1. Liên hệ thực tiễn vai trò lãnh đạo của Đảng trong cách mạng Việt Nam từ 1930-nay?
ới sự lãnh đạo của Đảng, 95 năm qua dân tộc Việt Nam đã làm nên những kỳ tích:
giành độc lập dân tộc với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, chỉ 15 năm sau
ngày thành lập Đảng; bảo vệ vững chắc nền độc lập, thống nhất với quá trình kháng
chiến chống ngoại xâm trong suốt 30 năm (1945-1975); bước đầu quá độ đi lên xây
dựng chế độ mới - chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đặc biệt, quá trình đổi mới
toàn diện đất nước gần 40 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng (1986-2025) đã đạt
được nhiều thành tựu về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đảm bảo giữ vững an ninh
quốc phòng, tạo sức bật cho Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.
2. Đề xuất giải pháp xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh?
Quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, gắn với nhiệm vụ
cụ thể của từng địa phương, đơn vị; xây dựng Nghị quyết sát đúng với tình hình thực
tiễn của địa phương, đơn vị, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm, rõ
nguồn lực, rõ sản phẩm; đề ra giải pháp để lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành các chỉ
tiêu về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, công tác xây dựng Đảng,
chính quyền, đoàn thể mà đại hội đề ra.
Nâng cao năng lực, chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng
viên; Thường xuyên củng c, xây dựng tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư
ởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao chất lượng sinh hot đảng; thường
xuyên giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, trình
độ, kiến thức và năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.
Tiến hành thường xuyên, nghiêm túc tự phê bình và phê bình; kịp thời phát
hiện, nêu gương những đảng viên tiền phong gương mẫu, có thành tích xuất
sắc.
Thi hành kỷ luật nghiêm minh đối với đảng viên vi phạm Ðiều lệ Ðảng và rà
soát những đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Ðảng. Kiên quyết đấu tranh,
đẩy lùi tình trng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng
viên, những biểu hiện "tự din biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; tích cực
phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cc.
Đổi mới nội dung, phương pháp đánh giá chất lượng tchức đảng, đảng viên
theo hướng lượng hoá, phù hợp với từng loại hình và gắn việc đánh giá với kết
quthực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị. Thường xuyên bồi
ỡng đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy về kỹ năng lãnh đạo, khả năng cụ
thể hóa các Chỉ thị, Nghị quyết để lãnh đạo thực hiện nhiệm v chính trị địa
phương.
Phải thực hiện thật tốt công tác kiểm tra, giám sát. thc hiện thường xuyên, nghiêm
túc, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm nhằm giữ
vững sự trong sạch, vững mạnh của Đảng.
3. Trách nhiệm của SV trong công tác xây dựng Đảng?
Thnhất, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, học tập, nâng cao phẩm chất
chính trịạo đức lối sống, hoàn thành tốt mọi nhiệm vđược giao và phát
huy những thếmạnh của mình để giúp cho việc phát triển Đảng trong sinh
viên ngày càng mạnhvà đạt được hiệu quả cao nhất.
Thứ hai, bồi dưỡngvề lập trường tư tưởng chính trị, giúp chúng ta trưởng
thành về phẩm chất chính trị, nâng cao vai trò tiên phong, tinh thần trách
nhim của bản thân trong mọi hoạt động đoàn thể.
Thứ ba, kiên định với lâ p trường của bản thân, với mục tiêu chính trị. Làm
chnhững phát ngôn của mình, nhất là những vấn đề nhạy cảm cần đm bo
tính chính xác của thông tin.
Tích cực trau dồi vốn kiến thức, chủ động tìmkiếm thông tin, tự rèn luyện bản
thân và hoàn thành tốt nội dung công viêc được giao.
Mỗi đảng viên là sinh viên cần giải quyết tốt, đảm bảo hài hòa giữa vai trò
nhiêm vụ của mình dưới tư cách là môt đảng viên và là môt sinh viên. Có
nhưthế mới là môt sinh viên ưu tú, mô t đảng viên gương mẫu, góp phần xây
dựng xã hôi văn minh hơn.
4. Giải pháp xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên?
Một là, nhóm giải pháp về thể chế và quản trị.
Tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý và nâng cao năng lực thực thi tự chủ. Cần rà
soát, sửa đổi và ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn về chế độ làm việc, định
mức lao động và cơ chế tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao
công nghệ nhằm tháo gỡ vướng mắc cho các cơ sở giáo dục đại học. Đồng thời, tăng
cường tập huấn về quản trị đại học hiện đại cho đội ngũ lãnh đạo; đẩy mạnh công
khai, minh bạch dữ liệu về giảng viên và nghiên cứu khoa học thông qua hệ thống
HEMIS để tạo động lực nâng cao chất lượng. Khuyến khích nhân rộng mô hình đại
học đa lĩnh vực nhằm sử dụng hiệu quả đội ngũ giảng viên chất lượng cao và nâng
cao hiệu quả quản trị.
Hai là, nhóm giải pháp về tuyển dụng và đãi ngộ giảng viên.
Các cơ sở giáo dục đại học cần tận dụng quyền tự chủ để xây dựng cơ chế tiền
lương, thu nhập và khen thưởng cạnh tranh, gắn với hiệu suất nghiên cứu khoa học
và chuyển giao công nghệ. Áp dụng hợp đồng làm việc linh hoạt, chú trọng chỉ tiêu
nghiên cứu thay vì chỉ định mức giờ dạy. Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ nhà
ở, vay vốn ưu đãi cho giảng viên trẻ; thu hút chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam ở
nước ngoài và người nước ngoài thông qua cơ chế đãi ngộ đặc thù. Đồng thời, xây
dựng các chương trình học bổng sau đại học nhằm tạo nguồn giảng viên chất lượng
cao trong tương lai.
Ba là, nhóm giải pháp về phát triển chuyên môn và nghiên cứu khoa học.
Đẩy mạnh chuyển đổi vai trò giảng viên theo hướng gắn giảng dạy với nghiên cứu và
chuyển giao công nghệ. Các trường cần đầu tư phòng thí nghiệm, hạ tầng nghiên
cứu hiện đại, nhất là trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ mũi nhọn. Giảm định
mức giờ dạy đối với giảng viên có thành tích nghiên cứu nổi bật; xây dựng quỹ nghiên
cứu khoa học linh hoạt, ưu tiên hợp tác quốc tế và gắn với doanh nghiệp. Đồng thời,
mở rộng hợp tác với các đại học uy tín nước ngoài thông qua đào tạo tiến sĩ đồng
hướng dẫn, trao đổi giảng viên, tổ chức hội thảo khoa học quốc tế nhằm nâng cao
năng lực nghiên cứu và công bố khoa học.
5. Ý nghĩa của tư tưởng đối với công cuộc xây dựng Đảng hiện nay?
6. Trách nhiệm của sinh viên đối công tác xây dựng cán bộ giảng viên?
Thnhất, sinh viên cần nâng cao ý thức học tập và rèn luyện đạo đức, lối sống. Vic
học tập nghiêm túc, chấp hành nội quy, quy chế nhà trường không chỉ thhiện trách
nhiệm cá nhân mà còn góp phần tạo môi trường giáo dục kỷ cương, lành mạnh, từ
đó thúc đẩy đội ngũ giảng viên nâng cao tinh thần trách nhiệm và chất lượng giảng
dạy.
Thứ hai, sinh viên cần chủ động, tích cực trong học tập và nghiên cứu khoa học. Việc
tham gia các đề tài nghiên cứu, hoạt động học thuật giúp tăng cường sự gắn kết giữa
sinh viên và giảng viên, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, đổi mới phương
pháp giảng dạy và phát triển năng lực nghiên cứu trong nhà trường.
Thứ ba, sinh viên có trách nhiệm tham gia góp ý, đánh giá giảng viên một cách khách
quan, trung thực thông qua các kênh chính thức. Những ý kiến phản hồi đúng đắn sẽ
giúp nhà trường và giảng viên kịp thời điều chỉnh phương pháp giảng dạy, nâng cao
chất lượng đào tạo.
Thứ tư, sinh viên cần mạnh dạn phản ánh, tố giác các biểu hiện tiêu cực, vi phạm
đạo đức nhà giáo hoặc quy chế chuyên môn. Việc này phải được thực hiện đúng quy
định, trên tinh thần xây dựng, góp phần ngăn chặn tiêu cực, giữ gìn sự trong sạch, uy
tín của đội ngũ cán bộ, giảng viên.
Thứ năm, sinh viên cần tự rèn luyện, định hướng phát triển lâu dài, không ngừng
nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và năng lực nghiên cứu, qua đó
trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao, đội ngũ cán bộ, giảng viên kế cận cho nhà
trường trong tương lai.
7. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng?
Đầu tiên là thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ mọi mặt cho cán bộ,
đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu cần nắm vững những
vấn đề cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh; có năng lực tư duy và dự báo được sự phát
triển cũng như những diễn biến có thể xảy ra trong quá trình lãnh đạo; đi sâu, đi sát,
nắm bắt thực tiễn, đưa ra quyết sách chính xác, đột phá. Cần phải quyết đoán, dám
nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt
động hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả sau sắp xếp. Kịp thời sửa đổi, điều chỉnh các quy
định về công tác cán bộ phù hợp với quy định của Trung ương và chính quyền địa
phương 2 cấp.
Xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ công bằng, minh bạch dựa trên hiệu quả công việc
thực tế. Bố trí sắp xếp cán bộ phù hợp với năng lực, sở trường, mạnh dạn đề bạt cán
bộ tr, cán bộ có năng lực. Điều chỉnh, bổ sung và quy định cụ th, hợp lý hơn chức
năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của mỗi loại hình tổ chức; tăng cường tính
chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp. Xây dựng cơ chế, quy chế phi
hợp, phân định rõ chức năng giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tquốc và các tổ chc
chính trị - xã hội.
Trên cơ sở đó có sự phân công, ràng buộc trách nhiệm, giám sát lẫn nhau giữa cấp
ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận T quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tạo sự vận
hành đồng bộ, thông suốt ca hệ thng chính trị, mở rộng và phát huy dân chủ trong
xã hội, nâng cao chất lượng của cả hthống chính trị.
Thứ ba, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật trong việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; quy chế, quy định của cơ quan, đơn vị và
nơi cư trú. Xây dựng ý thức tchức kỷ luật, phẩm chất đạo đức, lối sống của đội ngũ
cán bộ, đảng viên; khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy, không làm đúng, đầy đủ
chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của một bphận cán bộ, đảng viên, công chức,
viên chức. Qua đó, tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm
thực hiện thắng lợi cương lĩnh, đường lối, nghị quyết của Đảng.
Thứ tư, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo đối với các cơ quan bảo vệ
pháp luật và kiểm tra của Đảng. Cấp ủy các cấp phải nâng cao chất lượng, hiệu lực,
hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt, thường xuyên,
toàn diện, đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng để phục vụ thc
hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh.
Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chchốt, nhất là
những nơi dễ xảy ra vi phạm, nơi có nhiều bức xúc nổi cộm, dư luận quan tâm.
Thứ năm, củng cố, nâng cao vai trò công tác tham mưu về xây dựng Đảng của các cơ
quan chuyên trách tham mưu, giúp việc; thực hiện nghiêm, hiệu quả các nguyên tắc
tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc Đảng
hot động trong khuôn khHiến pháp và pháp luật. Tiếp tục rà soát chức năng,
nhim vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác, cơ cấu tổ chức bên trong của các cơ
quan, đơn vị để từng bước sắp xếp hợp lý, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, bộ máy
vận hành hiệu quả, thực hiện tốt nhiệm vđược giao.
Thứ sáu, phát huy mạnh mẽ vai trò của chính quyền, Mặt trận Tquốc, các tổ chc
chính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Tăng cường vai trò lãnh đạo,
phát huy đầy đủ hiệu lực quản lý của các cơ quan nhà nước. Nâng cao năng lực cm
quyền của Đảng là để thc hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng mà thực chất
là phục vụ lợi ích của nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia góp ý,
nhất là phản biện chính sách là cực kỳ quan trọng. Đây cũng là nét đặc biệt của thể
chế chính trị có một đảng duy nhất cầm quyền.
Thứ bảy, nâng cao chất lượng ban hành nghị quyết, chỉ thị, bảo đảm ngắn gọn, rõ
trọng tâm, sát thực tiễn, phù hợp với tổ chức đảng ở các phường, xã trung tâm, đồng
bằng, miền núi và hải đảo, vùng sâu, vùng xa; khắc phục tình trạng hình thức, dàn
trải. Đồng thời, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong lãnh đạo, điều hành và
triển khai đồng bộ hệ thống quản lý, chỉ đạo trực tuyến; xây dựng cơ sở dữ liệu thống
nhất cho toàn Đảng bộ.
8. Trách nhiệm của SV trong bảo tồn giá trị văn hóa của dân tộc?
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, sự giao lưu văn hóa diễn
ra mạnh mẽ, bên cạnh những giá trị tích cực cũng xuất hiện nhiều yếu tố văn hóa
ngoại lai không phù hợp với truyền thống dân tộc. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá
trị văn hóa dân tộc trở thành nhiệm vụ quan trọng, trong đó sinh viên – lực lượng trí
thức trẻ – giữ vai trò hết sc quan trọng.
Thnhất, sinh viên cần nâng cao nhận thức và hiểu biết v các giá trị văn hóa truyền
thống của dân tộc.
Sinh viên cần chủ động tìm hiểu lịch sử, phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống, di
sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam. Việc hiểu đúng và hiểu sâu giúp sinh
viên hình thành lòng tự hào dân tộc, từ đó có ý thức bảo vệ và gìn giữ bản sắc văn
hóa trong học tập và đời sống hằng ngày.
Thứ hai, sinh viên phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn
lọc, đồng thời kiên quyết chống lại các biểu hiện văn hóa ngoại lai không phù hợp.
Trong quá trình hội nhập, sinh viên không nên chạy theo lối sống thực dụng, hưởng
thụ, bạo lực hay các trào lưu lệch chuẩn trên mạng xã hội. Việc tiếp nhận văn hóa
ớc ngoài cần phù hợp với thuần phong mỹ tục, đạo đức và truyền thống tốt đẹp
của dân tộc Việt Nam.
Thứ ba, sinh viên có trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa trong lối sống và hành vi
ứng xử hằng ngày.
Điều này thể hiện qua việc sống nhân ái, đoàn kết, lễ phép với thầy cô, tôn trọng
người lớn tuổi, có ý thức cộng đồng và tinh thần “uống nước nhớ nguồn”. Những
hành vi ứng xử văn minh chính là biểu hiện cụ thể của văn hóa dân tộc trong đời
sống hiện đại.
Thứ tư, sinh viên cần tích cực tham gia xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh tại
nhà trường và nơi cư trú.
Thông qua việc tham gia các phong trào xây dựng trường học văn hóa”, “khu phố
văn hóa, giữ gìn vệ sinh môi trường, chấp hành quy định nơi công cộng, sinh viên
góp phần hình thành nếp sống văn minh, kỷ cương và đoàn kết trong cộng đồng.
Thứ năm, sinh viên phải sống, học tập và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật, nội quy nhà trường, nói không với tệ nạn xã hội, gian lận
học tập và các hành vi vi phạm pháp luật chính là biểu hiện quan trọng của văn hóa.
Sống và làm việc theo pháp luật góp phần xây dựng xã hội ổn định, tiến bộ và văn
minh.
Thứ sáu, sinh viên cần tích cực tuyên truyền, lan tỏa và bảo vệ các giá trị văn hóa
dân tộc.
Thông qua mạng xã hội và các hoạt động cộng đồng, sinh viên có thể giới thiệu
những nét đẹp văn hóa Việt Nam, đồng thời đấu tranh với các hành vi xuyên tạc, làm
sai lệch hoặc xâm hại giá trị văn hóa dân tộc.
Kết luận, bằng nhận thức đúng đắn và những hành động cụ thể như tiếp thu văn hóa
có chọn lọc, chống lại văn hóa ngoại lai không phù hợp, xây dựng môi trường văn
hóa lành mạnh và sống theo pháp luật, sinh viên góp phần quan trọng trong việc bảo
tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
9. Giải pháp để xây dựng và bảo vệ nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc
tế?
Một là, phát triển giáo dục đất nước, nâng cao việc tuyên truyền những bản sắc
dân tộc cho các thế hệ tr.
o Toàn cầu hóa giúp đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, thay đổi đời sống
của phần lớn người dân Việt Nam, tuy nhiên cũng lối sống hưởng thụ,
chạy theo vật chất, ích kỷ do kinh tế phát triển đang ngày càng phổ biến
trong người dân. Trong bối cảnh đó, giáo dục văn hóa đất nước qua sách
vở, các phương tiện truyền thông đại chúng, như: mạng xã hội, truyền
hình, phát thanh, báo chí,… nhằm đào tạo nên những công dân có tri
thức, hiểu biết v bản sắc văn hóa dân tộc là vô cùng cần thiết. Đảng và
Nhà nước cần ban hành các chính sách tăng cường phát triển giáo dục,
tuyên truyền văn hóa, giáo dục đường lối cách mạng, những giá trị truyền
thống của dân tộc ta để phát huy niềm tự hào dân tộc cho Nhân dân, đặc
biệt là thế hệ trẻ – chủ nhân tương lai của đất nước. Khi người dân đã hiểu
rõ những bản sắc văn hóa đáng quý của dân tộc như tình yêu nước, tinh
thần đoàn kết, sáng tạo, nhân nghĩa sẽ tích cực phát huy những giá trị tốt
đẹp đó.
o Bên cạnh đó cần đặc biệt coi trọng vun đắp các tài năng văn hóa để họ
phát triển năng lực tham gia cống hiến giúp xây dựng nền văn hóa Việt
Nam đa dạng và phong phú hơn. Đồng thời cần định hướng vẻ đẹp các giá
trị về “Chân – Thiện – Mỹ cho người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ đâu là giá
trị văn hóa, truyền thống, dân tộc,… đích thực. Thông qua đó, khơi dậy
tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, đoàn kết toàn dân, định hướng
thm m, hoàn thiện nhân cách toàn diện cho Nhân dân Việt Nam và
nâng cao vẻ đẹp văn hóa nước ta trong mắt nhìn của bạn bè quốc tế.
Một là, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành chức năng
về xây dựng và phát triển văn hóa, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh
thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát
triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tquốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh. Chú trọng “Xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” theo tinh thần
Nghị quyết s33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Trong đó, tiếp
tục xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến
chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
Hai là, tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong
Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của sự nghiệp xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Tích cực đấu tranh, bài trừ các sản
phẩm văn hóa độc hại, phản động, đồi trụy; đồng thời, hạn chế hoặc gạt b
những hủ tục để tạo dựng đời sống tinh thần lành mạnh trong nhân dân.
Ba là, xây dựng cơ chế, chính sách phát triển văn hóa đối ngoại; hỗ trquảng bá
nghệ thuật quốc gia và xuất khẩu các sản phẩm văn hóa ra nước ngoài. Chủ động
mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng các hình thức văn hóa
đối ngoại và đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả
thiết thực. Tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm
văn hóa dân tộc vi tinh thần chủ động để vừa đón nhận cơ hội phát triển vừa
ợt qua các thách thức, nhằm giữ gìn, hoàn thiện bản sắc văn hóa dân tộc;
đồng thời, hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái của toàn cầu
hóa về văn hóa.
Bốn là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóa bảo
đảm xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Xây dựng thị trường văn hóa
lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn
hóa Việt Nam. Đồng thời, từng bước thu hẹp khoảng cách về ởng thụ văn hóa
giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng xã hội; ngăn
chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội.
Trong bối cảnh hội nhập đa chiều với thế giới hôm nay, bản lĩnh trong tiếp biến,
làm giàu văn hóa dân tộc và khắc chế những hệ lụy, mặt trái tới đâu sẽ tạo ra độ
khúc xạ văn hóa tới đó. Bản lĩnh càng cao thì độ khúc xạ càng mạnh mẽ và khi ấy
các thành tựu văn hóa ra đời và phát triển.
10. Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều kiện nào quan trọng
nht?
Mở bài
Đại đoàn kết toàn dân tộc là nội dung cốt lõi, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh,
đồng thời là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong quá
trình xây dựng khối đại đoàn kết, Hồ Chí Minh đã nêu ra bốn điều kiện cơ bản: lấy lợi
ích chung làm điểm quy tụ; kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết
của dân tộc; có lòng khoan dung, độ lượng với con người; và có niềm tin vào nhân
dân. Trong bốn điều kiện đó, “có niềm tin vào nhân dân” là điều kiện quan trọng
nhất, giữ vai trò nền tảng và quyết định đối với việc hình thành, củng cố và phát triển
khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thân bài
Trước hết, có thể khẳng định rằng, theo Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể của cách
mạng và của khối đại đoàn kết. Người khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng”, “Nước lấy dân làm gốc”. Đại đoàn kết không phải là sự liên kết hình
thức giữa các tổ chức hay giai cấp, mà là sự tập hợp rộng rãi, tự giác và bền chặt
của đông đảo quần chúng nhân dân. Vì vậy, nếu không có niềm tin vào nhân dân thì
không thể nói tới đại đoàn kết thực sự. Mất niềm tin vào nhân dân đồng nghĩa với
phủ nhận vai trò chủ thể của nhân dân, khiến đoàn kết chỉ còn là khẩu hiệu, không
có cơ sở xã hội và sức mạnh thực tiễn.
Thứ hai, niềm tin vào nhân dân là cơ sở để xác định đúng lợi ích chung – điểm
quy tụ của khối đoàn kết. Hồ Chí Minh cho rằng đoàn kết phải xuất phát từ mục
tiêu vì nước, vì dân, vì hạnh phúc của nhân dân. Muốn vậy, phải tin rằng nhân dân có
khả năng nhận thức lợi ích căn bản của mình và của dân tộc, có năng lực tham gia
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ khi thực sự tin dân, tôn trọng dân, dựa vào dân thì
lợi ích chung mới phản ánh đúng nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, từ đó mới
có sức thuyết phục và khả năng tập hợp rộng rãi. Ngược lại, nếu không tin dân, việc
xác định lợi ích chung dễ rơi vào chủ quan, áp đặt, làm suy yếu nền tảng của đoàn
kết.
Thứ ba, niềm tin vào nhân dân là điều kiện để kế thừa và phát huy truyền thống
yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc. Truyền thống không tồn tại trừu
tượng mà được lưu giữ và phát triển trong chính quần chúng nhân dân qua các thế
hệ. Tin vào nhân dân là tin vào khả năng tiếp nối lịch sử, bảo vệ và làm giàu những
giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc. Chỉ trên cơ sở đó, truyền thống mới trở thành
nguồn sức mạnh nội sinh của khối đại đoàn kết, chứ không phải là những khẩu hiệu
mang tính hình thức.
Thứ tư, niềm tin vào nhân dân là nền tảng của lòng khoan dung, độ lượng với con
người. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh phải trân trọng phần thiện trong mỗi con người,
kể cả với những người từng lầm đường lạc lối. Tinh thần khoan dung, nhân ái đó bắt
nguồn từ niềm tin sâu sắc của Người vào bản chất tốt đẹp và khả năng cải hóa của
con người. Không tin vào nhân dân thì không thể thật sự khoan dung, dễ dẫn đến
định kiến, hẹp hòi, loại trừ, làm rạn nứt khối đoàn kết. Như vậy, niềm tin vào nhân
dân chính là cơ sở tư tưởng để thực hiện đoàn kết rộng rãi, lâu dài.
Thứ năm, xét về phương diện thực tiễn, niềm tin vào nhân dân quyết định sức
sống và tính bền vững của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Khi nhân dân được tin
tưởng, tôn trọng và phát huy vai trò làm chủ, họ sẽ tự giác tham gia vào sự nghiệp
chung, biến đoàn kết thành sức mạnh vật chất to lớn. Lịch sử cách mạng Việt Nam
đã chứng minh: mọi thắng lợi đều gắn liền với việc biết dựa vào dân, khơi dậy và tổ
chức sức mạnh của nhân dân. Ngược lại, khi xa rời nhân dân, thiếu niềm tin vào
nhân dân thì khối đoàn kết bị suy yếu, niềm tin xã hội giảm sút, sức mạnh dân tộc
không được phát huy đầy đủ.
Kết luận
Tóm lại, trong bốn điều kiện xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng
Hồ Chí Minh, “có niềm tin vào nhân dân” là điều kiện quan trọng nhất, bởi đây là
nền tảng tư tưởng, là cơ sở hình thành các điều kiện khác và là nhân tố quyết định
sức mạnh, tính bền vững của khối đại đoàn kết. Có niềm tin vào nhân dân thì mới
thực sự dựa vào dân, vì dân, khơi dậy được mọi tiềm năng sáng tạo của quần chúng,
biến đại đoàn kết toàn dân tộc thành nguồn sức mạnh vô địch bảo đảm thắng lợi
của cách mạng Việt Nam.
Thnhất, thế htrẻ cần chăm chỉ, sáng tạo và có mục đích, động cơ học tập đúng đắn.
Học tập không chỉ là để đạt được thành tích cá nhân mà còn để xây dựng đất nước, hiểu
rằng việc học tốt chính là yêu nước. Tuổi trẻ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên, đóng vai trò
rất quan trọng trong việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, có đầy đủ kiến thức
và kỹ năng để thích ứng với những bước phát triển mới trong khoa học và công nghệ.
Chính vì vậy, thế hệ tr, những chủ nhân tương lai của đất nước, cần không ngừng học
hỏi, sáng tạo và tiếp thu công nghệ mới, trang bị cho mình một nền tảng kiến thức vng
chắc và kỹ năng phù hợp để tiếp nối các thế hệ trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Thứ hai, sinh viên cần tích cực rèn luyện đạo đức, tác phong và lối sống trong sáng, lành
mạnh, tránh xa các tệ nạn xã hội. Họ cần biết đấu tranh chống lại những biểu hiện của lối
sống thực dụng, xa rời các giá trị văn hóa và đạo đức truyền thống của dân tộc. Đây sẽ là
động lực quan trọng để phát huy giá trị truyền thống của dân tộc, đồng thời phát huy
những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam nói chung và tuổi trẻ Việt Nam nói riêng,
góp phần vào sphồn thịnh của đất nước.
Thứ ba, việc nâng cao nhận thức chính trị là điều cần thiết. Sinh viên cần học tập Chủ
nghĩa Mác – Lênin, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Vì vậy, sinh viên Việt Nam cần tự nâng cao
nhận thức chính trị, học và làm theo Bác, hỗ trợ Đảng và Nhà nước trong việc loại bỏ
thông tin tiêu cực khỏi các nền tảng mạng xã hội, đồng thời tuyên truyền đến người thân
và bạn bè cách tiếp nhận thông tin chính xác. Hiện nay, nhiều hoạt động được tổ chức đã
tác động tích cực tới đông đảo sinh viên, có thể kể đến như: cuộc thi tìm hiểu chủ nghĩa
Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mang tên Ánh sáng soi đường”; chương trình
“Sinh viên với biển, đảo Tquốc”, Cuộc thi video clip hát Quốc ca,…đã trở thành những
đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong sinh viên Việt Nam, góp phần quan trọng bồi đắp lý
ởng cách mạng, lòng yêu nước cho sinh viên.
Cuối cùng, sinh viên cần trau dồi các kỹ năng hội nhập trong thời kỳ mới, tiếp thu sự phát
triển của công nghệ và phát triển bản thân phù hợp với hoàn cảnh gia đình và xã hội.
Trong quá trình xây dựng nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, không nên mù quáng phủ
nhận tất cả những sản phẩm của Chủ nghĩa Tư bản mà phải biết chắt lọc, kế thừa những
thành tựu phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước. Sinh viên, với bản chất năng
động, sáng tạo và nhiệt huyết, là đối tượng lý tưởng để tiếp thu các công nghệ mới và
tham gia giao lưu, hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập, họ cần tỉnh táo
để không đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, phải biết dung hòa giữa lối sống hiện đại và
những giá trị truyền thống. Nhiệm vụ học tập, nghiên cứu khoa học và công nghệ, cũng
như hội nhập quốc tế, đòi hỏi sinh viên phải nhanh chóng trang bị cho mình năng lực hội
nhập, bao gồm bản lĩnh, kiến thức, trình độ ngoại ngữ, tin học, kỹ năng, tác phong công
nghiệp, cũng như hiểu biết về văn hóa dân tộc và tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, văn
hóa thế giới

Preview text:

1. Liên hệ thực tiễn vai trò lãnh đạo của Đảng trong cách mạng Việt Nam từ 1930-nay?
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, 95 năm qua dân tộc Việt Nam đã làm nên những kỳ tích:
giành độc lập dân tộc với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, chỉ 15 năm sau
ngày thành lập Đảng; bảo vệ vững chắc nền độc lập, thống nhất với quá trình kháng
chiến chống ngoại xâm trong suốt 30 năm (1945-1975); bước đầu quá độ đi lên xây
dựng chế độ mới - chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đặc biệt, quá trình đổi mới
toàn diện đất nước gần 40 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng (1986-2025) đã đạt
được nhiều thành tựu về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đảm bảo giữ vững an ninh
quốc phòng, tạo sức bật cho Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.
2. Đề xuất giải pháp xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh?
Quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, gắn với nhiệm vụ
cụ thể của từng địa phương, đơn vị; xây dựng Nghị quyết sát đúng với tình hình thực
tiễn của địa phương, đơn vị, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm, rõ
nguồn lực, rõ sản phẩm; đề ra giải pháp để lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành các chỉ
tiêu về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, công tác xây dựng Đảng,
chính quyền, đoàn thể mà đại hội đề ra.
Nâng cao năng lực, chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng
viên; Thường xuyên củng cố, xây dựng tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư
tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng; thường
xuyên giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, trình
độ, kiến thức và năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.
− Tiến hành thường xuyên, nghiêm túc tự phê bình và phê bình; kịp thời phát
hiện, nêu gương những đảng viên tiền phong gương mẫu, có thành tích xuất sắc.
− Thi hành kỷ luật nghiêm minh đối với đảng viên vi phạm Ðiều lệ Ðảng và rà
soát những đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Ðảng. Kiên quyết đấu tranh,
đẩy lùi tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng
viên, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; tích cực
phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
− Đổi mới nội dung, phương pháp đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên
theo hướng lượng hoá, phù hợp với từng loại hình và gắn việc đánh giá với kết
quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị. Thường xuyên bồi
dưỡng đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy về kỹ năng lãnh đạo, khả năng cụ
thể hóa các Chỉ thị, Nghị quyết để lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương.
Phải thực hiện thật tốt công tác kiểm tra, giám sát. thực hiện thường xuyên, nghiêm
túc, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm nhằm giữ
vững sự trong sạch, vững mạnh của Đảng.
3. Trách nhiệm của SV trong công tác xây dựng Đảng?
− Thứ nhất, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, học tập, nâng cao phẩm chất
chính trị,đạo đức lối sống, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao và phát
huy những thếmạnh của mình để giúp cho việc phát triển Đảng trong sinh
viên ngày càng mạnhvà đạt được hiệu quả cao nhất.
− Thứ hai, bồi dưỡngvề lập trường tư tưởng chính trị, giúp chúng ta trưởng
thành về phẩm chất chính trị, nâng cao vai trò tiên phong, tinh thần trách
nhiệm của bản thân trong mọi hoạt động đoàn thể.
− Thứ ba, kiên định với lâ p trường của bản thân, với mục tiêu chính trị. Làm
chủ những phát ngôn của mình, nhất là những vấn đề nhạy cảm cần đảm bảo
tính chính xác của thông tin.
− Tích cực trau dồi vốn kiến thức, chủ động tìmkiếm thông tin, tự rèn luyện bản
thân và hoàn thành tốt nội dung công viêc được giao.
− Mỗi đảng viên là sinh viên cần giải quyết tốt, đảm bảo hài hòa giữa vai trò
nhiêm vụ của mình dưới tư cách là môt đảng viên và là môt sinh viên. Có
nhưthế mới là môt sinh viên ưu tú, mô t đảng viên gương mẫu, góp phần xây
dựng xã hôi văn minh hơn.
4. Giải pháp xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên?
Một là, nhóm giải pháp về thể chế và quản trị.
Tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý và nâng cao năng lực thực thi tự chủ. Cần rà
soát, sửa đổi và ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn về chế độ làm việc, định
mức lao động và cơ chế tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao
công nghệ nhằm tháo gỡ vướng mắc cho các cơ sở giáo dục đại học. Đồng thời, tăng
cường tập huấn về quản trị đại học hiện đại cho đội ngũ lãnh đạo; đẩy mạnh công
khai, minh bạch dữ liệu về giảng viên và nghiên cứu khoa học thông qua hệ thống
HEMIS để tạo động lực nâng cao chất lượng. Khuyến khích nhân rộng mô hình đại
học đa lĩnh vực nhằm sử dụng hiệu quả đội ngũ giảng viên chất lượng cao và nâng
cao hiệu quả quản trị.
Hai là, nhóm giải pháp về tuyển dụng và đãi ngộ giảng viên.
Các cơ sở giáo dục đại học cần tận dụng quyền tự chủ để xây dựng cơ chế tiền
lương, thu nhập và khen thưởng cạnh tranh, gắn với hiệu suất nghiên cứu khoa học
và chuyển giao công nghệ. Áp dụng hợp đồng làm việc linh hoạt, chú trọng chỉ tiêu
nghiên cứu thay vì chỉ định mức giờ dạy. Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ nhà
ở, vay vốn ưu đãi cho giảng viên trẻ; thu hút chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam ở
nước ngoài và người nước ngoài thông qua cơ chế đãi ngộ đặc thù. Đồng thời, xây
dựng các chương trình học bổng sau đại học nhằm tạo nguồn giảng viên chất lượng cao trong tương lai.
Ba là, nhóm giải pháp về phát triển chuyên môn và nghiên cứu khoa học.
Đẩy mạnh chuyển đổi vai trò giảng viên theo hướng gắn giảng dạy với nghiên cứu và
chuyển giao công nghệ. Các trường cần đầu tư phòng thí nghiệm, hạ tầng nghiên
cứu hiện đại, nhất là trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ mũi nhọn. Giảm định
mức giờ dạy đối với giảng viên có thành tích nghiên cứu nổi bật; xây dựng quỹ nghiên
cứu khoa học linh hoạt, ưu tiên hợp tác quốc tế và gắn với doanh nghiệp. Đồng thời,
mở rộng hợp tác với các đại học uy tín nước ngoài thông qua đào tạo tiến sĩ đồng
hướng dẫn, trao đổi giảng viên, tổ chức hội thảo khoa học quốc tế nhằm nâng cao
năng lực nghiên cứu và công bố khoa học.
5. Ý nghĩa của tư tưởng đối với công cuộc xây dựng Đảng hiện nay?
6. Trách nhiệm của sinh viên đối công tác xây dựng cán bộ giảng viên?
Thứ nhất, sinh viên cần nâng cao ý thức học tập và rèn luyện đạo đức, lối sống. Việc
học tập nghiêm túc, chấp hành nội quy, quy chế nhà trường không chỉ thể hiện trách
nhiệm cá nhân mà còn góp phần tạo môi trường giáo dục kỷ cương, lành mạnh, từ
đó thúc đẩy đội ngũ giảng viên nâng cao tinh thần trách nhiệm và chất lượng giảng dạy.
Thứ hai, sinh viên cần chủ động, tích cực trong học tập và nghiên cứu khoa học. Việc
tham gia các đề tài nghiên cứu, hoạt động học thuật giúp tăng cường sự gắn kết giữa
sinh viên và giảng viên, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, đổi mới phương
pháp giảng dạy và phát triển năng lực nghiên cứu trong nhà trường.
Thứ ba, sinh viên có trách nhiệm tham gia góp ý, đánh giá giảng viên một cách khách
quan, trung thực thông qua các kênh chính thức. Những ý kiến phản hồi đúng đắn sẽ
giúp nhà trường và giảng viên kịp thời điều chỉnh phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo.
Thứ tư, sinh viên cần mạnh dạn phản ánh, tố giác các biểu hiện tiêu cực, vi phạm
đạo đức nhà giáo hoặc quy chế chuyên môn. Việc này phải được thực hiện đúng quy
định, trên tinh thần xây dựng, góp phần ngăn chặn tiêu cực, giữ gìn sự trong sạch, uy
tín của đội ngũ cán bộ, giảng viên.
Thứ năm, sinh viên cần tự rèn luyện, định hướng phát triển lâu dài, không ngừng
nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và năng lực nghiên cứu, qua đó
trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao, đội ngũ cán bộ, giảng viên kế cận cho nhà trường trong tương lai.
7. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng?
Đầu tiên là thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ mọi mặt cho cán bộ,
đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu cần nắm vững những
vấn đề cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh; có năng lực tư duy và dự báo được sự phát
triển cũng như những diễn biến có thể xảy ra trong quá trình lãnh đạo; đi sâu, đi sát,
nắm bắt thực tiễn, đưa ra quyết sách chính xác, đột phá. Cần phải quyết đoán, dám
nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt
động hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả sau sắp xếp. Kịp thời sửa đổi, điều chỉnh các quy
định về công tác cán bộ phù hợp với quy định của Trung ương và chính quyền địa phương 2 cấp.
Xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ công bằng, minh bạch dựa trên hiệu quả công việc
thực tế. Bố trí sắp xếp cán bộ phù hợp với năng lực, sở trường, mạnh dạn đề bạt cán
bộ trẻ, cán bộ có năng lực. Điều chỉnh, bổ sung và quy định cụ thể, hợp lý hơn chức
năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của mỗi loại hình tổ chức; tăng cường tính
chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp. Xây dựng cơ chế, quy chế phối
hợp, phân định rõ chức năng giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
Trên cơ sở đó có sự phân công, ràng buộc trách nhiệm, giám sát lẫn nhau giữa cấp
ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tạo sự vận
hành đồng bộ, thông suốt của hệ thống chính trị, mở rộng và phát huy dân chủ trong
xã hội, nâng cao chất lượng của cả hệ thống chính trị.
Thứ ba, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật trong việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; quy chế, quy định của cơ quan, đơn vị và
nơi cư trú. Xây dựng ý thức tổ chức kỷ luật, phẩm chất đạo đức, lối sống của đội ngũ
cán bộ, đảng viên; khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy, không làm đúng, đầy đủ
chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức,
viên chức. Qua đó, tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm
thực hiện thắng lợi cương lĩnh, đường lối, nghị quyết của Đảng.
Thứ tư, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo đối với các cơ quan bảo vệ
pháp luật và kiểm tra của Đảng. Cấp ủy các cấp phải nâng cao chất lượng, hiệu lực,
hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt, thường xuyên,
toàn diện, đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng để phục vụ thực
hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh.
Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, nhất là
ở những nơi dễ xảy ra vi phạm, nơi có nhiều bức xúc nổi cộm, dư luận quan tâm.
Thứ năm, củng cố, nâng cao vai trò công tác tham mưu về xây dựng Đảng của các cơ
quan chuyên trách tham mưu, giúp việc; thực hiện nghiêm, hiệu quả các nguyên tắc
tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc Đảng
hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Tiếp tục rà soát chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác, cơ cấu tổ chức bên trong của các cơ
quan, đơn vị để từng bước sắp xếp hợp lý, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, bộ máy
vận hành hiệu quả, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Thứ sáu, phát huy mạnh mẽ vai trò của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức
chính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Tăng cường vai trò lãnh đạo,
phát huy đầy đủ hiệu lực quản lý của các cơ quan nhà nước. Nâng cao năng lực cầm
quyền của Đảng là để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng mà thực chất
là phục vụ lợi ích của nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia góp ý,
nhất là phản biện chính sách là cực kỳ quan trọng. Đây cũng là nét đặc biệt của thể
chế chính trị có một đảng duy nhất cầm quyền.
Thứ bảy, nâng cao chất lượng ban hành nghị quyết, chỉ thị, bảo đảm ngắn gọn, rõ
trọng tâm, sát thực tiễn, phù hợp với tổ chức đảng ở các phường, xã trung tâm, đồng
bằng, miền núi và hải đảo, vùng sâu, vùng xa; khắc phục tình trạng hình thức, dàn
trải. Đồng thời, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong lãnh đạo, điều hành và
triển khai đồng bộ hệ thống quản lý, chỉ đạo trực tuyến; xây dựng cơ sở dữ liệu thống
nhất cho toàn Đảng bộ.
8. Trách nhiệm của SV trong bảo tồn giá trị văn hóa của dân tộc?
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, sự giao lưu văn hóa diễn
ra mạnh mẽ, bên cạnh những giá trị tích cực cũng xuất hiện nhiều yếu tố văn hóa
ngoại lai không phù hợp với truyền thống dân tộc. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá
trị văn hóa dân tộc trở thành nhiệm vụ quan trọng, trong đó sinh viên – lực lượng trí
thức trẻ – giữ vai trò hết sức quan trọng.
Thứ nhất, sinh viên cần nâng cao nhận thức và hiểu biết về các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Sinh viên cần chủ động tìm hiểu lịch sử, phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống, di
sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam. Việc hiểu đúng và hiểu sâu giúp sinh
viên hình thành lòng tự hào dân tộc, từ đó có ý thức bảo vệ và gìn giữ bản sắc văn
hóa trong học tập và đời sống hằng ngày.
Thứ hai, sinh viên phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn
lọc, đồng thời kiên quyết chống lại các biểu hiện văn hóa ngoại lai không phù hợp.
Trong quá trình hội nhập, sinh viên không nên chạy theo lối sống thực dụng, hưởng
thụ, bạo lực hay các trào lưu lệch chuẩn trên mạng xã hội. Việc tiếp nhận văn hóa
nước ngoài cần phù hợp với thuần phong mỹ tục, đạo đức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Thứ ba, sinh viên có trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa trong lối sống và hành vi ứng xử hằng ngày.
Điều này thể hiện qua việc sống nhân ái, đoàn kết, lễ phép với thầy cô, tôn trọng
người lớn tuổi, có ý thức cộng đồng và tinh thần “uống nước nhớ nguồn”. Những
hành vi ứng xử văn minh chính là biểu hiện cụ thể của văn hóa dân tộc trong đời sống hiện đại.
Thứ tư, sinh viên cần tích cực tham gia xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh tại
nhà trường và nơi cư trú.
Thông qua việc tham gia các phong trào xây dựng “trường học văn hóa”, “khu phố
văn hóa”, giữ gìn vệ sinh môi trường, chấp hành quy định nơi công cộng, sinh viên
góp phần hình thành nếp sống văn minh, kỷ cương và đoàn kết trong cộng đồng.
Thứ năm, sinh viên phải sống, học tập và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật, nội quy nhà trường, nói không với tệ nạn xã hội, gian lận
học tập và các hành vi vi phạm pháp luật chính là biểu hiện quan trọng của văn hóa.
Sống và làm việc theo pháp luật góp phần xây dựng xã hội ổn định, tiến bộ và văn minh.
Thứ sáu, sinh viên cần tích cực tuyên truyền, lan tỏa và bảo vệ các giá trị văn hóa dân tộc.
Thông qua mạng xã hội và các hoạt động cộng đồng, sinh viên có thể giới thiệu
những nét đẹp văn hóa Việt Nam, đồng thời đấu tranh với các hành vi xuyên tạc, làm
sai lệch hoặc xâm hại giá trị văn hóa dân tộc.
Kết luận, bằng nhận thức đúng đắn và những hành động cụ thể như tiếp thu văn hóa
có chọn lọc, chống lại văn hóa ngoại lai không phù hợp, xây dựng môi trường văn
hóa lành mạnh và sống theo pháp luật, sinh viên góp phần quan trọng trong việc bảo
tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
9. Giải pháp để xây dựng và bảo vệ nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế?
− Một là, phát triển giáo dục đất nước, nâng cao việc tuyên truyền những bản sắc
dân tộc cho các thế hệ trẻ.
o Toàn cầu hóa giúp đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, thay đổi đời sống
của phần lớn người dân Việt Nam, tuy nhiên cũng lối sống hưởng thụ,
chạy theo vật chất, ích kỷ do kinh tế phát triển đang ngày càng phổ biến
trong người dân. Trong bối cảnh đó, giáo dục văn hóa đất nước qua sách
vở, các phương tiện truyền thông đại chúng, như: mạng xã hội, truyền
hình, phát thanh, báo chí,… nhằm đào tạo nên những công dân có tri
thức, hiểu biết về bản sắc văn hóa dân tộc là vô cùng cần thiết. Đảng và
Nhà nước cần ban hành các chính sách tăng cường phát triển giáo dục,
tuyên truyền văn hóa, giáo dục đường lối cách mạng, những giá trị truyền
thống của dân tộc ta để phát huy niềm tự hào dân tộc cho Nhân dân, đặc
biệt là thế hệ trẻ – chủ nhân tương lai của đất nước. Khi người dân đã hiểu
rõ những bản sắc văn hóa đáng quý của dân tộc như tình yêu nước, tinh
thần đoàn kết, sáng tạo, nhân nghĩa sẽ tích cực phát huy những giá trị tốt đẹp đó.
o Bên cạnh đó cần đặc biệt coi trọng vun đắp các tài năng văn hóa để họ
phát triển năng lực tham gia cống hiến giúp xây dựng nền văn hóa Việt
Nam đa dạng và phong phú hơn. Đồng thời cần định hướng vẻ đẹp các giá
trị về “Chân – Thiện – Mỹ” cho người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ đâu là giá
trị văn hóa, truyền thống, dân tộc,… đích thực. Thông qua đó, khơi dậy
tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, đoàn kết toàn dân, định hướng
thẩm mỹ, hoàn thiện nhân cách toàn diện cho Nhân dân Việt Nam và
nâng cao vẻ đẹp văn hóa nước ta trong mắt nhìn của bạn bè quốc tế.
− Một là, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành chức năng
về xây dựng và phát triển văn hóa, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh
thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát
triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh. Chú trọng “Xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” theo tinh thần
Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Trong đó, tiếp
tục xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến
chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
− Hai là, tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong
Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của sự nghiệp xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Tích cực đấu tranh, bài trừ các sản
phẩm văn hóa độc hại, phản động, đồi trụy; đồng thời, hạn chế hoặc gạt bỏ
những hủ tục để tạo dựng đời sống tinh thần lành mạnh trong nhân dân.
− Ba là, xây dựng cơ chế, chính sách phát triển văn hóa đối ngoại; hỗ trợ quảng bá
nghệ thuật quốc gia và xuất khẩu các sản phẩm văn hóa ra nước ngoài. Chủ động
mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng các hình thức văn hóa
đối ngoại và đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả
thiết thực. Tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm
văn hóa dân tộc với tinh thần chủ động để vừa đón nhận cơ hội phát triển vừa
vượt qua các thách thức, nhằm giữ gìn, hoàn thiện bản sắc văn hóa dân tộc;
đồng thời, hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái của toàn cầu hóa về văn hóa.
− Bốn là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóa bảo
đảm xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Xây dựng thị trường văn hóa
lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn
hóa Việt Nam. Đồng thời, từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa
giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng xã hội; ngăn
chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội.
− Trong bối cảnh hội nhập đa chiều với thế giới hôm nay, bản lĩnh trong tiếp biến,
làm giàu văn hóa dân tộc và khắc chế những hệ lụy, mặt trái tới đâu sẽ tạo ra độ
khúc xạ văn hóa tới đó. Bản lĩnh càng cao thì độ khúc xạ càng mạnh mẽ và khi ấy
các thành tựu văn hóa ra đời và phát triển.
10. Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều kiện nào quan trọng nhất? Mở bài
Đại đoàn kết toàn dân tộc là nội dung cốt lõi, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh,
đồng thời là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong quá
trình xây dựng khối đại đoàn kết, Hồ Chí Minh đã nêu ra bốn điều kiện cơ bản: lấy lợi
ích chung làm điểm quy tụ; kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết
của dân tộc; có lòng khoan dung, độ lượng với con người; và có niềm tin vào nhân
dân. Trong bốn điều kiện đó, “có niềm tin vào nhân dân” là điều kiện quan trọng
nhất, giữ vai trò nền tảng và quyết định đối với việc hình thành, củng cố và phát triển
khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thân bài
Trước hết, có thể khẳng định rằng, theo Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể của cách
mạng và của khối đại đoàn kết. Người khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng”, “Nước lấy dân làm gốc”. Đại đoàn kết không phải là sự liên kết hình
thức giữa các tổ chức hay giai cấp, mà là sự tập hợp rộng rãi, tự giác và bền chặt
của đông đảo quần chúng nhân dân. Vì vậy, nếu không có niềm tin vào nhân dân thì
không thể nói tới đại đoàn kết thực sự. Mất niềm tin vào nhân dân đồng nghĩa với
phủ nhận vai trò chủ thể của nhân dân, khiến đoàn kết chỉ còn là khẩu hiệu, không
có cơ sở xã hội và sức mạnh thực tiễn.
Thứ hai, niềm tin vào nhân dân là cơ sở để xác định đúng lợi ích chung – điểm
quy tụ của khối đoàn kết. Hồ Chí Minh cho rằng đoàn kết phải xuất phát từ mục
tiêu vì nước, vì dân, vì hạnh phúc của nhân dân. Muốn vậy, phải tin rằng nhân dân có
khả năng nhận thức lợi ích căn bản của mình và của dân tộc, có năng lực tham gia
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ khi thực sự tin dân, tôn trọng dân, dựa vào dân thì
lợi ích chung mới phản ánh đúng nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, từ đó mới
có sức thuyết phục và khả năng tập hợp rộng rãi. Ngược lại, nếu không tin dân, việc
xác định lợi ích chung dễ rơi vào chủ quan, áp đặt, làm suy yếu nền tảng của đoàn kết.
Thứ ba, niềm tin vào nhân dân là điều kiện để kế thừa và phát huy truyền thống
yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc. Truyền thống không tồn tại trừu
tượng mà được lưu giữ và phát triển trong chính quần chúng nhân dân qua các thế
hệ. Tin vào nhân dân là tin vào khả năng tiếp nối lịch sử, bảo vệ và làm giàu những
giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc. Chỉ trên cơ sở đó, truyền thống mới trở thành
nguồn sức mạnh nội sinh của khối đại đoàn kết, chứ không phải là những khẩu hiệu mang tính hình thức.
Thứ tư, niềm tin vào nhân dân là nền tảng của lòng khoan dung, độ lượng với con
người. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh phải trân trọng phần thiện trong mỗi con người,
kể cả với những người từng lầm đường lạc lối. Tinh thần khoan dung, nhân ái đó bắt
nguồn từ niềm tin sâu sắc của Người vào bản chất tốt đẹp và khả năng cải hóa của
con người. Không tin vào nhân dân thì không thể thật sự khoan dung, dễ dẫn đến
định kiến, hẹp hòi, loại trừ, làm rạn nứt khối đoàn kết. Như vậy, niềm tin vào nhân
dân chính là cơ sở tư tưởng để thực hiện đoàn kết rộng rãi, lâu dài.
Thứ năm, xét về phương diện thực tiễn, niềm tin vào nhân dân quyết định sức
sống và tính bền vững của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Khi nhân dân được tin
tưởng, tôn trọng và phát huy vai trò làm chủ, họ sẽ tự giác tham gia vào sự nghiệp
chung, biến đoàn kết thành sức mạnh vật chất to lớn. Lịch sử cách mạng Việt Nam
đã chứng minh: mọi thắng lợi đều gắn liền với việc biết dựa vào dân, khơi dậy và tổ
chức sức mạnh của nhân dân. Ngược lại, khi xa rời nhân dân, thiếu niềm tin vào
nhân dân thì khối đoàn kết bị suy yếu, niềm tin xã hội giảm sút, sức mạnh dân tộc
không được phát huy đầy đủ. Kết luận
Tóm lại, trong bốn điều kiện xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng
Hồ Chí Minh, “có niềm tin vào nhân dân” là điều kiện quan trọng nhất, bởi đây là
nền tảng tư tưởng, là cơ sở hình thành các điều kiện khác và là nhân tố quyết định
sức mạnh, tính bền vững của khối đại đoàn kết. Có niềm tin vào nhân dân thì mới
thực sự dựa vào dân, vì dân, khơi dậy được mọi tiềm năng sáng tạo của quần chúng,
biến đại đoàn kết toàn dân tộc thành nguồn sức mạnh vô địch bảo đảm thắng lợi
của cách mạng Việt Nam.
Thứ nhất, thế hệ trẻ cần chăm chỉ, sáng tạo và có mục đích, động cơ học tập đúng đắn.
Học tập không chỉ là để đạt được thành tích cá nhân mà còn để xây dựng đất nước, hiểu
rằng việc học tốt chính là yêu nước. Tuổi trẻ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên, đóng vai trò
rất quan trọng trong việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, có đầy đủ kiến thức
và kỹ năng để thích ứng với những bước phát triển mới trong khoa học và công nghệ.
Chính vì vậy, thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước, cần không ngừng học
hỏi, sáng tạo và tiếp thu công nghệ mới, trang bị cho mình một nền tảng kiến thức vững
chắc và kỹ năng phù hợp để tiếp nối các thế hệ trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Thứ hai, sinh viên cần tích cực rèn luyện đạo đức, tác phong và lối sống trong sáng, lành
mạnh, tránh xa các tệ nạn xã hội. Họ cần biết đấu tranh chống lại những biểu hiện của lối
sống thực dụng, xa rời các giá trị văn hóa và đạo đức truyền thống của dân tộc. Đây sẽ là
động lực quan trọng để phát huy giá trị truyền thống của dân tộc, đồng thời phát huy
những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam nói chung và tuổi trẻ Việt Nam nói riêng,
góp phần vào sự phồn thịnh của đất nước.
Thứ ba, việc nâng cao nhận thức chính trị là điều cần thiết. Sinh viên cần học tập Chủ
nghĩa Mác – Lênin, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Vì vậy, sinh viên Việt Nam cần tự nâng cao
nhận thức chính trị, học và làm theo Bác, hỗ trợ Đảng và Nhà nước trong việc loại bỏ
thông tin tiêu cực khỏi các nền tảng mạng xã hội, đồng thời tuyên truyền đến người thân
và bạn bè cách tiếp nhận thông tin chính xác. Hiện nay, nhiều hoạt động được tổ chức đã
tác động tích cực tới đông đảo sinh viên, có thể kể đến như: cuộc thi tìm hiểu chủ nghĩa
Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mang tên “Ánh sáng soi đường”; chương trình
“Sinh viên với biển, đảo Tổ quốc”, Cuộc thi video clip hát Quốc ca,…đã trở thành những
đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong sinh viên Việt Nam, góp phần quan trọng bồi đắp lý
tưởng cách mạng, lòng yêu nước cho sinh viên.
Cuối cùng, sinh viên cần trau dồi các kỹ năng hội nhập trong thời kỳ mới, tiếp thu sự phát
triển của công nghệ và phát triển bản thân phù hợp với hoàn cảnh gia đình và xã hội.
Trong quá trình xây dựng nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, không nên mù quáng phủ
nhận tất cả những sản phẩm của Chủ nghĩa Tư bản mà phải biết chắt lọc, kế thừa những
thành tựu phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước. Sinh viên, với bản chất năng
động, sáng tạo và nhiệt huyết, là đối tượng lý tưởng để tiếp thu các công nghệ mới và
tham gia giao lưu, hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập, họ cần tỉnh táo
để không đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, phải biết dung hòa giữa lối sống hiện đại và
những giá trị truyền thống. Nhiệm vụ học tập, nghiên cứu khoa học và công nghệ, cũng
như hội nhập quốc tế, đòi hỏi sinh viên phải nhanh chóng trang bị cho mình năng lực hội
nhập, bao gồm bản lĩnh, kiến thức, trình độ ngoại ngữ, tin học, kỹ năng, tác phong công
nghiệp, cũng như hiểu biết về văn hóa dân tộc và tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa thế giới