-
Thông tin
-
Quiz
Nội dung cơ bản của đường lối, chính sách đối ngoại Việt Nam từ 2016 đến nay | Bài tập tự học Quan hệ quốc tế
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chính sách đối ngoại đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc khẳng định vị thế, bảo vệ lợi ích quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, giai đoạn từ năm 2016 đến nay đánh dấu những bước chuyển mình mạnh mẽ trong đường lối đối ngoại. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Quan hệ quốc tế 24 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Nội dung cơ bản của đường lối, chính sách đối ngoại Việt Nam từ 2016 đến nay | Bài tập tự học Quan hệ quốc tế
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chính sách đối ngoại đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc khẳng định vị thế, bảo vệ lợi ích quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, giai đoạn từ năm 2016 đến nay đánh dấu những bước chuyển mình mạnh mẽ trong đường lối đối ngoại. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Quan hệ quốc tế 24 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN -----a&b----- BÀI TẬP T Ự HỌC
MÔN: QUAN HỆ QUỐC TẾ
Đề bài: Nội dung cơ bản của đường lối, chính sách đối ngoại
Việt Nam từ 2016 đến nay. Bình luận về kết quả triển khai
chính sách trên thực tế.
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Yến Nhi Mã sinh viên: 2356090035
Lớp tín chỉ: QT51001_LR_1
Lớp hành chính: Báo mạng điện tử CLC K43
Năm học: 2024 – 2025 MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU ................................................................................................... 3
B. NỘI DUNG ............................................................................................... 4
1. Quá trình hình thành đường lối, chính sách đối ngoại đổi mới của
Đảng và Nhà nước ta ........................................................................................... 4
2. Nội dung cơ bản của Đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới, hội nhập .......................................................................... 9
2.1. Mục tiêu đối ngoại ........................................................................... 9
2.2. Nhiệm vụ đối ngoại .......................................................................... 9
2.3. Nguyên tắc đối ngoại ..................................................................... 10
2.4. Quan điểm chỉ đạo công tác đối ngoại .......................................... 10
2.5. Một số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại,
hội nhập ........................................................................................................... 12
3. Bình luận về kết quả triển khai chính sách trên thực tế. ................. 14
3.1. Những kết quả đạt được về đường lối, chính sách đối ngoại của
Việt Nam .......................................................................................................... 14
3.2. Bình luận về kết quả triển khai chính sách .................................. 16
3.3. Một số vấn đề đặt ra trong công tác đối ngoại của Việt Nam ...... 17
3.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại của
Việt Nam trong thời gian tới ........................................................................... 18
C. KẾT LUẬN .............................................................................................. 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 20 2 A. MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chính
sách đối ngoại đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc khẳng định vị thế, bảo vệ
lợi ích quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Đối với Việt
Nam, giai đoạn từ năm 2016 đến nay đánh dấu những bước chuyển mình mạnh mẽ
trong đường lối đối ngoại, khi đất nước không chỉ đối mặt với những cơ hội hội nhập
quốc tế, mà còn đương đầu với nhiều thách thức phức tạp của tình hình thế giới và
khu vực. Đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ này tiếp tục
kế thừa và phát huy nguyên tắc nhất quán “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát
triển”, đồng thời có sự điều chỉnh linh hoạt nhằm thích ứng với xu hướng toàn cầu
và các biến động địa chính trị. Những thành tựu nổi bật trong việc mở rộng quan hệ
đối tác, tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế và duy trì môi trường hòa bình, ổn
định cho phát triển đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại Việt Nam.
Việc nghiên cứu nội dung cơ bản và kết quả triển khai chính sách đối ngoại từ năm
2016 đến nay sẽ góp phần làm rõ vai trò của đối ngoại trong công cuộc phát triển
đất nước, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ngoại giao trong bối cảnh mới. 3 B. NỘI DUNG
1. Quá trình hình thành đường lối, chính sách đối ngoại đổi mới
của Đảng và Nhà nước ta
Đường lối, chính sách đối ngoại thời kỳ mới của Đảng và Nhà nước được xây
dựng trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó chính là tư tưởng làm bạn với tất cả
mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai; Tư tưởng "Không có gì quý hơn
độc lập, tự do", "kết hợp sức mạnh và sức mạnh thời đại", "đối ngoại dựa trên nguyên
tắc "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Hồ Chủ tịch. Đồng thời đường lối, chính sách đối
ngoại, kế thừa truyền thống đối ngoại vẻ vang của dân tộc, là lợi ích dân tộc là trên
hết, giữ vững nguyên tắc nhirng có sách lược thích hợp (khi cứng khi mềm), kết hợp
quân sự và ngoại giao - vừa đánh vừa đàm, biết mình biết người, gương cao ngọn cờ
chính nghĩa... Qua các kỳ đại hội Đảng, qua các cuộc họp của Trung ương, Bộ chính
trị, đường lối đó ngày càng được khẳng định, hoàn thiện:
Đại hội VI của Đảng (tháng 12 /1986):
Đảng chủ trương phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
trong điều kiện mới và đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước
ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, với các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức
và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Tháng 12/1987, Luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành. Tháng 5/1988, Bộ Chính trị ra Nghị
quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình tình mới, khẳng định
mục tiêu chiến lược và lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và
giữ vững hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế.
Đại hội VII của Đảng (tháng 6/1991):
Đề ra chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không
phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại
hòa bình”, với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong
cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Đại hội VII đã đổi 4
mới chính sách đối ngoại với các đối tác cụ thể. Với Lào và Campuchia, thực hiện
đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả trên tinh thần bình đẳng. Với Trung
Quốc, Đảng chủ trương thúc đẩy bình thường hóa quan hệ, từng bước mở rộng hợp
tác Việt -Trung. Trong quan hệ với khu vực, chủ trương phát triển quan hệ hữu nghị
với các nước Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, phấn đấu cho một Đông
Nam Á hòa bình, hữu nghị và hợp tác. Đối với Hoa Kỳ, Đại hội nhấn mạnh yêu cầu
thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.
Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (1/1994) xác định:
Triển khai mạnh mẽ và đồng bộ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng,
đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại, trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo là: giữ
vững nguyên tắc độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội đồng thời phải rất sáng tạo,
năng động, linh hoạt phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam
cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm từng đối tượng.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng (tháng 6/1996):
Đại hội xác định tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các
nước, các trung tâm kinh tế, chính trị khu vực và quốc tế. Đồng thời chủ trương “xây
dựng nền kinh tế mở và “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”.
Đại hội VIII xác định rõ hơn quan điểm đối ngoại với các nhóm đối tác như: ra sức
tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN;
không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống; coi trọng quan hệ
với các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị thế giới; đoàn kết với các
nước đang phát triển, với phong trào không liên kết; tham gia tích cực và đóng góp
cho hoạt động của các tổ chức quốc tế, các diễn đàn quốc tế.
Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001): 5
Đảng nhấn mạnh chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
theo tinh thần phát huy tối đa nội lực. Lần đầu tiên, Đảng nêu rõ quan điểm về xây
dựng nền kinh tế độc lập tự chủ: “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là
độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh. Xây
dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành
nguồn lực tổng hợp phát triển đất nước”.
Chủ trương xây dựng quan hệ đối tác được đề ra ở Đại hội IX đánh dấu bước
phát triển về chất tiến trình quan hệ quốc tế của Việt Nam thời kỳ đổi mới. Tháng
11/2001, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 07-NQ/TW về hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị
quyết đề ra 9 nhiệm vụ cụ thể và 6 biện pháp tổ chức thực hiện quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế. Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (ngày
5/1/2004) nhấn mạnh yêu cầu chuẩn bị tốt các điều kiện trong nước để sớm gia nhập
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4/2006):
Đại hội xác định thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa
bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích
cực hội nhập quốc tế; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách
nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn chủ động quyết định đường
lối, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế, không thể rơi vào thế bị động; phân tích lựa
chọn phương thức hội nhập đúng, dự báo được những tình huống thuận lợi và khó
khăn khi hội nhập kinh tế quốc tế. Tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là khẩn trương
chuẩn bị, điều chỉnh, đổi mới bên trong, từ phương thức lãnh đạo, quản lý đến hoạt
động thực tiễn; từ Trung ương đến địa phương, doanh nghiệp; khẩn trương xây dựng 6
lộ trình, kế hoạch, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật; nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp và nền kinh tế; tích cực, nhưng phải thận trọng, vững chắc.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (tháng 1/2011):
Đại hội xác định tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng
giềng; thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới
biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở luật pháp quốc tế và quy tắc
ứng xử của khu vực. Xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng
phát triển. Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng cộng đồng
ASEAN vững mạnh. Kết hợp chặt chẽ đối ngoại của Đảng với ngoại giao của Nhà
nước và ngoại giao nhân dân, giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và
ngoại giao văn hóa, giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Nâng cao hiệu quả hội
nhập quốc tế, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển nhanh,
bền vững. Phát huy vai trò và nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài vào phát triển đất nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (tháng 1/2016):
Đại hội xác định kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; kiên trì thúc đẩy giải quyết các
tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và nguyên
tắc ứng xử của khu vực; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất
nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và đưa vào
chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện
hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của
đất nước trên trường quốc tế. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội
nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước.
Triển khai đồng bộ hoạt động đối ngoại, cả về chính trị, an ninh, quốc phòng,
kinh tế, văn hóa, xã hội. Thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế và chủ động, tích 7
cực đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; khai thác tối đa
các cơ hội thuận lợi, hạn chế thấp nhất các tác động tiêu cực để mở rộng thị trường,
tranh thủ các nguồn lực bên ngoài cho phát triển. Nâng cao năng lực giải quyết các
tranh chấp đầu tư, thương mại quốc tế.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tháng 1/2021):
Đại hội xác định nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập
quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước. Gắn
kết chặt chẽ đối ngoại với quốc phòng, an ninh và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;
kiên trì, kiên định đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; đẩy mạnh
đưa quan hệ với các đối tác, đặc biệt là đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu, hiệu
quả, bền vững, tăng cường đan xen lợi ích; xử lý linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả mối
quan hệ với các nước lớn. Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương, kết hợp chặt
chẽ với đối ngoại song phương, thực hiện tốt các trọng trách quốc tế, nhất là trong
ASEAN, Liên hợp quốc và các khuôn khổ hợp tác ở châu Á - Thái Bình Dương. Kết
hợp chặt chẽ, hiệu quả công tác đối ngoại của Đảng với ngoại giao nhà nước và đối
ngoại nhân dân. Theo dõi sát diễn biến tình hình Biển Đông, kiên trì, kiên quyết bảo
vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế giải quyết các
tranh chấp bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp
quốc về Luật Biển năm 1982.
Nghị quyết 13 của Bộ chính trị khóa VI (5/1988):
Nhiệm vụ đối ngoại của Việt Nam trong tình hình mới là ra sức tranh thủ các
nước anh em, bè bạn và dư luận rộng rãi trên thế giới. Phân hóa hàng ngũ đối phương,
làm thất bại âm mưu cô lập ta về kinh tế và chính trị. Chủ động chuyển cuộc đấu
tranh từ trạng thái đối đầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình.
Hội nghị Trung ương 6 (3/1989), 7 (8/1989) và 8 (3/1990) khóa VI: 8
Đánh giá tình hình thế giới liên quan đến những biến động xảy ra ở Liên Xô
và các nước XHCN Đông Âu, nêu các nguyên tắc cơ bản cần được quán triệt trong
quá trình đổi mới; một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong
nước và quốc tế hiện nay. Hội nghị đã phân tích tình hình các nước xã hội chủ nghĩa,
sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta.
Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (6/1992):
Với nghị quyết chuyên đề về công tác đối ngoại, Đảng đã xác định nhiệm vụ
công tác đối ngoại, tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại, các phương châm xử lý
các vấn đề QHQT trong đó nhiệm vụ chủ chốt là khai thông quan hệ với các tổ chức
quốc tế trên thế giới và khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
2. Nội dung cơ bản của Đường lối, chính sách đối ngoại của Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới, hội nhập
2.1. Mục tiêu đối ngoại
Lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; tạo các điều kiện quốc tế
thuận lợi cho công cuộc đổi mới, để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của
Tổ quốc. Mở rộng đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế để tạo thêm nguồn lực đáp
ứng yêu cầu phát triển của đất nước; kết hợp nội lực với các nguồn lực từ bên ngoài
tạo thành nguồn lực tổng hợp để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; phát huy vai trò và nâng
cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
2.2. Nhiệm vụ đối ngoại
Nhiệm vụ chung là giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế. Trong đó: 9
- Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa;
- Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định
- Huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống của nhân dân
- Không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam.
- Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng,
ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.
Các nhiệm vụ có quan hệ qua lại, mật thiết với nhau. Giữ vững hòa bình, ổn
định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, phục vụ phát triển đất nước là nhiệm vụ
trung tâm, nâng cao vị thế uy tín đất nước là nhiệm vụ quan trọng
2.3. Nguyên tắc đối ngoại
- Đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết;
- Phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế: tôn trọng độc lập,
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp
thông qua thương lượng hòa bình; bình đẳng và cùng có lợi;
- Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, quản lý tập trung của Nhà nước.
- Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại
2.4. Quan điểm chỉ đạo công tác đối ngoại
Trong quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế quán triệt đầy đủ, sâu sắc các quan điểm: 10
Một là: Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính là xây dựng thành công và bảo vệ
vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng của Việt Nam.
Hai là: Giữ vững độc lập tự chủ, tự cường đi đôi với đẩy mạnh đa phương
hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại.
Ba là: Nắm vững 2 mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; cố gắng
thúc đẩy mặt hợp tác, nhưng vẫn phải đấu tranh dưới hình thức và mức độ thích hợp
với từng đối tác; đấu tranh để hợp tác; tránh trực diện đối đầu, tránh để bị đẩy vào thế cô lập.
Bốn là: Mở rộng quan hệ với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới,
không phân biệt chế độ chính trị xã hội. Coi trọng quan hệ hòa bình, hợp tác với khu
vực; chủ động tham gia các tổ chức đa phương, khu vực toàn cầu.
Năm là: Kết hợp đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân
dân. Xác định hội nhập kinh tế quốc tế là công việc của toàn dân.
Sáu là: Giữ vững ổn định chính trị, kinh tế - xã hội; giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Bảy là: Phát huy tối đa nội lực đi đôi với thu hút và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực bên ngoài; xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; tạo ra và sử dụng có hiệu
quả các lợi thế so sánh của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tám là: Trên cơ sở thực hiện các cam kết gia nhập WTO, đẩy nhanh nhịp độ
cải cách thể chế, cơ chế, chính sách kinh tế phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước.
Chín là: Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy
vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, tôn trọng và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. 11
Ngoài phương châm xử lý chung nhất, ở các thời kỳ khác nhau, Đảng và Nhà
nước Việt Nam bổ sung thêm những quan điểm và phương châm đối ngoại, chẳng hạn:
- Tăng cường song phương, nâng tầm đa phương (Đại hội XIII)
- Tình cảm, chân thành, tin cậy, bình đẳng, tôn trọng, hiệu quả và phát triển
(Hội nghị ngoại giao lần thứ 3)
2.5. Một số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập
1) Đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu: Đưa các mối quan hệ đối ngoại
phát triển theo chiều sâu; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, đưa
khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất, ưu tiên quan hệ với các nước láng giềng,
các nước lớn, các đối tác quan trọng đối với an ninh và phát triển của ta, các nước
bạn bè truyền thống, các nước khác…
2) Tranh thủ nguồn lực bên ngoài: Huy động, tranh thủ tối đa để phát triển đất
nước và bảo vệ Tổ quốc. Thu hút, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài:
nâng cao hiệu quả FDI, chú trọng chuyển giao công nghệ cao, trình độ quản lý tiên
tiến; Đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, đối tác cụ thể…
3) Kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp vào
công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an
ninh quốc gia; Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước (đối
tượng - đối tác, hợp tác - đấu tranh); Chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình
huống, không để rơi vào thể bị động, đổi đầu, bất lợi. Trong đầu tranh cần tính tới
lợi ích tổng thể của quốc gia - dân tộc
4) Thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển, an ninh, an toàn hàng hải, hàng
không trên cơ sở luật pháp quốc tế. Cùng cố đường biên giới hòa bình, an ninh hợp 12
tác và phát triển; giải quyết các vấn đề còn tồn tại liên quan đến đường biên giới trên
bộ với các nước láng giềng
5) Đối ngoại đa phương: Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đối ngoại đa
phương. Chuyền từ "tham dự" sang "chủ động và tích cực đóng góp xây dựng, định
hình các thể chế đa phương", "phát huy vai trò của Việt Nam trong việc xây dựng,
định hình các thể chế, cơ chế đa phương. Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa
phương. Cơ chế ưu tiên: ASEAN, Liên hợp quốc.
6) Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả công tác đối ngoại của Đảng với ngoại giao nhà
nước và đối ngoại nhân dân.
7) Nâng cao chất lượng hội nhập quốc tế. Chủ động, tích cực hội nhập quốc
tế gắn với nâng cao hiệu quả hội nhập; Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân
và cả hệ thống chính trị;
8) Nghiên cứu, dự báo: Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược,
tham mưu về đối ngoại.
9) Thực hiện nghiêm các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại đã ký kết.
10) Xây dựng nền ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển lấy người dân, địa
phương và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ
11) Thông tin, tuyên truyền đối ngoại: Đổi mới nội dung, phương pháp, nâng
cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại; bảo hộ công dân, đấu tranh ngăn chặn,
phản bác các thông tin, luận điệu sai trái, thù địch. Tăng cường và nâng cao hiệu quả
ứng dụng công nghệ truyền thông mới, mạng xã hội trong thông tin đối ngoại và đấu tranh dư luận.
12) Đội ngũ cán bộ: Nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách
chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại 13
13) Ngoại giao phòng, chống dịch bệnh: Việt Nam thể hiện vai trò tích cực
trong hợp tác quốc tế về phòng, chống dịch COVID-19.
3. Bình luận về kết quả triển khai chính sách trên thực tế.
3.1. Những kết quả đạt được về đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam
Nhờ thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới từ năm 1986 đến nay, Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công tác đối ngoại:
Một là, phá thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tạo dựng môi trường
quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày 10/11/1991, Việt
Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Ngày 11/7/1995, Việt Nam bình
thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ. Tháng 7/1995, Việt Nam ra nhập ASEAN, đánh
dấu sự hội nhập của Việt Nam với khu vực Đông Nam Á. Năm 1998, Việt Nam tham
gia Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Năm 2006, Việt
Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO),… Đến nay, Việt Nam đã thiết
lập quan hệ ngoại giao với 192 quốc gia trên thế giới (bao gồm 190/193 nước thành
viên Liên Hiệp quốc, góp phần định vị Việt Nam vững chắc hơn trong cục diện
chiến lược ở khu vực và trên thế giới.
Hai là, giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các
nước liên quan. Đàm phán thành công với Malaysia về giải pháp “gác tranh chấp,
cùng khai thác” ở vùng biển chồng lấn giữa hai nước. Thu hẹp diện tranh chấp vùng
biển giữa Việt Nam và các nước ASEAN. Đã ký với Trung Quốc Hiệp ước về phân
định biên giới trên bộ, Hiệp định phân Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác về nghề cá.
Ba là, mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa.
Lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam có quan hệ chính thức với tất cả các nước lớn,
kể cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; tháng 5/2008 14
thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc; ngày
13/7/2001, ký kết Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ.
Bốn là, tham gia các tổ chức quốc tế. Năm 1993, Việt Nam khai thông quan
hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân
hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB); sau khi gia nhập ASEAN
(tháng 7/1995) Việt Nam đã tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA);
tháng 11/1998, gia nhập tổ chức Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC); ngày 11/01/2007, Việt Nam được kết nạp là thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO).
Năm là, hoạt động đối ngoại đã và đang tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi
cho công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị - xã
hội. Cụ thể hoạt động đối ngoại thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanh chóng đua Việt
Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu
nhập trung bình thấp. Từ 2002 đến 2020, GDP đầu người tăng 3,6 lần, đạt gần 3.700
USD, với hơn 45 triệu người thoát nghèo, Giai đoạn 2016 - 2020 tốc độ tăng trưởng
GDP bình quân đạt 6%/năm (riêng năm 2020 tăng trưởng GDP vẫn đạt 2,91% là
mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới). Quy mô nền kinh tế đầu người tăng
lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779
USD). Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năn,
giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016 - 2020. Tỉ lệ nghèo (theo
chuẩn 1,9 USD/ ngày) giảm mạnh từ hơn 32% năm 2011 xuống còn dưới 2%. Bên
cạnh đó Việt Nam thu hút được vốn đầu tư ngày càng nhiều từ các quốc gia trên thế
giới và khu vực. Việt Nam cũng nhận được hỗ trợ đến từ các tổ chức quốc tế như
WB, EU, ADB hoặc từ các tổ chức phi chính phủ. Đối ngoại cũng góp phần hỗ trợ
cho hoạt động y tế trong thời kỳ đại dịch Covid-19: Việt Nam đã nhận được trên 151
triệu liều Vaccine và nhiều trang thiết bị y tế.
Sáu là, ngoại giao góp phần to lớn trong việc chăm lo cho cộng đồng, phát
huy nguồn lực của kiều bào, chúng ta đã triển khai bảo hộ cho hàng chục nghìn công 15
dân với các vụ việc liên quan chẳng hạn như trong năm năm từ 2016 đến 2021: bảo
hộ trên 50.000 công dân, xử lý hơn 600 vụ việc với 1000 tàu cá và bảo hộ 10.000
ngư dân, tổ chức 800 chuyến bay đưa hơn 200.000 công dân về nước an toàn trong đại dịch.
Bảy là, Việt Nam nhờ có đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn thủy chung
có quan hệ tốt với các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản, các phong trào đấu
tranh của lực lượng tiến bộ trên thế giới.
3.2. Bình luận về kết quả triển khai chính sách
Về chính trị - đối ngoại: Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong
lĩnh vực chính trị - đối ngoại, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và
củng cố vị thế trên trường quốc tế. Việc đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 và
Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020-2021
đã khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong các vấn đề quốc tế.
Việt Nam luôn thể hiện thái độ chủ động, tích cực trong việc giải quyết các vấn đề
khu vực và toàn cầu như bảo vệ hòa bình, an ninh, chống phổ biến vũ khí hạt nhân
và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đóng vai trò trung
gian trong nhiều cuộc đàm phán hòa bình, góp phần tạo dựng môi trường hòa bình,
ổn định trong khu vực Đông Nam Á và thế giới.
Về kinh tế: Chính sách ngoại giao kinh tế của Việt Nam đã đem lại nhiều kết
quả tích cực, đặc biệt là trong việc ký kết và thực thi các hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và RCEP. Các hiệp định này không chỉ mở rộng thị
trường xuất khẩu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam
tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng trưởng
mạnh mẽ trong giai đoạn 2016 - 2023, đặc biệt là các mặt hàng như dệt may, nông
sản, điện tử và linh kiện. Các hiệp định thương mại tự do giúp Việt Nam giảm bớt
sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống, đồng thời thúc đẩy cải cách thể chế
và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. 16
Về phòng, chống dịch bệnh: Việt Nam đã có những thành công đáng kể trong
việc phòng, chống dịch COVID-19 nhờ sự chủ động và linh hoạt trong đối ngoại.
Chính sách ngoại giao vắc-xin giúp Việt Nam nhanh chóng tiếp cận nguồn cung vắc-
xin từ các đối tác quốc tế, đồng thời tích cực tham gia sáng kiến COVAX và hợp tác
sản xuất vắc-xin. Việt Nam cũng thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế khi hỗ trợ vật
tư y tế và chia sẻ kinh nghiệm phòng, chống dịch với nhiều nước trên thế giới, qua
đó nâng cao hình ảnh và vị thế quốc tế.
Về an ninh - quốc phòng: Việt Nam đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
an ninh phi truyền thống như chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia và ứng phó
với biến đổi khí hậu. Việt Nam tích cực tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của
Liên Hợp Quốc, qua đó khẳng định vai trò là một thành viên tích cực, có trách nhiệm
trong cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức
trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến Biển
Đông. Cạnh tranh giữa các nước lớn và các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế gây
ra nhiều khó khăn trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia.
3.3. Một số vấn đề đặt ra trong công tác đối ngoại của Việt Nam
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện đường lối đối ngoại,
hội nhập kinh tế quốc tế cũng còn bộc lộ một số vấn đề hạn chế cần nghiên cứu, khắc phục:
Một là, trong quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn, Việt Nam chưa xây
dựng được quan hệ lợi ích đan xen, tùy thuộc lẫn nhau với các nước.
Hai là, có một số chủ trương, cơ chế, chính sách chậm được đổi mới so với
yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế; hệ thống luật pháp
chưa hoàn chỉnh, không đồng bộ, gây khó khăn trong việc thực hiện các cam kết của
các tổ chức kinh tế quốc tế.
Ba là, chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể về hội nhập kinh tế quốc
tế và một lộ trình hợp lý cho việc thực hiện các cam kết. 17
Bốn là, doanh nghiệp Việt Nam hầu hết quy mô nhỏ, yếu về quản lý và công
nghệ; trang thiết bị lạc hậu; kết cấu hạ tầng và các ngành dịch vụ cơ bản phục vụ sản
xuất - kinh doanh kém phát triển và có chi phí cao hơn các nước khác trong khu vực.
3.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại của Việt
Nam trong thời gian tới
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, góp phần
thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại, thúc đẩy các lợi ích an ninh và phát triển,
nâng cao hơn nữa vị thế quốc tế của đất nước, tác giả đề xuất cần thống nhất nhận
thức và tập trung thực hiện một số trọng tâm chính sau đây:
Một là, tiếp tục nhất quán nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và
Nhà nước quản lý thống nhất công tác đối ngoại; phối hợp chặt chẽ giữa 3 trụ cột
gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Qua đó tạo sức
mạnh tổng hợp của tất cả các bộ, ban, ngành, địa phương, sự đồng thuận của nhân
dân trong việc triển khai đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
Hai là, đề ra các phương hướng, biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả các
hoạt động đối ngoại, đưa quan hệ với các nước, nhất là các đối tác ưu tiên, quan
trọng thực sự đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình
đẳng, cùng có lợi, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc.
Ba là, xác định và đề ra biện pháp đóng góp tích cực hơn thực hiện hiệu quả
tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng, để hội nhập quốc tế thật sự tạo cơ hội thúc đẩy
phát triển kinh tế và tăng cường tiềm lực, sức mạnh tổng thể của quốc gia, góp phần
tạo động lực mạnh mẽ để đổi mới toàn diện đất nước, nâng cao đời sống nhân dân.
Bốn là, tăng cường hơn nữa sự phối hợp chặt chẽ quốc phòng - an ninh - đối
ngoại trong việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ của Tổ quốc, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển và
bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa. 18 C. KẾT LUẬN
Chính sách đối ngoại của Việt Nam từ năm 2016 đến nay đã đóng vai trò nòng
cốt trong việc củng cố môi trường hòa bình, ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội đất nước. Với phương châm nhất quán “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”,
Việt Nam đã từng bước mở rộng quan hệ đối tác chiến lược, nâng tầm vị thế quốc
gia trên trường quốc tế và đóng góp tích cực vào các vấn đề toàn cầu. Sự tham gia
có trách nhiệm vào các cơ chế đa phương như Liên Hợp Quốc, ASEAN, APEC và
các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã giúp Việt Nam không chỉ tận dụng
được cơ hội phát triển kinh tế, mà còn thể hiện vai trò là một thành viên tích cực
trong cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, quá trình triển khai chính sách đối ngoại vẫn
còn tồn tại một số hạn chế như thiếu sự đột phá trong các lĩnh vực hợp tác kinh tế -
kỹ thuật, khả năng thích ứng với các biến động nhanh chóng của tình hình thế giới
còn hạn chế và chưa khai thác hết tiềm năng hợp tác với một số đối tác quan trọng.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua nhiều thay đổi phức tạp, Việt Nam cần tiếp tục
phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong hoạt động ngoại giao, đồng
thời tăng cường năng lực dự báo, nghiên cứu chiến lược để tận dụng tối đa các cơ
hội và ứng phó hiệu quả với các thách thức, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia và thực
hiện mục tiêu phát triển bền vững. 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên) (2012). Một số vấn đề chính trị quốc tế trong
giai đoạn hiện nay. NXB Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
2. Hồ Chí Minh (2002). Toàn tập, Tập 5. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Hồ Chí Minh (2002). Toàn tập, Tập 8. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Đỗ Mười (1996), Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng
thế giới. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Đinh Xuân Lý (2003). Quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại thời kỳ đổi mới. Lịch sử Đảng, tr.12.
6. Nguyễn Duy Niên (2004). Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Thông tin đối ngoại, tr.9.
7. Lưu Thuý Hồng (Chủ nhiệm đề tài), Phạm Minh Sơn (2021). Đề tài cơ sở giáo
trình in sách Quan hệ quốc tế. Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Quan hệ quốc tế. 20