
+ Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó;
+ Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng có
xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó;
+ Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng
rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị;
+ Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhạn của cơ quan
lãnh sự, đại diện ngoại giao Viẹt Nam ở nước đó;
+ Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù,
người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa
bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.
2. Hiệu lực pháp luật của di chúc
1. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
2. - Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:
+ Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc.
+ Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
- Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc
chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan tổ chức được
chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân cơ quan tổ chức này không có hiệu lực.
3. - Nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế thì di chúc không có hiệu lực.
- Nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần
di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các
phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.
5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
3. Quyền của người lập di chúc
Pháp luật ghi nhận người lập di chúc có các quyền sau đây:
+ Chỉ định người thừa kế
+ Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế
+ Phân định phần di sản cho từng người thừa kế
+ Dành 1 phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng
+ Giao nghĩa vụ cho người thừa kế
+ Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản
+ Chỉ định người công bố di chúc
4. Người thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc
1. Vợ hoặc chồng của người chết
2. Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi
3. Con chưa thành niên (con trai, con gái, con nuôi, con đẻ, con trong giá thú, con
ngoài giá thú mà dưới 18 tuổi)
4. Con đã thành niên(từ đủ 18 tuổi trở lên) không có khả năng lao động
⇒ - Những người này phải được hưởng ⅔ của một suất thừa kế theo pháp luật nếu
không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc cho hưởng nhưng giá trị phần
di sản được hưởng là quá ít (chưa bằng ⅔ suất của 1 người thừa kế theo pháp luật,
nếu di sản được chia theo pháp luật).
- Nếu người thừa kế từ chối nhận di sản, hoặc họ là những người không có
quyền hưởng di sản thì sẽ không cho người thừa kế được hưởng di sản không phụ
thuộc vào nội dung của di chúc.
5. Di sản dùng vào việc thờ cúng
1. Pháp luật dân sự cho phép người để lại di sản trước khi chết có quyền để lại một
phần di sản dùng vào việc thờ cúng, trừ trường hợp toàn bộ di sản của người chết
không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó.
2. Người quản lí di sản thờ cúng được chỉ định trong di chúc hoặc được những
người thừa kế cử ra nếu người để lại di sản không chỉ định người này. Họ không có
quyền sở hữu đối với di sản, mặc dù có thể thực hiện việc chiếm hữu, sử dụng.
3. Nếu tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để
thờ cúng thuộc về người đang quản lí hợp pháp di sản đó trong số những người
thuộc diện thừa kế theo pháp luật. 6. Di tặng
- Di tặng là việc người lập di chúc dành 1 phần di sản để tặng cho người khác.
- Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc, nếu không ghi rõ thì sẽ được hiểu là thừa kế theo di chúc.
- Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di
tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của
người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.
IV. THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những
người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quyết định.
1. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật: - Không có di chúc.
- Di chúc không hợp pháp.
- Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với
người lập di chúc, cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn
tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền
hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.
- Ngoài ra thừa kế theo pháp luật cũng áp dụng với các phần di sản sau:
+ Phần di sản không được định đoạt trong di chúc
+ Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật
+ Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không
có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm
với người lập di chúc, liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di
chúc nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
2. Hàng thừa kế theo pháp luật:
- Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và phải có 1 trong 3 mối
quan hệ với người để lại di sản: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng.
- Những người hưởng di sản thừa kế theo pháp luật được xếp thành các hàng thừa
kế theo thứ tự ưu tiên 1,2,3. Trong đó:
+ những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
+ những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở
hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng
di sản hoặc từ chối nhận di sản.
a. Hàng thừa kế thứ nhất:
+ Vợ chồng của người chết
+ Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của người chết
+ Con đẻ, con nuôi của người chết
b. Hàng thừa kế thứ hai:
+ Ông bà nội, ông bà ngoại của người chết
+ Anh chị em ruột của người chết
+ Cháu ruột của người chết mà người chết là ông bà nội, ông bà ngoại c. Hàng thừa kế thứ ba:
+ Cụ nội, cụ ngoại của người chết
+ Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết
+ Cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột
+ Chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại 3. Thừa kế thế vị:
- Theo quy định tại Điều 613, BLDS 2015 thì người thừa kế là cá nhân phải là
người còn sống vào thời điểm mở thừa kế
- Song trên thực tế có những trường hợp người thừa kế không còn sống vào thời
điểm mở thừa thừa kế (chết trước hoặc chết cùng với người để lại di sản)
⇒ Để đảm bảo quyền lợi cho những người có quan hệ huyết thống trực hệ trong
phạm vi gần gũi, pháp luật nước ta quy định:
+ Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng 1 thời điểm với
người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu
được hưởng nếu còn sống
+ Nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng 1 thời điểm với người để lại di sản thì chắt
được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống
GIẢI QUYẾT BÀI TẬP CHIA THỪA KẾ
ĐỀ BÀI: Ông Tám và bà Thư là hai vợ chồng, có con là Tuyết và Như. Tuyết đã
lấy vợ là Hiền và có con là Loan và Toàn. Năm 2016, Tuyết chết không để lại di
chúc. Năm 2020, Ông Tám chết do tai nạn. Trước khi chết, ông Tám có di chúc
hợp pháp là để lại cho Loan và Toàn mỗi cháu ½ tài sản của mình. Biết:
- Tài sản chung của Tuyết và Hiền là 800 triệu đồng
- Trước khi lấy Hiền, Tuyết có tài sản riêng là 500 triệu đồng (không có thỏa thuận
gì cùng Như về khối tài sản này), Dũng (bạn làm ăn của Tuyết) hiện đang giữ số
tài sản này. Dũng và Tuyết có thỏa thuận Dũng không lấy tiền quản lý di sản sau khi Tuyết chết.
- Tài sản chung của ông Tám và bà Thư là 1,48 tỷ đồng
- Chi phí mai táng cho Tám hết 20tr
- Khi Tám chết Như chưa thành niên.
1. Hãy chia thừa kế trong trường hợp trên.
2. Giả sử Tám và Tuyết chết cùng thời điểm với nhau vào năm 2020 và đều không
để lại di chúc thì việc chia thừa kế có gì khác? LỜI GIẢI
1. Chia thừa kế trong trường hợp trên
Bước 1: Xác định người được hưởng thừa kế di sản của Tuyết
Theo trường hợp trên trước khi chết Tuyết không để lại di chúc. Vậy những
người được hưởng di sản thừa kế của Tuyết để lại trong trường hợp này là những
người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: Hiền (vợ Tuyết); Loan, Toàn (con); Tám, Thư (bố mẹ).
Như không được chia thừa kế vì Như thuộc hàng thừa kế thứ hai.
Bước 2: Chia di sản của Tuyết
- Di sản của Tuyết để lại là ½ số tiền chung với Hiền là 400 triệu và tài sản riêng
là 500 triệu. Theo điều 612 BLDS năm 2015.
=> Tổng số tài sản của Tuyết để lại là 400+500=900 triệu
- Số tài sản này được chia làm 5 phần bằng nhau:
Tám=Thư=Hiền=Loan=Toàn=180 triệu. Theo điều 650 BLDS năm 2015.
Như vậy sau khi chia thừa kế xong:+ Tám=Hiền=Loan=Toàn=180 triệu + Hiền= 400+180=580 triệu
Bước 3: Xác định người được hưởng thừa kế di sản của Tám
Theo trường hợp trên trước khi chết Tám để lại di chúc
=> Chia theo luật: Theo quy định tại khoản 1 Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 thì
những người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc gồm: Như, Thư, Tuyết. Những
người này sẽ được hưởng bằng ⅔ suất của họ được nhận.
=> Chia theo di chúc: Loan, Toàn được nhận mỗi người ½ số tài sản của Tám.
Bước 4: Chia di sản của Tám
Di sản của Tám để lại là ½ số tiền chung với Thư ( theo điều 612 BLDS năm
2012) trừ đi 20 triệu tiền mai táng là 1,48/2 tỷ - 20 triệu= 720 triệu, mà Tám được
nhận 180 triệu do thừa hưởng từ Tuyết
=> Tổng số tài sản của Tám là: 900 triệu
bên cạnh đó tài sản của Thư là 1,48/2 tỷ= 920 triệu
Di sản thừa kế của Tám để lại là 900 triệu. Do đó, nếu phần di sản trên chia theo
pháp luật thì sẽ chia cho 3 người, do đó mỗi người họ sẽ được hưởng mỗi một người là 300 triệu.
- Tuy nhiên, do có di chúc nên những người này (Như, Thư, Tuyết) sẽ được hưởng
bằng ⅔ suất của họ được nhận nếu chia theo pháp luật và bằng 300 triệu * ⅔ = 200
triệu. Theo điều 650 BLDS năm 2015.
- Mặt khác do Tuyết chết trước Tám nên theo Điều số 652. Thừa kế thế vị: Trong
trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với
người để lại di sản. Thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu
được hưởng nếu còn sống; Nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với
người để lại di sản. Thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt
được hưởng nếu còn sống ( điều 652 BLDS). Do đó, Loan và Toàn sẽ được nhận
mỗi người ½ số tiền của Tuyết được hưởng từ ông Tám là 100 triệu.
- Theo di chúc Loan, Toàn mỗi người được nhận ½ số tiền của ông Tám là:
Loan=Toàn=( 900-(200x3))/ 2= 150 triệu
Vậy, sau khi chia thừa kế thì những người thừa kế được nhận số tiền như sau:
+ Loan, Toàn mỗi người được nhận số tiền là: 250 triệu + 180 triệu= 430 triệu
+ Thư được nhận thừa kế từ ông Tám tổng là: 920 triệu + 200 triệu = 1 tỷ 120 triệu
+ Như được số tiền là: 200 triệu
+ Hiền được nhận số tiền thừa kế từ Tuyết và tài sản chung của Tuyết và Hiền là
400 triệu. Vậy tổng số tiền của Hiền nhận được sau khi chia là: 180 triệu + 400 triệu = 580 triệu
2. Giả sử Tám và Tuyết chết cùng thời điểm với nhau vào năm 2020 và đều không
để lại di chúc thì việc chia thừa kế có gì khác?
Theo ý trên: tài sản của ông Tám là: 720 triệu, Tuyết là 900 triệu, Thư là 740
triệu, Hiền là 400 triệu.
Khi ông Tám chết không để lại di chúc theo hàng thừa kế thứ nhất thì Thư, Như,
Tuyết nhận số tiền bằng bằng nhau và bằng 720/3 =240 triệu theo điều 650 BLDS 2015.
Mà Tuyết chết cùng thời điểm với ông tám nên theo thừa kế thế vị thì Loan và
Toàn mỗi người nhận số tiền bằng nhau và bằng 240/2 = 120 triệu theo điều 650
BLDS 2015. Khi Tuyết chết theo hàng thừa kế thứ nhất thì Thư ,Hiền, Loan và
Toàn nhận số tiền thừa hưởng là như nhau và bằng 900/4 = 225.
Vậy số tiền mà các thành viên nhận được là:
Số tiền mà Thư nhận được là: 740 + 240 + 225 = 1205 triệu
Số tiền Như nhận được là: 240 triệu
Số tiền mà Hiền nhận được là: 400 + 225 = 625 triệu
Số tiền mà Loan và Toàn nhận được là: 120 + 225 = 345 triệu KẾT LUẬN
Trên đây là những nội dung tổng hợp, phân tích về quy định liên quan đến thừa
kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc tại hệ thống pháp luật về thừa kế của Việt
Nam. Qua đó, có thể nhận thấy những quy định được đưa ra đã đề cập đến hầu hết
những vấn đề phát sinh, có liên quan đến việc thừa kế dựa trên đúng nguyên tắc về
thừa kế nói chung và đảm bảo quyền, lợi ích của những người liên quan. Tuy nhiên
trước hết cần phải ban hành những văn bản hướng dẫn hay giải thích để tạo ra cách
hiểu thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật, giải quyết trước mắt những
vướng mắc đang xảy ra trên thực tiễn liên quan đến những nội dung nêu trên. Về
lâu dài, khi bộ luật dân sự được hoàn thiện sẽ là hành trang pháp lý vững chắc bảo
đảm quyền lợi cho con người và trật tự trong xã hội trong vấn đề thừa kế theo pháp
luật. Việc quy định như vậy là hết sức cần thiết, sẽ tôn trọng ý chí định đoạt của
người để lại di sản, tôn trọng và bảo vệ sự thoả thuận của những người thừa kế
đồng thời trong trường hợp cần thiết (việc phân chia ngay gây thiệt hại đến giá trị
của di sản, hoặc không đảm bảo cho việc khai thác di sản ...). Vì vậy những điều
khoản trong luật về thừa kế đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết những
vấn đề tranh chấp tài sản.
Qua việc thực hiện đề tài “những lý luận cơ bản về thừa kế” đã giúp chúng em
hiểu được cách thức phân chia tài sản để đảm bảo quyền lợi thừa kế của những
người liên quan. Vậy nhóm 5 chúng em rất mong nhận được những lời nhận xét,
góp ý từ cô để hoàn thiện kiến thức về pháp luật hơn.
Nhóm 5 chúng em xin chân thành cảm ơn cô! TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hương Giang (2014), Thừa kế theo pháp luật – Một số vấn đề lý luận và thực
2. Bộ luật Dân sự 2015, Điều 644. Tiểu Luận Các quy định về thừa kế theo pháp luật
3. Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật dân sự,
Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử
4. Án lệ số 05/2016/AL về vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế”
5. Đỗ Văn Đại (Chủ biên )(2016 ), Bình luận khoa học, những điểm mới của bộ
luận dân sự 2015, NXB. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam.
6. Phùng Trung Tập (2008 ), Luật thừa kế Việt Nam, NXB. Hà Nội
7. Bộ Tư pháp, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự (Tập 1,2).