Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
Chương 1:...................................................................................................................4
1. Hoàn cảnh lịch sử (thế giới và trong nước) cuối TK XIX đầu TK XX.............4
2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2/1930)............................................10
3. Luận Cương chính trị tháng 10/1930..............................................................13
4. Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng/ chủ trương chiến lược mới
của Đảng (1939-1941).........................................................................................16
5. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cách mạng tháng Tám năm 1945
.............................................................................................................................19
Chương 2:.................................................................................................................22
6. Hoàn cảnh lịch sử (thế giới và t
rong nước) sau cách mạng tháng Tám 1945. 22
8. Nội dung đường lối kháng chiến chống Pháp (1946-1954)/ Đường lối kháng
chiến toàn quốc và quá trình thực hiện (1946-1950)...........................................27
9. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp..........37
10. Hoàn cảnh lịch sử sau tháng 7/1954..............................................................39
11. Nội dung, ý nghĩa Đại hội III (9/1960) của Đảng (Đảng lãnh đạo cách mạng
miền Bắc 1954-1965 video 2.5.3 gồm: Đường lối cách mạng xhcn ở miền Bắc
và Quá trình chỉ đạo thực hiện và kết quả)..........................................................42
12. Nội dung Hội nghị Trung Ương thứ 12 (12/1965) (Đảng lãnh đạo cách mạng
cả nước 1965-1975 bao gồm: Đường lối KC chống Mỹ, cứu nước)..................48
13,Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (1954-1975)................................................................................................51
Chương 3..................................................................................................................52
14,Hoàn cảnh lịch sử sau tháng 4/1975...............................................................52
15-3 đặc điểm khi quá độ đi lên XD CNXH được thể hiện trong đại hội IV......56
16-Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến quyết định đề ra đường lối đổi mới đất nước
(12/1986).............................................................................................................59
16,Nội dung đường lối đổi mới kinh tế được đề ra trong Đại hội VI.................62
17. Nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước................................66
18.Khoa học công nghệ trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước..........................67
19.Giáo dục đào trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.....................................68
20. Toàn cầu hoá (thời cơ, thách thức, tích cực, tiêu cực)..................................69
21. Đặc trưng XHXHCH được đề ra trong Cương lĩnh 2011.............................70 1
NỘI DUNG ÔN TẬP HỌC PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2 tín chỉ) Chương 1:
1. Hoàn cảnh lịch sử (thế giới và trong nước) cuối TK XIX đầu TK XX
a. Tình hình thế giới
- Sự chuyển biến của CNTB sang giai đoạn CNDQ
►Giữa TK thứ 19, thế giới chứng kiến sự chuyển biến nhanh chóng của
CNTB từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền hay còn được
gọi là giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Điều này giống như Mac và Ăng-ghen đã
dự báo, cạnh tranh tự do sinh ra tích tụ và tập trung sản xuất, tích tụ và tập
trung sản xuất phát triển đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến độc quyền. Từ sự
phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất các nước đế quốc có nhu cầu lớn về
nguồn nguyên nhiên liệu, nguồn nhân công, thị trường tiêu thụ hàng hóa dư
thừa. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến các cuộc viễn chinh, xâm
chiếm, biến các nước khác thành thuộc địa của các nước tư bản phương tây.
Từ đó dẫn đến sự mâu thuẫn giữa các nước đế quốc dẫn đến Chiến tranh thế
giới thứ 1. Đối tượng hướng đến của các nước phương tây là các nước thuộc
khu vực châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh. Cuối TK 19, đầu TK 20,
nhiều quốc gia đã trở thành thuộc địa của các nước tư bản phương tây. Và
trong quá trình cai trị, sự gia tăng áp bức và thôn tính của các nước đế quốc
đã đẩy mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa và thực dân ngày càng gay gắt. Từ
đó dẫn đến PT đấu tranh của GCVS chống lại GCTS. Hậu quả của sự chuyển
biến của CNTB sang giai đoạn ĐQCN chính là sự thức tỉnh ý thức dân tộc và
sự phát triển các PT giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa nhất là khu vực
châu Á, đương nhiên trong đó có Việt Nam
- Chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời
►Thời kỳ này cũng chứng kiến sự ra đời của CN Mác-Lênin. Về tên gọi CN
Mác-Lênin gắn liền với tên của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa này. Cụ thể,
CN Mác ra đời vào những năm 40 của TK 19 với 2 nhà sáng lập là Mác và
Ăng-ghen. Cuối TK 19, đầu TK 20, trong bối cảnh CNTB đang chuyển sang
giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. CN Mác đã được Lênin bổ sung, phát triển, mở
ra giai đoạn phát triển mới của CN Mác-Lênin. Về nội dung, CN Mác-Lênin
là hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí về tư tưởng của GCCN
trong cuộc đấu tranh giải phóng GCVS, NDLD khỏi áp bức, bóc lột, tiến tới
thực hiện sự nghiệp giải phóng con người với việc xác định rõ con đường,
lực lượng, biện pháp để đạt được mục tiêu đó. Và con đường giải phóng này
là con đường giải phóng xóa bỏ nhà nước bóc lột, xây dựng nhà nước mới.
Đó là Nhà nước XHCN, sau này là CSCN, ở đó không còn bất kỳ sự áp bức,
nô dịch, bóc lột nào. CN Mác-Lênin cũng chỉ rõ, muốn giành được thắng lợi 2
trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, GCCN phải đoàn
kết, tập hợp lực lượng dưới sự lãnh đạo của ĐCS. Sự ra đời của ĐCS chính là
yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của GCCN chống áp bức, bóc
lột. Và chủ nghĩa M-L cũng đã được truyền vào nhiều quốc gia, trang bị cơ
sở lý luận, soi đường cho PTCN phát triển, dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ
trong nhiều PT đấu tranh của GCCN ở cả các nước tư bản và các nước thuộc
địa. Từ đó đặt cơ sở cho sự ra đời của 1 loạt các ĐCS trên toàn thế giới.
- Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản
►Năm 1917, Cách mạng tháng 10 Nga do Lênin và đảng Bônsevich lãnh
đạo đã giành thắng lợi, đánh dấu sự kiện lịch sử vĩ đại của TK XX: (1) Mở ra
thời kỳ vùng dậy của các dân tộc bị áp bức giành độc lập, tự do, (2) Làm cho
PT cách mạng vô sản ở các nước tư bản phương Tây và PT giải phóng dân
tộc ở các nước thuộc địa phương Đông có quan hệ mật thiết với nhau chống
Chủ nghĩa đế quốc. Sự ra đời của nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới từ
chỗ chỉ là ước mơ cao đẹp của loài người, thì sau CM tháng 10 Nga, CNXH
đã trở thành hiện thực. Cn Mác-Lênin từ đó có cơ hội được truyền bá rộng rãi
tới PT đấu tranh giải phóng dân tộc và giai cấp trên thế giới.
Tháng 3/1919, Quốc tế cộng sản do Lênin đứng đầu được thành lập, đã trở
thành bộ tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh đạo PT CMVS trên toàn thế giới.
Quốc tế cộng sản không những vạch đường lối chiến lược cho CMVS mà còn
đề cập các vấn đề dân tộc và thuộc địa giúp đỡ, chỉ đạo PT giải phóng dân
tộc, cùng với việc nghiên cứu hoàn thiện chiến lược, sách lược về vấn đề dân
tộc và thuộc địa. QTCS đã tiến hành hoạt động truyền bá tư tưởng CMVS
thúc đẩy PT đấu tranh ở các khu vực này đi theo khuynh hướng VS, cũng như
định hướng các vấn đề dân tộc và thuộc địa trên thế giới. Tại Đại hội II Quốc
tế cộng sản năm 1920 đã thông qua Bản sơ thảo lần thứ nhất Những luận
cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa do Lênin khởi xướng. Luận cương nổi
tiếng này đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa,
các dân tộc bị áp bức theo lập trường CMTS.
Như vậy, tình hình thế giới cuối TK 19, đầu TK 20 có nhiều biến động. Thứ
nhất, sự chuyển biến của CNTB từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền
hay còn gọi là đế quốc chủ nghĩa. Thứ 2, sự xuất hiện của CN Mác-Lênin.
Thứ 3, thắng lợi của CMT10 Nga năm 1917 và sự ra đời của QTCS năm
1919. Tất cả đã tác động mạnh mẽ đến nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó
có tác động trực tiếp tới Việt Nam, và từ đó dẫn đến sự ra đời của ĐCS Việt Nam vào năm 1930.
b. Tình hình trong nước - Tình hình Việt Nam và các PT yêu nước trước khi có Đảng)
* Tình hình Việt Nam trước khi có Đảng 3
►Trong bối cảnh các nước đế quốc đẩy mạnh xâm lược thuộc địa, Việt Nam
cũng trở thành đối tượng nhòm ngó của các nước tư bản phương Tây. Vào
ngày 1/9/1858, thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược và từng bước thiết lập bộ
máy thống trị ở Việt Nam.
- Chính sách cai trị của thực dân Pháp: Thực dân Pháp thi hành chính sách
cai trị trên toàn cõi Đông Dương, cụ thể như sau:
+ Chính trị: Thực dân Pháp thi hành chính sách áp bức về mặt chính trị:
Pháp thi hành chính sách cai trị chuyến chế điển hình, mọi quyền hành đều
nằm trong tay Pháp, từ vị trí toàn quyền Đông Dương đến người đứng đầu
các kỳ cho đến các bộ máy quân đội cảnh sát, tòa án đều do người Pháp
nắm quyền và điều hành. Td Pháp biến giai cấp tư sản mại bản và địa chủ
phong kiến trở thành tay sai đắc lực cho chúng. Đồng thời chúng thực hiện
chính sách đàn áp, khủng bố dã man, tàn bạo và làm cho nhân dân VN mất
hết quyền độc lập, quyền tự do dân chủ. Bên cạnh đó, td Pháp thực hiện
chính sách chia để trị, Pháp chia VN thành 3 kỳ, Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ
mỗi kỳ với chế độ cai trị khác nhau. Và nhập 3 kỳ này với Lào, Campuchia
để lập ra Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Đồng thời còn gây chia rẽ dân
tộc, thù hận giữa 3 miền, giữa các tôn giáo, giữa các đảng phái. Điều này
khiến phá vỡ khối đoàn kết dân tộc và giúp td Pháp dễ dàng trong quá trình cai trị
+ Kinh tế: Thi hành chính sách bóc lột về mặt kinh tế. Trên lĩnh vực Nông
nghiệp, thực dân Pháp đẩy mạnh cướp đoạt ruộng đất. Trên lĩnh vực Công
nghiệp, thực dân Pháp tập trung khai thác mỏ than, kim loại để đem về
Pháp. Trên lĩnh vực thương nghiệp, thực dân Pháp độc chiếm thị trường
Việt Nam với việc ưu tiên vào hàng hóa Pháp và đánh thuế nặng vào hàng
hóa được nhập khẩu từ nước khác. Hàng hóa VN chủ yếu được xuất khẩu
sang Pháp. Dưới chính sách cai trị của td Pháp thì kinh tế VN là 1 nền kinh
tế lạc hậu sản xuất nhỏ và phát triển không cân đối đặc biệt bị cột chặt vào nên kinh tế Pháp
+ Văn hóa-xã hội: Td Pháp cũng thi hành chính sách nô dịch về văn hóa,
chúng thực hành chính sách ngu dân, khuyến khích văn hóa nô dịch, tâm lý
tự ti vong bản để kìm hãm nhân dân ta trong vòng tối tăm và dốt nát. Và
như vậy, dù duy trì phương thức bóc lột kinh tế cũ theo kiểu phong kiến,
nhưng phương thức thống trị theo tư bản thực dân đã bao trùm lên toàn đất
nước, tất cả xh VN đều đặt trong quỹ đạo phát triển của CNTB, theo kiểu
thực dân và phải biến chuyển theo quá trình ấy.
- Sự chuyển biến của xã hội Việt Nam: Dưới tác động của chính sách cai trị và
chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực dân, xã hội VN có sự biến đổi sâu sắc
trên các khía cạnh. Đó là sự biến chuyển về tính chất xã hội, giai cấp xã hội,
mâu thuẫn xã hội, cụ thể 4
+ Tính chất xã hội: Về tính chất xã hội, VN từ một nước phong kiến độc
lập trở thành 1 nước thuộc địa nửa phong kiến
+ Giai cấp xã hội: Trước khi td Pháp xâm lược, VN có 2 giai cấp nông dân
và địa chủ, khi Pháp vào xâm lược, bên cạnh 2 giai cấp cũ, VN xuất hiện
thêm 3 giai cấp, tầng lớp mới đó là công nhân, tiểu tư sản và tư sản. Nhưng
trong các giai cấp tầng lớp này cũng bị phân hóa, đó là sự phân hóa về thái
độ chính trị của các giai cấp tầng lớp đối với vấn đề vận mệnh của dân tộc.
Địa vị kinh tế khác nhau cũng dẫn đến thái độ chính trị khác nhau. Với giai
cấp nông dân thì đây là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, họ chiếm trên
90% dân số nhg họ cũng là lực lượng bị thực dân và phong kiến bóc lột
nặng nề nhất. Chính vì vậy, đây sẽ là lực lượng hùng hậu nhất, tinh thần đấu
tranh bất khuất cho nền độc lập, tự do của dân tộc. Đối với giai cấp địa chủ,
khi VN trở thành thuộc địa của td Pháp, gc địa chủ bị phân hóa. 1 bộ phận
địa chủ trở thành tay sai cho Pháp, ra sức đàn áp PT yêu nước, bóc lột nhân
dân. Còn một bộ phận khác thì nêu cao tinh thần dân tôc, khởi xướng và
lãnh đạo nhiều PT chống Pháp. Đối với giai cấp công nhân VN, ra đời từ
cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của td Pháp, gccn VN mang cả đặc
điểm của gccn quốc tế và gccn VN. Và do sớm tiếp nhận tư tưởng tiên tiến
của thời đại, gccn là gc có năng lực lãnh đạo nhất. Về GCTS Vn thì xuất
hiện muộn hơn gccn, một bộ phận có lợi ích gắn liền với lợi ích của Pháp,
trở thành tầng lớp tư sản mại bản, đi ngược lại với lợi ích dân tộc. Còn 1 bộ
phận là gc tư sản dân tộc bị td Pháp chèn ép, lệ thuộc vào Pháp. Phần lớn tư
sản dân tộc có tinh thần yêu nước, nhg khôg có khả năng tập hợp các giai
cấp để tiến hành CM. Về tầng lớp tiểu tư sản, VN bao gồm học sinh, trí
thức, những người làm nghề tự do, họ đều có tình thần dân tộc, tinh thần
yêu nước nhg do đời sống bấp bênh, hay dao động nên không thể lãnh đạo CM
+ Mâu thuẫn xã hội: Dưới ách thống trị của td Pháp, mâu thuẫn phong
kiến cơ bản vốn có trong lòng xh cũ là mâu thuẫn giữa gc nông dân với địa
chủ không những ko mât đi mà còn xuất hiện thêm 1 mâu thuẫn mới, đó
chính là mâu thuẫn dân tộc. Đó chính là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Vn
với đế quốc thực dân Pháp. Mâu thuẫn này vừa là cơ bản, vừa là chủ yếu
của xã hội Vn, một xh thuộc địa của Pháp. Mâu thuẫn này bao trùm lên tất
cả và ngày càng mở rộng và gay gắt thêm. Từ đó, đặt ra 2 yêu cầu của CM
VN: 1 là đánh đuổi thực dân Pháp dành độc lập cho dân tộc, 2 xóa bỏ chế
độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân mà chủ yếu là ruộng đất cho nông dân.
--> Như vậy, độc lập dân tộc và người cày có ruộng là 2 yêu cầu cơ bản của
XH VN, nhưng độc lập dân tộc là yêu cầu chủ yếu, cấp thiết.
* Các PT yêu nước trước khi có Đảng: 5
- Các PT yêu nước theo lập trường Phong kiến (1858-1896): PT Cần
Vương (1885-1896); PT nông dân Yên Thế (1884-1913)
- Các PT yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản (1897-1930): Xu
hướng bạo động của Phan Bội Châu và xu hướng cải cách của Phan Châu
Trinh; PT tiêu tư sản trí thức của Việt Nam quốc dân Đảng (12/1927-2/1930)
--> Nhận xét về các PT yêu nước trước khi có Đảng
►Khi thực dân Pháp xâm lược Vn thì nhân dân ta đã đứng lên chiến đấu
không ngừng để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Thậm chí, có thời điểm bất chấp
chủ trương đầu hàng của triều đình phong kiến thì PT của nhân dân vẫn diễn
ra vô cùng quyết liệt và kéo dài.
Tính đến cuối TK 19, các PT yêu nước theo lập trường phong kiến diễn ra
mạnh mẽ, tiêu biểu nhất phải kể đến PT Cần Vương, diễn ra từ năm 1885-
1896. PT do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết tiến hành. PT được tính từ
thời điểm vua Hàm Nghi ban chiếu cần vương năm 1885, kêu gọi những ai
ăn bổng lộc của nhà Nguyễn hãy đứng ra cùng nhà vua đánh giặc. PT diễn ra
sôi nổi tại nhiều địa phương, có nhiều cuộc khởi nghĩa như: Ba Đình, Bãi
Sậy, Hương Khê nhưng rất tiếc khởi nghĩa Phan Đình Phùng đã thất bại vào
năm 1896 nó đã chấm dứt sự tồn tại của PT Cần Vương và chấm dứt vai trò
lãnh đạo của phong kiến đối với PT yêu nước chống td Pháp ở VN. Bên cạnh
đó, tính đến những năm cuối TK 19, đầu TK 20, ở vùng trung du và miền núi
phía Bắc, PT nông dân Yên Thế (Bắc Giang) dưới sự lãnh đạo của vị thủ lĩnh
nông dân Hoàng Hoa Thám. Nghĩa quân đã kiên cường lập căn cứ, kiên
cường đấu tranh chống td Pháp. Tuy nhiên PT này vẫn mang nặng cốt cách
phong kiến, không có khả năng mở rộng hợp tác và thống nhất tạo thành 1
cuộc CM giải phóng dân tộc. Cuối cùng cũng bị td Pháp đàn áp.
--> Sau khi PT Cần Vương thất bại, con đường cứu nước dưới ngọn cờ
phong kiến không còn phù hợp, yêu cầu đặt ra phải tìm 1 con đường cứu nước mới
Chúng ta cùng tìm hiểu một PT yêu nước mang khuynh hướng mới, đó là
PT yêu nước theo lập trường dân chủ tư sản. Sang TK 20, VN đã có cơ sở
kinh tế, chính trị, xã hội cho sự tiếp thu khuynh hướng cứu nước dân chủ tư
sản từ bên ngoài dội vào. PT đấu tranh dân tộc nhờ đó lại tiếp tục sôi động
dưới sự đề xướng, tập hợp của nhiều tổ chức chính trị theo khuynh hướng
dân chủ tư sản với các màu sắc và mức độ khác nhau
Tính đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, PT yêu nước mới do bộ
phận sĩ phu yêu nước tiến bộ tiếp cận, nổi bật có PT yêu nước theo xu hướng
bạo động của Phan Bội Châu. PBC đã kiên trì giành độc lập bằng con đường
bạo lực, ông chủ trương dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài, chủ yếu là từ Nhật
Bản để đánh Pháp. Xu hướng bạo động của PBC tổ chức và lãnh đạo với 6
nhiều PT, điển hình là PT Đông Du diễn ra từ năm 1904 đến 1908. PT Đông
Du đã đưa thanh niên yêu nước VN sang Nhật Bản để học tập. Nhưng sau đó,
chính phủ Nhật Bản đã cấu kết với td Pháp để trục xuất thanh niên yêu nước
VN về nước. PT bị thất bại.
Thứ hai là xu hướng cải cách của cụ Phan Châu Trinh, PCT và những
người cùng chí hướng muốn giành độc lập dân tộc nhg theo chủ trương cải
cách đất nước. Và để thực hiện được chủ trương ấy, PCT đã đề nghị nhà
nước bảo hộ Pháp tiến hành cải cách. Thực chất đây là 1 hạn chế trong xu
hướng cải cách của cụ PCT. Vì vây, khi PT Duy Tân do ông lãnh đạo đang
lan rộng thì đã bị td Pháp đàn áp dã man và PT thất bại
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 1, tình hình giai cấp ở xã hội Vn tiếp tục có
những biến chuyển mạnh. GC tư sản dân tộc hình thành, tầng lớp tiểu tư sản
phát triển đông hơn. Với tinh thần dân tộc dân chủ thì giai cấp tư sản Vn đã
hăng hái bước lên vũ đài chính trị. Một tổ chức có ảnh hưởng rộng và thu hút
nhiều học sinh, sinh viên yêu nước ở Bắc Kỳ chính là tổ chức Việt Nam quốc
dân Đảng. Tổ chức này được thành lập vào t12/1927 trên cơ sở 1 nhóm trí
thức tư sản, tiểu tư sản do Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài sáng lập. Đây là
1 đảng chính trị theo xu hướng CM tư sản dân chủ và đây là tổ chức chính trị
tiêu biểu nhất cuả khuynh hướng dân chủ tư sản ở Vn, tập hợp những thành
phần tư sản, tiểu tư sản, địa chủ và cả hạ sĩ quan VN trogn quân đội Pháp.
Cuộc khởi nghĩa của VNQDD được nổ ra đêm ngày 9/2/1930 ở Yên Bái và 1
vài địa phương khác đã bị td Pháp nhanh chóng dập tắt. PT dân tộc dân chủ
theo khuynh hướng dân chủ tư sản dưới ngọn cờ của VNQDD đã ko đáp ứng
được yêu cầu khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc, ko đủ sức đương
đầu trước sự đàn áp và khủng bố của kẻ thù. Vai trò của VNQDD trong PT
dân tộc vừa nhen nhóm đã vĩnh viễn chấm dứt cùng với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái
--> Như vậy, cuối TK 19, đầu tk 20, các PT yêu nước theo ngọn cờ phong
kiến, ngọn cờ dân chủ tư sản đã diễn ra quyết liệt, liên tục và rộng khắp
nhưng tuy nhiên, cuối cùng các PT này đều thất bại. Và VN rơi vào tình trạng
bế tắc, khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước. Nhiệm vụ lịch sử cấp
thiết đặt ra là chúng ta phải có tổ chức CM tiên phong, có đường lối cứu nước
đúng đắn để giải phóng dân tộc 7
2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2/1930)
► Trong các văn kiện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được thông qua tại
Hội nghị thành lập Đảng thì Chánh cương vắn tắt của Đảng; Sách lược vắn tắt của
Đảng sau này được gọi là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Những nội dung
liên quan đến các vấn đề chiến lược, sách lược của Cách mạng Việt Nam được đề
cập trong cương lĩnh là sự phát triển thêm 1 số luận điểm trong tác phẩm Đường
Cách mệnh của Nguyễn Ái Quốc. Nội dung chủ yếu của cương lĩnh chính trị đầu tiên như sau:
- Từ việc phân tích thực trạng và mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam, một xh
thuộc địa nửa phong kiến, cương lĩnh đã đi đến xác định phương hướng chiến lược
của CM VN hay còn gọi là mục tiêu chiến lược của CMVN, đó là làm tư sản dân
quyền Cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Ở đây mục tiêu
chiến lược của CMVN dưới sự lãnh đạo của Đảng là đi tới XHCS, nhg đây là
phương hướng lâu dài, còn trước mắt, để đi tới XHCS chúng ta phải hoàn thành
được nhiệm vụ chống đế quốc, giành được độc lập dân tộc, và nhiệm vụ chống
phong kiến đem lại ruộng đất cho dân cày. Trong cương lĩnh chính trị đầu tiên tách
bạch 2 nhiệm vụ: nhiệm vụ cách mạng tư sản dân quyền hay còn được gọi là nhiệm
vụ CM giải phóng dân tộc, và nhiệm vụ CM ruộng đất hay còn gọi là thổ địa CM,
và ở trong đây, CM tư sản dân quyền ko bao gồm CM ruộng đất, CM tư sản dân
quyền trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên chỉ có 1 nhiệm vụ đó là chống đế quốc
- Về nhiệm vụ cụ thể, trên phương diện chính
trị, Cương lĩnh xác định đánh đổ
đế quốc Pháp và bọn phong kiến, làm cho VN hoàn toàn độc lập, dựng ra chính phủ
công-nông-binh, tổ chức ra quân đội, công nông. Về kinh tế, thủ tiêu hết các quốc
trái, thu hết sản nghiệp lớn của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính
phủ công nông binh quản lý; thu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công
chia cho dân cày nghèo, tiến hành CM ruộng đất, miễn thuế cho dân nghèo, mở
mang CN và NN. Về xã hội, Cương lĩnh xác định rõ: Dân chúng được tự do tổ
chức; Nam nữ bình quyền; Phổ thông giáo dục theo hướng công nông hóa, thực
hiện luật lao động ngày làm 8 giờ
=> Nhiệm vụ cụ thể đã thể hiện tinh thần CM VN, có 2 nhiệm vụ đó là chống
đế quốc và chống phong kiến để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân
cày. Trong đó chống đế quốc để giành độc lập cho dân tộc được đặt ở vị trí hàng đầu
- Về lực lượng CM, cương lĩnh xác định như sau: Thứ nhất, Đảng phải tìm cách
vận động, thu phục giai cấp của mình, tức chính là giai cấp công nhân; thứ 2 Đảng
phải thu phục và dựa vững vào đại bộ phận dân cày, tức là giai cấp nông dân; thứ
3 là phải tìm cách lôi kéo những tầng lớp như tiểu tư sản, trí thức, trung nông, lôi
kéo họ đi vào phe vô sản chủ nghĩa. Đối với đội phú nông, trung nông, tiểu địa chủ
và tư bản VN nếu chưa rõ mặt phản CM thì phải tìm cách lợi dụng và ít lâu mới 8
làm cho họ đứng trung lập. Còn chúng ta chỉ đánh
đổ những bộ phận ra mặt phản CM.
=> Như vậy, lực lượng CM ở đây đã thể hiện tinh thần đoàn kết các giai cấp,
các lực lượng yêu nước, trước hết là lực lượng CN, NN, đây là lực lượng cơ bản và
trong đó thì GCCN lãnh đạo, đồng thời ngoài ra đoàn kết tất cả các giai cấp, lực
lượng tiến bộ yêu nước để tập trung chống đế quốc và tay sai. Nội dung này thể
hiện được tư tưởng đại đoàn kết của HCM. Và đối tượng để chúng ta tập hợp ở đây
là tất cả những bộ phận có tinh thần yêu nước, điều này cũng phù hợp với tình hình
thực tiễn của VN bởi chúng ta dựa trên sự đánh giá đúng thái độ các giai cấp và
nhân dân VN đều có lòng yêu nước, tinh thần chống Pháp, và ta chỉ cần biết tác
động vào đó tìm cách để lôi kéo họ về phía lực lượng CM mà thôi.
- Về lãnh đạo CM, bản cương lĩnh chính trị đầu tiên của đảng đã xác định như
sau: Thứ nhất, Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp và phải thu phục bằng
được đại bộ phận giai cấp của mình và phải làm cho giai cấp của minh lãnh đạo
được dân chúng. Thứ 2, Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm 1 số lớn
của GCCN và phải làm cho họ có đủ năng lực để lãnh đạo quần chúng
- Về phương pháp CM, bản cương lĩnh chính trị đầu tiên có xác định, chúng ta
tiến hành CM giải phóng dân tộc và phải bằng con đường bạo lực CM của quần
chúng, và lưu ý là trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng ko được thỏa hiệp, ko khi nào
nhượng 1 chút lợi ích gì của CN, NN mà đi vào con đường thỏa hiệp
- Về đoàn kết quốc tế, bản cương lĩnh chính trị đầu tiên chỉ rõ, trong khi thực
hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc thì phải tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân
tộc bị áp bức và GCVS trên thế giới nhất là GCVS Pháp. Bản cương lĩnh đã nêu rõ,
CMVN phải liên lạc mật thiết và là 1 bộ phận của CMVS thế giới, cụ thể là trong
khi tuyên truyền khẩu hiệu “Nước An Nam độc lập” thì phải đồng thời tuyên
truyền, thực hành liên lạc với các dân tộc bị áp bức và GCVS trên thế giới. Ngay từ
khi thành lập thì ĐCS VN đã nêu cao chủ nghĩa quốc tế và mang bản chất quốc tế của GCCN
* Ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị đầu tiên
Đánh giá về bản cương lĩnh chính trị đầu tiên, chúng ta có thể thấy như sau:
- Những văn kiện chính trị được hợp thành cương lĩnh chính trị đầu tiên, tuy
vắn tắt nhưng nó đã phản ánh những vấn đề cơ bản, trước mắt và lâu dài cho
CMVN. Bản cương lĩnh đã xác định được đường lối chiến lược và sách lược của
CMVN, từ mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ, lực lượng/ lãnh đạo CM cho đến phương
pháp CM. Có thể nói, lần đâu tiên CM VN có 1 bản cương lĩnh chính trị đã định
hướng đường lối chiến lược đúng đắn và trở thành ngọn cờ dẫn dắt PT đấu tranh của cả dân tộc
- Bản cương lĩnh chính trị đầu tiên cũng chính là kết quả của sự vận dụng
chủ nghĩa M-L vào thực tiễn CMVN một cách đúng đắn, sáng tạo và có phát 9
triển trong điều kiện lịch sử mới. Điều này thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự
chủ, sáng tạo của đảng. Sự độc lập, tự chủ, sáng tạo này được thể hiện thông qua
việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến VN trong những
năm 20 của TK 20, và đã chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc VN lúc đó.
- Ngoài ra, bản cương lĩnh cũng đánh giá đúng đắn, xác thực thái độ của các
giai tầng xã hội đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc
- Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt đã phản ánh đúng quy luật khách
quan của xh VN, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xh VN, phù
hợp với xu thế của thời đại, định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển của CMVN 10
3. Luận Cương chính trị tháng 10/1930
►Với luận cương chính trị tháng 10/1930, khi đi nghiên cứu đặt ra câu hỏi rằng, vì
sao sau 8 tháng, từ tháng 2 năm 1930 CLCT đầu tiên ra đời đến tháng 10/1930,
đảng đã cho ra đời bản cương lĩnh tiếp theo, đó là Luận cương chính trị tháng
10/1930 của ĐCS Đông dương
* Chúng ta phải xét đến hoàn cảnh ra đời của Luận cương chính trị tháng
10/1930 của ĐCS Đông Dương, đó là: Tháng 4/1930, Quốc tế Cộng sản cử đồng
chí Trần Phú khi đó mới tốt nghiệp đại học Phương Đông về VN với nhiệm vụ
truyền đạt các quan điểm của QTCS vào đường lối của đảng ta. Tháng 7/1930,
đồng chí Trần Phú đc bổ sung vào Ban chấp hành trung ương lâm thời của Đảng và
được giao soạn thảo dự án Luận cương chính trị. Đến tháng 10/1930, Hội nghị lần
thứ nhất BCH trung ương lâm thời họp tại Hương Cảng, Trung Quốc đã thông qua
những nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, Hội nghị đã đưa ra Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp của
Đảng, đã đổi tên Đảng thành ĐCS Đông Dương, lúc này, vấn đề dân tộc ko chỉ đặt
ra ở phạm vi của từng nước mà đã đặt ra trên phạm vi toàn cõi Đông Dương
Thứ hai, Hội nghị đã cử ra BCHTW chính thức, Đồng chí Trần Phú được bầu làm Tổng bí thư của Đảng
Thứ ba, Hội nghị thông qua “Luận cương chính trị” của Đảng do Trần Phú soạn
thảo, điều lệ Đảng, và điều lệ các tổ chức quần chúng
* Nội dung Luận cương chính trị tháng 10/1930 của ĐCS Đông Dương bao
gồm những vấn đề cơ bản sau:
- Thứ nhất, về xác định Mâu thuẫn xã hội, Luận cương khẳng định mâu thuẫn
giai cấp ngày càng diễn ra gay gắt ở Việt Nam, Lào và Cao Miên, một bên là thợ
thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ ở đô thị, còn 1 bên là địa chủ, phong kiến,
tư bản và đế quốc chủ nghĩa
- Thứ hai, về phương hướng chiến lược CM, xác định tính chất của cuộc CM
Đông Dương lúc đầu là một cuộc CM tư sản dân quyền có tính chất thổ địa và phản
đế, sau đó sẽ tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bản và tranh đấu tiến thẳng lên
con đường XHCN. Về cơ bản, phương hướng chiến lược đó giống với chiến lược
của CLCT đầu tiên, cả 2 cương lĩnh đều thống nhất và chia làm 2 giai đoạn nhưng
đích đến cuối cùng vẫn là đi đến XHCS và XHCN. Tuy nhiên, trong CLCT đầu
tiên, nhiệm vụ chủ yếu của CM tư sản dân quyền không bao gồm nhiệm vụ cách
mạng thổ địa, còn trong Luận cương chính trị tháng 10/1930 bao gồm 2 vấn đề, đó
là vấn đề cách mạng thổ địa và vấn đề CM giành độc lập dân tộc. Đó là sự khác
nhau về khái niệm tư sản dân quyền CM. Khái niệm của CM tư sản dân quyền này
được hiểu tại mỗi thời điểm, mỗi văn kiện khác nhau, mà điểm khác nhau chính là
nằm ở nội dung nhiệm vụ chủ yếu của cuộc CM tư sản dân quyền là gì 11
- Thứ ba, về nhiệm vụ CM, Luận cương tháng 10/1930 xác định 2 nhiệm vụ cốt
yếu của CM tư sản dân quyền: Một là “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho
Đông Dương hoàn toàn độc lập”; Hai là “tranh đấu để đánh đổ các di tích phong
kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tư bổn và để thực hành thổ địa cách
mạng cho triệt để”, tức là làm thổ địa CM nhằm xóa bỏ triệt để quan hệ sở hữu
ruộng đất của địa chủ phong kiến và thực hiện quyền sở hữu ruộng đất của nông
dân. Bên cạnh đó, luận cương nhấn mạnh vấn đề thổ địa được coi là “cái cốt” của
CM tư sản dân quyền, là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo cày
=> Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít với nhau, bởi vậy 2 nhiệm vụ
này cần phải tiến hành song song, ko thể để nhiệm vụ nào tách ra làm trước và để
nhiệm vụ còn lại làm sau, đây là điểm khác biệt so với CLCT đầu tiên của Đảng.
Nếu như CLCT đầu tiên của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên
hàng đầu, chủ trương đặt nhiệm vụ này là nhiệm vụ số 1, nhiệm vụ CM thổ địa đặt
ở vị trí sau thì đến Luận cương chính trị tháng 10/1930 đặt 2 nhiệm vụ đó ngang
hàng nhau, xác định phải tiến hành song song. So với CLCT đầu tiên của Đảng thì
việc giải quyết mối quan hệ giữa 2 nhiệm vụ độc lập dân tộc và CM ruộng đất của
luận cương chính trị tháng 10/1930 có điểm khác. Đây là điểm hạn chế của Luận
cương chính trị tháng 10 bởi ko xác định được nhiệm vụ nào quan trọng hơn, cần đề cao hơn
- Thứ tư, về lực lượng CM, Luận cương tháng 10/1930 xác định GCVS và GC
nông dân là hai động lực chính của cuộc CM tư sản dân quyền, trong đó, GCVS là
động lực chính và mạnh/ là giai cấp lãnh đạo CM. Việc nhấn mạnh vai trò của
GCCN và nông dân trong CM là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên, Luận cương đã
không tập hợp được các giai cấp, tầng lớp có khả năng chống đế quốc khác và chỉ
xác định thành phần là công nông và phần tử lao khổ ở đô thị mà thôi. Rõ ràng,
luận cương chưa thấy hết được vị trí, vai trò và khả năng làm CM của giai cấp tầng
lớp ví dụ như: tiểu tư sản, tư sản dân tộc, trung tiểu địa chủ trong cuộc giải phóng
dân tộc ở Đông Dương. Đây là điểm khác nhau về chủ trương tập hợp lực lượng
CM của 2 bản cương lĩnh và cũng là điểm hạn chế của Luận cương
- Thứ 5, về lãnh đạo CM, Luận cương khẳng định, điều kiện cốt yếu cho sự thắng
lợi của CM ở Đông Dương là cần phải có 1 Đảng cộng sản, có 1 đường lối chính trị
đúng, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải tranh đấu
mà trưởng thành. Tức là, điều cốt yếu cho sự thắng lợi của cuộc CM là phải có 1
Đảng CS vững mạnh về mọi mặt lãnh đạo
- Thứ 6, Về phương pháp CM, để giành chính quyền cần thiết phải ra sức chuẩn
bị cho quần chúng về con đường võ trang bạo động, đó là 1 nghệ thuật nên phải
tuân theo khuôn phép nhà binh
- Và cuối cùng, về đoàn kết quốc tế, Luận cương xác định, CM Đông Dương là 1
bộ phận của CM thế giới và phải gắn bó đoàn kết với CM thế giới trước hết là
GCVS Pháp. Phải liên hệ mật thiết với PT CM ở các thuộc địa và nửa thuộc địa 12
* Đánh giá Luận cương chính trị tháng 10/1930: Từ đó, chúng ta có thể rút ra
nhận xét về Luận cương chính trị tháng 10/1930
- Trước hết về ưu điểm, luận cương đã khẳng định được những vấn đề chiến lược của CMVN
- Tuy nhiên luận cương lại có những hạn chế:
+ Thứ nhất, luận cương đã ko vạch rõ mâu thuẫn chủ yếu của xã hội VN, ko
nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc mà nặng về đấu tranh giai cấp và CM
ruộng đất, chưa đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu như yêu cầu của
lịch sử đất nước đặt ra lúc bấy giờ
+ Thứ hai, luận cương đã không đề ra được 1 chiến lược liên minh dân tộc và
giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược và tay sai
* Về nguyên nhân của những hạn chế trên:
- Do nhận thức chưa đầy đủ thực tiễn CM Việt Nam và CM Đông Dương
- Do hạn chế của Đảng trong giải quyết mối quan hệ giữa các vấn đề giai cấp và
vấn đề dân tộc, giữa hai nhiệm vụ là giải phóng dân tộc và cách mạng ruộng đất,
cũng như trong việc tập hợp lực lượng CM còn tiếp tục kéo dài trong nhiều năm sau đó
- Chịu ảnh hưởng của tư tưởng tả khuynh nhấn mạnh 1 chiều đấu tranh giai cấp
đang tồn tại trong QTCS và trong 1 số ĐCS anh em trong thời gian đó
Câu hỏi mở rộng: So sánh CLCT đầu tiên (tháng 2/1930) với Luận cương
chính trị (tháng 10/1930) của Đảng 13
4. Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng/ chủ trương chiến lược mới
của Đảng (1939-1941)
►Tìm hiểu về hoàn cảnh lịch sử và chủ trương chiến lược mới của Đảng
* Về hoàn cảnh lịch sử:
- Đối với tình hình thế giới, vào thời điểm tháng 9 năm 1939, phát xít Đức tấn
công Ba Lan, 2 ngày sau Anh và Pháp tuyên chiến với Đức, chiến tranh thế giới thứ
hai bùng nổ. Phát xít Đức lần lượt chiếm các nước Châu Âu và lúc này, đế quốc
Pháp lao vào vòng chiến, chính phủ mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ, Đảng Cộng sản
Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Thời điểm tháng 6 năm 1940, Đức tấn công
Pháp và chính phủ Pháp đầu hàng Đức. Ngày 22/6/1941, quân phát xít Đức tấn
công Liên Xô, và từ khi phát xít Đức xâm lược Liên Xô thì tính chất chiến tranh đế
quốc chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụ cột
với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu
- Đối với tình hình VN, chiến tranh thế giới thứ 2 đã ảnh hưởng mạnh mẽ trực tiếp
tới chiến tranh Đông Dương và Việt Nam. Ở Đông Dương, bộ máy đàn áp được
tăng cường, lệnh thiết quân lệnh được ban bố. Ngày 28/9/1939, Toàn quyền Đông
Dương ra nghị định cấm tuyên truyền Cộng sản, đặt ĐCS Đông Dương ra ngoài
vòng pháp luật, giải tán các hội đoàn, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm hội
họp và tụ tập đông người, một số quyền tự do dân chủ đã giành được trong thời kỳ
1936-1939 đã bị thủ tiêu. Chúng ban hành lệnh Tổng động viên, thực hiện chính
sách kinh tế chỉ huy nhằm tăng cường vơ vét sức người sức của để phục vụ cho
cuộc chiến tranh đế quốc. Lợi dụng Pháp thua Đức, ngày 22/9/1940, phát xít Nhật
đã tiến vào Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng. Ngày 23/9/1940, Pháp đã ký hiệp
định đầu hàng Nhật. Từ đó, nhân dân VN chịu cảnh 1 cổ 2 tròng áp bức bóc lột của
Pháp và Nhật, mâu thuẫn giữa dân tộc VN với đế quốc phát xít Pháp Nhật trở nên
gay gắt hơn bao giờ hết. Từ bối cảnh lịch sử trên đây, Đảng đã kịp thời rút vào hoạt
động bí mật và nhanh chóng đưa ra chủ trương chiến lược mới.
* Nội dung chiến lược mới của Đảng (Vậy chiến lược của Đảng đề ra trong giai
đoạn này gồm những nội dung nào)
- Trước hết, nội dung chiến lược mới được thể hiện qua 3 hội nghị trung ương đảng như sau:
+ Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ
6 (11/1939) tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia
Định, hội nghị do đồng chí Nguyễn Văn Cừ chủ trì. Đây được xác định là hội
nghị mở đầu chủ trương chiến lược CM;
+ Hội nghị TƯ Đảng lần thứ 7 (11/1940) tại Đình Bảo, Từ Sơn, Bắc Ninh để
kiện toàn cơ quan lãnh đạo của Đảng, hội nghị đã cử BCHTƯ lâm thời, đồng chí
Trường Chinh được phân công làm quyền Tổng Bí thư trung ương đảng. Hội
nghị này cũng đánh dấu sự tiếp tục bổ sung chiến lược CM; 14
+ Hội nghị BCHTW lần thứ 8 (5/1941) tại Pác Pó, Cao Bằng, với tư cách đại
diện cho Quốc tế Cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị. Sau 30
năm hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ NAQ dã về nước và lãnh đạo PT CMVN,
trong hội nghị này, trung ương bầu đồng chí Trường Chinh làm tổng bí thư. Có
thể khẳng định rằng, hội nghị này là bước hoàn chỉnh chủ trương chiến lược CMVN.
- Vậy từ 3 hội nghị BCHTW Đảng, nội dung chủ trương chiến lược mới được
xác định là gì, chúng ta hãy đi vào phân tích:
+ Thứ nhất, về mâu thuẫn xã hội, Đảng hết sức nhấn mạnh, mâu thuẫn chủ yếu
đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc VN và Đế quốc, phát xít Pháp-Nhật
+ Về nhiệm vụ CM, Đảng khẳng định nhiệm vụ CM giải phóng dân tộc được
đặt lên hàng đầu. Hội nghị tiếp tục tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia
ruộng đất cho dân cày” thay bằng các khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc,
Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho công bằng, giảm
tô, giảm tức. Hội nghị BCHTW đảng lần thứ 8 chỉ rõ “trong lúc này, quyền lợi
của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia, của
dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng,
nếu không đòi đc độc lập tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể
quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của giai cấp đến vạn
năm cũng không đòi lại được”.
+ Thứ 3, về vấn đề dân tộc tự quyết và xây dựng Nhà nước, Đảng nêu rõ, giải
quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thi hành chính
sách dân tộc tự quyết. Từ quan điểm đó, hội nghị quyết định thành lập ở mỗi
nước Đông dương một mặt trận riêng, thực hiện đoàn kết toàn dân, đoàn kết 3
nước Đông Dương trong chống kẻ thù chung, đồng thời chủ trương sau khi CM
thành công sẽ thành lập Nhà nước VN dân chủ cộng hòa theo tinh thần tân dân
chủ, 1 hình thức nhà nước chung của toàn thể dân tộc
+ Thứ 4, về xây dựng lực lượng CM, Đảng xác định, tập hợp rộng rãi mọi lực
lượng dân tộc trong tổ chức VN độc lập đồng minh (viết tắt mặt trận Việt Minh),
ở Lào, thành lập mặt trận Ai lao mặt trận đồng minh, ở Campuchia thành lập
mặt trận Cao Miên độc lập đồng minh, và các tổ chức quần chúng lấy tên là Cứu
quốc. Trong xây dựng lực lượng, Đảng xác định, ko phân biệt thợ thuyền, phú
nông, địa chủ, tư bản, bản xứ, ai có lòng yêu nước, thương nòi sẽ cùng nhau
thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả quyền độc lập, tự do cho dân
tộc => Tinh thần đó đã giương cao ngọn cờ đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc CM
+ Thứ 5, về phương pháp CM, Đảng xác định, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là
nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân. Trong những hoàn cảnh nhất định,
với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa từng phần trong 15
từng địa phương cũng có thể thắng lợi mà mở đường cho 1 cuộc tổng khởi nghĩa
to lớn. Đảng đã khẳng định những điều kiện chủ quan, khách quan và dự đoán
thời cơ tổng khởi nghĩa.
* Về ý nghĩa của chủ trương chiến lược mới
- Thứ nhất, nó đã thể hiện sự phát triển mới trong nhận thức về chủ trương, đường
lối của Đảng, khẳng định lại đường lối CM giải phóng dân tộc đúng đắn trong
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và lý luận CM giải phóng dân tộc của NAQ, HCM
- Thứ hai, chủ trương chiến lược mới là nguyên nhân trực tiếp quyết định đến thắng
lợi CM tháng 8 năm 1945, đó là ngọn cờ dẫn đường cho toàn dân VN đẩy mạnh
công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến lên trong sự nghiệp đánh Pháp đuổi Nhật, giành độc lập tự do. 16
5. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cách mạng tháng Tám năm 1945
► Tính chất, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của CMT8 năm 1945: Thắng lợi
của cuộc CMT8 năm 1945 có giá trị và ý nghĩa to lớn với lịch sử dân tộc VN
* Tính chất của cuộc CMT8 năm 1945
- Trước hết đây là 1 cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình thể hiện ở các điểm sau:
+ Thứ nhất, cuộc CM đã tập trung hoàn thành nhiệm vụ hàng đầu của CM là giải
phóng dân tộc, tập trung giải quyết mâu thuẫn chủ yếu của CMVN lúc đó là mâu
thuẫn giữa toàn thể dân tộc VN với đế quốc xâm lược và tay sai, đáp ứng đúng
yêu cầu lịch sử khách quan và ý chí, nguyện vọng độc lập, tự do của quần chúng nhân dân
+ Thứ hai, cuộc CM xây dựng được lực lượng bao gồm toàn bộ dân tộc đoàn kết
chặt chẽ trong mặt trận Việt Minh với các tổ chức mang tên Cứu quốc, động
viên tới mức cao nhất mọi lực lượng dân tộc trên mặt trận CM
+ Thứ ba, sau khi giành thắng lợi đã thành lập chính quyền nhà nước “của chung
toàn dân tộc” theo chủ trương của Đảng với hình thức Cộng hòa dân chủ, nhà
nước của toàn thể những con người VN chân chính
- Bên cạnh đó, CMT8 năm 1945 là 1 cuộc CM giải phóng dân tộc nhg nó có tính chất dân chủ bởi:
+ Thứ nhất, CM giải phóng dân tộc VN là 1 bộ phận của phe dân chủ chống phát xít
+ Thứ hai, cuộc CM đã giải quyết một số quyền lợi cho nông dân, lực lượng
đông đảo nhất trong dân tộc. Do CMT8, một phần ruộng đất của đế quốc và Việt
Gian đã được tịch thu, địa tô được tuyên bố giảm 25%, một số nợ cũ ly cữu đã được xóa bỏ
+ Thứ ba, cuộc CM đã xây dựng chính quyền Nhà nước dân chủ nhân dân đầu
tiên ở VN, xóa bỏ chế độ quân chủ phong kiến. Tuy nhiên, CMT8 chưa làm
được CM ruộng đất, chưa thực hiện được khẩu hiệu người cày có ruộng, chưa
xóa bỏ được chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, chưa xóa bỏ được tàn tích
phong kiến và nửa phong kiến để cho công nghiệp có điều kiện phát triển. Quan
hệ giữa địa chủ và nông dân nói chung vẫn như cũ
=> Chính vì thế CMT8 có tính chất dân chủ nhưng tính chất đó chưa được đầy đủ và sâu sắc
* Về ý nghĩa của thắng lợi CMT8 năm 1945
- Đối với trong nước, nó đã đập tan ách thống trị của đế quốc và phong kiến, lập ra
nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. VN từ một nước thuộc địa trở thành nước
độc lập, tự do, dân ta từ nô lệ trở thành người chủ đất nước, Đảng trở thành đảng 17
hợp pháp và nắm chính quyền. Đảng CS Đông Dương từ chỗ phải hoạt động bí
mật, nay trở thành 1 Đảng cầm quyền. Thắng lợi của cuộc CM đã đánh dấu bước
nhảy vọt trong lịch sử dân tộc VN, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do
- Bên cạnh đó, thắng lợi của cuộc CMT8 năm 1945 có giá trị và ý nghĩa quốc tế to
lớn: Đây là cuộc CM giải phóng dân tộc điển hình do Đảng CS lãnh đạo, là thắng
lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa, đồng thời nó mở đầu
cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ. Và thắng lợi của CMT8 năm 1945 góp
phần cổ vũ PT giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, là niềm tự hào chung của
nhân dân thuộc địa trên thế giới
* Để có được thắng lợi của CMT8 năm 1945 trên đây phải có sự xuất phát từ
những nguyên nhân sau đây:
- CMT8 nổ ra trong bối cảnh quốc tế rất thuận lợi, kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta
là phát xít Nhật đã được LX và các lực lượng dân chủ thế giới đánh bại. Bọn Nhật ở
Đông Dương và tay sai tan rã, Đảng ta đã chớp thời cơ đó phát động toàn dân nổi
dậy tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng
- Thứ 2, CMT8 là kết quả tổng hợp của 15 năm đấu tranh gian khổ của toàn dân
dưới sự lãnh đạo của ĐCS Đông Dương đã được rèn luyện qua 3 cao trào CM rộng
lớn: Cao trào 1930-1931, cao trào 1936-1939 và cao trào giải phóng dân tộc năm
1939-1945. Quần chúng CM được Đảng tổ chức, lãnh đạo, rèn luyện bằng thực tiễn
đấu tranh đã trở thành lực lượng chính trị hùng hậu, có lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt
- Thứ 3, CMT8 thành công là do Đảng ta đã chuẩn bị được lực lượng vĩ đại của
toàn dân đoàn kết trong mặt trận Việt Minh, dựa trên cơ sở liên minh công - nông,
dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Thứ 4, Đảng ta là người tổ chức và lãnh đạo cuộc CMT8, Đảng có đường lối đúng
đắn, dày dặn kinh nghiệm đấu tranh, đoàn kết thống nhất, nắm đúng thời cơ, chỉ
đạo kiên quyết, khôn khéo, biết tạo lên sức mạnh tổng hợp để áp đảo kẻ thù và lãnh
đạo quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố
chủ yếu nhất cho thắng lợi của CMT8 năm 1945
* Về kinh nghiệm: Thắng lợi của CMT8 năm 1945 đã để lại cho Đảng và nhân
dân VN nhiều kinh nghiệm quý báu:
- Thứ nhất, về chỉ đạo chiến lược, phải giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, giải
quyết đúng đắn mối quan hệ giữa 2 nhiệm vụ độc lập dân tộc và CM ruộng đất
trong CM thuộc địa, phải đặt nhiệm vụ giải phóng lên hàng đầu, còn nhiệm vụ giải
phóng ruộng đất cần tạm gác lại, thực hiện từng bước thích hợp nhằm phục vụ cho
nhiệm vụ chống đế quốc
- Thứ hai, về xây dựng lực lượng, trên cơ sở khối liên minh công - nông, cần khởi
dậy tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân, tập hợp mọi lực lượng yêu nước
trong mặt trận thống nhất rộng rãi, mặt trận Việt Minh là một điển hình thành công 18
của đảng về huy động lực lượng toàn dân tộc trên trận địa đấu tranh CM, đưa cả
dân tộc vùng dậy trong cao trào kháng Nhật cứu nước, tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
- Thứ ba, về phương pháp CM, cần nắm vững quan điểm bạo lực CM của quần
chúng, ra sức xây dựng lực lượng chính trị và LL vũ trang, kết hợp giữa đấu tranh
chính trị với đấu tranh vũ trang, tiến hành chiến tranh du kích cục bộ và khởi nghĩa
từng phần, giành chính quyền bộ phận ở từng nông thôn, có điều kiện tiến lên chớp
đúng thời cơ, phát động tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị, giành chính quyền toàn quốc
- Thứ tư, về xây dựng đảng, phải xây dựng 1 Đảng tiên phong của GCCN, của
NDLD và toàn thể dân tộc VN, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và
toàn dân tộc, vận dụng và phát triển lý luận của CN M-L và tư tưởng HCM, đề ra
đường lối chính trị đúng đắn, xây dựng được Đảng vững mạnh về tư tưởng, chính
trị, tổ chức; liên hệ chặt chẽ với quần chúng và đội ngũ cán bộ Đảng viên kiên
cường, được tôi luyện trong đấu tranh CM. Chú trọng vai trò lãnh đạo ở các cấp
chiến lược của trung ương Đảng, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của
Đảng bộ các địa phương
=> Với thắng lợi của CMT8/1945, Đảng đã lãnh đạo nhân dân, đưa lịch sử VN sang
1 trang mới, đánh dấu bước nhảy vọt vĩ đại trong quá trình tiến hóa của dân tộc VN.
Nước VN dân chủ cộng hòa từ khi ra đời đã trải qua muôn vàn khó khăn, thử thách,
nhg với sự lãnh đạo của Đảng, với tính thần đoàn kết phấn đấu của toàn dân luôn
được xây dựng và củng cố vững bước trên con đường độc lập dân tộc và CNXH.
Suốt 15 năm đấu tranh CM, từ năm 1930-1945, Đảng đã lãnh đạo giai cấp và dân
tộc, hoàn thành mục tiêu độc lập, thiết lập Nhà nước dân chủ nhân dân. 19 Chương 2:
6. Hoàn cảnh lịch sử (thế giới và trong nước) sau cách mạng tháng Tám 1945
► Sau ngày tuyên bố độc lập, lịch sử nước VN bước sang 1 chặng đường mới,
vậy VN sau CMT8 năm 1945 có những thuận lợi căn bản và khó khăn, thách
thức gì, chúng ta sẽ đi tìm hiểu về tình hình VN sau CMT8 năm 1945:
- Trước hết, về hoàn cảnh thế giới, chúng ta có những thuận
lợi căn bản sau, đó là:
+ Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2, cục diện khu vực và thế giới có những
sự thay đổi lớn có lợi cho CM VN, Liên Xô trở thành thành trì của CNXH;
+ Đồng thời, nhiều nước ở Đông Trung Âu, được sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên
Xô đã lựa chọn con đường phát triển theo CNXH;
+ Đặc biệt, PT giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa châu Á, châu Phi và khu
vực Mỹ La Tinh đã trở thành 1 dòng thác CM
Bên cạnh những thuận lợi, bối cảnh thế giới cũng xuất hiện những khó khăn,
thách thức tác động đến VN, đó là:
+ Các nước đế quốc âm mưu “chia lại hệ thống thuộc địa thế giới”;
+ Đồng thời chúng tăng cường đàn áp các PT CM thế giới trong đó có PT CMVN.
- Về hoàn cảnh trong nước, trước hết, chúng ta sẽ đi nghiên cứu về các , thuận lợi
+ Thuận lợi đầu tiên nói đến là Việt Nam đã có hệ thống chính quyền CM với bộ
máy thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, trong đó quân đội quốc gia và lực
lượng công an, luật pháp của chính quyền CM được khẩn trương xây dựng và
phát huy vai trò đối với công cuộc đấu tranh chống thù trong giặc ngoài và xây dựng chế độ mới.
+ Thuận lợi thứ 2 đó là lúc này, Đảng cộng sản đã trở thành Đảng cầm quyền
lãnh đạo CM trong cả nước. Đồng thời, sau thắng lợi CMT8 năm 1945 đã thể
hiện sự dày dặn kinh nghiệm trong hoạch định đường lối và lãnh đạo thực hiện CM
+ Và thuận lợi thứ 3 đó là VN đã trở thành quốc gia độc lập, tự do, nhân dân VN
từ thân phận nô lệ, bị áp bức trở thành chủ nhân của chế độ mới. Toàn dân tin
tưởng và ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Chính phủ VN dân chủ cộng hòa do HCM làm chủ tịch
Bên cạnh những thuận lợi, CMVN phải đối mặt với những khó khăn thách thức vô cùng lớn:
+ Hệ thống chính quyền CM mới được thiết lập còn rất non trẻ, thiếu thốn, yếu kém về nhiều mặt. 20