IV, Những xu hướng dịch chuyển chính trong thu và chi của ngân sách
1, Phân tích những xu hướng dịch chuyển
1.1, Phân tích xu hướng chi
Bảng 4.1
Xu hướng tăng trưởng trong chi ngân sách tại tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016-2022 đã
phản ánh rõ ràng sự ưu tiên của tỉnh trong việc đầu phát triển hạ tầng trong khi vẫn
duy trì các hoạt động chi thường xuyên một cách tương đối ổn định, đặc biệt trong
giai đoạn đại dịch Covid-19 (2020 - 2022). Bên cạnh đó, sự biến động xu hướng
tăng trong các khoản chi khác như chi bổ sung quỹ dự trữ i chính, chi dự phòng
ngân sách, chi cho các chương trình mục tiêu,...cũng cho thấy chính sách linh hoạt
trong việc ứng phó với các tình huống khẩn cấp và bất thường của tỉnh
thể thấy, tổng chi ngân sách địa phương của tỉnh Thanh Hóa sự tăng trưởng ổn
định và liên tục từ năm 2016 đến 2022, cụ thể từ 33,666,847 triệu VND năm 2016 lên
64,914,053 triệu VND năm 2022, tức là tăng gần gấp đôi trong vòng 6 năm. Xu hướng
tăng chi tiêu công này đã phản ánh các chính sách chương trình đầu phát triển
của địa phương, đặc biệt trong các lĩnh vực sở hạ tầng, giáo dục, y tế, đầu cho
phát triển khoa học công nghệ và các lĩnh vực xã hội khác.
Đặc biệt trong giai đoạn này, đại dịch Covid-19 ập đến cũng những tác động đáng
kể đến quản chi tiêu công của Thanh Hóa. Trong giai đoạn trước đại dịch (2016 -
2019), chi ngân sách có xu hướng tăng trưởng ổn định. thời kỳ trong đại dịch
(2020 - 2022), chi ngân sách tiếp tục tăng mạnh nhưng có sự thay đổi trong cơ cấu chi,
với chi thường xuyên giữ mức ổn định nhưng s giảm nhẹ cuối giai đoạn, trong
khi chi đầu tăng mạnh hơn để kích cầu khắc phục các tác động tiêu cực từ đại
dịch. Thêm vào đó, sự tăng lên ở các khoản chi khác cũng làm cho tổng chi ngân sách
của tỉnh Thanh Hóa chứng kiến sự tăng trưởng đáng kể ngay trong thời kỳ đại dịch.
1.1.1, Chi đầu tư phát triển
Bảng 4.2
Trong cấu chi đầu giai đoạn 2016 - 2022, quyết toán đã chia ra 3 danh mục chi
cụ thể dựa theo mục đích chi của tỉnh: Chi đầu cho các dự án; Chi đầu hỗ trợ
vốn cho các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt
hàng, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của địa phương theo quy định của
pháp luật và Chi đầu phát triển khác. Tổng chi đầu tư của cả giai đoạn có xu hướng
tăng đều từ 9,200,379 triệu VND năm 2016 đến 18,091,851 năm 2022. Điều này cho
thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ liên tục trong chi đầu tư, phù hợp với xu hướng phát
triển kinh tế và hạ tầng của tỉnh Thanh Hóa.
Bảng 4.3
Ngoài ra, sự phân phối trong nguồn chi đầu tư của tỉnh Thanh Hóa cũng được chỉ ra rõ
nét theo các phân cấp (ngân sách cấp tỉnh và ngân sách huyện) từ năm 2016 đến 2022.
Trước tiên, ngân sách cấp tỉnh trong giai đoạn này xu hướng giao động nhẹ từ
5,114,191 triệu VND năm 2016 lên 5,555,424 triệu VND năm 2022. Điều này cho
thấy tỉnh Thanh Hóa tiếp tục ưu tiên duy trì các khoản chi đầu cho các dự án trọng
điểm thuộc cấp tỉnh, bao gồm các dự án lớn như cơ sở hạ tầng, giao thông, phát
triển đô thị. Các dự án lớn như cầu Nguyệt Viên quốc lộ 47 những dụ điển
hình về các dự án hạ tầng quan trọng được triển khai trong giai đoạn này. Ngoài ra,
việc phát triển các khu công nghiệp như Khu công nghiệp Nghi Sơn cũng đóng vai trò
then chốt trong việc thu hút đầu tư nước ngoài và tạo việc làm.
Đối với ngân sách cấp huyện, mức ngân sách chứng kiến sự tăng trưởng khá đồng đều
từ 2016 đến 2018, tuy nhiên đã sự biến động lớn trong giai đoạn từ 2019 đến 2022
với mức tăng từ 6,825,762 VND lên 12,536,426 triệu VND. Sự gia tăngy cho thấy
một xu hướng mới trong việc phân cấp nguồn lực, với các huyện trong tỉnh Thanh
Hóa ngày càng nhận được nhiều hỗ trợ tài chính hơn để thực hiện các dự án phát triển
địa phương. Ngân sách này được phân bổ để hỗ trợ các dự án như nâng cấp hệ thống
giao thông nông thôn, xây dựng trường học mới, cải thiện dịch vụ y tế. Các dự án
mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống tại các huyện miền núi vùng sâu vùng
xa, đồng thời giảm bớt chênh lệch phát triển giữa các vùng trong tỉnh.
a, Chi đầu tư cho các dự án
Dựa trên biểu đồ bảng số liệu quyết toán, thể thấy chi đầu cho các dự án
chiếm phần lớn nhất trong cấu tổng chi đầu tư. Con số này dao động từ khoảng
9,918,451 triệu VND năm 2017 tăng lên 18,016,786(Chưa số liệu năm 2016)
triệu VND vào năm 2022, điều này cho thấy sự ưu tiên rệt của tỉnh đối với việc
phát triển các dự án trọng điểm.
Cụ thể trong đó, đối với năm 2016, tỉnh chỉ tập trung đầu cho các dự án y dựng
cơ bản, phát triển các dự án cơ sở hạ tầng và công trình trọng điểm. Năm 2017, tỉnh đã
ưu tiên tập trung sang các lĩnh vực khác là Giáo dục - đào tạo, dạy nghề (Với mức chi
1,143,517 triệu VND) Khoa học - công nghệ (Với mức chi (20,945 triệu VND).
Sang đến năm 2018, những con số này cũng stăng lên nhẹ, lần lượt 1,236,218
triệu VND21,255 triệu VND. Các dự án chi đầu nổi bật trong khoa học công
nghệ thể kể đến như Điều chỉnh, mở rộng quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế
Nghi Sơn (năm 2017) tầm nhìn đến năm 2035, bao gồm việc ứng dụng các phương
pháp xử nước thải tiên tiến giảm thiểu ô nhiễm từ các ngành công nghiệp chủ
chốt như sản xuất xi măng. Dự án nhằm giảm tải ô nhiễm cải thiện hệ thống xử
môi trường tại các sở sản xuất lớn trong tỉnh như nhà máy xi măng Công Thanh
Nghi Sơn. Các khoản chi này nhiệm vụ thúc đẩy phát triển doanh nghiệp khoa học
công nghệ, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp thực hiện các dự án đổi mới sáng
tạo trên địa bàn tỉnh. Trong giai đoạn 2020 - 2022, mặc chịu ảnh hưởng của đại
dịch Covid-19 nhưng tỉnh vẫn ưu tiên chi đầu tư vào các dự án, lĩnh vực cụ thể, chiếm
phần lớn trong tổng chi đầu phát triển của tỉnh. Cụ thể đối với giáo dục đào tạo,
do thời gian giãn cách kéo dài nhưng vẫn phải đảm bảo yêu cầu về dạy học trên
toàn địa bàn tỉnh, các khoản chi cho các dự án y dần được tập trung bổ sung
nhiều hơn. Đó bởi việc đầu cho các thiết bị máy móc, điện tử đường truyền
internet ngày càng tăng để đảm bảo việc dạy và học được thực hiện tốt nhất.
https://baodautu.vn/hoi-nghi-xuc-tien-dau-tu-thanh-hoa-2017-thanh-hoa-thu-hut-32-
du-an-dau-tu-voi-61-ty-usd-d63734.html
http://moc.gov.vn/vn/tin-tuc/1143/48697/thong-tin-xay-dung-co-ban-va-khoa-hoc-
cong-nghe-xay-dung--so-052017.aspx
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Quyet-dinh-284-QD-TTg-phe-duyet-
nhiem-vu-dieu-chinh-mo-rong-quy-hoach-Khu-kinh-te-Nghi-Son-2017-341967.aspx
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Quyet-dinh-4892-QD-UBND-
2017-Ho-tro-phat-trien-doanh-nghiep-khoa-hoc-va-cong-nghe-Thanh-Hoa-
375713.aspx
b, Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công ích
Trong giai đoạn 2016 - 2022, khoản chi đầu hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ công ích hầu như không đáng kể so với khoản chi cho các dự án đầu
trực tiếp, với chỉ một khoản nhỏ vào năm 2017 và 2019. Cụ thể, năm 2017 chứng kiến
lượng chi 45,000 triệu VND theo ngân sách cấp tỉnh năm 2019 với lượng chi 700
triệu VND theo ngân sách cấp huyện. Điều này thể phản ánh rằng tỉnh chủ yếu tập
trung đầu trực tiếp vào các dự án công, thay hỗ trợ trực tiếp cho các doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ công ích. Trong giai đoạn trên, tỉnh muốn khuyến khích các
doanh nghiệp tự phát triển hoạt động một cách độc lập, thay phụ thuộc vào ngân
sách nhà nước. Thay vào đó, ngân sách sẽ được ưu tiên dành cho các dự án tác
động lớn hơn tới cộng đồng tạo ra hội việc làm, cải thiện thu nhập cho người
dân. Ngoài ra, việc tập trung vào các dự án đầu công lớn còn phù hợp với chiến
lược nâng cao s hạ tầng chất lượng dịch vụ công với mục tiêu xây dựng môi
trường kinh doanh thuận lợi, giúp Thanh Hóa trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà
đầu trong ngoài nước. Chiến lược này cũng phù hợp với các định hướng phát
triển chung của cả nước, nơi việc nâng cấp hạ tầng phát triển khu vực công
đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế địa phương giảm chênh lệch
vùng miền.
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Quyet-dinh-4892-QD-UBND-
2017-Ho-tro-phat-trien-doanh-nghiep-khoa-hoc-va-cong-nghe-Thanh-Hoa-
375713.aspx#:~:text=Quy%E1%BA%BFt%20%C4%91%E1%BB%8Bnh
%204892%2FQ%C4%90%2DUBND%202017,ng%C3%A0nh%2C%20c
%C3%A1c&text=ph%C3%A1t%20tri%E1%BB%83n%20doanh%20nghi%E1%BB
%87p,ng%C3%A0nh%2C%20c%C3%A1c&text=c%C3%B4ng%20ngh%E1%BB
%87%20Thanh%20H%C3%B3a,ng%C3%A0nh%2C%20c%C3%A1c&text=cao
%20nh%E1%BA%ADn%20th%E1%BB%A9c%20c%E1%BB%A7a,ng%C3%A0nh
%2C%20c%C3%A1c
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Quyet-dinh-4753-QD-UBND-2017-
Chinh-sach-ho-tro-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vung-dan-toc-Thanh-Hoa-
374697.aspx#:~:text=H%E1%BB%97%20tr%E1%BB%A3%20cho
%20vay,2.6.%20H%E1%BB%97&text=kinh%20doanh%20%C4%91%E1%BB%91i
%20v%E1%BB%9Bi,2.6.%20H%E1%BB%97&text=t%E1%BB%99c%20thi
%E1%BB%83u%20s%E1%BB%91%20ngh%C3%A8o,2.6.%20H%E1%BB
%97&text=khu%20v%E1%BB%B1c%20III%20th%C3%B4n%2C,2.6.%20H
%E1%BB%97
c, Chi đầu tư phát triển khác
Các khoản chi đầu phát triển khác cũng chiếm tỷ trọng rất nhỏ, sự dao động lên
xuống trong giai đoạn kể trên, thấp nhất tại năm 2020 với 43,838 triệu VND cao
nhất tại năm 2017 với 192,490 triệu VND. Tuy nhiên, sự hiện diện của mục này cho
thấy rằng tỉnh Thanh Hóa cũng những khoản đầu đa dạng linh hoạt theo từng
năm, từng giai đoạn phát triển cụ thể, không thuộc vào các dự án chính, bao gồm các
khoản phát triển hạ tầng khác hoặc hỗ trợ phát triển kinh tế.
1.1.2, Chi thường xuyên
Bảng 4.4
Xu hướng trong chi thường xuyên của tỉnh Thanh Hóa thể được chia thành 3 giai
đoạn cụ thể ứng với tính chất của tổng lượng chi trong từng giai đoạn. Trong đó, chi
cho giáo dục - đào tạo dạy nghề luôn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng chi thường
xuyên, xếp thứ 2 chi khoa học công nghệ, tuy nhiên sự chênh lệch giữa 2 khoản
chi tương đối lớn. n cạnh đó, còn các khoản chi khác cho các lĩnh vực tỉnh ít
quan tâm hơn như y tế, hành chính, tiền lương chi trả cho cán bộ công nhân viên
chức,...
Giai đoạn 2016 - 2018 chứng kiến sự tăng trưởng đều đặn ổn định trong các lĩnh
vực trọng yếu như giáo dục - đào tạo, dạy nghề khoa học - công nghệ. Cụ thể, chi
cho giáo dục - đào tạo dạy nghề tăng đều từ 7,071,015 triệu VND (năm 2016) lên
đến 8,050,935 triệu VND (năm 2018). Điều này đã chứng minh cho việc Thanh Hóa
đã đẩy mạnh đầu vào hệ thống giáo dục, với các dự án như nâng cấp sở hạ tầng
trường học ở các huyện vùng sâu, vùng xa và chương trình đào tạo nghề cho người lao
động nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực ngày càng cao trong giai đoạn này. Nhiều
trường học huyện vùng sâu, vùng xa như Thạch Thành, Bá Thước, Quan Sơn, đã được
cải tạo nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh. Các hạng mục như phòng học,
thư viện, nhà vệ sinh đạt chuẩn đã được đầu bổ sung sửa chữa các thiết bị tiên tiến
để cải thiện điều kiện dạy học. Bên cạnh đó, chi cho khoa học công nghệ
chiếm tỷ lệ nhỏ hơn, vẫn sự gia tăng, từ 49,683 triệu VND (năm 2016) lên 92,927
triệu VND (năm 2018). Các dự án triển khai thực hiện bổ sung ứng dụng công
nghệ cao trong nông nghiệp như tại huyện Yên Định đã được triển khai trong giai
đoạn này, bao gồm các khoản chi cho vận hành bảo trì máy móc, thiết bị, chi phí
đào tạo nhân lực hay chi phí nghiên cứu và thử nghiệm các giống cây trồng mới,...
https://baotainguyenmoitruong.vn/thanh-hoa-dau-tu-nhieu-co-so-ha-tang-o-cac-
huyen-mien-nui-294322.html
Trong giai đoạn 2018 - 2020, thể thấy chi thường xuyên xu hướng tăng
trưởng mạnh. Chi giáo dục - đào tạo và dạy nghề tiếp tục tăng, đạt đỉnh vào năm 2020
với 9,291,546 triệu VND, phản ánh việc ng cường đầu vào giáo dục trong bối
cảnh nhu cầu nâng cao trình độ dân số ngày càng lớn. Nhiều dự án lớn mở rộng và cải
tạo các trung tâm đào tạo nghề cũng đã diễn ra trong giai đoạn này, các khoản chi trả
lương cho các cán bộ giáo viên, giảng viên cũng được thực hiện đầy đủ, ngoài ra còn
các khoản lương thưởng khác để khuyến khích người dạy đầu nghiên cứu trong
giảng dạy cống hiến nhiều hơn. Chi khoa học công nghệ cũng đạt mức cao nhất
vào năm 2019 với 122,169 triệu VND. Các dự án ứng dụng vận hành công nghệ
trong sản xuất nông nghiệp và các chương trình nghiên cứu và vận hành trong đổi mới
công nghệ tại các doanh nghiệp vừa nhỏ những dụ nổi bật. thể kể đến như
vận hành Nhà máy chế biến thực phẩm công nghệ cao tại khu vực Lam Sơn, Nghi Sơn
và triển khai phần mềm du lịch thông minh phục vụ du khách tại các khu du lịch trọng
điểm.
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Ke-hoach-210-KH-UBND-2019-ung-
dung-cong-nghe-moi-cua-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-Thanh-Hoa-501283.aspx
Đối với giai đoạn 2020 - 2022, tổng chi thường xuyên xu hướng giảm nhẹ sau khi
chứng kiến sự tăng trưởng đều từ 2 năm trước đó. do bởi sự xuất hiện của đại
dịch Covid-19 đã làm giảm sút hoạt động sản xuất, kinh doanh đã dẫn đến việc cắt
giảm chi tiêu thường xuyên ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong các lĩnh vực không thiết
yếu. Do đó, thể thấy chi cho khoa học công nghệ sự tụt giảm đáng kể từ
107,871 triệu VND năm 2020 xuống còn 42,752 triệu VND năm 2022. Trong giai
đoạn này, tỉnh tập trung vào việc vận hành thử nghiệm ứng dụng các kết quả
nghiên cứu các lĩnh vực y tế sức khỏe cộng đồng hay nông nghiệp công nghệ
cao. Chi cho giáo dục giảm từ 9,291,546 triệu VND năm 2020 xuống 8,753,699 triệu
VND năm 2021 do chứng kiến sốc từ sxuất hiện của Covid-19. Tuy nhiên khoản
khi đã tăng lên 9,176,526 triệu VND năm 2022 do tỉnh đã chuẩn bị được kế hoạch
ứng phó trong thời kỳ đại dịch, xác định được những phương án chi để hoạt động giáo
dục đào tạo được tiếp diễn. Cụ thể, chi cho các chương trình đào tạo kỹ thuật số
cho giáo viên đã được thực hiện một cách toàn diện, bên cạnh đó là chi cho hoạt động
dạy học trực tuyến, bổ sung các thiết bị công nghệ cần thiết cho các gia đình học
sinh có hoàn cảnh khó khăn hay trả lương cho giáo viên và cán bộ ngành giáo dục.
Bảng 4.5
Xét theo phân cấp trong chi thường xuyên giai đoạn 2016-2022, thể thấy sự phân
chia ràng trong việc phân bổ chi tiêu giữa ngân sách cấp tỉnh cấp huyện. Cụ thể
trong, chi thường xuyên từ ngân sách cấp huyện luônxu hướng tăng và chiếm tỷ lệ
lớn, với mức cao nhất đạt 15,706,766 triệu VND vào năm 2020, trong khi chi từ ngân
sách cấp tỉnh mức thấp hơn đáng kể. Điều này phản ánh sự ưu tiên đầu cho các
huyện, nhất trong việc phát triển hạ tầng tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa
nhằm trực tiếp nâng cao điều kiện sống cho người dân, đặc biệt trong giải quyết, ứng
phó các hậu quả sau bão lũ. Trong giai đoạn này, nhiều dự án đầu tư cơ sở hạ tầng cho
các huyện miền núi vùng khó khăn đã được triển khai. dụ, các dự án cải tạo
trường học, đường sở y tế các huyện như Thường Xuân, Mường Lát đã
giúp nâng cao chất lượng dịch vụ công đời sống của người dân. Các dự án này yêu
cầu ngân sách lớn từ cấp huyện để đáp ứng nhu cầu cấp thiết về cơ sở hạ tầng.
Giai đoạn trong đại dịch Covid-19 (năm 2021 - 2022), chi từ ngân sách cấp huyện có
sự tăng nhẹ trong khi chi từ ngân sách cấp tỉnh chứng kiến sự giảm mạnh xuống còn
5,778,172 triệu VND năm 2022 do việc dành ngân sách cho ứng với hậu quả của đại
dịch trong cộng đồng. Việc phân bổ ngân sách như vậy hợp khi tỉnh Thanh Hóa
đã cân nhắc đến nhu cầu phát triển đồng bộ giữa các vùng giữa các ngành. Chi tiêu
của cấp huyện đảm bảo các khu vực khó khăn nhận được đầu phù hợp, trong khi
chi của cấp tỉnh thúc đẩy phát triển công nghệ các ngành mũi nhọn vẫn đạt mức
hợp lý để duy trì
1.2, Phân tích xu hướng thu
Bảng 4.6
Xét theo phân cấp, sự chênh lệch trong nguồn thu ngân sách địa phương ngân sách
nhà nước s biến đổi đáng kể theo thời gian. Trong giai đoạn 2016 - 2018, nguồn
thu ngân sách địa phương ghi nhận mức thu giảm mạnh, từ 34,225,461 triệu VND
năm 2016 xuống còn 21,854,609 triệu VND vào năm 2018. Điều này phản ánh những
khó khăn trong việc duy trì nguồn thu nội địa do tác động của kinh tế khu vực hoặc
khả năng huy động thuế, phí từ các hoạt động kinh tế chưa được mở rộng. Trong khi
đó, tổng thu ngân sách nhà nước lại có xu hướng tăng đều qua các năm, từ 13,653,614
triệu VND năm 2016 lên 31,134,529 triệu VND năm 2018. Điềuy cho thấy tỉnh
Thanh Hóa gặp khó khăn trong việc tự tạo nguồn thu, nhưng kinh tế chung vẫn phát
triển, khi nguồn thu từ các nguồn trung ương (thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp,
v.v.) vẫn duy trì một cách đều đặn. Giai đoạn 2016 - 2018 đã cho thấy sự phụ thuộc
của tỉnh vào ngân sách nhà nước khi nguồn thu địa phương giảm. Điều này xuất phát
từ việc kinh tế địa phương chưa thực sự phát triển mạnh mẽ hoặc cấu kinh tế tỉnh
chưa đủ đa dạng để tự bù đắp các khoản chi tiêu.
Đối với giai đoạn 2019 - 2022, thu ngân sách địa phương sự tăng trưởng rệt, từ
16,425,977 triệu VND năm 2019 lên đến 43,788,287 triệu VND năm 2022 sau khi
chứng kiến biến động giảm mạnh từ năm 2018. Điều này cho thấy Thanh Hóa đã đạt
được những bước tiến vượt bậc trong việc tự cung cấp tài chính quản ngân sách
địa phương. Việc tăng thu này đến từ sự phát triển của các dự án công nghiệp, du lịch
thu hút đầu nước ngoài. Bên cạnh đó, tổng thu ngân sách nhà nước cũng tăng
mạnh, đặc biệt đạt mức 64,838,877 triệu VND vào năm 2022. Tăng trưởng này thể
hiện nền kinh tế tỉnh đã tăng trưởng một cách đáng kể tỉnh khả năng đóng góp
nhiều hơn vào ngân sách chung của quốc gia. Mặc dù phải đối mặt với đại dịch Covid-
19, giai đoạn 2019 - 2022 vẫn là giai đoạn phát triển và củng cố năng lực tài chính địa
phương. Việc tăng trưởng nguồn thu địa phương cho thấy tỉnh Thanh Hóa đã
những biện pháp chiến lược hiệu quả nhằm phát triển kinh tế nội địa. Đây dấu
hiệu tích cực cho sự tự chủ tài chính của tỉnh. Sự tăng trưởng trong cả thu ngân sách
địa phương tổng thu NSNN trong giai đoạn này phản ánh sức khỏe kinh tế của tỉnh
hiệu quả của các chính sách phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp (như
các khu công nghiệp Nghi Sơn). Những dự án phát triển hạ tầng kinh tế trọng
điểm đóng vai trò lớn trong việc nâng cao nguồn thu từ các loại thuế.
Sự phân bổ nguồn thu qua hai giai đoạn cho thấy tỉnh Thanh Hóa đang dần chuyển từ
việc phụ thuộc vào ngân sách trung ương sang khả năng tự cung cấp tài chính. Sự tăng
trưởng ổn định của tổng thu NSNN trong cả hai giai đoạn cho thấy tỉnh Thanh Hóa đã
chiến lược phát triển dài hạn, tập trung vào các lĩnh vực như công nghiệp dịch
vụ, giúp cải thiện nền kinh tế và tạo thêm nguồn thu cho ngân sách địa phương.
Bảng 4.7
Xét theo xu hướng chuyển dịch của các khoản thu chính trong ngân sách địa phương,
giai đoạn 2017 - 2022 cho thấy sự phát triển bền vững(không có số liệu năm 2016)
ổn định của các nguồn thu quan trọng như thu từ doanh nghiệp nhà nước do Trung
ương hay địa phương quản lý. Ngoài ra, thể chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ từ
khu vực đầu nước ngoài khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, đặc biệt cuối giai
đoạn, mặc đang phải đối mặt với những ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19. Điều này
thể hiện tiềm năng phát triển kinh tế của Thanh Hóa, cùng với khả năng tạo môi
trường đầu tư hấp dẫn cho các doanh nghiệp.
Đối với các khu vực thu trên, cụ thể các khoản thu sẽ đến từ các loại thuế như thuế giá
trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế
môn bài,...Nguồn thu từ các loại thuế không chỉ giúp Thanh Hóa ổn định ngân sách
còn cho phép tỉnh thực hiện công tác chi theo kế hoạch phát triển của tỉnh trong
giai đoạn, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của tỉnh.
1.2.1, Thu từ khu vực DNNN do Trung ương quản lý
Khoản thu từ các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) do Trung ương quản lý luôn duy trì
mức ổn định từ năm 2017 đến 2022, với một xu hướng biến động tăng nhẹ. Từ
1,387,185 triệu VND vào năm 2017, thu nhập từ khoản này tăng lên 1,785,998 triệu
VND vào năm 2019, điều này phản ánh sự phát triển ổn định của các doanh nghiệp
nhà nước lớn trong khu vực. Nổi bật có thể kể đến như Công ty CP Xi măng Bỉm Sơn,
thường góp phần lớn vào ngân sách địa phương nhờ quy sản xuất lớn sức ảnh
hưởng lớn trong ngành. Xu hướng tăng này thể hiện sự vững mạnh của khu vực
DNNN trong việc đóng góp cho ngân sách địa phương. Tuy nhiên, khoản thu chứng
kiến sự giảm nhẹ xuống còn 1.547,233 vàom 2020, điều này giải bởi khi gặp
sốc từ đại dịch Covid-19, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước cũng
chịu ảnh hưởng nặng nề do các biện pháp phong tỏagiãn cáchhội. Nhiều doanh
nghiệp phải giảm sản xuất hoặc tạm ngừng hoạt động do chưa lường trước được
những ảnh hưởng hội lớn từ đại dịch, dẫn đến doanh thu sụt giảm khoản đóng
góp ngân sách từ khu vực này cũng bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, đến năm 2022, thu từ
khu vực này đã hồi phục dần, đạt 1,814,956 triệu VND vào năm 2022, phản ánh
đường lối chỉ đạo ứng phó đúng đắn của trung ương khả năng thích ứng của các
doanh nghiệp nhà nước trước đại dịch.
Xu hướng này cho thấy vai trò quan trọng của các doanh nghiệp nhà nước trong việc
ổn định phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt những doanh nghiệp quy
lớn khả năng tạo doanh thu cao như Công ty CP Xi măng Bỉm Sơn. Các doanh
nghiệp này không chỉ đóng góp cho ngân sách còn tạo công ăn việc làm hỗ trợ
các hoạt động kinh tế trong khu vực. Việc duy trì tăng cường năng lực hoạt động
của các DNNN yếu tố then chốt để đảm bảo nguồn thu ngân sách bền vững, đặc
biệt trong bối cảnh nền kinh tế chịu nhiều biến động từ các yếu tố bên ngoài.
https://bimson.thanhhoa.gov.vn/web/trang-chu/mo-hinh-dien-hinh/doanh-nhan-bim-
son-dau-an-nhiem-ky-2017-2022.html
1.2.2, Thu từ DNNN do địa phương quản lý
Khoản thu từ DNNN do địa phương quản khá biến động, với xu hướng giảm dần
đều từ 241,244 triệu VND vào năm 2017 xuống chạm đáy 92,972 triệu VND năm
2020, sau đó chứng kiến s tăng không đáng kể lên 127,726 triệu VND vào cuối giai
đoạn. Điều này phản ánh sự khó khăn của các doanh nghiệp nhà nước ở cấp thấp trong
việc duy trì hiệu quả hoạt động, khi các doanh nghiệp này thường gặp nhiều hạn chế
về vốn năng lực quản lý. Điều này hội để tỉnh tập trung hỗ trợ phát triển các
doanh nghiệp địa phương nhằm tối ưu hóa nguồn thu.
1.2.3, Thu từ khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài
Khoản thu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có sự tăng trưởng mạnh mẽ,
đặc biệt tăng đột biến vào năm 2022 lên 6,353,888 triệu VND. Đây khoản thu
tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong giai đoạn này, cho thấy sức hấp dẫn của Thanh
Hóa đối với các nhà đầu nước ngoài. Một số dự án FDI lớn như Dự án Nhiệt điện
Nghi Sơn II (xây dựng năm 2018) đã đóng góp quan trọng vào nguồn thu này, đồng
thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế các lĩnh vực khác của tỉnh. Dự án đã thúc đẩy
phát triển hạ tầng giao thông sở vật chất tại khu vực xung quanh, dẫn đến việc
tăng cường năng lực thu hút đầu cho các doanh nghiệp khác. Việc xây dựng các
tuyến đường mới, nâng cấp hệ thống điện nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc
vận chuyển hàng hóa thu hút các dự án khác vào khu vực, qua đó nâng cao khả
năng thu ngân sách từ các nguồn khác, các lĩnh vực khác. Theo báo cáo, trong năm
2022, thu từ thuế của tỉnh Thanh Hóa đạt 5.000 tỷ VND, tăng 10% so với năm trước.
Sự gia tăng này được cho liên quan đến các dự án đầu nước ngoài, đặc biệt
dự án Nhiệt điện Nghi Sơn II. Điều này cho thấy, các khoản thu từ FDI không chỉ thể
hiện sự phát triển kinh tế còn cho thấy môi trường đầu hấp dẫn của tỉnh Thanh
Hóa.
https://nangluongvietnam.vn/chinh-thuc-xay-dung-du-an-nhiet-dien-bot-nghi-son-2-
21196.html
1.2.4, Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cấu trung bình lớn n so với các
khoản thu khác trong giai đoạn 2017 - 2022. Đồng thời, khoản thu chứng kiến sự tăng
trưởng đáng kể từ 1,518,664 triệu VND năm 2017 đạt đỉnh với 2,759,044 triệu
VND vào năm 2022. Sự tăng trưởng này cho thấy sự phát triển của khu vực kinh tế tư
nhân đóng góp của các doanh nghiệp nhân vào ngân sách địa phương. Điều này
cũng thể hiện chính sách phát triển kinh tế khuyến khích khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh của Thanh Hóa đang mang lại hiệu quả tích cực. Cụ thể, nguồn thu từ các
loại thuế đến từ các doanh nghiệp nước ngoài các lĩnh vực như công nghiệp, bất
động sản dịch vụ. Có thể thấy s phát triển mạnh mẽ của các trung tâm thương
mại dịch vụ như Vincom, Lotte Mart đã góp phần lớn vào nguồn thu ngân sách.
Các dự án này không chỉ tạo ra việc làm còn thu hút đông đảo khách ng, từ đó
tăng doanh thu cho ngân sách tỉnh.
1.2.5, Thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập nhân ghi nhận sự biến động khá rệt từ 806,344 triệu VND vào
năm 2017 xuống còn 739,151 triệu VND năm 2019 tăng lên đến 1,341,400 triệu
VND vào năm 2022. Sự tăng này phản ánh mức sống thu nhập của người dân
Thanh Hóa đang dần được cải thiện, cùng với sự phát triển của các ngành nghề
hội việc làm, đặc biệt từ các doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đangxu hướng đầu tư tương đối nhiều vào tỉnh Thanh Hóa trong những năm
gần đây với việc xây dựng nhiều nhà máy, nhà xưởng, khu công nghệ cao, yêu cầu
nguồn nhân lực chất lượng cao dồi dào. Sự tăng trưởng trong nguồn thu từ thuế thu
nhập nhân một chỉ báo tốt về tình hình phát triển kinh tế hội của địa
phương, cho thấy mức sống của người dân đang dần được nâng cao.

Preview text:

IV, Những xu hướng dịch chuyển chính trong thu và chi của ngân sách
1, Phân tích những xu hướng dịch chuyển

1.1, Phân tích xu hướng chi Bảng 4.1
Xu hướng tăng trưởng trong chi ngân sách tại tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016-2022 đã
phản ánh rõ ràng sự ưu tiên của tỉnh trong việc đầu tư phát triển hạ tầng trong khi vẫn
duy trì các hoạt động chi thường xuyên một cách tương đối ổn định, đặc biệt trong
giai đoạn đại dịch Covid-19 (2020 - 2022). Bên cạnh đó, sự biến động có xu hướng
tăng trong các khoản chi khác như chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, chi dự phòng
ngân sách, chi cho các chương trình mục tiêu,...cũng cho thấy chính sách linh hoạt
trong việc ứng phó với các tình huống khẩn cấp và bất thường của tỉnh
Có thể thấy, tổng chi ngân sách địa phương của tỉnh Thanh Hóa có sự tăng trưởng ổn
định và liên tục từ năm 2016 đến 2022, cụ thể từ 33,666,847 triệu VND năm 2016 lên
64,914,053 triệu VND năm 2022, tức là tăng gần gấp đôi trong vòng 6 năm. Xu hướng
tăng chi tiêu công này đã phản ánh các chính sách và chương trình đầu tư phát triển
của địa phương, đặc biệt trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, đầu tư cho
phát triển khoa học công nghệ và các lĩnh vực xã hội khác.
Đặc biệt trong giai đoạn này, đại dịch Covid-19 ập đến cũng có những tác động đáng
kể đến quản lý chi tiêu công của Thanh Hóa. Trong giai đoạn trước đại dịch (2016 -
2019), chi ngân sách có xu hướng tăng trưởng ổn định. Và thời kỳ trong đại dịch
(2020 - 2022), chi ngân sách tiếp tục tăng mạnh nhưng có sự thay đổi trong cơ cấu chi,
với chi thường xuyên giữ mức ổn định nhưng có sự giảm nhẹ ở cuối giai đoạn, trong
khi chi đầu tư tăng mạnh hơn để kích cầu và khắc phục các tác động tiêu cực từ đại
dịch. Thêm vào đó, sự tăng lên ở các khoản chi khác cũng làm cho tổng chi ngân sách
của tỉnh Thanh Hóa chứng kiến sự tăng trưởng đáng kể ngay trong thời kỳ đại dịch.
1.1.1, Chi đầu tư phát triển Bảng 4.2
Trong cơ cấu chi đầu tư giai đoạn 2016 - 2022, quyết toán đã chia ra 3 danh mục chi
cụ thể dựa theo mục đích chi của tỉnh: Chi đầu tư cho các dự án; Chi đầu tư và hỗ trợ
vốn cho các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt
hàng, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của địa phương theo quy định của
pháp luật và Chi đầu tư phát triển khác. Tổng chi đầu tư của cả giai đoạn có xu hướng
tăng đều từ 9,200,379 triệu VND năm 2016 đến 18,091,851 năm 2022. Điều này cho
thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ và liên tục trong chi đầu tư, phù hợp với xu hướng phát
triển kinh tế và hạ tầng của tỉnh Thanh Hóa. Bảng 4.3
Ngoài ra, sự phân phối trong nguồn chi đầu tư của tỉnh Thanh Hóa cũng được chỉ ra rõ
nét theo các phân cấp (ngân sách cấp tỉnh và ngân sách huyện) từ năm 2016 đến 2022.
Trước tiên, ngân sách cấp tỉnh trong giai đoạn này có xu hướng giao động nhẹ từ
5,114,191 triệu VND năm 2016 lên 5,555,424 triệu VND năm 2022. Điều này cho
thấy tỉnh Thanh Hóa tiếp tục ưu tiên duy trì các khoản chi đầu tư cho các dự án trọng
điểm thuộc cấp tỉnh, bao gồm các dự án lớn như cơ sở hạ tầng, giao thông, và phát
triển đô thị. Các dự án lớn như cầu Nguyệt Viên và quốc lộ 47 là những ví dụ điển
hình về các dự án hạ tầng quan trọng được triển khai trong giai đoạn này. Ngoài ra,
việc phát triển các khu công nghiệp như Khu công nghiệp Nghi Sơn cũng đóng vai trò
then chốt trong việc thu hút đầu tư nước ngoài và tạo việc làm.
Đối với ngân sách cấp huyện, mức ngân sách chứng kiến sự tăng trưởng khá đồng đều
từ 2016 đến 2018, tuy nhiên đã có sự biến động lớn trong giai đoạn từ 2019 đến 2022
với mức tăng từ 6,825,762 VND lên 12,536,426 triệu VND. Sự gia tăng này cho thấy
một xu hướng mới trong việc phân cấp nguồn lực, với các huyện trong tỉnh Thanh
Hóa ngày càng nhận được nhiều hỗ trợ tài chính hơn để thực hiện các dự án phát triển
địa phương. Ngân sách này được phân bổ để hỗ trợ các dự án như nâng cấp hệ thống
giao thông nông thôn, xây dựng trường học mới, và cải thiện dịch vụ y tế. Các dự án
có mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống tại các huyện miền núi và vùng sâu vùng
xa, đồng thời giảm bớt chênh lệch phát triển giữa các vùng trong tỉnh.
a, Chi đầu tư cho các dự án
Dựa trên biểu đồ và bảng số liệu quyết toán, có thể thấy rõ chi đầu tư cho các dự án
chiếm phần lớn nhất trong cơ cấu tổng chi đầu tư. Con số này dao động từ khoảng
9,918,451 triệu VND năm 2017 (Chưa có số liệu năm 2016) và tăng lên 18,016,786
triệu VND vào năm 2022, điều này cho thấy sự ưu tiên rõ rệt của tỉnh đối với việc
phát triển các dự án trọng điểm.
Cụ thể trong đó, đối với năm 2016, tỉnh chỉ tập trung đầu tư cho các dự án xây dựng
cơ bản, phát triển các dự án cơ sở hạ tầng và công trình trọng điểm. Năm 2017, tỉnh đã
ưu tiên tập trung sang các lĩnh vực khác là Giáo dục - đào tạo, dạy nghề (Với mức chi
1,143,517 triệu VND) và Khoa học - công nghệ (Với mức chi (20,945 triệu VND).
Sang đến năm 2018, những con số này cũng có sự tăng lên nhẹ, lần lượt là 1,236,218
triệu VND và 21,255 triệu VND. Các dự án chi đầu tư nổi bật trong khoa học và công
nghệ có thể kể đến như Điều chỉnh, mở rộng quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế
Nghi Sơn (năm 2017) tầm nhìn đến năm 2035, bao gồm việc ứng dụng các phương
pháp xử lý nước thải tiên tiến và giảm thiểu ô nhiễm từ các ngành công nghiệp chủ
chốt như sản xuất xi măng. Dự án nhằm giảm tải ô nhiễm và cải thiện hệ thống xử lý
môi trường tại các cơ sở sản xuất lớn trong tỉnh như nhà máy xi măng Công Thanh và
Nghi Sơn. Các khoản chi này có nhiệm vụ thúc đẩy phát triển doanh nghiệp khoa học
công nghệ, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp và thực hiện các dự án đổi mới sáng
tạo trên địa bàn tỉnh. Trong giai đoạn 2020 - 2022, mặc dù chịu ảnh hưởng của đại
dịch Covid-19 nhưng tỉnh vẫn ưu tiên chi đầu tư vào các dự án, lĩnh vực cụ thể, chiếm
phần lớn trong tổng chi đầu tư phát triển của tỉnh. Cụ thể đối với giáo dục và đào tạo,
do thời gian giãn cách kéo dài nhưng vẫn phải đảm bảo yêu cầu về dạy và học trên
toàn địa bàn tỉnh, các khoản chi cho các dự án này dần được tập trung và bổ sung
nhiều hơn. Đó là bởi việc đầu tư cho các thiết bị máy móc, điện tử và đường truyền
internet ngày càng tăng để đảm bảo việc dạy và học được thực hiện tốt nhất.
https://baodautu.vn/hoi-nghi-xuc-tien-dau-tu-thanh-hoa-2017-thanh-hoa-thu-hut-32-
du-an-dau-tu-voi-61-ty-usd-d63734.html
http://moc.gov.vn/vn/tin-tuc/1143/48697/thong-tin-xay-dung-co-ban-va-khoa-hoc-
cong-nghe-xay-dung--so-052017.aspx
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Quyet-dinh-284-QD-TTg-phe-duyet-
nhiem-vu-dieu-chinh-mo-rong-quy-hoach-Khu-kinh-te-Nghi-Son-2017-341967.aspx
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Quyet-dinh-4892-QD-UBND-
2017-Ho-tro-phat-trien-doanh-nghiep-khoa-hoc-va-cong-nghe-Thanh-Hoa- 375713.aspx
b, Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công ích
Trong giai đoạn 2016 - 2022, khoản chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ công ích hầu như không đáng kể so với khoản chi cho các dự án đầu tư
trực tiếp, với chỉ một khoản nhỏ vào năm 2017 và 2019. Cụ thể, năm 2017 chứng kiến
lượng chi 45,000 triệu VND theo ngân sách cấp tỉnh và năm 2019 với lượng chi 700
triệu VND theo ngân sách cấp huyện. Điều này có thể phản ánh rằng tỉnh chủ yếu tập
trung đầu tư trực tiếp vào các dự án công, thay vì hỗ trợ trực tiếp cho các doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ công ích. Trong giai đoạn trên, tỉnh muốn khuyến khích các
doanh nghiệp tự phát triển và hoạt động một cách độc lập, thay vì phụ thuộc vào ngân
sách nhà nước. Thay vào đó, ngân sách sẽ được ưu tiên dành cho các dự án có tác
động lớn hơn tới cộng đồng và tạo ra cơ hội việc làm, cải thiện thu nhập cho người
dân. Ngoài ra, việc tập trung vào các dự án đầu tư công lớn còn phù hợp với chiến
lược nâng cao cơ sở hạ tầng và chất lượng dịch vụ công với mục tiêu xây dựng môi
trường kinh doanh thuận lợi, giúp Thanh Hóa trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà
đầu tư trong và ngoài nước. Chiến lược này cũng phù hợp với các định hướng phát
triển chung của cả nước, nơi mà việc nâng cấp hạ tầng và phát triển khu vực công
đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế địa phương và giảm chênh lệch vùng miền.
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Quyet-dinh-4892-QD-UBND-
2017-Ho-tro-phat-trien-doanh-nghiep-khoa-hoc-va-cong-nghe-Thanh-Hoa-
375713.aspx#:~:text=Quy%E1%BA%BFt%20%C4%91%E1%BB%8Bnh
%204892%2FQ%C4%90%2DUBND%202017,ng%C3%A0nh%2C%20c
%C3%A1c&text=ph%C3%A1t%20tri%E1%BB%83n%20doanh%20nghi%E1%BB
%87p,ng%C3%A0nh%2C%20c%C3%A1c&text=c%C3%B4ng%20ngh%E1%BB
%87%20Thanh%20H%C3%B3a,ng%C3%A0nh%2C%20c%C3%A1c&text=cao
%20nh%E1%BA%ADn%20th%E1%BB%A9c%20c%E1%BB%A7a,ng%C3%A0nh %2C%20c%C3%A1c
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Quyet-dinh-4753-QD-UBND-2017-
Chinh-sach-ho-tro-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vung-dan-toc-Thanh-Hoa-
374697.aspx#:~:text=H%E1%BB%97%20tr%E1%BB%A3%20cho
%20vay,2.6.%20H%E1%BB%97&text=kinh%20doanh%20%C4%91%E1%BB%91i
%20v%E1%BB%9Bi,2.6.%20H%E1%BB%97&text=t%E1%BB%99c%20thi
%E1%BB%83u%20s%E1%BB%91%20ngh%C3%A8o,2.6.%20H%E1%BB
%97&text=khu%20v%E1%BB%B1c%20III%20th%C3%B4n%2C,2.6.%20H %E1%BB%97
c, Chi đầu tư phát triển khác
Các khoản chi đầu tư phát triển khác cũng chiếm tỷ trọng rất nhỏ, có sự dao động lên
xuống trong giai đoạn kể trên, thấp nhất tại năm 2020 với 43,838 triệu VND và cao
nhất tại năm 2017 với 192,490 triệu VND. Tuy nhiên, sự hiện diện của mục này cho
thấy rằng tỉnh Thanh Hóa cũng có những khoản đầu tư đa dạng và linh hoạt theo từng
năm, từng giai đoạn phát triển cụ thể, không thuộc vào các dự án chính, bao gồm các
khoản phát triển hạ tầng khác hoặc hỗ trợ phát triển kinh tế. 1.1.2, Chi thường xuyên Bảng 4.4
Xu hướng trong chi thường xuyên của tỉnh Thanh Hóa có thể được chia thành 3 giai
đoạn cụ thể ứng với tính chất của tổng lượng chi trong từng giai đoạn. Trong đó, chi
cho giáo dục - đào tạo và dạy nghề luôn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng chi thường
xuyên, xếp thứ 2 là chi khoa học và công nghệ, tuy nhiên sự chênh lệch giữa 2 khoản
chi tương đối lớn. Bên cạnh đó, còn các khoản chi khác cho các lĩnh vực mà tỉnh ít
quan tâm hơn như y tế, hành chính, tiền lương chi trả cho cán bộ công nhân viên chức,...
Giai đoạn 2016 - 2018 chứng kiến sự tăng trưởng đều đặn và ổn định trong các lĩnh
vực trọng yếu như giáo dục - đào tạo, dạy nghề và khoa học - công nghệ. Cụ thể, chi
cho giáo dục - đào tạo và dạy nghề tăng đều từ 7,071,015 triệu VND (năm 2016) lên
đến 8,050,935 triệu VND (năm 2018). Điều này đã chứng minh cho việc Thanh Hóa
đã đẩy mạnh đầu tư vào hệ thống giáo dục, với các dự án như nâng cấp cơ sở hạ tầng
trường học ở các huyện vùng sâu, vùng xa và chương trình đào tạo nghề cho người lao
động nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực ngày càng cao trong giai đoạn này. Nhiều
trường học huyện vùng sâu, vùng xa như Thạch Thành, Bá Thước, Quan Sơn, đã được
cải tạo nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh. Các hạng mục như phòng học,
thư viện, nhà vệ sinh đạt chuẩn đã được đầu tư bổ sung sửa chữa các thiết bị tiên tiến
để cải thiện điều kiện dạy và học. Bên cạnh đó, chi cho khoa học và công nghệ dù
chiếm tỷ lệ nhỏ hơn, vẫn có sự gia tăng, từ 49,683 triệu VND (năm 2016) lên 92,927
triệu VND (năm 2018). Các dự án triển khai thực hiện và bổ sung ứng dụng công
nghệ cao trong nông nghiệp như tại huyện Yên Định đã được triển khai trong giai
đoạn này, bao gồm các khoản chi cho vận hành và bảo trì máy móc, thiết bị, chi phí
đào tạo nhân lực hay chi phí nghiên cứu và thử nghiệm các giống cây trồng mới,...
https://baotainguyenmoitruong.vn/thanh-hoa-dau-tu-nhieu-co-so-ha-tang-o-cac- huyen-mien-nui-294322.html
Trong giai đoạn 2018 - 2020, có thể thấy rõ chi thường xuyên có xu hướng tăng
trưởng mạnh. Chi giáo dục - đào tạo và dạy nghề tiếp tục tăng, đạt đỉnh vào năm 2020
với 9,291,546 triệu VND, phản ánh việc tăng cường đầu tư vào giáo dục trong bối
cảnh nhu cầu nâng cao trình độ dân số ngày càng lớn. Nhiều dự án lớn mở rộng và cải
tạo các trung tâm đào tạo nghề cũng đã diễn ra trong giai đoạn này, các khoản chi trả
lương cho các cán bộ giáo viên, giảng viên cũng được thực hiện đầy đủ, ngoài ra còn
có các khoản lương thưởng khác để khuyến khích người dạy đầu tư nghiên cứu trong
giảng dạy và cống hiến nhiều hơn. Chi khoa học và công nghệ cũng đạt mức cao nhất
vào năm 2019 với 122,169 triệu VND. Các dự án ứng dụng và vận hành công nghệ
trong sản xuất nông nghiệp và các chương trình nghiên cứu và vận hành trong đổi mới
công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những ví dụ nổi bật. Có thể kể đến như
vận hành Nhà máy chế biến thực phẩm công nghệ cao tại khu vực Lam Sơn, Nghi Sơn
và triển khai phần mềm du lịch thông minh phục vụ du khách tại các khu du lịch trọng điểm.
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Ke-hoach-210-KH-UBND-2019-ung-
dung-cong-nghe-moi-cua-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-Thanh-Hoa-501283.aspx
Đối với giai đoạn 2020 - 2022, tổng chi thường xuyên có xu hướng giảm nhẹ sau khi
chứng kiến sự tăng trưởng đều từ 2 năm trước đó. Lý do là bởi sự xuất hiện của đại
dịch Covid-19 đã làm giảm sút hoạt động sản xuất, kinh doanh đã dẫn đến việc cắt
giảm chi tiêu thường xuyên ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong các lĩnh vực không thiết
yếu. Do đó, có thể thấy rõ chi cho khoa học và công nghệ có sự tụt giảm đáng kể từ
107,871 triệu VND năm 2020 xuống còn 42,752 triệu VND năm 2022. Trong giai
đoạn này, tỉnh tập trung vào việc vận hành thử nghiệm và ứng dụng các kết quả
nghiên cứu ở các lĩnh vực y tế và sức khỏe cộng đồng hay nông nghiệp công nghệ
cao. Chi cho giáo dục giảm từ 9,291,546 triệu VND năm 2020 xuống 8,753,699 triệu
VND năm 2021 do chứng kiến cú sốc từ sự xuất hiện của Covid-19. Tuy nhiên khoản
khi đã tăng lên 9,176,526 triệu VND năm 2022 do tỉnh đã chuẩn bị được rõ kế hoạch
ứng phó trong thời kỳ đại dịch, xác định được những phương án chi để hoạt động giáo
dục và đào tạo được tiếp diễn. Cụ thể, chi cho các chương trình đào tạo kỹ thuật số
cho giáo viên đã được thực hiện một cách toàn diện, bên cạnh đó là chi cho hoạt động
dạy và học trực tuyến, bổ sung các thiết bị công nghệ cần thiết cho các gia đình học
sinh có hoàn cảnh khó khăn hay trả lương cho giáo viên và cán bộ ngành giáo dục. Bảng 4.5
Xét theo phân cấp trong chi thường xuyên giai đoạn 2016-2022, có thể thấy sự phân
chia rõ ràng trong việc phân bổ chi tiêu giữa ngân sách cấp tỉnh và cấp huyện. Cụ thể
trong, chi thường xuyên từ ngân sách cấp huyện luôn có xu hướng tăng và chiếm tỷ lệ
lớn, với mức cao nhất đạt 15,706,766 triệu VND vào năm 2020, trong khi chi từ ngân
sách cấp tỉnh ở mức thấp hơn đáng kể. Điều này phản ánh sự ưu tiên đầu tư cho các
huyện, nhất là trong việc phát triển hạ tầng tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa
nhằm trực tiếp nâng cao điều kiện sống cho người dân, đặc biệt trong giải quyết, ứng
phó các hậu quả sau bão lũ. Trong giai đoạn này, nhiều dự án đầu tư cơ sở hạ tầng cho
các huyện miền núi và vùng khó khăn đã được triển khai. Ví dụ, các dự án cải tạo và
trường học, đường xá và cơ sở y tế ở các huyện như Thường Xuân, Mường Lát đã
giúp nâng cao chất lượng dịch vụ công và đời sống của người dân. Các dự án này yêu
cầu ngân sách lớn từ cấp huyện để đáp ứng nhu cầu cấp thiết về cơ sở hạ tầng.
Giai đoạn trong đại dịch Covid-19 (năm 2021 - 2022), chi từ ngân sách cấp huyện có
sự tăng nhẹ trong khi chi từ ngân sách cấp tỉnh chứng kiến sự giảm mạnh xuống còn
5,778,172 triệu VND năm 2022 do việc dành ngân sách cho ứng với hậu quả của đại
dịch trong cộng đồng. Việc phân bổ ngân sách như vậy là hợp lý khi tỉnh Thanh Hóa
đã cân nhắc đến nhu cầu phát triển đồng bộ giữa các vùng và giữa các ngành. Chi tiêu
của cấp huyện đảm bảo các khu vực khó khăn nhận được đầu tư phù hợp, trong khi
chi của cấp tỉnh thúc đẩy phát triển công nghệ và các ngành mũi nhọn vẫn đạt ở mức hợp lý để duy trì
1.2, Phân tích xu hướng thu Bảng 4.6
Xét theo phân cấp, sự chênh lệch trong nguồn thu ngân sách địa phương và ngân sách
nhà nước có sự biến đổi đáng kể theo thời gian. Trong giai đoạn 2016 - 2018, nguồn
thu ngân sách địa phương ghi nhận mức thu giảm mạnh, từ 34,225,461 triệu VND
năm 2016 xuống còn 21,854,609 triệu VND vào năm 2018. Điều này phản ánh những
khó khăn trong việc duy trì nguồn thu nội địa do tác động của kinh tế khu vực hoặc
khả năng huy động thuế, phí từ các hoạt động kinh tế chưa được mở rộng. Trong khi
đó, tổng thu ngân sách nhà nước lại có xu hướng tăng đều qua các năm, từ 13,653,614
triệu VND năm 2016 lên 31,134,529 triệu VND năm 2018. Điều này cho thấy dù tỉnh
Thanh Hóa gặp khó khăn trong việc tự tạo nguồn thu, nhưng kinh tế chung vẫn phát
triển, khi nguồn thu từ các nguồn trung ương (thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp,
v.v.) vẫn duy trì một cách đều đặn. Giai đoạn 2016 - 2018 đã cho thấy sự phụ thuộc
của tỉnh vào ngân sách nhà nước khi nguồn thu địa phương giảm. Điều này xuất phát
từ việc kinh tế địa phương chưa thực sự phát triển mạnh mẽ hoặc cơ cấu kinh tế tỉnh
chưa đủ đa dạng để tự bù đắp các khoản chi tiêu.
Đối với giai đoạn 2019 - 2022, thu ngân sách địa phương có sự tăng trưởng rõ rệt, từ
16,425,977 triệu VND năm 2019 lên đến 43,788,287 triệu VND năm 2022 sau khi
chứng kiến biến động giảm mạnh từ năm 2018. Điều này cho thấy Thanh Hóa đã đạt
được những bước tiến vượt bậc trong việc tự cung cấp tài chính và quản lý ngân sách
địa phương. Việc tăng thu này đến từ sự phát triển của các dự án công nghiệp, du lịch
và thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, tổng thu ngân sách nhà nước cũng tăng
mạnh, đặc biệt đạt mức 64,838,877 triệu VND vào năm 2022. Tăng trưởng này thể
hiện nền kinh tế tỉnh đã tăng trưởng một cách đáng kể và tỉnh có khả năng đóng góp
nhiều hơn vào ngân sách chung của quốc gia. Mặc dù phải đối mặt với đại dịch Covid-
19, giai đoạn 2019 - 2022 vẫn là giai đoạn phát triển và củng cố năng lực tài chính địa
phương. Việc tăng trưởng nguồn thu địa phương cho thấy tỉnh Thanh Hóa đã có
những biện pháp và chiến lược hiệu quả nhằm phát triển kinh tế nội địa. Đây là dấu
hiệu tích cực cho sự tự chủ tài chính của tỉnh. Sự tăng trưởng trong cả thu ngân sách
địa phương và tổng thu NSNN trong giai đoạn này phản ánh sức khỏe kinh tế của tỉnh
và hiệu quả của các chính sách phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp (như
các khu công nghiệp ở Nghi Sơn). Những dự án phát triển hạ tầng và kinh tế trọng
điểm đóng vai trò lớn trong việc nâng cao nguồn thu từ các loại thuế.
Sự phân bổ nguồn thu qua hai giai đoạn cho thấy tỉnh Thanh Hóa đang dần chuyển từ
việc phụ thuộc vào ngân sách trung ương sang khả năng tự cung cấp tài chính. Sự tăng
trưởng ổn định của tổng thu NSNN trong cả hai giai đoạn cho thấy tỉnh Thanh Hóa đã
có chiến lược phát triển dài hạn, tập trung vào các lĩnh vực như công nghiệp và dịch
vụ, giúp cải thiện nền kinh tế và tạo thêm nguồn thu cho ngân sách địa phương. Bảng 4.7
Xét theo xu hướng chuyển dịch của các khoản thu chính trong ngân sách địa phương,
giai đoạn 2017 - 2022 (không có số liệu năm 2016) cho thấy sự phát triển bền vững và
ổn định của các nguồn thu quan trọng như thu từ doanh nghiệp nhà nước do Trung
ương hay địa phương quản lý. Ngoài ra, có thể chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ từ
khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, đặc biệt ở cuối giai
đoạn, mặc dù đang phải đối mặt với những ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19. Điều này
thể hiện tiềm năng phát triển kinh tế của Thanh Hóa, cùng với khả năng tạo môi
trường đầu tư hấp dẫn cho các doanh nghiệp.
Đối với các khu vực thu trên, cụ thể các khoản thu sẽ đến từ các loại thuế như thuế giá
trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế
môn bài,...Nguồn thu từ các loại thuế không chỉ giúp Thanh Hóa ổn định ngân sách
mà còn cho phép tỉnh thực hiện công tác chi theo kế hoạch phát triển của tỉnh trong
giai đoạn, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của tỉnh.
1.2.1, Thu từ khu vực DNNN do Trung ương quản lý
Khoản thu từ các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) do Trung ương quản lý luôn duy trì
mức ổn định từ năm 2017 đến 2022, với một xu hướng biến động tăng nhẹ. Từ
1,387,185 triệu VND vào năm 2017, thu nhập từ khoản này tăng lên 1,785,998 triệu
VND vào năm 2019, điều này phản ánh sự phát triển ổn định của các doanh nghiệp
nhà nước lớn trong khu vực. Nổi bật có thể kể đến như Công ty CP Xi măng Bỉm Sơn,
thường góp phần lớn vào ngân sách địa phương nhờ quy mô sản xuất lớn và sức ảnh
hưởng lớn trong ngành. Xu hướng tăng này thể hiện sự vững mạnh của khu vực
DNNN trong việc đóng góp cho ngân sách địa phương. Tuy nhiên, khoản thu chứng
kiến sự giảm nhẹ xuống còn 1.547,233 vào năm 2020, điều này lý giải bởi khi gặp cú
sốc từ đại dịch Covid-19, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước cũng
chịu ảnh hưởng nặng nề do các biện pháp phong tỏa và giãn cách xã hội. Nhiều doanh
nghiệp phải giảm sản xuất hoặc tạm ngừng hoạt động do chưa lường trước được
những ảnh hưởng xã hội lớn từ đại dịch, dẫn đến doanh thu sụt giảm và khoản đóng
góp ngân sách từ khu vực này cũng bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, đến năm 2022, thu từ
khu vực này đã hồi phục dần, đạt 1,814,956 triệu VND vào năm 2022, phản ánh
đường lối chỉ đạo ứng phó đúng đắn của trung ương và khả năng thích ứng của các
doanh nghiệp nhà nước trước đại dịch.
Xu hướng này cho thấy vai trò quan trọng của các doanh nghiệp nhà nước trong việc
ổn định và phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt là những doanh nghiệp có quy mô
lớn và khả năng tạo doanh thu cao như Công ty CP Xi măng Bỉm Sơn. Các doanh
nghiệp này không chỉ đóng góp cho ngân sách mà còn tạo công ăn việc làm và hỗ trợ
các hoạt động kinh tế trong khu vực. Việc duy trì và tăng cường năng lực hoạt động
của các DNNN là yếu tố then chốt để đảm bảo nguồn thu ngân sách bền vững, đặc
biệt trong bối cảnh nền kinh tế chịu nhiều biến động từ các yếu tố bên ngoài.
https://bimson.thanhhoa.gov.vn/web/trang-chu/mo-hinh-dien-hinh/doanh-nhan-bim-
son-dau-an-nhiem-ky-2017-2022.html
1.2.2, Thu từ DNNN do địa phương quản lý
Khoản thu từ DNNN do địa phương quản lý khá biến động, với xu hướng giảm dần
đều từ 241,244 triệu VND vào năm 2017 xuống chạm đáy 92,972 triệu VND năm
2020, sau đó chứng kiến sự tăng không đáng kể lên 127,726 triệu VND vào cuối giai
đoạn. Điều này phản ánh sự khó khăn của các doanh nghiệp nhà nước ở cấp thấp trong
việc duy trì hiệu quả hoạt động, khi các doanh nghiệp này thường gặp nhiều hạn chế
về vốn và năng lực quản lý. Điều này là cơ hội để tỉnh tập trung hỗ trợ phát triển các
doanh nghiệp địa phương nhằm tối ưu hóa nguồn thu.
1.2.3, Thu từ khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài
Khoản thu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có sự tăng trưởng mạnh mẽ,
đặc biệt tăng đột biến vào năm 2022 lên 6,353,888 triệu VND. Đây là khoản thu có
tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong giai đoạn này, cho thấy sức hấp dẫn của Thanh
Hóa đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Một số dự án FDI lớn như Dự án Nhiệt điện
Nghi Sơn II (xây dựng năm 2018) đã đóng góp quan trọng vào nguồn thu này, đồng
thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở các lĩnh vực khác của tỉnh. Dự án đã thúc đẩy
phát triển hạ tầng giao thông và cơ sở vật chất tại khu vực xung quanh, dẫn đến việc
tăng cường năng lực thu hút đầu tư cho các doanh nghiệp khác. Việc xây dựng các
tuyến đường mới, nâng cấp hệ thống điện và nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc
vận chuyển hàng hóa và thu hút các dự án khác vào khu vực, qua đó nâng cao khả
năng thu ngân sách từ các nguồn khác, các lĩnh vực khác. Theo báo cáo, trong năm
2022, thu từ thuế của tỉnh Thanh Hóa đạt 5.000 tỷ VND, tăng 10% so với năm trước.
Sự gia tăng này được cho là có liên quan đến các dự án đầu tư nước ngoài, đặc biệt là
dự án Nhiệt điện Nghi Sơn II. Điều này cho thấy, các khoản thu từ FDI không chỉ thể
hiện sự phát triển kinh tế mà còn cho thấy môi trường đầu tư hấp dẫn của tỉnh Thanh Hóa.
https://nangluongvietnam.vn/chinh-thuc-xay-dung-du-an-nhiet-dien-bot-nghi-son-2- 21196.html
1.2.4, Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có cơ cấu trung bình lớn hơn so với các
khoản thu khác trong giai đoạn 2017 - 2022. Đồng thời, khoản thu chứng kiến sự tăng
trưởng đáng kể từ 1,518,664 triệu VND năm 2017 và đạt đỉnh với 2,759,044 triệu
VND vào năm 2022. Sự tăng trưởng này cho thấy sự phát triển của khu vực kinh tế tư
nhân và đóng góp của các doanh nghiệp tư nhân vào ngân sách địa phương. Điều này
cũng thể hiện chính sách phát triển kinh tế và khuyến khích khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh của Thanh Hóa đang mang lại hiệu quả tích cực. Cụ thể, nguồn thu từ các
loại thuế đến từ các doanh nghiệp nước ngoài ở các lĩnh vực như công nghiệp, bất
động sản và dịch vụ. Có thể thấy rõ sự phát triển mạnh mẽ của các trung tâm thương
mại và dịch vụ như Vincom, Lotte Mart đã góp phần lớn vào nguồn thu ngân sách.
Các dự án này không chỉ tạo ra việc làm mà còn thu hút đông đảo khách hàng, từ đó
tăng doanh thu cho ngân sách tỉnh.
1.2.5, Thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân ghi nhận sự biến động khá rõ rệt từ 806,344 triệu VND vào
năm 2017 xuống còn 739,151 triệu VND năm 2019 và tăng lên đến 1,341,400 triệu
VND vào năm 2022. Sự tăng này phản ánh mức sống và thu nhập của người dân
Thanh Hóa đang dần được cải thiện, cùng với sự phát triển của các ngành nghề và cơ
hội việc làm, đặc biệt từ các doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đang có xu hướng đầu tư tương đối nhiều vào tỉnh Thanh Hóa trong những năm
gần đây với việc xây dựng nhiều nhà máy, nhà xưởng, khu công nghệ cao, yêu cầu
nguồn nhân lực chất lượng cao dồi dào. Sự tăng trưởng trong nguồn thu từ thuế thu
nhập cá nhân là một chỉ báo tốt về tình hình phát triển kinh tế và xã hội của địa
phương, cho thấy mức sống của người dân đang dần được nâng cao.