ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----- -----🙞🙜🕮🙞🙜
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Nội dung Cương lĩnh Chính trị đầu tiên phản ánh tầm nhìn thiên tài của Nguyễn Ái
Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hà Nội – 2025
Giảng viên :
Học phần :
Mã học phần :
Nhóm :
TS. Hồ Thị Liên Hương
Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
HIS1001 5
Nhóm 2
MỤC LỤC:
Chương 1: Bối cảnh Cương Lĩnh Chính Trị đầu tiên......................................................6
I. Bối cảnh Hội Nghị thành lập Đảng Cộng Sản:..........................................................6
1.1 Bối cảnh quốc tế:.............................................................................................6
1.2. Bối cảnh trong nước........................................................................................7
1.3. Kết luận: Tại sao buộc phải có Cương lĩnh chính trị đầu tiên vào năm 1930?. 8
II. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam:........................................................9
Chương 2: Nội dung Cương lĩnh Chính trị đầu tiên.....................................................11
Chương 3: Tầm nhìn thiên tài của Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam trong
Cương lĩnh chính trị....................................................................................................13
I. Xác định chính xác đường lối đi lên Xã hội cộng sản của cách mạng Việt Nam....13
1.1. Đường lối Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng:....................13
1.2. Con đường đi tới Xã hội cộng sản:.................................................................13
II. Xác định kẻ thù và mục tiêu chính:......................................................................14
III. Xác định được nhiệm vụ quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam..................15
IV. Xác định được lực lượng cách mạng chính.........................................................16
4.1 Lực lượng cách mạng là toàn thể nhân dân:..................................................16
4.2 Giai cấp lãnh đạo là giai cấp công nhân:.........................................................16
4.3 Giai cấp chính là giai cấp công – nông:...........................................................17
V. Muốn cách mạng thành công thì phải “tự lực cánh sinh”...................................18
5.1 Nguyễn Ái Quốc khẳng định phát huy tinh thần tự lực, tự cường là trách
nhiệm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong mọi chặng đường lịch sử.............18
5.2 Nguyễn Ái Quốc cho rằng tinh thần tự lực tự cường của dân tộc phải được
xây đắp bằng ý chí tự lực tự cường, tự lực cánh sinh của mỗi cá nhân...............19
5.3. Nguyễn Ái Quốc khẳng định việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường hoàn
toàn không loại trừ việc tranh thủ sự giúp đỡ của thế giới trên nguyên tắc lấy nội
lực làm nhân tố quyết định..................................................................................19
VI. Tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức trên thế giới.............20
VII. Muốn có được lòng dân thì phải đáp ứng được nhu cầu của nhân dân............21
VII. Cách mạng muốn thành công, thống nhất thì phải có một và duy nhất một
Đảng lãnh đạo:.........................................................................................................22
VIII. Cương lĩnh chính trị là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực
tiễn cách mạng Việt Nam.........................................................................................23
Chương 4: Ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị đầu tiên..................................................23
I. Tác động tới Cách mạng Tháng Tám:....................................................................23
II. Cương lĩnh chính trị là ngọn cờ soi sáng suốt chặng đường Đảng lãnh đạo Việt
Nam:........................................................................................................................24
III. Là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước ở VN trong thời đại mới...........................................25
IV. Mang tính tiến bộ, nhân văn...............................................................................25
V. Cương lĩnh chính trị đầu tiên trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.......25
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................................26
Chương 1: Bối cảnh Cương Lĩnh Chính Trị đầu tiên
I. Bối cảnh Hội Nghị thành lập Đảng Cộng Sản:
1.1 Bối cảnh quốc tế:
Từ cuối thế kỷ XIX, mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa chủ nghĩa thực
dân được đẩy lên tới đỉnh điểm. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước
Châu Á đầu thế kỷ XX cũng bởi vậy mà diễn ra mạnh mẽ, tác động lớn tới phong trào
yêu nước tại Việt Nam. [1]
Một điểm nhấn khác trong thời kỳ này sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới
thứ nhất (1914-1918). Đế quốc Pháp ra sức vét nguồn lực, nhân lực, tài lực của
nước ta trong suốt 4 năm tham chiến, tạo ra nhiều chuyển biến trong kinh tế
hội Việt Nam. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước bản như Pháp, Anh,...
trở nên suy yếu mâu thuẫn giữa các nước bản đế quốc ngày càng gay gắt, tạo
điều kiện thuận lợi cho các phong trào giải phóng dân tộc các nước thuộc địa,
trong đó Việt Nam: (Nhiều trí thức Việt Nam nhận ra sự suy yếu của Pháp các
nước đế quốc, thúc đẩy các phong trào chống thực dân mạnh mẽ hơn. Nguyễn Ái
Quốc (Hồ Chí Minh) sang Pháp (1917), bắt đầu hoạt động cách mạng theo hướng
mới.)
Vào giữa thế kỉ XIX, chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời như một vũ khí tư tưởng của
giai cấp công nhân trong thời kỳ phong trào đấu tranh công nhân nở rộ. Chủ nghĩa
Mác - Lênin dần dần truyền vào Việt Nam từ những năm 1920 với quá trình đầy
gam go, thử thách. Chủ nghĩa MácLênin chỉ ra rằng muốn giành được thắng lợi thì
phải lập ra Đảng cộng sản. Chính vì những tư tưởng tiến bộ, phù hợp với mong muốn
giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, nên chủ nghĩa Mác Lênin vẫn thể
truyền bá mạnh mẽ vào Việt Nam, trong bối cảnh nhiều luồngtưởng, dòng
cách mạng khác đan xen.
thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (năm 1917) đã đưa chủ nghĩa
Mác - Lênin từ luận trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài
người; ánh sáng soi đường giúp Đảng nhà nước ta đứng lên đấu tranh giải
phóng dân tộc sau này. Tại thời điểm đó, Việt Nam còn chịu ảnh hưởng bởi những
luồng tưởng bên ngoài như: Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc (1911),... Những sự
kiện này góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam, nâng cao nhận thức,
tưởng và tạo tiền đề cho việc thành lập các tổ chức yêu nước sau này.
Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời đã thúc đẩy sự phát
triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam, Quốc tế
Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.2. Bối cảnh trong nước
Năm 1919 - 1929, thực dân Pháp thi hành chính sách Khai thác thuộc địa lần II
- thực chất là tăng cường bóc lột, vơ vét thuộc địa. Pháp tăng cường cướp ruộng đất,
chú trọng vào việc khai mỏ, đánh thuế nặng hàng nhập khẩu… Tuy là kinh tế Việt
Nam đã phần phát triển nhưng lại càng khiến Việt Nam phụ thuộc vào Pháp. Bên
cạnh đó, Pháp lại tăng cường bóc lột nhân dân lao động. hội Việt Nam 2 mâu
thuẫn cơ bản là Dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp; nông dân và địa chủ phong kiến.
vậy, đời sống nhân dân lao động đã khó khăn, càng thêm khốn đốn. Hậu quả
Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến.
Đặc biệt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong
kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Hàng loạt phong trào yêu nước liên tiếp nổ ra nhằm
giải quyết mâu thuẫn cốt yếu đó. Tiêu biểu là phong trào dân chủ tư sản của Phan Bội
Châu, phong trào của Phan Châu Trinh,... Trong khi phong trào của Phan Bội Châu
(cùng các hoạt động như phong trào Đông Du, hoạt động trừ khử, tiêu diệt tên đầu
sỏ) đều thất bại do quá tin tưởng Nhật, các chiến lược bạo động không kế hoạch
phù hợp. Phong trào của Phan Châu Trinh thất bại do đi theo xu hướng ôn hòa, quá
tin tưởng Pháp. Từ đó, điểm chung của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tuy
diễn ra quyết liệt, song cuối cùng đều bị thất bại, thiếu một đường lối cứu nước
đúng đắn, thiếu một tổ chức lãnh đạo khả năng tập hợp sức mạnh của toàn dân
tộc. Điều này đặt ra vấn đề phải tìm ra một tổ chức lãnh đạo khả năng chỉ huy
và đưa ra những chiến lược đúng đắn cho dân tộc.
Mặt khác, sang đầu thế kỷ XX, giai cấp công nhânViệt Nam ra đời. Chịu ảnh
hưởng từ những cuộc đấu tranh của công nhân trên thế giới, đặc biệt là thắng lợi của
Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác Lênin, giai cấp công nhân tại Việt Nam
dần ý thức được quyền lợi bắt đầu tổ chức đình công, điển hình thể kể đến:
Cuộc Bãi công của công nhân Ba Son (1925), thợ dệt Nam Định, công nhân mỏ than
(1920s). Tuy nhiên, những phong trào này đều thất bại do chưa sự lãnh đạo
đường lối đúng đắn, chủ yếu chỉ mang tính tự phát. [2]
Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước và chuẩn bị cho Hội nghị thành lập Đảng
cộng sản Việt Nam
Trong bối cảnh đó, tháng 6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất
Thành đã rời Tổ quốc ra đi tìm con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Năm 1920,
Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin; đây không chỉ bước ngoặt đối
với cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, còn bước ngoặt của
cách mạng Việt Nam. luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã soi rọi cho Nguyễn Ái
Quốc: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì trước hết phải có “Đảng cách mệnh”
để “trong thì vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức
sản giai cấp mọi nơi”. Từ nhận thức đó Nguyễn Ái Quốc ra sức chuẩn bị mọi
mặt cho việc thành lập một chính đảng sản Việt Nam, Người từng bước truyền
hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước. Điều đó thể hiện thông qua
mạch thời gian: Từ 25/12/1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp
đứng hẳn về phía Quốc tế III. Người xuất bản tờ báo Le Paria làm cơ quan ngôn luận,
để truyền bá những tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin. Đến ngày 13/10/1923, Người
tham gia Đại hội I Quốc tế Nông dân ở Moskva… Người liên tiếp tham gia vào các sự
kiện, nhằm học hỏi các tưởng, mở đường đưa Chủ nghĩa Mác Lênin từ Liên về
Việt Nam.
Chỉ trong một thời gian ngắn Việt Nam đã ba tổ chức cộng sản được
tuyên bố thành lập. Cụ thể là ngày 17-6-1929, những đảng viên trong Chi bộ Cộng sản
5D Hàm Long đã tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Ngày 25-7-1929, An
Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ. Tháng 9-1929 Đông Dương Cộng sản
Liên đoàn được thành lập Trung Kỳ. Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của phong
trào đấu tranh cách mạng Việt Nam. Song sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt
động biệt lập trong một quốc gia nguy dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết
của cách mạng cần có một Đảng thống nhất lãnh đạo. Bởi vậy, Nguyễn Ái Quốc đã
dẫn tới quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng cộng sản duy
nhất ở Việt Nam. Đây cũng chính là thời điểm Hội nghị thành lập Đảng cộng sản được
tổ chức, cùng với sự ra đời của Cương lĩnh chính trị đầu tiên. [3]
1.3. Kết luận: Tại sao buộc phải có Cương lĩnh chính trị đầu tiên vào năm 1930?
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Việt Nam ra đời như một sự tất yếu, phục vụ
cho tình hình cách mạng cấp bách lúc bấy giờ. Để tóm gọn, có ba nguyên nhân chính
dẫn tới sự cần thiết của Cương lĩnh chính trị trong thời điểm trên:
1.3.1 Thứ nhất, tình hình cách mạng Việt Nam đòi hỏi một đường lối đúng
đắn.
· Những năm cuối thập niên 1920, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt
Nam diễn ra mạnh mẽ nhưng thiếu một tổ chức lãnh đạo thống nhất. Các tổ chức
cách mạng như Việt Nam Quốc dân Đảng, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên
nhiều hoạt động nhưng còn phân tán và chưa đề ra đường lối rõ ràng.
· Sự thất bại của các cuộc khởi nghĩa trong thời điểm này cho thấy con đường
đấu tranh trang theo kiểu bạo động quân sự không phù hợp với tình hình Việt
Nam. Điều này đặt rau cầu bức thiết phải một đường lối cách mạng khoa học,
đúng đắn để lãnh đạo phong trào.
1.3.2 Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đòi hỏi một cương lĩnh chính trị
để định hướng hoạt động
· Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất
ba tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông
Dương Cộng sản Liên đoàn). Tuy nhiên, một chính đảng muốn tồn tại lãnh đạo
phong trào cách mạng không thể hoạt động thiếu một cương lĩnh chính trị làm
kim chỉ nam.
· Cương lĩnh chính trị giúp thống nhất tưởng, mục tiêu, phương pháp đấu
tranh, từ đó quy tụ lực lượng cách mạng, tránh tình trạng phân tán, chia rẽ.
1.3.3 Thứ ba, hệ quả ảnh hưởng từ phong trào cộng sản quốc tếtưởng
Hồ Chí Minh
Sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) sự lớn mạnh của
Quốc tế Cộng sản đã khẳng định con đường cách mạng sản đúng đắn. Hồ Chí
Minh, với cách người tiếp thu chủ nghĩa Marx-Lenin, nhận thấy cần một
cương lĩnh chính trị để hướng dẫn cách mạng Việt Nam theo con đường cách mạng
vô sản.
· Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo đã vạch ra
nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, lập chính phủ
công nông binh, thực hiện các quyền tự do dân chủ, tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Việc ra đời Cương nh chính trị đầu tiên vào năm 1930 một bước ngoặt
quan trọng, giúp cách mạng Việt Nam thoát khỏi tình trạng khủng hoảng đường lối,
xác định phương hướng phương pháp đấu tranh. cũng đặt nền móng vững
chắc cho sự phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi
từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
II. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam:
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) diễn ra từ ngày 6/1 đến
ngày 7/2 năm 1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc, với sự tham gia của các đại diện từ
hai tổ chức cộng sản Đông Dương Cộng sản Đảng An Nam Cộng sản Đảng. Mục
tiêu của hội nghị hợp nhất ba tổ chức thành Đảng Cộng sản Việt Nam xác định
chiến lược cách mạng cho Đảng.
Hội nghị thảo luận, tán thành ý kiến chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, thông qua
các văn kiện quan trọng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo: Chánh cương vắn tắt
của Đảng (cương lĩnh chính trị đầu tiên) , Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình
tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, Chánh
cương vắn tắt của Đảng chính là bản cương lĩnh chính trị đầu tiên.
Chương 2: Nội dung Cương lĩnh Chính trị đầu tiên
2.1. Về đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam
Cương lĩnh xác định cách mạng Việt nam thuộc ,phạm trù cách mạng sản
trong đó độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết, là bước đi đầu tiên để tiến tới xã hội
cộng sản. Đảng chủ trương thực hiện cách mạng sản dân quyền thổ địa cách
mạng nhằm từng bước đi lên chủ nghĩa hội, kết hợp chặt chẽ giải phóng dân tộc
và giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
2.2.Về nhiệm vụ và mục tiêu của cách mạng
Cương lĩnh đề ra nhiệm vụ cấp bách trên các phương diện chính trị, hội và
kinh tế. Nhiệm vụ trước mắt đánh đế quốc Pháp bọn phong kiến. Về phương
diện chính trị: Đánh đổ thực dân Pháp, giành độc lập, thành lập Chính phủ Công
nông binh tổ chức ra quân đội công nông. Đảm bảo nhân Về phương diện hội:
dân được tự do tổ chức, nam nữ bình đẳng, giáo dục phổ thông theo hướng công
nông hóa Xóa bỏ hết các thứ quốc trái, thâu hết sản nghiệp. Về phương diện kinh tế:
lớn của Pháp (như công nghiệp, vận tải,...) giao cho Chính phủ công nông binh quản
lý, chia ruộng đất cho dân cày nghèo, phát triểnng - nông nghiệpthi hành luật
làm 8 giờ một ngày.
2.3. Về lực lượng cách mạng
Cương lĩnh xác định công nhân, nông dân, tiểu sản, trí thức, trung nông,...
người Việt Nam yêu nước lực lượng cốt cán dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với công
nhân lực lượng lãnh đạo cách mạng chính, đóng vai trò nòng cốt, tiên phong. Tiếp
đến là - lực lượng đông đảo nhất và là đồng minh chủ yếu của cônggiai cấp nông dân
nhân, đóng vai trò quyết định trong phong trào thổ địa cách mạng. Tầng lớp tiểu
sản, trí thức, trung nông là lực lượngxu hướng yêu nước, Đảng cần tranh thủ tập
hợp họ vào hàng ngũ cách mạng để gia tăng sức mạnh đấu tranh. Cuối cùng tầng
lớp phú nông, trung, tiểu địa chủ, sản dân tộc thể tạm thời trung lập hoặc lợi
dụng để phục vụ cách mạng, tuy nhiên không phải lực lượng chính.
2.4. Về vấn đề đoàn kết quốc tế
Cương lĩnh xác định cách mạng Việt Nam bộ phận của cách mạng thế giới,
Sách lược vắn tắt viết: “Trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập,
phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp
thế giới, nhất là sản giai cấp Pháp”. Nội dung này thể hiện kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam
với phong trào công nhân quốc tế, với phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp
bức và với nhân loại tiến bộ là một vấn đề khách quan.
2.5. Về phương pháp cách mạng
Cương lĩnh xác định phương pháp thực hiện độc lập dân tộc, tiến lên xây dựng
chủ nghĩa hội phải tiến hành bằng con đường cách mạng, sử dụng phương pháp
cách mạng bạo lực; không đi vào con đường cải lương, thỏa hiệp
2.6. Về vấn đề đoàn kết quốc tế
Cương lĩnh xác định cách mạng Việt Nam bộ phận của cách mạng thế giới,
Sách lược vắn tắt viết: “Trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập,
phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp
thế giới, nhất là sản giai cấp Pháp”. Nội dung này thể hiện kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam
với phong trào công nhân quốc tế, với phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp
bức và với nhân loại tiến bộ là một vấn đề khách quan.
2.7. Về phương pháp cách mạng
Cương lĩnh xác định phương pháp thực hiện độc lập dân tộc, tiến lên xây dựng
chủ nghĩa hội phải tiến hành bằng con đường cách mạng, sử dụng phương pháp
cách mạng bạo lực; không đi vào con đường cải lương, thỏa hiệp. Đảng đã quán triệt
sâu sắc quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về bạo lực cách mạng và đây cũng một
trong những yếu tố hết sức quan trọng để đưa tới thắng lợi của cách mạng Việt Nam
trong đấu tranh giành chính quyền và trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.
Đảng đã quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin về bạo lực
cách mạng và đây cũng một trong những yếu tố hết sức quan trọng để đưa tới thắng
lợi của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành chính quyền và trong các cuộc đấu
tranh chống ngoại xâm.
2.8. Về vai trò lãnh đạo của Đảng
Cương lĩnh xác định lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam là Đảng Cộng sản
Việt Nam, “đội tiên phong của sản giai cấp”. Nội dung này vừa khẳng định vai trò
bản chất giai cấp của Đảng, vừa sự định hướng quan trọng cho công tác xây
dựng Đảng.
Chương 3: Tầm nhìn thiên tài của Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản
Việt Nam trong Cương lĩnh chính trị
I. Xác định chính xác đường lối đi lên hội cộng sản của cách mạng Việt
Nam
1.1. Đường lối Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng:
Đường lối chiến lược Chủ trương làm sản dân quyền cách mạng thổ
địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã đưa ra những vấn đề trong giành độc lập dân tộc, giải quyết
những mâu thuẫn bản trong hội Việt Nam còn hướng tới xây dựng chủ
nghĩa xã hội sau khi cách mạng thành công.
Về Chủ trương tư sản dân quyền, tức là là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
tức giành độc lập cho dân tộc, đánh đổ đế quốc xâm lược. Giải phóng dân tộc
chính là cốt lõi của chủ trương tư sản dân quyền. Bác đưa ra chủ trương này vì chỉ có
chủ trương sản dân quyền mới có thể giải quyết được mâu thuẫn bản của đất
nước, đó là dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp.
Về thổ địa cách mạng, tức cách mạng ruộng đất. Nhân dân lúc bấy giờ bị
chịu cảnh bần cùng hóa, ruộng đất bị tịch thu, chịu thuế cao, nông phẩm làm ra phải
bán hạ giá. Do đó, cần giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân mới khiến kinh tế
phát triển, phải thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa để chia cho dân cày nghèo
để xã hội công bằng, tự do.
Vậy nhìn chung, Người đã nhận thức mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề
dân tộc vấn đề giai cấp. Đây không chỉ một lựa chọn mang tính luận còn
xuất phát từ sự phân tích khoa học về tình hình thực tiễn của Việt Nam xu thế
phát triển của cách mạng thế giới. Nếu chỉ giành độc lập không xóa bỏ chế độ
phong kiến và chấm dứt sự bóc lột giai cấp thì người lao động vẫn chưa thực sự được
giải phóng.
1.2. Con đường đi tới Xã hội cộng sản:
Trong cương lĩnh chính trị đầu tiên, Bác đã xác định con đường cách mạng
“đi tới hội cộng sản”, nằm trong phạm trù của cách mạng sản. Đây chính
bước đi tất yếu để đưa Việt Nam tiến lên xã hội chủ nghĩa.
Về việc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau khi cách mạng thành công, Người có tầm
nhìn thiên tài khi xác định độc lập dân tộc phải gắn với chủ nghĩa hội, chứ không
phải giai đoạn bản chủ nghĩa. Bởi vì, Người thấm nhuần tưởng của Chủ Nghĩa
Mác - Lênin, việc bỏ qua giai đọan tư bản chủ nghĩa chỉ là “con đường rút ngắn”, tức
chọn lọc, kế thừa, điều chỉnh định hướng các thành tố phát triển, các
đ ng lực phát triển và xu hướng phát triển theo những yếu tố của thời đại qui định.
Bên cạnh đó, việc phát triển theo nền chủ nghĩa nào còn tùy thuộc vào tình
hình, sự phát triển trong nước. Lúc bấy giờ, nhân dân đều trong tình trạng khốn khổ:
Công nhân bị sa thải hoặc hưởng đồng lương chết đối, nông dân chịu thuế cao, tiểu
thương, tiểu chủ bị phá sản. Nhân dân đều mong muốn được giải thoát khỏi ách bức.
hội Việt Nam lúc đó chịu sự mâu thuẫn sâu sắc giữa người bóc lột bị bóc lột,
giữa tư tưởng mới và cũ, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rõ con đường cách mạng cần
phải thực hiện đó giành lấy lại được độc lập dân tộc, xóa bỏ hệ thống phong kiến
đồng thời đưa hội Việt Nam chuyển mình, tiến lên chủ nghĩa hội - một hội
công bằng, dân chủ, nơi mọi người được hưởng quyền tự do hạnh phúc thực sự.
Ngoài ra, bối cảnh đất nước Việt Nam đi từ nước thuộc địa phong kiến lạc hậu,
sản xuất, hình thái kinh tế đều lỗi thời, khó để gắn với tư bản chủ nghĩa. Ngoài ra, đối
với Nguyễn Ái Quốc, chỉ cách mạng thành công chưa đủ. Cách mạng thành công,
nhưng muốn giữ được kết quả đó về lâu dài tchắc chắn hội Việt Nam cần phải
phát triển đủ mạnh để thể đầy đủ tiềm lực phòng, chống với các thế lực thù
địch vẫn đang “nhăm nhe” để tiếp tục tiến hành xâm lược Việt Nam. Chínhtưởng
trên đã thúc đẩy Nguyễn Ái Quốc đưa vấn đề “tập trung xây dựng nhà nước hội
chủ nghĩa sau khi cách mạng thành công” vào Cương lĩnh chính trị, mở ra tiền đề cho
sự phát triển bền vững của Nhà nước cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó,
Đảng cái nhìn toàn diện khi xác định tình hình hiện tại của đất nước Việt Nam
đưa ra phương hướng phù hợp cho dân tộc.
II. Xác định kẻ thù và mục tiêu chính:
Cương lĩnh chính trị đã viết “Chống đế quốc chống phong kiến đều hai
nhiệm vụ cơ bản, trong đó, chống đế quốc là nhiệm vụ hàng đầu”.
Về đưa chống đế quốc lên nhiệm vụ hàng đầu, Bác đã tầm nhìn chiến lược
khi xác định được kẻ thù mục tiêu chính của dân tộc. Khi đó, hội Việt Nam
hai mâu thuẫn bản đó là: Dân tộc Việt Nam thực dân Pháp; Nông dân địa
chủ phong kiến. Trong khi đó, nông dân bị cướp ruộng đất, bị bóc lột nặng nề bởi giai
cấp địa chủ phong kiến, nhưng Bác vẫn chọn mâu thuẫn bản nhất dân tộc Việt
Nam thực dân Pháp. Điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bác khi xác định
được những nét đặc thù của Việt Nam so với các quốc gia khác, đặc biệt các nước
phương Tây. Nếu như ở phương Tây, mâu thuẫn giai cấp đã trở nên sâu sắc thì ở Việt
Nam, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với chủ nghĩa thực dân Pháp và bè lũ tay sai là
mâu thuẫn hàng đầu, diễn ra phổ biến trong thời gian ấy. Bên cạnh đó, Bác cũng xác
định được , nguyên nhân khiến giai cấp địa chủ phong kiến bịPháp kẻ thù chính
phân hóa, tham gia vào ủng hộ Pháp. Dưới tầng lớp của Pháp, tầng lớp phong kiến
đã mất phần lớn quyền lực, nhiều địa chủ quan lại trở thành tay sai cho Pháp.
Ngoài ra, việc vàoảnh hưởng từ tưởng Mác Lênin, đặc biệt Quốc tế Cộng sản
những năm 1930 đang thúc đẩy các nước thuộc địa đấu tranh giải phóng dân tộc.
Người cho rằng, trong hai nhiệm vđánh đổ đế quốc đánh đổ phong kiến,
cần tập trung cho nhiệm vụ đánh đổ đế quốc giành độc lập dân tộc, còn đánh đổ
phong kiến thực hiện sau. Lần đầu tiên vấn đề giải phóng dân tộc được đặt lên hàng
đầu, là điều kiện tiên quyết để đưa nhân dân ta thoát khỏi ách nô lệ. Tầm nhìn thiên
tài của Bác thể hiện rõ trong việc vận dụng tưởng Mác Lênin vào hoàn cảnh thực
tế nước ta lúc bấy giờ để chỉ ra thực dân Pháp kẻ thù chính đưa nhiệm vụ giải
phóng dân tộc lên hàng đầu.
III. Xác định được nhiệm vụ quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam
Ngay sau khi xác định được mục tiêu của cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái
Quốc với tầm nhìn chiến lược vượt thời đại đã nhận thức được nhiệm vụ quan trọng
của cách mạng Việt Nam cần được thực hiện đó là “Phản đế và phản phong”.
Về cuộc cách mạng phản đế chống lại đế quốc, thì đây là cuộc đấu tranh đánh
đuổi ngoại xâm, chấm dứt mọi hình thức bóc lột giành lại độc lập dân tộc. Nếu
không chấm dứt được được sự can thiệp thì mọi nỗ lực cải tạo hội không thể bền
vững.
Về cuộc cách mạng phản phong thì sau khi giành được độc lập nhiệm vụ tiếp
theo là mới đảm bảo được rằng độc lập không chỉ tự chủ vềlật đổ chế độ phong kiến
chính trị mà còn mở đường cho xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Bởi, giai cấp phong kiến là giai cấp có quyền lợi mâu thuẫn với giai cấp tư sản, chế độ
phong kiến kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế bản, vì thế lật đổ chế độ phong
kiến mục tiêu hàng đầu của cách mạng sản. Việc lật đổ chế độ phong kiến
điều kiện để mang lại thuận lợi cho cuộc cách mạng phía sau, từ đó sẽ đảm bảo được
sự phát triển lâu dài. Đây chính con đường duy nhất để bảo vệ nền độc lập
mang lại hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam ta.
Từ đó, Người đã liên kết chặt chẽ hai nhiệm vụ Phản đế và Phản phong thay vì
xem chúng các cuộc đấu tranh riêng lẻ. Người nhận thấy rằng phản đế phản
phong hai mặt của cùng một đồng tiền, chỉ khi giành lấy lại độc lập thoát khỏi sự
đô hộ của đế quốc đồng thời lật đổ chế độ phong kiến thì mới xây dựng được một
nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Nhiệm vụ trên vừa phản ánh đúng tình hình thực tế, hội cần được giải
quyết ở Việt Nam, vừa thể hiện tính cách mạng, toàn diện, triệt để là xóa bỏ tận gốc
ách thống trị, bóc lột khắc của ngoại bang, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp, giải phónghội đặc biệt là giải phóng công nhânnông dân. Từ đó, ta có
thể thấy được tưởng sự thấu hiểu sâu sắc quy luật lịch sử, khẳng định tài
năng kiệt xuất trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn hội Việt
Nam. Người không máy móc rập khuôn hình cách mạng sản của các nước
Châu Âu linh hoạt điều chỉnh để phù hợp với tình hình của đất nước thuộc địa
nửa phong kiến. Nhờ sự sáng tạo vượt trội này, Người đã giúp cách mạng Việt Nam
đi đúng hướng, vượt qua mọi thử thách để giành thắng lợi hoàn toàn.
IV. Xác định được lực lượng cách mạng chính
4.1 Lực lượng cách mạng là toàn thể nhân dân:
Nguyễn Ái Quốc có tầm nhìn thiên tài khi xác định lực lượng cách mạng: “Phải
đoàn kết công nhân, nông dân - đây là lực lượng cơ bản, trong đó giai cấp công nhân
giai cấp lãnh đạo, đồng thời chủ trương đoàn kết tất cả giai cấp, thu phục đại bộ
phận giai cấp cho mình.”
Về việc thể nói,xác định lực lượng cách mạng toàn thể nhân dân,
Nguyễn Ái Quốc xác định điều đó dựa vào tiêu chí “bị áp bức”. Điều này xuất phát từ
thực tiễn nước ta những năm 20 của thế kỷ XX, sự thất bại của các phong trào yêu
nước theo khuynh hướng dân chủ sản làm cho đất nước rơi vào khủng hoảng
đường lối cứu nước lực lượng lãnh đạo do chưa nhận thức đầy đủ về sự phân
hóa giai cấp trong hội nên các bậc tiền bối vẫn còn hạn chế trong cách nhìn nhận
về lực lượng cách mạng, đó là không xác định được lực lượng chính của cách mạng là
công nhân và nông dân, các giai cấp, tầng lớp khác, như sản dân tộc, tiểu sản,
trí thức, địa chủ, phú nông, thậm chí cả các chức sắc tôn giáo Việt Nam..., đều
những người dân chịu nỗi nhục mất nước, chịu sự cai trị của thực dân Pháp. Phần
lớn các giai tầng trong xã hội đều có điểm chung là lòng yêu nước, đều bị áp bức bóc
lột và là khát vọng độc lập, tự do. Bên cạnh đó, để có thể giải phóng cho toàn dân tộc
cần số lượng đông đảo nhân dân.
4.2 Giai cấp lãnh đạo là giai cấp công nhân:
Về giai cấp lãnh đạo, Đảng tầm nhìn thiên tài thông qua việc xác định giai
cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo chứ không phải giai cấp khác. Xét về bối cảnh, giai
cấp công nhân ra đời vào năm 1920 gắn với sự kiện thành lập Công hội Ba Son ở Sài1
Gòn. Tính đến năm 1930, giai cấp công nhân vẫn là một giai cấp mới , tương đối non2
trẻ, chưa phát triển về số lượng, trình độ nghề nghiệp và một số mặt về chất lượng .3
Tuy nhiên, Đảng có tầm nhìn thiên tài khi vẫn lựa chọn giai cấp công nhân giai cấp
lãnh đạo, chứ không phải giai cấp khác. Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, giai cấp
công nhân luôn lực lượng tiên phong của cách mạng Việt Nam, luôn giữ vai trò, vị
trí trung tâm, quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Giai cấp
công nhân xuất phát từ những người nông dân yêu nước, tinh thần cách mạng.
Bên cạnh đó, giai cấp công nhân những ưu điểm chỉ họ mới có: Tính cách
kiên quyết, triệt để, tập thể, tổ chức, kỷ luật, đại diện cho lực lượng sản xuất
tiến bộ; trong lực lượng với kiến thức về công nghệ, về sảngiai cấp tiên tiến nhất
xuất lao động; giai cấp tri thức nên thấm nhuần tưởng cách mạng, tức
chủ nghĩa Mác - Lênin . Với những đặc điểm đó, giai cấp công nhân đã đóng vai trò4
làm chủ đất nước, được xác định trong Cương lĩnh đầu tiên của đảng “là giai cấp
lãnh đạo cách mạng, nòng cốt trong khối liên minh công - nông”.
4.3 Giai cấp chính là giai cấp công – nông:
Về giai cấp nòng cốt, giai cấp nông dân là giai cấp số lượng đông nhất và là
lực lượng bản của cách mạng. Mặc họ cũng không khả năng tự xây dựng
một chế độ hội mới, không lực lượng lãnh đạo cách mạng chính .Tuy nhiên,5
Nguyễn Ái Quốc đã xác định được giai cấp nông dân đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong cách mạng Việt Nam. Người đã khẳng định: “Nông dân một lực lượng rất to
lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân . Trong6
những năm tháng lầm than của cả dân tộc, nhân dân ta “một cổ ba tròng”, thì phong
1Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam”, Ban Tuyên giáo Trung ương -
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ngày truy cập: 25/02/2025.
2 “Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam”, Ban Tuyên giáo Trung ương -
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ngày truy cập: 25/02/2025.
3 Đại tá, PGS. Bùi Đình Bôn, Tạp chí điện tử Lao “Những đặc điểm chủ yếu của giai cấp công nhân Việt Nam”,
động và Công đoàn. Ngày truy cập: 26/02/2025.
4 “Vì sao công nhân là giai cấp lãnh đạo?”, Quân đội nhân dân. Ngày truy cập: 26/02/2025.
5 Báo Quân khu 7, “Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo thì giai cấp nông dân
mới được giải phóng”. Ngày truy cập: 26/02/2025.
6 “Đề cuơng tuyên truyền Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2018 -
2023”, Ban Tuyên giáo Trung ương - Trung ương Hội Nông dân Việt Nam. Ngày truy cập: 27/02/2025.
trào yêu nước của nông dân “bà đỡ” cho phong trào công nhân phát triển
điều kiện thúc đẩy cho Đảng ra đời.”7
Ngoài xác định lực lượng cách mạng chính khối liên minh công - nông,
Cương lĩnh còn chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, các lực lượng tiến bộ, yêu
nước để tập trung chống đế quốc tay sai, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, bao
gồm: Công nhân, Nông dân, Tiểu tư sản, Trí thức, Trung nông...; tranh thủ, làm trung
lập phú nông, trung, tiểu địa chủ, sản. Đối với những giai cấp khác nhau lại
những chiến lược, cách để thu phục khác nhau . Từ đó, ta thấy Bác đã áp dụng xuất8
sắc . Trong Tuyên ngôn củahệ thống chủ nghĩa Mác nin vào thực tiễn Việt Nam
Đảng Cộng sản, C.MácPh.Ăngghen đã nói đến khả năng và sự cần thiết phải đoàn
kết giai cấpsản với các tầng lớp trung gian, nhấn mạnh vào vai trò quan trọng của
liên minh công – nông. Nguyễn Ái Quốc đã học hỏi từ những kinh nghiệm đó, nhưng
đưa thêm lực lượng của cách mạng toàn thể nhân dân để thể thực hiện nhiệm
vụ “Giải phóng dân tộc”. Nguyễn Ái Quốc tầm nhìn sâu sắc khi hiểu bản chất
đặc điểm của từng giai cấp để đưa ra các phương pháp thu phục hợp lý, hiệu quả.
V. Muốn cách mạng thành công thì phải “tự lực cánh sinh”
Tuy Nguyễn Ái Quốc không đề cập đến vấn đề “tự lực cánh sinh” trong Cương
lĩnh chính trị, tuy nhiên, ta thể suy ra luận điểm này dựa vào phương pháp tiến
hành cách mạng: “Con đường bạo lực, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được
thỏa hiệp” và mục tiêu cách mạng vô sản.
Về con đường bạo lực, tức tiến hành bạo lực trang, tự chuẩn bị từ nhân
lực tới chiến lược, khí, đặc biệt không thỏa hiệp, phụ thuộc vào quốc gia nào,
chỉ phụ thuộc vào chính bản thân mình. Về cách mạng sản, tức là “một cuộc cách
mạng xã hội trong đó giai cấp công nhân cố gắng lật đổ giai cấp tư sản. Các cuộc cách
mạng vô sản nói chung được những người theo chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
hầu hết những người chính phủ ủng hộ . Tương tự, Việt Nam, cách mạng9
sản dựa vào khối liên minh công - nông là chính, với công nhân là lực lượng nòng cốt.
Đây đều những giai cấp nhân dân Việt Nam bị áp bức, được Người xác định sẽ
“đứng lên” kháng chiến, chứ không dựa vào những thế lực bên ngoài như những
7 Hội Nông dân Việt Nam, “Vị trí, vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân của
Việt Nam.”, Nhân vật - Sự kiện, Chuyên trang thông tư liệu của thông tấn xã Việt Nam. Ngày truy cập:
27/02/2025.
8 “Cương lĩnh chính trị đầu tiên”, Hồ Chí Minh.
9 Phạm Đại Phước, “Cách mạng vô sản là gì? Ví dụ cụ thể? Nhiệm vụ của cách mạng vô sản? Cách mạng vô sản
ở Việt Nam do giai cấp công nhân lãnh đạo đúng không?”, Thư viện pháp luật. Ngày truy cập: 27/02/2025.
cuộc cách mạng đã thất bại của các tiền bối đi trước. Chính từ điều này, ta có thể suy
ra rằng, Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện tầm nhìn thiên tài của mình thông qua việc xác
định Việt Nam cần “tự lực cánh sinh” chứ không thể cách mạng một cách “phụ
thuộc”.
5.1 Nguyễn Ái Quốc khẳng định phát huy tinh thần tự lực, tự cường trách
nhiệm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong mọi chặng đường lịch sử.
biểu hiện của ý chí tinh thần độc lập, tự chủ, ngay từ khi tiếp cận chủ
nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã hiểu rằng: Nếu biến luận Mác - Lênin thành
“kinh thánh” “công thức sáo mòn” thì tức đã gạt bỏ ra khỏi cuộc sống.
thế, Người đã rất sáng tạo trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn
của cách mạng Việt Nam. Bởi, Nguyễn Ái Quốc không chỉ làm cho học thuyết Mác -
Lênin được thông qua việc giúp nhân“Việt hóa”, thích ứng với điều kiện Việt Nam
dân Việt Nam thoát khỏi tâm lý thụ động để phát huy truyền thống tự lực, tự cường
của dân tộc để đi đến những thắng lợi vĩ đại.
Theo Nguyễn Ái Quốc, nhân dân Việt Nam không chỉ cần tlực, tự cường về
tinh thần việc xây dựng chế độ mới, đưa miền, mà còn phải tự lực tự cường cả trong
Bắc Việt Nam vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Về tinh thần, với sự trải nghiệm của
một người đã từng đi “năm châu, bốn biển”, ngay sau Cách mạng Tháng Tám,
Nguyễn Ái Quốc đã cho rằng nền văn hóa mới của Việt Nam phải góp phần tẩy bỏ
tâm lệ để xây dựng một tinh thần mới - “tinh thần độc lập tự cường”. Về xây
dựng hội, Nguyễn Ái Quốc chủ trương Thực hiện nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự
lực, tự cường trong mọi công việc từ sản xuất đến xây dựng Tổ Quốc. Người yêu cầu:
“Trước đây, nhân dân ta đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng
chiến, thì ngày nay chúng ta càng phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm
xây dựng nước nhà”. Người căn dặn, trong mọi hoàn cảnh, luôn phải “lấy tự lực cánh
sinh làm gốc để ứng phó với mọi phát triển của tình hình; tình hình ấy thuận lợi
hay gay go thì ta vẫn chủ động” bởi sự chủ động sẽ mang đến hội thành công
mọi sự phụ thuộc, lệ thuộc đều dẫn đến việc đánh mất quyền độc lập dân tộc.
5.2 Nguyễn Ái Quốc cho rằng tinh thần tự lực tự cường của dân tộc phải được
xây đắp bằng ý chí tự lực tự cường, tự lực cánh sinh của mỗi cá nhân.
Tính tự lực, tự cường không chỉ việc cả dân tộc cùng cố gắng, còn xuất
phát từ ý chí của mỗi một con người. Tự lực tự cường không chỉ giúp mỗi con người
thành công còn giúp họ trở thành những người lòng tự trọng, hiểu biết
một cuộc đời hữu ích. Do đó, mỗi người dân phải tự tìm việc làm, tự lên kế hoạch, tự
vượt qua khó khăn để đạt được kết quả tốt nhất trong công việc; mỗi khi gặp khó
khăn thì tinh thần tự lực, tự cường trong họ càng phải được trỗi dậy và phát huy cao
độ. Tự lực, tự cường phẩm chất cao quý người đạo đức, lòng tự trọng
phải có nên trong nhà trường, ngoài việc giáo dục cho học trò lòng yêu nước thương
nòi thì “phải dạy cho họ có chí tự lập tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết
không chịu làm nô lệ”.
5.3. Nguyễn Ái Quốc khẳng định việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường hoàn
toàn không loại trừ việc tranh thủ sự giúp đỡ của thế giới trên nguyên tắc lấy
nội lực làm nhân tố quyết định.
Với tư duy biện chứng, Nguyễn Ái Quốc thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa nội
lực ngoại lực Người luôn khẳng định: Tăng cường sức mạnh nội lực không
nghĩa là đóng kín, khước từ sự giúp đỡ ở bên ngoàilà phải tìm mọi cách gia tăng
sự ủng hộ của thế giới để nhân lên sức mạnh của nội lực Ngay trong cuộc sống của.
mỗi con người, nhiều việc nếu được người khác giúp đỡ thì sẽ trở nên dễ dàng
hơn. Dù vậy, nội lực luôn giữ vai trò quyết định, ngoại lực chỉ gia tăng sức mạnh cho
nội lực. Hơn nữa, sự giúp đỡ bên ngoài phải thông qua lực lượng bên trong mới phát
huy được tác dụng. Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Muốn người ta giúp cho, thì trước
mình phải tự giúp lấy mình đã”. Chính vì xác định được điều đó, Nguyễn Ái Quốc đã
luôn cân bằng hai yếu tố là tự lực cánh sinh và đoàn kết quốc tế, không để cho yếu tố
nào lấn át yếu tố nào.
VI. Tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức trên thế giới
Trong bản Cương lĩnh chính trị, Nguyễn Ái Quốc đã viết: Trong khi tuyên
truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên
lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”10
Nguyễn Ái Quốc luôn khẳng định sự gắn kết chặt chẽ, mật thiết giữa cách
mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: đặc biệt Cách mạng Tháng Mười Nga
(1917). Những cuộc cách mạng này đều thể hiện những giá trị chung của chủ nghĩa
cộng sản và tư tưởng “độc lập - tự do - hạnh phúc”.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Người nhận thức sâu sắc việc
phát huy sức mạnh toàn dân, đoàn kết toàn dân tộc một yếu tố quyết định, đồng
thời cần tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn quốc tế. Kháng chiến của ta
10 Trích “Sách lược vắn tắt”.
kháng chiến trường kỳ “dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ
giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em của nhân dân yêu chuộng
hòa bình và công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ nước Mỹ”.
Người tích cực vận động sự ủng hộ của lực lượng hội chủ nghĩa, thiết lập
quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô, các nước hội chủ nghĩa Đông Âu,
tranh thủ sự đồng tình của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, khẳng định:
“Thắng lợi của cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của các dân tộc gắn liền với sự ủng hộ
và giúp đỡ tích cực của phe xã hội chủ nghĩa và của phong trào công nhân ở các nước
bản chủ nghĩa”. Chủ tịch Nguyễn Ái Quốc hết sức coi trọng kêu gọi, tranh thủ sự
ủng hộ, đồng tình của lực lượng hòa bình, dân chủnhân dân thế giới đối với cuộc
kháng chiến của nhân dân ta.
Theo tưởng của Người, cần phân biệt chính phủ thực dân, đế quốc xâm
lược với nhân dân tiến bộ các nước, coi nhân dân tiến bộ Pháp đồng minh của
nhân dân Việt Nam. Đây là quan điểm hết sức quan trọng giúp cuộc kháng chiến của
nhân dân ta giành được sự ủng hộ to lớn từ chính người dân của các nước xâm lược.
Từ khi nhận thấy chủ nghĩa thực dânkẻ thù chung của Việt Namcác dân
tộc bị áp bức trên toàn thế giới, Người đã xác định được đoàn kết quốc tế chiến
lược xuyên suốt, nhất quán đối với cách mạng Việt Nam, yếu tố quan trọng làm
nên sức mạnh của cách mạng giải phóng các dân tộc nói chung cách mạng Việt
Nam nói riêng. Trong những năm ra nước ngoài khảo nghiệm thực tế cùng với việc
tiếp thu Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộcthuộc địa, Người đã xác định
hơn con đường giải phóng dân tộc mình cũng giống như các dân tộc thuộc địa
khác, hình thành nên chiến lược đoàn kết quốc tế. Đó sự liên minh giữa các dân
tộc bị áp bức, giữa giai cấp sản các dân tộc thuộc địa… Nghĩa là, Người đã xác
định được vị trí của các dân tộc bị áp bức nói chung trong cuộc đấu tranh đại của
lịch sử nhân loại, điều các bậc tiền bối trước đó chưa ai nhận thức được. Quan
điểm này đã soi đường, chỉ lối cho dân tộc Việt Nam các dân tộc bị áp bức trên
toàn thế giới trong cuộc đấu tranh tự giải phóng.
Theo Người, chỉ khi giai cấp vô sản và nhân dân lao động các nước hiểu nhau,
cùng phối hợp làm cách mạng nhịp nhàng như “hai cánh của một con chim” thì mới
có thể đánh bại được kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Do vậy bằng một
lòng nhiệt tình cách mạng, Người luôn nỗ lực trong việc giúp nhân dân các nước
thuộc địa hiểu nhau, khắc phục “sự biệt lập” vốn có.

Preview text:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -----🙞🙜🕮🙞🙜-----
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Nội dung Cương lĩnh Chính trị đầu tiên phản ánh tầm nhìn thiên tài của Nguyễn Ái
Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam. Giảng viên : TS. Hồ Thị Liên Hương Học phần :
Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam Mã học phần : HIS1001 5 Nhóm : Nhóm 2 Hà Nội – 2025 MỤC LỤC:
Chương 1: Bối cảnh Cương Lĩnh Chính Trị đầu tiên......................................................6
I. Bối cảnh Hội Nghị thành lập Đảng Cộng Sản:..........................................................6
1.1 Bối cảnh quốc tế:.............................................................................................6
1.2. Bối cảnh trong nước........................................................................................7
1.3. Kết luận: Tại sao buộc phải có Cương lĩnh chính trị đầu tiên vào năm 1930?. 8
II. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam:........................................................9
Chương 2: Nội dung Cương lĩnh Chính trị đầu tiên.....................................................11
Chương 3: Tầm nhìn thiên tài của Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam trong
Cương lĩnh chính trị....................................................................................................13
I. Xác định chính xác đường lối đi lên Xã hội cộng sản của cách mạng Việt Nam....13
1.1. Đường lối Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng:....................13
1.2. Con đường đi tới Xã hội cộng sản:.................................................................13
II. Xác định kẻ thù và mục tiêu chính:......................................................................14
III. Xác định được nhiệm vụ quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam..................15
IV. Xác định được lực lượng cách mạng chính.........................................................16
4.1 Lực lượng cách mạng là toàn thể nhân dân:..................................................16
4.2 Giai cấp lãnh đạo là giai cấp công nhân:.........................................................16
4.3 Giai cấp chính là giai cấp công – nông:...........................................................17
V. Muốn cách mạng thành công thì phải “tự lực cánh sinh”...................................18
5.1 Nguyễn Ái Quốc khẳng định phát huy tinh thần tự lực, tự cường là trách
nhiệm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong mọi chặng đường lịch sử.............18
5.2 Nguyễn Ái Quốc cho rằng tinh thần tự lực tự cường của dân tộc phải được
xây đắp bằng ý chí tự lực tự cường, tự lực cánh sinh của mỗi cá nhân...............19
5.3. Nguyễn Ái Quốc khẳng định việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường hoàn
toàn không loại trừ việc tranh thủ sự giúp đỡ của thế giới trên nguyên tắc lấy nội
lực làm nhân tố quyết định..................................................................................19
VI. Tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức trên thế giới.............20
VII. Muốn có được lòng dân thì phải đáp ứng được nhu cầu của nhân dân............21
VII. Cách mạng muốn thành công, thống nhất thì phải có một và duy nhất một
Đảng lãnh đạo:.........................................................................................................22
VIII. Cương lĩnh chính trị là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực
tiễn cách mạng Việt Nam.........................................................................................23
Chương 4: Ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị đầu tiên..................................................23
I. Tác động tới Cách mạng Tháng Tám:....................................................................23
II. Cương lĩnh chính trị là ngọn cờ soi sáng suốt chặng đường Đảng lãnh đạo Việt
Nam:........................................................................................................................24
III. Là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước ở VN trong thời đại mới...........................................25
IV. Mang tính tiến bộ, nhân văn...............................................................................25
V. Cương lĩnh chính trị đầu tiên trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.......25
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................................26
Chương 1: Bối cảnh Cương Lĩnh Chính Trị đầu tiên
I. Bối cảnh Hội Nghị thành lập Đảng Cộng Sản:
1.1 Bối cảnh quốc tế:
Từ cuối thế kỷ XIX, mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và chủ nghĩa thực
dân được đẩy lên tới đỉnh điểm. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước
Châu Á đầu thế kỷ XX cũng bởi vậy mà diễn ra mạnh mẽ, tác động lớn tới phong trào
yêu nước tại Việt Nam. [1]
Một điểm nhấn khác trong thời kỳ này là sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới
thứ nhất (1914-1918). Đế quốc Pháp ra sức vơ vét nguồn lực, nhân lực, tài lực của
nước ta trong suốt 4 năm tham chiến, tạo ra nhiều chuyển biến trong kinh tế và xã
hội Việt Nam. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước tư bản như Pháp, Anh,...
trở nên suy yếu và mâu thuẫn giữa các nước tư bản đế quốc ngày càng gay gắt, tạo
điều kiện thuận lợi cho các phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa,
trong đó có Việt Nam: (Nhiều trí thức Việt Nam nhận ra sự suy yếu của Pháp và các
nước đế quốc, thúc đẩy các phong trào chống thực dân mạnh mẽ hơn. Nguyễn Ái

Quốc (Hồ Chí Minh) sang Pháp (1917), bắt đầu hoạt động cách mạng theo hướng mới.)
Vào giữa thế kỉ XIX, chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời như một vũ khí tư tưởng của
giai cấp công nhân trong thời kỳ phong trào đấu tranh công nhân nở rộ. Chủ nghĩa
Mác - Lênin dần dần truyền bá vào Việt Nam từ những năm 1920 với quá trình đầy
gam go, thử thách. Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng muốn giành được thắng lợi thì
phải lập ra Đảng cộng sản. Chính vì những tư tưởng tiến bộ, phù hợp với mong muốn
giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, nên chủ nghĩa Mác Lênin vẫn có thể
truyền bá mạnh mẽ vào Việt Nam, dù trong bối cảnh có nhiều luồng tư tưởng, dòng cách mạng khác đan xen.
Và thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (năm 1917) đã đưa chủ nghĩa
Mác - Lênin từ lý luận trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài
người; là ánh sáng soi đường giúp Đảng và nhà nước ta đứng lên đấu tranh giải
phóng dân tộc sau này. Tại thời điểm đó, Việt Nam còn chịu ảnh hưởng bởi những
luồng tư tưởng bên ngoài như: Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc (1911),... Những sự
kiện này góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam, nâng cao nhận thức, tư
tưởng và tạo tiền đề cho việc thành lập các tổ chức yêu nước sau này.
Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời đã thúc đẩy sự phát
triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam, Quốc tế
Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.2. Bối cảnh trong nước
Năm 1919 - 1929, thực dân Pháp thi hành chính sách Khai thác thuộc địa lần II
- thực chất là tăng cường bóc lột, vơ vét thuộc địa. Pháp tăng cường cướp ruộng đất,
chú trọng vào việc khai mỏ, đánh thuế nặng hàng nhập khẩu… Tuy là kinh tế Việt
Nam đã có phần phát triển nhưng lại càng khiến Việt Nam phụ thuộc vào Pháp. Bên
cạnh đó, Pháp lại tăng cường bóc lột nhân dân lao động. Xã hội Việt Nam có 2 mâu
thuẫn cơ bản là Dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp; nông dân và địa chủ phong kiến.
Vì vậy, đời sống nhân dân lao động đã khó khăn, càng thêm khốn đốn. Hậu quả là
Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến.
Đặc biệt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong
kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Hàng loạt phong trào yêu nước liên tiếp nổ ra nhằm
giải quyết mâu thuẫn cốt yếu đó. Tiêu biểu là phong trào dân chủ tư sản của Phan Bội
Châu, phong trào của Phan Châu Trinh,... Trong khi phong trào của Phan Bội Châu
(cùng các hoạt động như phong trào Đông Du, hoạt động trừ khử, tiêu diệt tên đầu
sỏ) đều thất bại do quá tin tưởng Nhật, các chiến lược bạo động không có kế hoạch
phù hợp. Phong trào của Phan Châu Trinh thất bại do đi theo xu hướng ôn hòa, quá
tin tưởng Pháp. Từ đó, điểm chung của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tuy
diễn ra quyết liệt, song cuối cùng đều bị thất bại, vì thiếu một đường lối cứu nước
đúng đắn, thiếu một tổ chức lãnh đạo có khả năng tập hợp sức mạnh của toàn dân
tộc. Điều này đặt ra vấn đề là phải tìm ra một tổ chức lãnh đạo có khả năng chỉ huy
và đưa ra những chiến lược đúng đắn cho dân tộc.
Mặt khác, sang đầu thế kỷ XX, giai cấp công nhân ở Việt Nam ra đời. Chịu ảnh
hưởng từ những cuộc đấu tranh của công nhân trên thế giới, đặc biệt là thắng lợi của
Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác Lênin, giai cấp công nhân tại Việt Nam
dần ý thức được quyền lợi và bắt đầu tổ chức đình công, điển hình có thể kể đến:
Cuộc Bãi công của công nhân Ba Son (1925), thợ dệt Nam Định, công nhân mỏ than
(1920s). Tuy nhiên, những phong trào này đều thất bại do chưa có sự lãnh đạo và
đường lối đúng đắn, chủ yếu chỉ mang tính tự phát. [2]
Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước và chuẩn bị cho Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam
Trong bối cảnh đó, tháng 6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất
Thành đã rời Tổ quốc ra đi tìm con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Năm 1920,
Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin; đây không chỉ là bước ngoặt đối
với cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, mà còn là bước ngoặt của
cách mạng Việt Nam. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã soi rọi cho Nguyễn Ái
Quốc: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì trước hết phải có “Đảng cách mệnh”
để “trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức
và vô sản giai cấp mọi nơi”
. Từ nhận thức đó Nguyễn Ái Quốc ra sức chuẩn bị mọi
mặt cho việc thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam, Người từng bước truyền
bá có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước. Điều đó thể hiện thông qua
mạch thời gian: Từ 25/12/1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và
đứng hẳn về phía Quốc tế III. Người xuất bản tờ báo Le Paria làm cơ quan ngôn luận,
để truyền bá những tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin. Đến ngày 13/10/1923, Người
tham gia Đại hội I Quốc tế Nông dân ở Moskva… Người liên tiếp tham gia vào các sự
kiện, nhằm học hỏi các tư tưởng, mở đường đưa Chủ nghĩa Mác Lênin từ Liên Xô về Việt Nam.
Chỉ trong một thời gian ngắn ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được
tuyên bố thành lập. Cụ thể là ngày 17-6-1929, những đảng viên trong Chi bộ Cộng sản
5D Hàm Long đã tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Ngày 25-7-1929, An
Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ. Tháng 9-1929 Đông Dương Cộng sản
Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ. Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của phong
trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam. Song sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt
động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết
của cách mạng là cần có một Đảng thống nhất lãnh đạo. Bởi vậy, Nguyễn Ái Quốc đã
dẫn tới quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng cộng sản duy
nhất ở Việt Nam. Đây cũng chính là thời điểm Hội nghị thành lập Đảng cộng sản được
tổ chức, cùng với sự ra đời của Cương lĩnh chính trị đầu tiên. [3]
1.3. Kết luận: Tại sao buộc phải có Cương lĩnh chính trị đầu tiên vào năm 1930?
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Việt Nam ra đời như một sự tất yếu, phục vụ
cho tình hình cách mạng cấp bách lúc bấy giờ. Để tóm gọn, có ba nguyên nhân chính
dẫn tới sự cần thiết của Cương lĩnh chính trị trong thời điểm trên:
1.3.1 Thứ nhất, tình hình cách mạng Việt Nam đòi hỏi một đường lối đúng đắn. ·
Những năm cuối thập niên 1920, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt
Nam diễn ra mạnh mẽ nhưng thiếu một tổ chức lãnh đạo thống nhất. Các tổ chức
cách mạng như Việt Nam Quốc dân Đảng, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên có
nhiều hoạt động nhưng còn phân tán và chưa đề ra đường lối rõ ràng. ·
Sự thất bại của các cuộc khởi nghĩa trong thời điểm này cho thấy con đường
đấu tranh vũ trang theo kiểu bạo động quân sự không phù hợp với tình hình Việt
Nam. Điều này đặt ra yêu cầu bức thiết phải có một đường lối cách mạng khoa học,
đúng đắn để lãnh đạo phong trào.
1.3.2 Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đòi hỏi một cương lĩnh chính trị
để định hướng hoạt động ·
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất
ba tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông
Dương Cộng sản Liên đoàn). Tuy nhiên, một chính đảng muốn tồn tại và lãnh đạo
phong trào cách mạng không thể hoạt động mà thiếu một cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam. ·
Cương lĩnh chính trị giúp thống nhất tư tưởng, mục tiêu, phương pháp đấu
tranh, từ đó quy tụ lực lượng cách mạng, tránh tình trạng phân tán, chia rẽ.
1.3.3 Thứ ba, hệ quả ảnh hưởng từ phong trào cộng sản quốc tế và tư tưởng Hồ Chí Minh
Sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) và sự lớn mạnh của
Quốc tế Cộng sản đã khẳng định con đường cách mạng vô sản là đúng đắn. Hồ Chí
Minh, với tư cách là người tiếp thu chủ nghĩa Marx-Lenin, nhận thấy cần có một
cương lĩnh chính trị để hướng dẫn cách mạng Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản. ·
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo đã vạch ra
nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, lập chính phủ
công nông binh, thực hiện các quyền tự do dân chủ, tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Việc ra đời Cương lĩnh chính trị đầu tiên vào năm 1930 là một bước ngoặt
quan trọng, giúp cách mạng Việt Nam thoát khỏi tình trạng khủng hoảng đường lối,
xác định rõ phương hướng và phương pháp đấu tranh. Nó cũng đặt nền móng vững
chắc cho sự phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi
từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
II. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam:
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) diễn ra từ ngày 6/1 đến
ngày 7/2 năm 1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc, với sự tham gia của các đại diện từ
hai tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng. Mục
tiêu của hội nghị là hợp nhất ba tổ chức thành Đảng Cộng sản Việt Nam và xác định
chiến lược cách mạng cho Đảng.
Hội nghị thảo luận, tán thành ý kiến chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, thông qua
các văn kiện quan trọng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo: Chánh cương vắn tắt
của Đảng (cương lĩnh chính trị đầu tiên) , Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình
tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, Chánh
cương vắn tắt của Đảng chính là bản cương lĩnh chính trị đầu tiên.
Chương 2: Nội dung Cương lĩnh Chính trị đầu tiên
2.1. Về đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam
Cương lĩnh xác định cách mạng Việt nam thuộc phạm trù cách mạng vô sản,
trong đó độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết, là bước đi đầu tiên để tiến tới xã hội
cộng sản. Đảng chủ trương thực hiện cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách
mạng nhằm từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội
, kết hợp chặt chẽ giải phóng dân tộc
và giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
2.2.Về nhiệm vụ và mục tiêu của cách mạng
Cương lĩnh đề ra nhiệm vụ cấp bách trên các phương diện chính trị, xã hội và
kinh tế. Nhiệm vụ trước mắt là đánh đế quốc Pháp và bọn phong kiến. Về phương
diện chính trị: Đánh đổ thực dân Pháp, giành độc lập, thành lập Chính phủ Công
nông binh và tổ chức ra quân đội công nông.
Về phương diện xã hội: Đảm bảo nhân
dân được tự do tổ chức, nam nữ bình đẳng, giáo dục phổ thông theo hướng công
nông hóa. Về phương diện kinh tế: Xóa bỏ hết các thứ quốc trái, thâu hết sản nghiệp
lớn của Pháp (như công nghiệp, vận tải,...
) giao cho Chính phủ công nông binh quản
lý, chia ruộng đất cho dân cày nghèo, phát triển công - nông nghiệp và thi hành luật làm 8 giờ một ngày.
2.3. Về lực lượng cách mạng
Cương lĩnh xác định công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, trung nông,...
người Việt Nam yêu nước là lực lượng cốt cán dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với công
nhân
là lực lượng lãnh đạo cách mạng chính, đóng vai trò nòng cốt, tiên phong. Tiếp
đến là giai cấp nông dân - lực lượng đông đảo nhất và là đồng minh chủ yếu của công
nhân, đóng vai trò quyết định trong phong trào thổ địa cách mạng. Tầng lớp tiểu tư
sản, trí thức, trung nông
là lực lượng có xu hướng yêu nước, Đảng cần tranh thủ tập
hợp họ vào hàng ngũ cách mạng để gia tăng sức mạnh đấu tranh. Cuối cùng là tầng
lớp phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc
có thể tạm thời trung lập hoặc lợi
dụng để phục vụ cách mạng, tuy nhiên không phải lực lượng chính.
2.4. Về vấn đề đoàn kết quốc tế
Cương lĩnh xác định cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới,
Sách lược vắn tắt viết: “Trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập,
phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp
thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”. Nội dung này thể hiện kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam
với phong trào công nhân quốc tế, với phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp
bức và với nhân loại tiến bộ là một vấn đề khách quan.
2.5. Về phương pháp cách mạng
Cương lĩnh xác định phương pháp thực hiện độc lập dân tộc, tiến lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội phải tiến hành bằng con đường cách mạng, sử dụng phương pháp
cách mạng bạo lực; không đi vào con đường cải lương, thỏa hiệp
2.6. Về vấn đề đoàn kết quốc tế
Cương lĩnh xác định cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới,
Sách lược vắn tắt viết: “Trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập,
phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp
thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”
. Nội dung này thể hiện kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam
với phong trào công nhân quốc tế, với phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp
bức và với nhân loại tiến bộ là một vấn đề khách quan.
2.7. Về phương pháp cách mạng
Cương lĩnh xác định phương pháp thực hiện độc lập dân tộc, tiến lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội phải tiến hành bằng con đường cách mạng, sử dụng phương pháp
cách mạng bạo lực; không đi vào con đường cải lương, thỏa hiệp. Đảng đã quán triệt
sâu sắc quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về bạo lực cách mạng và đây cũng một
trong những yếu tố hết sức quan trọng để đưa tới thắng lợi của cách mạng Việt Nam
trong đấu tranh giành chính quyền và trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.
Đảng đã quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về bạo lực
cách mạng và đây cũng một trong những yếu tố hết sức quan trọng để đưa tới thắng
lợi của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành chính quyền và trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.
2.8. Về vai trò lãnh đạo của Đảng
Cương lĩnh xác định lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam là Đảng Cộng sản
Việt Nam, “đội tiên phong của vô sản giai cấp”. Nội dung này vừa khẳng định vai trò
và bản chất giai cấp của Đảng, vừa là sự định hướng quan trọng cho công tác xây dựng Đảng.
Chương 3: Tầm nhìn thiên tài của Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản
Việt Nam trong Cương lĩnh chính trị
I. Xác định chính xác đường lối đi lên Xã hội cộng sản của cách mạng Việt Nam
1.1. Đường lối Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng:
Đường lối chiến lược “ Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ
địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã đưa ra những vấn đề trong giành độc lập dân tộc, giải quyết
những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam mà còn hướng tới xây dựng chủ
nghĩa xã hội sau khi cách mạng thành công.
Về Chủ trương tư sản dân quyền, tức là là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
tức là giành độc lập cho dân tộc, đánh đổ đế quốc xâm lược. Giải phóng dân tộc
chính là cốt lõi của chủ trương tư sản dân quyền. Bác đưa ra chủ trương này vì chỉ có
chủ trương tư sản dân quyền mới có thể giải quyết được mâu thuẫn cơ bản của đất
nước, đó là dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp.
Về thổ địa cách mạng, tức là là cách mạng ruộng đất. Nhân dân lúc bấy giờ bị
chịu cảnh bần cùng hóa, ruộng đất bị tịch thu, chịu thuế cao, nông phẩm làm ra phải
bán hạ giá. Do đó, cần giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân mới khiến kinh tế
phát triển, phải thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa để chia cho dân cày nghèo
để xã hội công bằng, tự do.
Vậy nhìn chung, Người đã nhận thức rõ mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề
dân tộc và vấn đề giai cấp. Đây không chỉ là một lựa chọn mang tính lý luận mà còn
xuất phát từ sự phân tích khoa học về tình hình thực tiễn của Việt Nam và xu thế
phát triển của cách mạng thế giới. Nếu chỉ giành độc lập mà không xóa bỏ chế độ
phong kiến và chấm dứt sự bóc lột giai cấp thì người lao động vẫn chưa thực sự được giải phóng.
1.2. Con đường đi tới Xã hội cộng sản:
Trong cương lĩnh chính trị đầu tiên, Bác đã xác định con đường cách mạng là
“đi tới xã hội cộng sản”, nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản. Đây chính là
bước đi tất yếu để đưa Việt Nam tiến lên xã hội chủ nghĩa.
Về việc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau khi cách mạng thành công, Người có tầm
nhìn thiên tài khi xác định độc lập dân tộc phải gắn với chủ nghĩa xã hội, chứ không
phải giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Bởi vì, Người thấm nhuần tư tưởng của Chủ Nghĩa
Mác - Lênin, việc bỏ qua giai đọan tư bản chủ nghĩa chỉ là “con đường rút ngắn”, tức
là có chọn lọc, kế thừa, có điều chỉnh và định hướng các thành tố phát triển, các
đ ng lực phát triển và xu hướng phát triển theo những yếu tố của thời đại qui định.
Bên cạnh đó, việc phát triển theo nền chủ nghĩa nào còn tùy thuộc vào tình
hình, sự phát triển trong nước. Lúc bấy giờ, nhân dân đều trong tình trạng khốn khổ:
Công nhân bị sa thải hoặc hưởng đồng lương chết đối, nông dân chịu thuế cao, tiểu
thương, tiểu chủ bị phá sản. Nhân dân đều mong muốn được giải thoát khỏi ách bức.
Xã hội Việt Nam lúc đó chịu sự mâu thuẫn sâu sắc giữa người bóc lột và bị bóc lột,
giữa tư tưởng mới và cũ, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rõ con đường cách mạng cần
phải thực hiện đó là giành lấy lại được độc lập dân tộc, xóa bỏ hệ thống phong kiến
đồng thời đưa xã hội Việt Nam chuyển mình, tiến lên chủ nghĩa xã hội - một xã hội
công bằng, dân chủ, nơi mọi người được hưởng quyền tự do hạnh phúc thực sự.
Ngoài ra, bối cảnh đất nước Việt Nam đi từ nước thuộc địa phong kiến lạc hậu,
sản xuất, hình thái kinh tế đều lỗi thời, khó để gắn với tư bản chủ nghĩa. Ngoài ra, đối
với Nguyễn Ái Quốc, chỉ cách mạng thành công là chưa đủ. Cách mạng thành công,
nhưng muốn giữ được kết quả đó về lâu dài thì chắc chắn xã hội Việt Nam cần phải
phát triển đủ mạnh để có thể có đầy đủ tiềm lực phòng, chống với các thế lực thù
địch
vẫn đang “nhăm nhe” để tiếp tục tiến hành xâm lược Việt Nam. Chính tư tưởng
trên đã thúc đẩy Nguyễn Ái Quốc đưa vấn đề “tập trung xây dựng nhà nước xã hội
chủ nghĩa sau khi cách mạng thành công” vào Cương lĩnh chính trị, mở ra tiền đề cho
sự phát triển bền vững của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó,
Đảng có cái nhìn toàn diện khi xác định tình hình hiện tại của đất nước Việt Nam và
đưa ra phương hướng phù hợp cho dân tộc.
II. Xác định kẻ thù và mục tiêu chính:
Cương lĩnh chính trị đã viết “Chống đế quốc và chống phong kiến đều là hai
nhiệm vụ cơ bản, trong đó, chống đế quốc là nhiệm vụ hàng đầu”.
Về đưa chống đế quốc lên nhiệm vụ hàng đầu, Bác đã có tầm nhìn chiến lược
khi xác định được kẻ thù và mục tiêu chính của dân tộc. Khi đó, xã hội Việt Nam có
hai mâu thuẫn cơ bản đó là: Dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp; Nông dân và địa
chủ phong kiến. Trong khi đó, nông dân bị cướp ruộng đất, bị bóc lột nặng nề bởi giai
cấp địa chủ phong kiến, nhưng Bác vẫn chọn mâu thuẫn cơ bản nhất là dân tộc Việt
Nam và thực dân Pháp. Điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bác khi xác định
được những nét đặc thù của Việt Nam
so với các quốc gia khác, đặc biệt là các nước
phương Tây. Nếu như ở phương Tây, mâu thuẫn giai cấp đã trở nên sâu sắc thì ở Việt
Nam, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với chủ nghĩa thực dân Pháp và bè lũ tay sai là
mâu thuẫn hàng đầu, diễn ra phổ biến trong thời gian ấy. Bên cạnh đó, Bác cũng xác
định được Pháp là kẻ thù chính, là nguyên nhân khiến giai cấp địa chủ phong kiến bị
phân hóa, tham gia vào ủng hộ Pháp. Dưới tầng lớp của Pháp, tầng lớp phong kiến
đã mất phần lớn quyền lực
, nhiều địa chủ và quan lại trở thành tay sai cho Pháp.
Ngoài ra, việc ảnh hưởng từ tư tưởng Mác Lênin, đặc biệt là Quốc tế Cộng sản vào
những năm 1930 đang thúc đẩy các nước thuộc địa đấu tranh giải phóng dân tộc.
Người cho rằng, trong hai nhiệm vụ đánh đổ đế quốc và đánh đổ phong kiến,
cần tập trung cho nhiệm vụ đánh đổ đế quốc giành độc lập dân tộc, còn đánh đổ
phong kiến thực hiện sau. Lần đầu tiên vấn đề giải phóng dân tộc được đặt lên hàng
đầu, là điều kiện tiên quyết để đưa nhân dân ta thoát khỏi ách nô lệ. Tầm nhìn thiên
tài của Bác thể hiện rõ trong việc vận dụng tư tưởng Mác Lênin vào hoàn cảnh thực
tế nước ta lúc bấy giờ để chỉ ra thực dân Pháp là kẻ thù chính và đưa nhiệm vụ giải

phóng dân tộc lên hàng đầu.
III. Xác định được nhiệm vụ quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam
Ngay sau khi xác định được mục tiêu của cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái
Quốc với tầm nhìn chiến lược vượt thời đại đã nhận thức được nhiệm vụ quan trọng
của cách mạng Việt Nam cần được thực hiện đó là “Phản đế và phản phong”.
Về cuộc cách mạng phản đế thì đây là cuộc đấu tranh chống lại đế quốc, đánh
đuổi ngoại xâm, chấm dứt mọi hình thức bóc lột và giành lại độc lập dân tộc. Nếu
không chấm dứt được được sự can thiệp thì mọi nỗ lực cải tạo xã hội không thể bền vững.
Về cuộc cách mạng phản phong thì sau khi giành được độc lập nhiệm vụ tiếp
theo là lật đổ chế độ phong kiến mới đảm bảo được rằng độc lập không chỉ tự chủ về
chính trị mà còn mở đường cho xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Bởi, giai cấp phong kiến là giai cấp có quyền lợi mâu thuẫn với giai cấp tư sản, chế độ
phong kiến kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế tư bản, vì thế lật đổ chế độ phong
kiến là mục tiêu hàng đầu của cách mạng tư sản. Việc lật đổ chế độ phong kiến là
điều kiện để mang lại thuận lợi cho cuộc cách mạng phía sau, từ đó sẽ đảm bảo được
sự phát triển lâu dài. Đây chính là con đường duy nhất để bảo vệ nền độc lập và
mang lại hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam ta.
Từ đó, Người đã liên kết chặt chẽ hai nhiệm vụ Phản đế và Phản phong thay vì
xem chúng là các cuộc đấu tranh riêng lẻ. Người nhận thấy rằng phản đế và phản
phong là hai mặt của cùng một đồng tiền, chỉ khi giành lấy lại độc lập thoát khỏi sự
đô hộ của đế quốc đồng thời lật đổ chế độ phong kiến thì mới xây dựng được một
nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Nhiệm vụ trên vừa phản ánh đúng tình hình thực tế, xã hội cần được giải
quyết ở Việt Nam, vừa thể hiện tính cách mạng, toàn diện, triệt để là xóa bỏ tận gốc
ách thống trị, bóc lột hà khắc của ngoại bang, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp, giải phóng xã hội đặc biệt là giải phóng công nhân và nông dân. Từ đó, ta có
thể thấy rõ được tư tưởng và sự thấu hiểu sâu sắc quy luật lịch sử, khẳng định tài
năng kiệt xuất trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn xã hội Việt
Nam. Người không máy móc rập khuôn mô hình cách mạng vô sản của các nước
Châu Âu mà linh hoạt điều chỉnh để phù hợp với tình hình của đất nước thuộc địa
nửa phong kiến. Nhờ sự sáng tạo vượt trội này, Người đã giúp cách mạng Việt Nam
đi đúng hướng, vượt qua mọi thử thách để giành thắng lợi hoàn toàn.
IV. Xác định được lực lượng cách mạng chính
4.1 Lực lượng cách mạng là toàn thể nhân dân:
Nguyễn Ái Quốc có tầm nhìn thiên tài khi xác định lực lượng cách mạng: “Phải
đoàn kết công nhân, nông dân - đây là lực lượng cơ bản, trong đó giai cấp công nhân
là giai cấp lãnh đạo, đồng thời chủ trương đoàn kết tất cả giai cấp, thu phục đại bộ
phận giai cấp cho mình.”

Về việc xác định lực lượng cách mạng là toàn thể nhân dân, có thể nói,
Nguyễn Ái Quốc xác định điều đó dựa vào tiêu chí “bị áp bức”. Điều này xuất phát từ
thực tiễn nước ta những năm 20 của thế kỷ XX, sự thất bại của các phong trào yêu
nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản làm cho đất nước rơi vào khủng hoảng
đường lối cứu nước và lực lượng lãnh đạo là do chưa nhận thức đầy đủ về sự phân
hóa giai cấp trong xã hội nên các bậc tiền bối vẫn còn hạn chế trong cách nhìn nhận
về lực lượng cách mạng, đó là không xác định được lực lượng chính của cách mạng là
công nhân và nông dân, các giai cấp, tầng lớp khác, như tư sản dân tộc, tiểu tư sản,
trí thức, địa chủ, phú nông, thậm chí cả các chức sắc tôn giáo Việt Nam..., đều là
những người dân chịu nỗi nhục mất nước, chịu sự cai trị của thực dân Pháp. Phần
lớn các giai tầng trong xã hội đều có điểm chung là lòng yêu nước, đều bị áp bức bóc
lột và là khát vọng độc lập, tự do. Bên cạnh đó, để có thể giải phóng cho toàn dân tộc
cần số lượng đông đảo nhân dân.
4.2 Giai cấp lãnh đạo là giai cấp công nhân:
Về giai cấp lãnh đạo, Đảng có tầm nhìn thiên tài thông qua việc xác định giai
cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo chứ không phải giai cấp khác. Xét về bối cảnh, giai
cấp công nhân ra đời vào năm 19201 gắn với sự kiện thành lập Công hội Ba Son ở Sài
Gòn. Tính đến năm 1930, giai cấp công nhân vẫn là một giai cấp mới2, tương đối non
trẻ, chưa phát triển về số lượng, trình độ nghề nghiệp và một số mặt về chất lượng3.
Tuy nhiên, Đảng có tầm nhìn thiên tài khi vẫn lựa chọn giai cấp công nhân là giai cấp
lãnh đạo, chứ không phải là giai cấp khác. Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, giai cấp
công nhân luôn là lực lượng tiên phong của cách mạng Việt Nam, luôn giữ vai trò, vị
trí trung tâm, quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Giai cấp
công nhân xuất phát từ những người nông dân yêu nước, có tinh thần cách mạng.
Bên cạnh đó, giai cấp công nhân có những ưu điểm mà chỉ họ mà mới có: Tính cách
kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật, đại diện cho lực lượng sản xuất
tiến bộ; Là giai cấp tiên tiến nhất trong lực lượng với kiến thức về công nghệ, về sản
xuất và lao động; là giai cấp có tri thức nên thấm nhuần tư tưởng cách mạng, tức là
chủ nghĩa Mác - Lênin 4. Với những đặc điểm đó, giai cấp công nhân đã đóng vai trò
làm chủ đất nước, được xác định trong Cương lĩnh đầu tiên của đảng là “là giai cấp
lãnh đạo cách mạng, nòng cốt trong khối liên minh công - nông”.
4.3 Giai cấp chính là giai cấp công – nông:
Về giai cấp nòng cốt, giai cấp nông dân là giai cấp có số lượng đông nhất và là
lực lượng cơ bản của cách mạng. Mặc dù họ cũng không có khả năng tự xây dựng
một chế độ xã hội mới, không là lực lượng lãnh đạo cách mạng chính 5.Tuy nhiên,
Nguyễn Ái Quốc đã xác định được giai cấp nông dân đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong cách mạng Việt Nam. Người đã khẳng định: “Nông dân là một lực lượng rất to
lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân 6. Trong
những năm tháng lầm than của cả dân tộc, nhân dân ta “một cổ ba tròng”, thì phong
1Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam”, Ban Tuyên giáo Trung ương -
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ngày truy cập: 25/02/2025.
2 “Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam”, Ban Tuyên giáo Trung ương -
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ngày truy cập: 25/02/2025.
3 Đại tá, PGS. Bùi Đình Bôn, “Những đặc điểm chủ yếu của giai cấp công nhân Việt Nam”, Tạp chí điện tử Lao
động và Công đoàn. Ngày truy cập: 26/02/2025.
4 “Vì sao công nhân là giai cấp lãnh đạo?”, Quân đội nhân dân. Ngày truy cập: 26/02/2025.
5 Báo Quân khu 7, “Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo thì giai cấp nông dân
mới được giải phóng”.
Ngày truy cập: 26/02/2025.
6 “Đề cuơng tuyên truyền Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2018 -
2023”,
Ban Tuyên giáo Trung ương - Trung ương Hội Nông dân Việt Nam. Ngày truy cập: 27/02/2025.
trào yêu nước của nông dân là “bà đỡ” cho phong trào công nhân phát triển và là
điều kiện thúc đẩy cho Đảng ra đời.”7
Ngoài xác định lực lượng cách mạng chính là khối liên minh công - nông,
Cương lĩnh còn chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, các lực lượng tiến bộ, yêu
nước để tập trung chống đế quốc và tay sai, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, bao
gồm: Công nhân, Nông dân, Tiểu tư sản, Trí thức, Trung nông...; tranh thủ, làm trung
lập phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản. Đối với những giai cấp khác nhau lại có
những chiến lược, cách để thu phục khác nhau8. Từ đó, ta thấy Bác đã áp dụng xuất
sắc hệ thống chủ nghĩa Mác Lê nin vào thực tiễn Việt Nam. Trong Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nói đến khả năng và sự cần thiết phải đoàn
kết giai cấp vô sản với các tầng lớp trung gian, nhấn mạnh vào vai trò quan trọng của
liên minh công – nông. Nguyễn Ái Quốc đã học hỏi từ những kinh nghiệm đó, nhưng
đưa thêm lực lượng của cách mạng là toàn thể nhân dân để có thể thực hiện nhiệm
vụ “Giải phóng dân tộc”. Nguyễn Ái Quốc có tầm nhìn sâu sắc khi hiểu bản chất và
đặc điểm của từng giai cấp để đưa ra các phương pháp thu phục hợp lý, hiệu quả.
V. Muốn cách mạng thành công thì phải “tự lực cánh sinh”
Tuy Nguyễn Ái Quốc không đề cập đến vấn đề “tự lực cánh sinh” trong Cương
lĩnh chính trị, tuy nhiên, ta có thể suy ra luận điểm này dựa vào phương pháp tiến
hành cách mạng: “Con đường bạo lực, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được
thỏa hiệp” và mục tiêu cách mạng vô sản.
Về con đường bạo lực, tức là tiến hành bạo lực vũ trang, tự chuẩn bị từ nhân
lực tới chiến lược, vũ khí, và đặc biệt không thỏa hiệp, phụ thuộc vào quốc gia nào,
chỉ phụ thuộc vào chính bản thân mình. Về cách mạng vô sản, tức là “một cuộc cách
mạng xã hội trong đó giai cấp công nhân cố gắng lật đổ giai cấp tư sản. Các cuộc cách
mạng vô sản nói chung được những người theo chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
và hầu hết những người vô chính phủ ủng hộ9. Tương tự, ở Việt Nam, cách mạng vô
sản dựa vào khối liên minh công - nông là chính, với công nhân là lực lượng nòng cốt.
Đây đều là những giai cấp nhân dân Việt Nam bị áp bức, được Người xác định sẽ
“đứng lên” kháng chiến, chứ không dựa vào những thế lực bên ngoài như những
7 Hội Nông dân Việt Nam, “Vị trí, vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân của
Việt Nam.”,
Nhân vật - Sự kiện, Chuyên trang thông tư liệu của thông tấn xã Việt Nam. Ngày truy cập: 27/02/2025.
8 “Cương lĩnh chính trị đầu tiên”, Hồ Chí Minh.
9 Phạm Đại Phước, “Cách mạng vô sản là gì? Ví dụ cụ thể? Nhiệm vụ của cách mạng vô sản? Cách mạng vô sản
ở Việt Nam do giai cấp công nhân lãnh đạo đúng không?”,
Thư viện pháp luật. Ngày truy cập: 27/02/2025.
cuộc cách mạng đã thất bại của các tiền bối đi trước. Chính từ điều này, ta có thể suy
ra rằng, Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện tầm nhìn thiên tài của mình thông qua việc xác
định Việt Nam cần “tự lực cánh sinh” chứ không thể cách mạng một cách “phụ thuộc”.
5.1 Nguyễn Ái Quốc khẳng định phát huy tinh thần tự lực, tự cường là trách
nhiệm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong mọi chặng đường lịch sử.
Là biểu hiện của ý chí và tinh thần độc lập, tự chủ, ngay từ khi tiếp cận chủ
nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã hiểu rằng: Nếu biến lý luận Mác - Lênin thành
“kinh thánh” và “công thức sáo mòn” thì tức là đã gạt bỏ nó ra khỏi cuộc sống.
thế, Người đã rất sáng tạo trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn
của cách mạng Việt Nam. Bởi, Nguyễn Ái Quốc không chỉ làm cho học thuyết Mác -
Lênin được “Việt hóa”, thích ứng với điều kiện Việt Nam thông qua việc giúp nhân
dân Việt Nam thoát khỏi tâm lý thụ động để phát huy truyền thống tự lực, tự cường
của dân tộc để đi đến những thắng lợi vĩ đại.
Theo Nguyễn Ái Quốc, nhân dân Việt Nam không chỉ cần tự lực, tự cường về
tinh thần, mà còn phải tự lực tự cường cả trong việc xây dựng chế độ mới, đưa miền
Bắc Việt Nam vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Về tinh thần, với sự trải nghiệm của
một người đã từng đi “năm châu, bốn biển”, ngay sau Cách mạng Tháng Tám,
Nguyễn Ái Quốc đã cho rằng nền văn hóa mới của Việt Nam phải góp phần tẩy bỏ
tâm lý nô lệ để xây dựng một tinh thần mới - “tinh thần độc lập tự cường”. Về xây
dựng xã hội, Nguyễn Ái Quốc chủ trương Thực hiện nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự
lực, tự cường
trong mọi công việc từ sản xuất đến xây dựng Tổ Quốc. Người yêu cầu:
“Trước đây, nhân dân ta đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng
chiến, thì ngày nay chúng ta càng phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm
xây dựng nước nhà”. Người căn dặn, trong mọi hoàn cảnh, luôn phải “lấy tự lực cánh
sinh làm gốc để ứng phó với mọi phát triển của tình hình; dù tình hình ấy thuận lợi
hay gay go thì ta vẫn chủ động” bởi sự chủ động sẽ mang đến cơ hội thành công và
mọi sự phụ thuộc, lệ thuộc đều dẫn đến việc đánh mất quyền độc lập dân tộc.
5.2 Nguyễn Ái Quốc cho rằng tinh thần tự lực tự cường của dân tộc phải được
xây đắp bằng ý chí tự lực tự cường, tự lực cánh sinh của mỗi cá nhân.
Tính tự lực, tự cường không chỉ là việc cả dân tộc cùng cố gắng, mà còn xuất
phát từ ý chí của mỗi một con người. Tự lực tự cường không chỉ giúp mỗi con người
thành công mà còn giúp họ trở thành những người có lòng tự trọng, hiểu biết và có
một cuộc đời hữu ích. Do đó, mỗi người dân phải tự tìm việc làm, tự lên kế hoạch, tự
vượt qua khó khăn để đạt được kết quả tốt nhất trong công việc; mỗi khi gặp khó
khăn thì tinh thần tự lực, tự cường trong họ càng phải được trỗi dậy và phát huy cao
độ. Tự lực, tự cường là phẩm chất cao quý mà người có đạo đức, có lòng tự trọng
phải có nên trong nhà trường, ngoài việc giáo dục cho học trò lòng yêu nước thương
nòi thì “phải dạy cho họ có chí tự lập tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết
không chịu làm nô lệ”.
5.3. Nguyễn Ái Quốc khẳng định việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường hoàn
toàn không loại trừ việc tranh thủ sự giúp đỡ của thế giới trên nguyên tắc lấy
nội lực làm nhân tố quyết định.

Với tư duy biện chứng, Nguyễn Ái Quốc thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa nội
lực và ngoại lực và Người luôn khẳng định: Tăng cường sức mạnh nội lực không có
nghĩa là đóng kín, khước từ sự giúp đỡ ở bên ngoài mà là phải tìm mọi cách gia tăng
sự ủng hộ của thế giới để nhân lên sức mạnh của nội lực. Ngay trong cuộc sống của
mỗi con người, có nhiều việc nếu được người khác giúp đỡ thì sẽ trở nên dễ dàng
hơn. Dù vậy, nội lực luôn giữ vai trò quyết định, ngoại lực chỉ gia tăng sức mạnh cho
nội lực. Hơn nữa, sự giúp đỡ bên ngoài phải thông qua lực lượng bên trong mới phát
huy được tác dụng. Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Muốn người ta giúp cho, thì trước
mình phải tự giúp lấy mình đã”. Chính vì xác định được điều đó, Nguyễn Ái Quốc đã
luôn cân bằng hai yếu tố là tự lực cánh sinh và đoàn kết quốc tế, không để cho yếu tố
nào lấn át yếu tố nào.
VI. Tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức trên thế giới
Trong bản Cương lĩnh chính trị, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Trong khi tuyên
truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên
lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”10

Nguyễn Ái Quốc luôn khẳng định sự gắn kết chặt chẽ, mật thiết giữa cách
mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga
(1917). Những cuộc cách mạng này đều thể hiện những giá trị chung của chủ nghĩa
cộng sản và tư tưởng “độc lập - tự do - hạnh phúc”.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Người nhận thức sâu sắc việc
phát huy sức mạnh toàn dân, đoàn kết toàn dân tộc là một yếu tố quyết định, đồng
thời cần tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Kháng chiến của ta là
10 Trích “Sách lược vắn tắt”.
kháng chiến trường kỳ “dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và
giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng
hòa bình và công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ nước Mỹ”.
Người tích cực vận động sự ủng hộ của lực lượng xã hội chủ nghĩa, thiết lập
quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu,
tranh thủ sự đồng tình của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, khẳng định:
“Thắng lợi của cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của các dân tộc gắn liền với sự ủng hộ
và giúp đỡ tích cực của phe xã hội chủ nghĩa và của phong trào công nhân ở các nước
tư bản chủ nghĩa”. Chủ tịch Nguyễn Ái Quốc hết sức coi trọng kêu gọi, tranh thủ sự
ủng hộ, đồng tình của lực lượng hòa bình, dân chủ và nhân dân thế giới đối với cuộc
kháng chiến của nhân dân ta.
Theo tư tưởng của Người, cần phân biệt rõ chính phủ thực dân, đế quốc xâm
lược với nhân dân tiến bộ các nước, coi nhân dân tiến bộ Pháp là đồng minh của
nhân dân Việt Nam. Đây là quan điểm hết sức quan trọng giúp cuộc kháng chiến của
nhân dân ta giành được sự ủng hộ to lớn từ chính người dân của các nước xâm lược.
Từ khi nhận thấy chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của Việt Nam và các dân
tộc bị áp bức trên toàn thế giới, Người đã xác định được đoàn kết quốc tế là chiến
lược xuyên suốt, nhất quán đối với cách mạng Việt Nam, là yếu tố quan trọng làm
nên sức mạnh của cách mạng giải phóng các dân tộc nói chung và cách mạng ở Việt
Nam nói riêng. Trong những năm ra nước ngoài khảo nghiệm thực tế cùng với việc
tiếp thu Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người đã xác định
rõ hơn con đường giải phóng dân tộc mình cũng giống như các dân tộc thuộc địa
khác, hình thành nên chiến lược đoàn kết quốc tế. Đó là sự liên minh giữa các dân
tộc bị áp bức, giữa giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa… Nghĩa là, Người đã xác
định được vị trí của các dân tộc bị áp bức nói chung trong cuộc đấu tranh vĩ đại của
lịch sử nhân loại, điều mà các bậc tiền bối trước đó chưa ai nhận thức được. Quan
điểm này đã soi đường, chỉ lối cho dân tộc Việt Nam và các dân tộc bị áp bức trên
toàn thế giới trong cuộc đấu tranh tự giải phóng.
Theo Người, chỉ khi giai cấp vô sản và nhân dân lao động các nước hiểu nhau,
cùng phối hợp làm cách mạng nhịp nhàng như “hai cánh của một con chim” thì mới
có thể đánh bại được kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Do vậy bằng một
lòng nhiệt tình cách mạng, Người luôn nỗ lực trong việc giúp nhân dân các nước
thuộc địa hiểu nhau, khắc phục “sự biệt lập” vốn có.