lOMoARcPSD| 39146106
Ôn tập CSVH Việt Nam
5) Đặc điểm của việc đi lại ở Việt Nam truyền thống.
Phương Tây là nơi của các nền văn hóa gốc du mục, họ thích đi đây đi đó lối sống thích
di chuyển, trọng động, hướng ngoại cho nên giao thông họ rất phát triển. Còn Việt Nam là một
quốc gia tiêu biểu cho loại hình văn hóa gốc nông nghiệp. Không thích di chuyển, thích ổn định
cuộc sống, trọng tĩnh, hướng nội bởi thế giao thông nước ta kém phát triển. Và nói tới giao thông
truyền thống nước ta thì chỉ có 2 con đường đó là đường bộ và đường thủy.
Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, do bản chất nông nghiệp sống định cư cho nên con người ít
có nhu cầu di chuyển; có đi thì đi gần nhiều hơn đi xa. Hoạt động đi lại chủ yếu của người nông
nghiệp Việt Nam là đi gần – từ nhà ra đồng, từ nhà lên nương. Nhiều cụ già nông thôn suốt đời
không hề bước chân ra khỏi làng mình, mặc dù đô thị chỉ cách đó vài cây số. Vì vậy dễ hiểu là tại
sao ở Việt Nam trước đây, giao thông, nhất là giao thông đường bộ, thuộc loại lĩnh vật rất kém
phát triển: Đến thế kỉ XIX mới chỉ có những con đường nhỏ, phương tiện đi lại và vận chuyển,
ngoài sứt trâu, ngựa, voi, thì phổ biến là đôi chân; quan lại thì di chuyển bằng cáng, kiệu. Thời
Nguyễn mới tổ chức được hệ thống ngựa trạm; công văn chuyển từ Huế vào Gia Định đi mất 4
ngày. Ở các đô thị phổ biến loại xe tay do người kéo, sau này kết hợp với xe đạp để thành cái
xích-lô được dùng phổ biến đến tận bây giờ.
Việt Nam là vùng sông nước, nơi đây có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và bờ
biển rất dài. Phương tiện giao thông và chuyên chở trên sông nước ở Việt Nam hết sức phong
phú: thuyền, ghe, xuồng, bè, mảng, phà, tàu, Thuyền, ghe có rất nhiều loại. Chúng được xem là
có linh hồn như con người. Việt Nam có tục vẽ mắt thuyền. Người ta tin rằng con mắt ấy sẽ giúp
cho thuyền tránh khỏi bị thủy quái làm hại. Giúp cho ngư phủ tìm được nơi nhiều cá. Giúp cho
bạn hàng tìm được bến bờ nhiều tài lộc… Sông ngòi phong phú tuy thuận tiện cho giao thông
đường thủy những lại gây khó khăn cho giao thông đường bộ. Có lẽ chính vì vậy mà Việt Nam là
một trong những nước biết làm cầu di động bằng tre gỗ (cầu phao) hoặc thuyền ghép lại (cầu
thuyền) sớm nhất thế giới.
Ngày nay với sự tiến bộ của xã hội, hệ thống giao thông đường bộ hoàn thiện hơn, việc
đi lại trở nên nhanh chóng và tiết kiệm thời gian hơn; các phương tiện như xe máy, buýt, ô tô,…
lần lượt ra đời. Bên cạnh đó, đường thủy cũng phát triển mạnh. Ngoài đường bộ, đường thủy,
Việt Nam còn có các phương tiện hiện đại là đường sắt, đường hàng không giúp cho việc mở
rộng thông thương, giao lưu kinh tế - thương mại – du lịch với các vùng miền trong nước, khu
vực và thế giới.
Giao thông thời xưa khác hẳn với nay rất nhiều và trong tương lai nó sẽ trở nên khác biệt
rất nhiều nữa. chúng ta cũng cần lưu ý là mặc cho giao thông phát triển đến mức nào đi nữa thì
văn hóa giao thông cũng là một điều quan trọng cần được duy trì và phát triển văn minh trong
mọi thời đại.
6) Đặc điểm cơ bản của Phật giáo Việt Nam.
lOMoARcPSD| 39146106
Đạo Phật hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ VI trCN; người sáng lập là thái tử
Sidharta (Tất-đạt-đa) họ là Gotama (Cồ-đàm). Ông sinh năm 624trCN vào lúc đạo Bà La môn
thống trị với sự phân chia đẳng cấp sâu sắc, sau này được tôn xưng là Xakia Muni (Thích ca
Mâu Ni). Theo đường biển, các nhà sư Ấn Độ đã đến Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên. Luy
Lâu, trị sở quận Giao Chỉ, đã sớm trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng. Thế kỉ IVV
có thêm luồng Phật giáo Đại Thừa Bắc Tông từ Trung Hoa tràn vào, lấn át và thay thế luồng
Nam Tông du nhập trước đó. Ba tông phái Phật giáo từ Trung Hoa truyền vào là: Thiền tông,
Tịnh Độ tông và Mật tông.
- Thiền tông: do nhà sư Ấn Độ sang lập ở Trung Quốc. Chủ trương tập trung trí tuệ để suy nghĩ
(thiền), để tìm ra chân lí.
=> Thiền tông VN đề cao cái Tâm.
-Tịnh Độ tông: chủ trương dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài để cứu chúng sinh thoát khổ, con
người hướng đến cõi niết bàn,…đi chùa lễ Phật, tụng kinh,… - Mật tông: chủ trương sử dụng
những phép tu huyền bí.
Do thâm nhập một cách hòa bình, ngay từ thời Bắc thuộc, Phật giáo đã phổ biến rộng khắp.
Phật giáo Việt Nam là Phật giáo được bản địa hóa khi du nhập vào Việt Nam. Phật giáo Việt Nam
mang những đặc điểm tương đồng và khác biệt so với Phật giáo của các nước khác trên thế giới.
Phật giáo Việt Nam tổng hợp các tông phái với nhau. Ở Việt Nam, không có tông phái
Phật giáo nào thuần khiết. Phật giáo Việt Nam cũng tổng hợp các con đường giải thoát bằng tự
lực và tha lực, phối hợp Thiền tông và Tịnh độ tông.
Chùa phía Bắc là một Phật điện vô cùng phong phú với mấy chục pho tượng Phật, Bồ Tát, La
Hán của các tông phái khác nhau. Phật giáo Việt Nam tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác:
Phật với Nho, với Đạo. Phật giáo Việt Nam kết hợp chặt chẽ việc đạo với việc đời. Vốn là tôn
giáo xuất thế, nhưng vào Việt Nam, Phật giáo trở nên rất nhập thế: các cao tăng được nhà nước
mời tham chính, cố vấn trong những việc hệ trọng; Phật tử hăng hái tham gia các hoạt động xã
hội, phong trào đấu tranh,…
Các vị Phật Ấn Độ xuất thân vốn là đàn ông sang Việt Nam biến thành Phật Ông- Phật
Bà: Bồ tát Quán Thế Âm đã được biến thành Phật Bà Quan Âm với nghìn mắt nghìn tay; Một số
vùng, Phật tổ Thích Ca cũng được coi là phụ nữ (Tày, Nùng); Người Việt Nam cũng tạo ra những
Phật Bà riêng.
Ngay từ đầu, người Việt Nam đã tạo ra một lịch sử Phật giáo cho riêng mình: Nàng Man,
cô gái làng Dâu Bắc Ninh, một trong những đệ tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật Mẫu,…
Vốn có đầu óc thiết thực, người Việt Nam coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn là đi
chùa: Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa,.. Coi trọng truyền thống thờ cha mẹ
hơn là thờ Phật: Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu,… Đồng nhất cha mẹ,
ông bà với Phật. Vào Việt Nam, Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng truyền
thống (có khả năng cứu giúp mọi người thoát khỏi mọi tai họa). Tượng Phật Việt Nam mang
dáng dấp hiền hòa với những tên gọi rất dân gian: ông Nhịn ăn mà mặc, ông Nhịn mặc mà ăn,
ông Bụt Ốc,.. Trên đầu Phật Bà chùa Hương còn lấp ló lọn tóc đuôi gà của phụ nữ Việt; Chùa
Việt Nam được thiết kế theo phong cách ngôi nhà cổ truyền với hình thức mái cong, có 3 gian hai
chái, năm gian hai chái. Chùa Một Cột như một lễ vật dâng lên Phật Bà với hình bông sen thanh
lOMoARcPSD| 39146106
thoát ở trên và trụ đá tròn trong hồ vuông ở dưới biểu hiện ước vọng phồn thực; Cùng với mái
đình, ngôi chùa trở thành công trình công cộng quan trọng thứ hai ở mỗi làng: con người có thể
ghé chùa xin nghỉ tạm, xin ăn,…
Sự cải biến linh hoạt trên cơ sở tổng hợp đạo Phật với đạo ông bà đã tạo nên Phật giáo
Hòa Hảo. Phật giáo Hòa Hảo lấy pháp môn Tịnh Độ làm căn bản rồi kết hợp với đạo của dân tộc
thờ ông bà tổ tiên mà đề ra thuyết tứ ân (ơn): Ơn tổ tiên cha mẹ, Ơn đất nước, Ơn tam bảo, Ơn
đồng bào và nhân loại.
7) Ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đối với văn hoá Việt Nam trên
phương diện văn hoá vật chất.
Ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đối với văn hoá Việt Nam trên phương diện văn hoá
vật chất đã làm phong phú, đa dạng thêm văn hóa Việt Nam, đồng thời góp phần xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại. Cho đến bây giờ, người Việt Nam đã không ngừng chọn lọc
những tinh hoa văn hóa tốt đẹp của phương Tây, bổ sung vào nền văn hóa truyền thống của dân
tộc làm cho nó đẹp hơn, hiện đại hơn. Trong quá trình ngày càng phát triển như hiện nay thì nhu
cầu về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của chúng ta ngày càng cao. Đáp ứng được nhu cầu
văn hóa tinh thần chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều của cải vật chất cho con người
và xã hội. Điều này làm cho cuộc sống của con người ngày càng phát triển, tốt đẹp hơn.
Trên lĩnh vực đô thị, từ cuối thế kỉ XIX, đô thị Việt Nam từ hình cổ truyền với chức
năng trung tâm chính trị đã chuyển sang phát triển theo mô hình đô thị công – thương nghiệp chú
trọng chức năng kinh tế. Ở các đô thị lớn dần hình thành một tầng lớp tư sản dân tộc; nhiều ngành
công nghiệp khác nhau ra đời (khai mỏ, chế biến nông lâm sản…). Các đô thị và thị trấn nhỏ cũng
dần dần phát triển.
Về kiến trúc: xuất hiện các kiến trúc đô thị kết hợp khá tài tình phong cách phương Tây với
tính cách dân tộc, phù hợp với điều kiện thiên nhiên Việt Nam. Chẳng hạn, các tòa nhà của Trường
Đại học Đông Dương (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội), Bộ Ngoại giao, Viện Viễn Đông Bác cổ
(nay là Bảo tàng lịch sử Hà Nội)… đã sử dụng hệ thống mái ngói, bố cục kiểu tam quan, lầu hình
bát giác… làm nổi bật tính dân tộc; đưa các mái hiên, mái che cửa sổ ra xa để tránh nấng chiếu và
mưa hắt…
Còn trên lĩnh vực giao thông, hàng chục vạn dân đinh đã được huy động xây dựng hệ thống
đường bộ đến các đồn điền, hầm mỏ, Hệ thống đường thủy ngày càng phát triển, nhất tàu
thuyền nay đã hiện đại hơn để chở nhiều hàng xuất khẩu theo đường biển; Hệ thống đường sắt với
những đường hầm xuyên núi, những cây cầu lớn ngày càng được kéo dài, ví dụ là cây cầu sắt bắc
qua sông Hồng mang tên Doumer, nay là cầu Long Biên. Và hệ thống đường hàng không cũng đã
phát triển khá phổ biến ở Việt Nam, nhiều hảng hàng không ra đời.
lOMoARcPSD| 39146106
8) Ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đối với văn hoá Việt Nam trên
phương diện văn hoá tinh thần.
Ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đối với văn hoá Việt Nam trên phương diện văn hoá
tinh thần đã làm phong phú, đa dạng thêm văn hóa Việt Nam. Cho đến bây giờ, người Việt Nam
đã không ngừng chọn lọc những tinh hoa văn hóa tốt đẹp của phương Tây, bổ sung vào nền văn
hóa truyền thống của dân tộc làm cho nó đẹp hơn, hiện đại hơn. Trong quá trình ngày càng phát
triển như hiện nay thì nhu cầu về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của chúng ta ngày càng
cao.
Sau thời Trung Cổ nặng nề khiến cho sự giao lưu bị gián đoạn, sách Khâm định Việt sử
thông giám cương mục ghi nhận “vào năm Nguyên Hòa thứ 1 đời vua Trang Tông (1533)
một người Tây dương tên là I-nê-khu (= Ignatio) theo đường biển lẻn vào giảng đạo Gia Tô ở các
làng Ninh Cường, Quần Anh, Trà Vũ (thuộc Nam Định cũ) “. Từ đó, các giáo BĐào Nha
Tây Ban Nha tìm đến ngày càng đông. Ban đầu, do chưa quen thông thổ và không thạo ngôn ngữ
nên việc truyền giáo ít thu được kết quả. Dần dần công việc tiến triển ngày càng khá hơn. Theo tài
liệu của giáo hội thì đến năm 1593, ở Nghệ An đã có đến 12 làng công giáo toàn tòng. Ki-tô giáo
đã mở đầu cho sự giao lưu giữa văn hoá Việt Nam với phương Tây.
Khi truyền giáo, các nhà truyền giáo người Tây Ban Nha, Ý, Pháp sang truyền giáo tại Việt
Nam gặp khó khăn đầu tiên vấn đề ngôn ngữ. thế, giáo sĩ Alexandre de Rhodes một số
giáo sĩ khác đã dùng mẫu tự Latinh, có bổ sung thêm các dấu phụ để ghi âm tiếng Việt. Đó là
sở hình thành chữ Quốc ngữ. Vì dễ học, dễ nhớ, chữ Quốc ngữ ngày càng được nhiều người học
và nó đã góp phần rất lớn trong việc phổ cập giáo dục và nâng cao dân trí cho người Việt Nam.
Sự kiện thứ ba do việc thâm nhập của văn hóa phương Tây đưa lại là sự ra đời của báo chí.
Việc này trước hết nhằm phục vụ cho nhu cầu thông tin cai trị của thực dân Pháp. Gia Định báo là
tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ (số đầu ra ngày 15-1-1865). Sau Gia Định báo,
ở Sài Gòn Hà Nội lần lượt xuất hiện nhiều tờ báo khác bằng chữ Quốc ngữ, chữ Hán. Báo chí
đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, thức tỉnh ý thức dân tộc tăng cường tính
năng động của người Việt Nam.
Sự tiếp xúc với phương Tây đã nảy sinh trong lĩnh vực văn học thể loại tiểu thuyết hiện
đại, đây vốn là cái mà VH truyền thống Việt Nam không có. Ngoài ra, sự tiếp xúc với phương
Tây còn ảnh hưởng đến lĩnh vực có truyền thống lâu đời như thơ => sự bùng nổ của dòng thơ
mới.
Trong lĩnh vực nghệ thuật: hội hoạ điêu khắc: văn hóa Việt Nam đã thực sự chịu ảnh
hưởng tiếp nhận nền hội hoạ điêu khắc phương Tây: bút pháp tả thực, những thể loại tranh
sơn dầu, tranh bột màu,…;Nghệ thuật sân khấu: bút pháp tả thực của nghệ thuật phương Tây thêm
tính phân biệt ràng các thể loại bi, hài kịch đã xuất hiện trên sân khấu Việt Nam. Thể loại kịch
nói + nghệ thuật sân khấu cổ truyền dẫn đến sự ra đời của nghệ thuật cải lương. Nghệ thuật âm
nhạc: các thể loại Jazz Disco Pop Rock,… đều trở nên quen thuộc phổ biến với giới trẻ
Việt Nam. c tác phẩm cổ điển của Môzart, Bethoven, Chopin,… cũng được người Việt Nam tiếp
nhận một cách trân trọng từ người thưởng thức đến người biểu diễn.
lOMoARcPSD| 39146106
Thời trang thuần tuý trong văn hóa Việt Nam cho tới thời Pháp thuộc thường là áo tứ thân,
yếm, guốc gỗ dành cho phụ nữ; khố, quần áo sớ, áo ngắn,… giày dành cho nam giới. Khi phương
Tây vào Việt Nam, thời trang của họ cũng bắt đầu hiện diện Việt Nam. Theo thời gian, người
Việt Nam tiếp nhận càng ngày càng mạnh mẽ từ quần Tây áo Veston, quần Jean, Jupe, giày dép,
v.v…Đây là bước ngoặt mở đầu cho quá trình phát triển thời trang ở Việt Nam.
Để đào tạo người làm việc cho mình, thực dân Pháp đã buộc học trò học tiếng Pháp, bắt
theo hệ thống giáo dục kiểu phương xây. Năm 1898, chương trình thi Hương thêm hai môn
Quốc ngữ và Pháp văn. Năm 1906 lập ra Nha học chính Đông Dương và định ra ba bậc học cơ sở
ấu học, tiểu học và trung học. Trong những năm này, nhà cầm quyền lập ra một số trường cao
đẳng đến 1908 thì mở ra Trường Đại học Đông Dương. Hệ thống Nho học tàn lụi dần. Đến năm
1915 ở Bắc Kì và 1918 ở Trong Kì việc thi Hương bị bãi bỏ, chấm dứt nền Nho học Việt Nam. Hệ
thống giáo dục mới này cùng với sách vở phương Tây đã góp phần giúp người Việt Nam mở rộng
thêm tầm mắt, tiếp xúc với các tư tưởng dân chủ tư sản, rồi sau là tư tưởng Mácxít. Truyền thống
đạo học với lối tư duy tổng hợp nay được bổ sung thêm kiểu tư duy phân tích. Nó được rèn luyện
qua báo chí, giáo dục hoạt động của những quan khoa học như Trường Viễn Đông Pháp,
Viện Vi trùng học. Nền khoa học hiện đại manh nha từ thời thuộc Pháp này đến khi giao lưu với
Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, đã trở nên thực sự vững mạnh và phát triển. Vượt
ra ngoài ý đồ của bọn thực dân, sự áp đặt thô bạo của chúng dẫn đến hậu quả ngược lại là khích lệ
tinh thần dân tộc, lòng yêu nước chống Pháp. Xuất hiện Nguyễn Trường Tộ với những bản điều
trần, Phan Châu Trinh với phong trào Duy tân (1906-1908), Lương Văn Can với phong trào Đông
Kinh nghĩa thục (năm 1907)… Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng tìm hiểu, chắt lọc cái hay của
văn minh phương Tây để giải phóng dân tộc là Nguyễn Ái Quốc.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 39146106
Ôn tập CSVH Việt Nam
5) Đặc điểm của việc đi lại ở Việt Nam truyền thống.
Phương Tây là nơi của các nền văn hóa gốc du mục, họ thích đi đây đi đó lối sống thích
di chuyển, trọng động, hướng ngoại cho nên giao thông họ rất phát triển. Còn Việt Nam là một
quốc gia tiêu biểu cho loại hình văn hóa gốc nông nghiệp. Không thích di chuyển, thích ổn định
cuộc sống, trọng tĩnh, hướng nội bởi thế giao thông nước ta kém phát triển. Và nói tới giao thông
truyền thống nước ta thì chỉ có 2 con đường đó là đường bộ và đường thủy.
Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, do bản chất nông nghiệp sống định cư cho nên con người ít
có nhu cầu di chuyển; có đi thì đi gần nhiều hơn đi xa. Hoạt động đi lại chủ yếu của người nông
nghiệp Việt Nam là đi gần – từ nhà ra đồng, từ nhà lên nương. Nhiều cụ già nông thôn suốt đời
không hề bước chân ra khỏi làng mình, mặc dù đô thị chỉ cách đó vài cây số. Vì vậy dễ hiểu là tại
sao ở Việt Nam trước đây, giao thông, nhất là giao thông đường bộ, thuộc loại lĩnh vật rất kém
phát triển: Đến thế kỉ XIX mới chỉ có những con đường nhỏ, phương tiện đi lại và vận chuyển,
ngoài sứt trâu, ngựa, voi, thì phổ biến là đôi chân; quan lại thì di chuyển bằng cáng, kiệu. Thời
Nguyễn mới tổ chức được hệ thống ngựa trạm; công văn chuyển từ Huế vào Gia Định đi mất 4
ngày. Ở các đô thị phổ biến loại xe tay do người kéo, sau này kết hợp với xe đạp để thành cái
xích-lô được dùng phổ biến đến tận bây giờ.
Việt Nam là vùng sông nước, nơi đây có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và bờ
biển rất dài. Phương tiện giao thông và chuyên chở trên sông nước ở Việt Nam hết sức phong
phú: thuyền, ghe, xuồng, bè, mảng, phà, tàu, Thuyền, ghe có rất nhiều loại. Chúng được xem là
có linh hồn như con người. Việt Nam có tục vẽ mắt thuyền. Người ta tin rằng con mắt ấy sẽ giúp
cho thuyền tránh khỏi bị thủy quái làm hại. Giúp cho ngư phủ tìm được nơi nhiều cá. Giúp cho
bạn hàng tìm được bến bờ nhiều tài lộc… Sông ngòi phong phú tuy thuận tiện cho giao thông
đường thủy những lại gây khó khăn cho giao thông đường bộ. Có lẽ chính vì vậy mà Việt Nam là
một trong những nước biết làm cầu di động bằng tre gỗ (cầu phao) hoặc thuyền ghép lại (cầu
thuyền) sớm nhất thế giới.
Ngày nay với sự tiến bộ của xã hội, hệ thống giao thông đường bộ hoàn thiện hơn, việc
đi lại trở nên nhanh chóng và tiết kiệm thời gian hơn; các phương tiện như xe máy, buýt, ô tô,…
lần lượt ra đời. Bên cạnh đó, đường thủy cũng phát triển mạnh. Ngoài đường bộ, đường thủy,
Việt Nam còn có các phương tiện hiện đại là đường sắt, đường hàng không giúp cho việc mở
rộng thông thương, giao lưu kinh tế - thương mại – du lịch với các vùng miền trong nước, khu vực và thế giới.
Giao thông thời xưa khác hẳn với nay rất nhiều và trong tương lai nó sẽ trở nên khác biệt
rất nhiều nữa. chúng ta cũng cần lưu ý là mặc cho giao thông phát triển đến mức nào đi nữa thì
văn hóa giao thông cũng là một điều quan trọng cần được duy trì và phát triển văn minh trong mọi thời đại.
6) Đặc điểm cơ bản của Phật giáo Việt Nam. lOMoAR cPSD| 39146106
Đạo Phật hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ VI trCN; người sáng lập là thái tử
Sidharta (Tất-đạt-đa) họ là Gotama (Cồ-đàm). Ông sinh năm 624trCN vào lúc đạo Bà La môn
thống trị với sự phân chia đẳng cấp sâu sắc, sau này được tôn xưng là Xakia Muni (Thích ca
Mâu Ni). Theo đường biển, các nhà sư Ấn Độ đã đến Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên. Luy
Lâu, trị sở quận Giao Chỉ, đã sớm trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng. Thế kỉ IV – V
có thêm luồng Phật giáo Đại Thừa Bắc Tông từ Trung Hoa tràn vào, lấn át và thay thế luồng
Nam Tông du nhập trước đó. Ba tông phái Phật giáo từ Trung Hoa truyền vào là: Thiền tông,
Tịnh Độ tông và Mật tông.
- Thiền tông: do nhà sư Ấn Độ sang lập ở Trung Quốc. Chủ trương tập trung trí tuệ để suy nghĩ
(thiền), để tìm ra chân lí.
=> Thiền tông VN đề cao cái Tâm.
-Tịnh Độ tông: chủ trương dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài để cứu chúng sinh thoát khổ, con
người hướng đến cõi niết bàn,…đi chùa lễ Phật, tụng kinh,… - Mật tông: chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí.
Do thâm nhập một cách hòa bình, ngay từ thời Bắc thuộc, Phật giáo đã phổ biến rộng khắp.
Phật giáo Việt Nam là Phật giáo được bản địa hóa khi du nhập vào Việt Nam. Phật giáo Việt Nam
mang những đặc điểm tương đồng và khác biệt so với Phật giáo của các nước khác trên thế giới.
Phật giáo Việt Nam tổng hợp các tông phái với nhau. Ở Việt Nam, không có tông phái
Phật giáo nào thuần khiết. Phật giáo Việt Nam cũng tổng hợp các con đường giải thoát bằng tự
lực và tha lực, phối hợp Thiền tông và Tịnh độ tông.
Chùa phía Bắc là một Phật điện vô cùng phong phú với mấy chục pho tượng Phật, Bồ Tát, La
Hán của các tông phái khác nhau. Phật giáo Việt Nam tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác:
Phật với Nho, với Đạo. Phật giáo Việt Nam kết hợp chặt chẽ việc đạo với việc đời. Vốn là tôn
giáo xuất thế, nhưng vào Việt Nam, Phật giáo trở nên rất nhập thế: các cao tăng được nhà nước
mời tham chính, cố vấn trong những việc hệ trọng; Phật tử hăng hái tham gia các hoạt động xã
hội, phong trào đấu tranh,…
Các vị Phật Ấn Độ xuất thân vốn là đàn ông sang Việt Nam biến thành Phật Ông- Phật
Bà: Bồ tát Quán Thế Âm đã được biến thành Phật Bà Quan Âm với nghìn mắt nghìn tay; Một số
vùng, Phật tổ Thích Ca cũng được coi là phụ nữ (Tày, Nùng); Người Việt Nam cũng tạo ra những Phật Bà riêng.
Ngay từ đầu, người Việt Nam đã tạo ra một lịch sử Phật giáo cho riêng mình: Nàng Man,
cô gái làng Dâu Bắc Ninh, một trong những đệ tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật Mẫu,…
Vốn có đầu óc thiết thực, người Việt Nam coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn là đi
chùa: Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa,.. Coi trọng truyền thống thờ cha mẹ
hơn là thờ Phật: Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu,… Đồng nhất cha mẹ,
ông bà với Phật. Vào Việt Nam, Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng truyền
thống (có khả năng cứu giúp mọi người thoát khỏi mọi tai họa). Tượng Phật Việt Nam mang
dáng dấp hiền hòa với những tên gọi rất dân gian: ông Nhịn ăn mà mặc, ông Nhịn mặc mà ăn,
ông Bụt Ốc,.. Trên đầu Phật Bà chùa Hương còn lấp ló lọn tóc đuôi gà của phụ nữ Việt; Chùa
Việt Nam được thiết kế theo phong cách ngôi nhà cổ truyền với hình thức mái cong, có 3 gian hai
chái, năm gian hai chái. Chùa Một Cột như một lễ vật dâng lên Phật Bà với hình bông sen thanh lOMoAR cPSD| 39146106
thoát ở trên và trụ đá tròn trong hồ vuông ở dưới biểu hiện ước vọng phồn thực; Cùng với mái
đình, ngôi chùa trở thành công trình công cộng quan trọng thứ hai ở mỗi làng: con người có thể
ghé chùa xin nghỉ tạm, xin ăn,…
Sự cải biến linh hoạt trên cơ sở tổng hợp đạo Phật với đạo ông bà đã tạo nên Phật giáo
Hòa Hảo. Phật giáo Hòa Hảo lấy pháp môn Tịnh Độ làm căn bản rồi kết hợp với đạo của dân tộc
thờ ông bà tổ tiên mà đề ra thuyết tứ ân (ơn): Ơn tổ tiên cha mẹ, Ơn đất nước, Ơn tam bảo, Ơn
đồng bào và nhân loại.
7) Ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đối với văn hoá Việt Nam trên
phương diện văn hoá vật chất.
Ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đối với văn hoá Việt Nam trên phương diện văn hoá
vật chất đã làm phong phú, đa dạng thêm văn hóa Việt Nam, đồng thời góp phần xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại. Cho đến bây giờ, người Việt Nam đã không ngừng chọn lọc
những tinh hoa văn hóa tốt đẹp của phương Tây, bổ sung vào nền văn hóa truyền thống của dân
tộc làm cho nó đẹp hơn, hiện đại hơn. Trong quá trình ngày càng phát triển như hiện nay thì nhu
cầu về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của chúng ta ngày càng cao. Đáp ứng được nhu cầu
văn hóa tinh thần chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều của cải vật chất cho con người
và xã hội. Điều này làm cho cuộc sống của con người ngày càng phát triển, tốt đẹp hơn.
Trên lĩnh vực đô thị, từ cuối thế kỉ XIX, đô thị Việt Nam từ mô hình cổ truyền với chức
năng trung tâm chính trị đã chuyển sang phát triển theo mô hình đô thị công – thương nghiệp chú
trọng chức năng kinh tế. Ở các đô thị lớn dần hình thành một tầng lớp tư sản dân tộc; nhiều ngành
công nghiệp khác nhau ra đời (khai mỏ, chế biến nông lâm sản…). Các đô thị và thị trấn nhỏ cũng dần dần phát triển.
Về kiến trúc: xuất hiện các kiến trúc đô thị kết hợp khá tài tình phong cách phương Tây với
tính cách dân tộc, phù hợp với điều kiện thiên nhiên Việt Nam. Chẳng hạn, các tòa nhà của Trường
Đại học Đông Dương (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội), Bộ Ngoại giao, Viện Viễn Đông Bác cổ
(nay là Bảo tàng lịch sử Hà Nội)… đã sử dụng hệ thống mái ngói, bố cục kiểu tam quan, lầu hình
bát giác… làm nổi bật tính dân tộc; đưa các mái hiên, mái che cửa sổ ra xa để tránh nấng chiếu và mưa hắt…
Còn trên lĩnh vực giao thông, hàng chục vạn dân đinh đã được huy động xây dựng hệ thống
đường bộ đến các đồn điền, hầm mỏ, … Hệ thống đường thủy ngày càng phát triển, nhất là tàu
thuyền nay đã hiện đại hơn để chở nhiều hàng xuất khẩu theo đường biển; Hệ thống đường sắt với
những đường hầm xuyên núi, những cây cầu lớn ngày càng được kéo dài, ví dụ là cây cầu sắt bắc
qua sông Hồng mang tên Doumer, nay là cầu Long Biên. Và hệ thống đường hàng không cũng đã
phát triển khá phổ biến ở Việt Nam, nhiều hảng hàng không ra đời. lOMoAR cPSD| 39146106
8) Ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đối với văn hoá Việt Nam trên
phương diện văn hoá tinh thần.
Ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đối với văn hoá Việt Nam trên phương diện văn hoá
tinh thần đã làm phong phú, đa dạng thêm văn hóa Việt Nam. Cho đến bây giờ, người Việt Nam
đã không ngừng chọn lọc những tinh hoa văn hóa tốt đẹp của phương Tây, bổ sung vào nền văn
hóa truyền thống của dân tộc làm cho nó đẹp hơn, hiện đại hơn. Trong quá trình ngày càng phát
triển như hiện nay thì nhu cầu về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của chúng ta ngày càng cao.
Sau thời Trung Cổ nặng nề khiến cho sự giao lưu bị gián đoạn, sách Khâm định Việt sử
thông giám cương mục ghi nhận “vào năm Nguyên Hòa thứ 1 đời vua Lê Trang Tông (1533) có
một người Tây dương tên là I-nê-khu (= Ignatio) theo đường biển lẻn vào giảng đạo Gia Tô ở các
làng Ninh Cường, Quần Anh, Trà Vũ (thuộc Nam Định cũ) “. Từ đó, các giáo sĩ Bồ Đào Nha và
Tây Ban Nha tìm đến ngày càng đông. Ban đầu, do chưa quen thông thổ và không thạo ngôn ngữ
nên việc truyền giáo ít thu được kết quả. Dần dần công việc tiến triển ngày càng khá hơn. Theo tài
liệu của giáo hội thì đến năm 1593, ở Nghệ An đã có đến 12 làng công giáo toàn tòng. Ki-tô giáo
đã mở đầu cho sự giao lưu giữa văn hoá Việt Nam với phương Tây.
Khi truyền giáo, các nhà truyền giáo người Tây Ban Nha, Ý, Pháp sang truyền giáo tại Việt
Nam gặp khó khăn đầu tiên là vấn đề ngôn ngữ. Vì thế, giáo sĩ Alexandre de Rhodes và một số
giáo sĩ khác đã dùng mẫu tự Latinh, có bổ sung thêm các dấu phụ để ghi âm tiếng Việt. Đó là Cơ
sở hình thành chữ Quốc ngữ. Vì dễ học, dễ nhớ, chữ Quốc ngữ ngày càng được nhiều người học
và nó đã góp phần rất lớn trong việc phổ cập giáo dục và nâng cao dân trí cho người Việt Nam.
Sự kiện thứ ba do việc thâm nhập của văn hóa phương Tây đưa lại là sự ra đời của báo chí.
Việc này trước hết nhằm phục vụ cho nhu cầu thông tin cai trị của thực dân Pháp. Gia Định báo là
tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ (số đầu ra ngày 15-1-1865). Sau Gia Định báo,
ở Sài Gòn và Hà Nội lần lượt xuất hiện nhiều tờ báo khác bằng chữ Quốc ngữ, chữ Hán. Báo chí
đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, thức tỉnh ý thức dân tộc và tăng cường tính
năng động của người Việt Nam.
Sự tiếp xúc với phương Tây đã nảy sinh trong lĩnh vực văn học thể loại tiểu thuyết hiện
đại, đây vốn là cái mà VH truyền thống Việt Nam không có. Ngoài ra, sự tiếp xúc với phương
Tây còn ảnh hưởng đến lĩnh vực có truyền thống lâu đời như thơ => sự bùng nổ của dòng thơ mới.
Trong lĩnh vực nghệ thuật: hội hoạ – điêu khắc: văn hóa Việt Nam đã thực sự chịu ảnh
hưởng và tiếp nhận nền hội hoạ – điêu khắc phương Tây: bút pháp tả thực, những thể loại tranh
sơn dầu, tranh bột màu,…;Nghệ thuật sân khấu: bút pháp tả thực của nghệ thuật phương Tây thêm
tính phân biệt rõ ràng các thể loại bi, hài kịch đã xuất hiện trên sân khấu Việt Nam. Thể loại kịch
nói + nghệ thuật sân khấu cổ truyền dẫn đến sự ra đời của nghệ thuật cải lương. Nghệ thuật âm
nhạc: các thể loại Jazz – Disco – Pop – Rock,… đều trở nên quen thuộc và phổ biến với giới trẻ
Việt Nam. Các tác phẩm cổ điển của Môzart, Bethoven, Chopin,… cũng được người Việt Nam tiếp
nhận một cách trân trọng từ người thưởng thức đến người biểu diễn. lOMoAR cPSD| 39146106
Thời trang thuần tuý trong văn hóa Việt Nam cho tới thời Pháp thuộc thường là áo tứ thân,
yếm, guốc gỗ dành cho phụ nữ; khố, quần áo sớ, áo ngắn,… giày dành cho nam giới. Khi phương
Tây vào Việt Nam, thời trang của họ cũng bắt đầu hiện diện ở Việt Nam. Theo thời gian, người
Việt Nam tiếp nhận càng ngày càng mạnh mẽ từ quần Tây áo Veston, quần Jean, Jupe, giày dép,
v.v…Đây là bước ngoặt mở đầu cho quá trình phát triển thời trang ở Việt Nam.
Để đào tạo người làm việc cho mình, thực dân Pháp đã buộc học trò học tiếng Pháp, bắt
theo hệ thống giáo dục kiểu phương xây. Năm 1898, chương trình thi Hương có thêm hai môn
Quốc ngữ và Pháp văn. Năm 1906 lập ra Nha học chính Đông Dương và định ra ba bậc học cơ sở
là ấu học, tiểu học và trung học. Trong những năm này, nhà cầm quyền lập ra một số trường cao
đẳng và đến 1908 thì mở ra Trường Đại học Đông Dương. Hệ thống Nho học tàn lụi dần. Đến năm
1915 ở Bắc Kì và 1918 ở Trong Kì việc thi Hương bị bãi bỏ, chấm dứt nền Nho học Việt Nam. Hệ
thống giáo dục mới này cùng với sách vở phương Tây đã góp phần giúp người Việt Nam mở rộng
thêm tầm mắt, tiếp xúc với các tư tưởng dân chủ tư sản, rồi sau là tư tưởng Mácxít. Truyền thống
đạo học với lối tư duy tổng hợp nay được bổ sung thêm kiểu tư duy phân tích. Nó được rèn luyện
qua báo chí, giáo dục và hoạt động của những cơ quan khoa học như Trường Viễn Đông Pháp,
Viện Vi trùng học. Nền khoa học hiện đại manh nha từ thời thuộc Pháp này đến khi giao lưu với
Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, đã trở nên thực sự vững mạnh và phát triển. Vượt
ra ngoài ý đồ của bọn thực dân, sự áp đặt thô bạo của chúng dẫn đến hậu quả ngược lại là khích lệ
tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và chống Pháp. Xuất hiện Nguyễn Trường Tộ với những bản điều
trần, Phan Châu Trinh với phong trào Duy tân (1906-1908), Lương Văn Can với phong trào Đông
Kinh nghĩa thục (năm 1907)… Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng tìm hiểu, chắt lọc cái hay của
văn minh phương Tây để giải phóng dân tộc là Nguyễn Ái Quốc.