1
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................4
CHƯƠNG I: SỞ LUẬN CỦA ĐƯNG LỐI ĐỔI MỚI ĐẤT C...............5
1. 1.Chủ nghĩa Mác Lênin............................................................................................... 5
1.1.1.Khái quát về chủ nghĩa Mác Lênin........................................................................5
1.1.2.Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về xây dựng, phát triển đổi mới đất
ớc..........................................................................................................................5
1.1.3.Giá tr ý nghĩa của học thuyết Mác Lênin đối với công cuộc đổi mới ở Việt
Nam.......................................................................................................................... 7
1. 2.Tư ng Hồ Chí Minh.............................................................................................9
1.2.1.Khái quát về ng Hồ Chí Minh......................................................................9
1.2.2.Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển đổi mới đất ớc......10
1.2.3.Giá tr ý nghĩa của ng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới hiện nay 10
1. 3.Quan điểm nhận thức về đổi mới trong Đảng Cộng sản Việt Nam....................... 13
CHƯƠNG II: SỞ THỰC TIỄN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT
ỚC.............................................................................................................................14
2. 1.Tình hình bối cảnh thế giới.....................................................................................15
2.1.1.Cuộc cách mạng khoa học - thuật phát triển mạnh......................................... 15
2.1.2.Xu thế đối thoại thay xu thế đối đầu....................................................................16
2.1.3.Công cuộc cải tổ diễn ra các ớc hội chủ nghĩa........................................17
2. 2.Tình hình trong ớc trước đổi mới.......................................................................19
2.2.1.Đất ớc khng hong kinh tế- hội..................................................................19
2.2.2.Bị đế quốc thế lực thù địch bao vây, cấm vận..................................................22
2.2.3Nhiều hiện ng êu cực diễn ra phbiến...........................................................23
2.2.4Đã nhng ớc đột phá trong lĩnh vực kinh tế................................................. 24
2. 3.Tính tất yếu khách quan của việc thực hiện đưng lối đổi mới............................. 27
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN THỰC HIỆN ĐƯNG LỐI ĐỔI MỚI
ĐẤT C Ở VIỆT NAM...........................................................................................28
3. 1.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI.................................................................... 28
3
3. 2.Thực ễn công cuộc đổi mới ở Việt Nam.............................................................. 33
3.2.1.Tác động của nh hình quốc tế trong ớc đến quá trình đổi mới................ 33
3.2.2.Vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin ng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi
mới..........................................................................................................................36
3.2.3.Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Vit Nam.................................................. 38
3.3.Những thành tựu đạt được sau gần 40 năm đổi mới.............................................. 39
3.4.Những hạn chế nguyên nhân trong thực hiện đưng lối đổi mới......................52
3. 4.1Những hạn chế trong quá trình thực hiện đưng lối đổi mới...............................52
3.4.2.Nguyên nhân trong quá trình thực hiện đưng lối đổi mới.................................60
3. 5.Giải pháp nâng cao hiệu quthực hiện đưng lối đổi mới.................................... 63
3.5.1.Nâng cao chất lượng tăng trưởng chuyển đổi hình kinh tế...................... 64
3.5.2.Hoàn thiện thchế, nâng cao hiệu ququản lý nhà ớc...................................64
3.5.3.Phát triển doanh nghiệp, khoa học – công nghệ nguồn nhân lực...................65
3.5.4.Phát triển hội, bảo vệ môi trường nâng cao năng lực hội nhập quốc tế ...66
KẾT LUẬN.....................................................................................................................68
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................69
4
MỞ ĐẦU
Đất ớc Việt Nam ớc vào thập niên 80 của thế kỷ XX trong bối cảnh nh hình thế giới
trong ớc nhiều biến động sâu sắc. Sau khi thng nhất đất ớc (1975), Việt Nam đối
mặt với hàng loạt khó khăn thử thách nghiêm trọng: nền kinh tế rơi vào khng hong kéo dài,
chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ nhiu hạn chế; đời sống nhân dân gặp vàn
khó khăn; quan hệ đối ngoại bị lập và cấm vận. Trên bình diện thế giới, cuộc cách mạng khoa
học – kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, xu thế hoà bình hợp tác dần thay thế đối đầu, cùng với sự
khng hoảng của hình hội chnghĩa ở nhiều ớc đã đặt ra đòi hỏi cấp bách về việc phi
thay đổi duy phát triển.
Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức yêu cầu khách quan của lịch
sử: phải đổi mới duy lun, đổi mới hình tchức quản lý kinh tế – hội nhằm đưa
đất ớc thoát khỏi khng hoảng, từng ớc phát triển hội nhập với thế giới. Con đưng
đổi mới không chxuất phát từ nhu cầu bức thiết của thực ễn còn dựa trên nền tảng
luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đất c, giải
phóng lực lượng sản xuất y dựng hội mới.
Đề tài “Phân ch sở sao Việt Nam thực hiện đưng lối đổi mới đất nước” nhằm làm
sở luận, sở thực n, cũng như nh tất yếu của quá trình đổi mới. Đồng thời, đề tài
cũng phân ch thực ễn triển khai đưng lối đổi mới, những thành tựu đạt được sau gần 40 năm,
cũng như hạn chế giải pháp để ếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới. Việc nghiên cứu đề tài
này không ch ý nghĩa khoa học còn giá trthực ễn sâu sắc trong việc hiểu đúng, hiểu
đủ bản chất ý nghĩa của đưng lối đổi mới một ớc ngoặt lịch sử quan trng trong ến trình
phát triển của Việt Nam.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LUẬN CỦA ĐƯNG LỐI MỚI ĐẤT C
1. 1.Chủ nghĩa Mác Lênin
1.1.1.Khái quát về chủ nghĩa Mác Lênin
Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thng lý luận khoa học cách mạng do
C.Mác Ph.Ăngghen sáng lập vào nhng năm 40 của thế kỷ XIX, được
V.I.Lênin phát triển trong bối cảnh chủ nghĩa bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa
cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Học thuyết này ra đời từ nhng điều kiện kinh tế – hội của
thời kỳ ch nghĩa bản phát triển mạnh, đặc biệt là sự trưởng thành của giai cấp sản cùng
các thành tựu khoa học – ng thế giới.
5
Chủ nghĩa Mác – Lênin gồm ba bộ phận lý luận thng nhất hữu cơ:
-Triết học Mác – Lênin: nghiên cứu nhng quy luật chung nhất của tự nhiên, hội và duy,
hình thành thế giới quan duy vật bin chng phương pháp luận khoa học. -Kinh tế chính tr
học Mác – Lênin: phân ch bản chất quy luật vận động của ch nghĩa bản, đặc biệt là học
thuyết giá trthng dư, chra nh tất yếu diệt vong của chủ nghĩa bản sự ra đời của
phương thức sản xuất mới.
-Chủ nghĩa hội khoa học: ch quy lut, điều kiện lực lượng để chuyển từ chủ nghĩa
bản lên chủ nghĩa hội cộng sản chủ nghĩa, khng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân.
Về bản cht, ch nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học, nhân văn cách mạng,
nhằm mục êu giải phóng hội, giải phóng giai cấp giải phóng con người, xóa bỏ mọi hình
thức áp bức bóc lột,y dựng hội công bằng, tự do, hạnh phúc.
Đây cũng một học thuyết mở, luôn được vận dụng, phát triển trong thực ễn, êu
biểu như quá trình xây dựng chủ nghĩa hội ở Liên trước đây, sự vận dụngng tạo của
Việt Nam, Trung Quc, Cuba… trong thi kỳ đổi mới, cải cách và mở cửa.
1.1.2.Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về xây dựng, phát triển đổi mới đất ớc
Chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng ởng, kim chnam cho hành động của các lực
lượng cách mạng trên thế giới, trong đó Việt Nam. Với nh khoa học và cách mạng sâu sắc,
học thuyết này không chgiải thích nhng quy luật vận động của xã hội loài người còn định
ng cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đổi mới của các quốc gia đi theo con đưng
hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh lịch sử hiện đại, việc nhận thức đúng đắn quan điểm của ch
nghĩa Mác – Lênin về xây dựng đổi mới đất ớc ý nghĩa quan trng để định hình chiến
lược phát triển bền vững, phù hợp với yêu cầu của thời đại.
Trước hết, chnghĩa Mác Lênin khng định rng sự phát triển của hội một quá
trình lịch sử – tự nhiên, diễn ra theo nhng quy luật khách quan. Sự vận động của lực lượng sản
xut, sự mâu thuẫn vi quan hệ sản xuất quá trình đấu tranh hội tạo nên động lực thúc
đẩy sự chuyển biến của các hình thái kinh tế hội. Tđó, học thuyết chra rng ng cuộc
y dựng đổi mới đất ớc phải xuất phát từ thực ễn, tôn trng vận dụng đúng các quy
luật khách quan. Mọi sự áp đặt chquan hay giáo điều đều dẫn đến trì trệ, cứng làm chm
sự phát triển. Đây là sở luận quan trng để các quốc gia, trong đó Việt Nam, ến hành
đổi mới toàn diện nhưng lộ trình, không xa rời quy luật điều kiện lịch sử cụ thể.
6
Thứ hai, chủ nghĩa Mác – Lênin nhấn mạnh nh đa dng trong con đưng phát triển của
mỗi dân tc. Mặc cùng ng tới mục êu xây dựng chnghĩa hội và xã hội cng sản, mỗi
quốc gia phải lựa chọn hình phát triển phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa, kinh tế
hội của mình. Điều này giải sao Việt Nam, Trung Quốc hay Cuba đều cách ếp cận riêng
trong công cuc đổi mới y dựng chnghĩa hội. Ch nghĩa Mác – Lênin luôn xem lý luận
hệ thng mở, đòi hỏi sự bổ sung sáng tạo không ngừng, chkhông phải khuôn mẫu cứng
nhc.
Một quan điểm rất quan trng khác của chủ nghĩa Mác – Lêninkhng định nhân dân là
chthsáng tạo lịch sử. Sự nghiệp y dựng đổi mới đất ớc phải dựa trên sức mạnh của
nhân dân, lợi ích của nhân dân do nhân dân thực hiện. Nhân dân không ch đối ng th
ng thành quphát triển còn lực lượng trực ếp xây dựng hội mới. Do đó, việc mở
rộng dân chủ, phát huy quyền làm ch động viên mọi nguồn lực của nhân dân là giải pháp cốt
lõi để bảo đảm thành công của sự nghiệp đổi mới.
Bên cạnh đó, chủ nghĩa Mác – Lênin khng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản là
nhân tố quyết định thng lợi của cách mạng. Đảng là đội ên phong của giai cấp công nhân
nhân dân lao động, sứ mệnh dẫn dắt hội ng tới mục êu hội ch nghĩa. Sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng giúp định ng phát triển, giải quyết kịp thời nhng vấn đề nảy sinh
phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc. Đồng thời, để thực hiện tốt vai trò lãnh đạo,
Đảng phải luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực, đạo đức uy n của đội ngũ cán
bộ.
Cuối cùng, chnghĩa Mác Lênin nhấn mạnh việc phát huy các động lực phát triển
hội, bao gồm động lực kinh tế, động lực chính tr hội động lực nh thần. Lợi ích kinh tế
phải được giải quyết hài hòa giữa nhân, tập th hội. Dân chphải được mở rộng, pháp
luật phải được thực thi nghiêm minh. Đồng thời, các giá trị văn hóa, nh thần yêu c, ý chí tự
lực tự ng khát vọng phát triển phải được khơi dậy mạnh mẽ để tạo thành nguồn lực nội
sinh quan trng của đất ớc. Mục êu cao nhất của quá trình xây dựng đổi mới đất ớc
theo quan điểm Mác – Lênin là xây dựng một hội dân giàu, ớc mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh – nơi con người được phát triển toàn diện sống hạnh phúc.
thkhng định rằng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng, phát triển
đổi mới đất ớc mang ý nghĩa to lớn cả về lý luận thực ễn. Những quan điểm đó không ch
phù hợp với quy luật khách quan còn đáp ứng yêu cầu của sự phát triển bền vững, nhân văn
ến bộ. Đối với Việt Nam, việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin luôn là nền tảng để
7
dẫn dắt con đưng đổi mới hội nhập, đưa đất ớc ngày càng phát triển phồn vinh hạnh
phúc.
1.1.3.Giá tr ý nghĩa của học thuyết Mác Lênin đối với công cuộc đổi mới ở
Việt Nam
Học thuyết Mác Lênin, với cách nền tảng ng kim chnam cho hành động
của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã givai trò định ng xuyên suốt trong sự nghiệp đổi mới đất
ớc từ năm 1986 đến nay. Nhng nguyên lý khoa học cách mạng của ch nghĩa Mác – Lênin
không chcung cấp sở luận để nhận thức đúng quy luật vận động của hội còn định
ng cho việc hoch định đưng lối, chính sách phù hợp với thực ễn Việt Nam trong giai đoạn
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Qua hơn ba thập kỷ đổi mới, giá tr ý nghĩa của học thuyết Mác –
Lênin đối với sự phát triển kinh tế – hội, văn hóa, chính tr công c y dựng Đảng Vit
Nam đã thhiện sâu sắc toàn din.
Thnht, trong lĩnh vực kinh tế, học thuyết Mác – Lênin giúp Đảng ta nhận thức sâu sắc
về nh khách quan của các quy luật kinh tế, từ đó đổi mới duy và phương thức phát triển.
Việc vận dụng sáng tạo lý luận về sở hữu quan hệ sản xuất đã dẫn tới sự hình thành chế độ
sở hữu đất đai “thuộc sở hữu toàn dân do Nhà c đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản
, được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 Luật Đất đai. T sở lý luận của Mác về
sở hữu liệu sản xut, Việt Nam đã phát triển thành hình tách ba quyền: chiếm hu, sử
dụng đnh đot, qua đó vừa bảo đảm nh công hữu về đất đai, vừa tạo điều kiện hình thành
thtrường quyền sử dụng đất phù hợp với kinh tế thtrường định ng hội chnghĩa.
Nhng cải cách pháp lý như Nghị quyết số 18-NQ/TW (2022) Luật Đất đai 2024 thhiện
sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững, giải
phóng sức sản xuất phát huy mọi nguồn lực cho phát triển đất c.
Thứ hai, trong lĩnh vực văn hóa – hội, chủ nghĩa Mác – Lênin với quan điểm giải phóng
con người con người đã trthành nền tảng cho đưng lối phát triển của Việt Nam. Đảng
ta nhất quán đặt con người vị trí trung tâm coi hạnh phúc của nhân n mục êu tối
thượng. Phương châmdân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thởng
là sự cụ thhóa nh thần dân ch hội ch nghĩa Mác – Lênin đã đề cập. Đồng thời, luận
của chnghĩa Mác Lênin về mối quan hệ giữa sở htầng kinh tế kiến trúc thượng tầng
giúp Đảng nhận thức rõ: muốn giải quyết tốt các vấn đề hội phải dựa trên nền tng phát triển
kinh tế. Từ đó, Vit Nam đã triển khai hiệu qunhiều chính sách hội như xóa đói giảm nghèo,
bảo hiểm y tế toàn dân, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giáo dục bắt buc, bảo tồn văn hóa dân
8
tộc phát huy nh hoa văn hóa nhân loại. Tất cả nhng chính sách ấy đều phản ánh bản chất
nhân văn của chủ nghĩa hội học thuyết Mác – Lênin đề ớng.
Thba, trong công tác xây dựng Đảng, học thuyết Mác Lênin givai trò quyết định
trong việc xác định bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tkhi thành lập
đến nay, Đng luôn kiên định nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp
công nhân – đội ên phong của giai cấp dân tộc. Qua các kỳ đại hội, đặc bit từ Đại hội X đến
Đại hội XIII, Đảng ta không ngừng phát triển lý luận về Đảng cầm quyền,ng cao năng lực lãnh
đạo sức chiến đấu của Đảng, phù hợp với u cầu phát triển trong nh hình mới. Nhkiên
định lập trường ng Mác – Lênin, Đảng givững vai trò lãnh đạo bảo đảm sự phát triển
đúng định ng hội chủ nghĩa.
Thứ tư, trong xây dng hệ thng chính tr nhà c, việc vận dụng chủ nghĩa
Mác – Lênin giúp Việt Nam xây dựng hình nhà ớc kiểu mới – Nhà ớc pháp quyền xã hội
chnghĩa của nhân dân, do nhân dân nhân dân. Tluận vchuyên chính sản, Việt
Nam đã phát triển thành quan điểm tổ chức quyền lực nhà nước “thống nht, phân công,
phối hợp kiểm soát quyền lực”, không sao chép mô hình tam quyền phân lập nhưng vẫn bảo
đảm nh dân ch hiệu ququản lý. Bên cạnh đó, việc chuyển từ khái niệm “hthng chuyên
chính sản” sang “hthng chính trị” thhiện ớc phát triển quan trng trong nhận thức lý
luận, phù hợp thực ễn Việt Nam với sự tham gia của các tổ chức chính trị – hội như Mặt trận
Tquc, Công đoàn, Hội Phnữ, Đoàn Thanh niên… Điều y không xa rời bản chất của học
thuyết Mác Lênin còn phát triển phù hợp hơn với bối cảnh mới của cách mạng Việt
Nam.
Học thuyết Mác – Lênin giá tr ý nghĩa to lớn đối với công cuc đổi mới ở Việt Nam.
Đó sở lý luận khoa học để nhận thức đúng các quy luật phát triển, định ng xây dựng
nền kinh tế thị trường định ng hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa – hội con người,
y dng Đảng trong sạch vững mạnh y dựng hthng chính trhiện đại, hiệu quả. Sự vận
dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin trong thực ễn đổi mới đã đang góp phần quan trng
đưa Việt Nam từng c trở thành quốc gia phát triển, đạt mục êu “dân giàu, ớc mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”.
1. 2.Tư ng Hồ Chí Minh
1.2.1.Khái quát về ng Hồ Chí Minh
ng Hồ Chí Minh là hệ thng các quan điểm luận, đưng lối cách mạng do Chủ tịch
Hồ Chí Minh khởi ớng, định hình trong quá trình hoạt động cách mạng lâu dài — từ khi Người
9
đấu tranh giành độc lập dân tộc cho tới khi xây dựng bảo vệ đất ớc hội chnghĩa.
ng này mang nh cách mạng sâu sắc, khoa học nhân n, sự tổng hòa giữa chnghĩa
Mác-Lênin với truyền thng văn hóa dân tộc Việt Nam.
Điều đặc biệt trong ng Hồ Chí Minh là cách Người kết hợp trí tuchính trị cao với
nh cảm sâu sắc dành cho nhân dân. Người luôn nhấn mạnh “nói đi đôi với làm”, không chỉ lý
luận còn hành động thực ễn sát với đời sống nhân dân — điều làm cho ng của
Người dễ ếp thu, thẩm thấu sâu rộng trong quần chúng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là kim chỉ nam cho cuộc đấu tranh giành
độc lập dân tộc, màcòn là nền tảng tư ng cho sự nghiệp xây dựng hội sau này; Đảng Cộng
sản Việt Nam đã lấy cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin làm sở lý luận, phương pháp luận
trong mọi hoạt động cách mạng, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay.
1.2.2.Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển đổi mới đất ớc
Hồ Chí Minh quan điểm rất ràng sâu sắc về đổi mới: đổi mới không phải là sao
chép hình của ớc khác là sáng tạo phù hợp với thực ễn dân tộc.
Trong bài viết Tư ng đổi mới của Hồ Chí Minh” được các học giphân ch, Người đã
khng định không nên “sao chép thuyết hay hình của bất cứ ớc nào”, phải dựa
vào kinh nghiệm lịch scủa dân tộc Vit Nam, kết hợp với thời đại để m ra con đưng riêng.
Về mục êu phát triển, Hồ Chí Minh luôn ng tới một Việt Nam độc lập, giàu mạnh,
dân chủ, công bằng văn minh — một khao khát vừa mang nh dân tộc, vừa mang nh nhân
văn. Người đặt lợi ích của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, đề cao vai trò nhân dân làm chủ,
khng định dân là gốc”: mọi chính sách đổi mới, phát triển đất ớc phải ng tới người
dân, phục vụ nhân dân.
Về phương pháp thực hiện đổi mới, Hồ Chí Minh cũng ng rất bài bản:
Người đề cao nh thần kiên định, nhưng cũng nhấn mạnh cần đổi mới sáng tạo — “kiên định
nhưng không giáo điều”. Ngoài ra, phong cách làm việc của Người là dân chủ, thực ễn, hiệu
quả, luôn gắn “nói” với “làm”, không nói suông luôn hành động lợi ích thực tế của nhân
dân.
10
Một khía cạnh rất quan trng trong quan điểm của Người là hợp tác quốc tế: Hồ Chí
Minh nhân rộng ng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nhấn mạnh việc
tranh th nguồn lực bên ngoài nhưng luôn giữ vững độc lập, tự ch. Đồng thời, Người coi
trng sức mạnh nội sinh — sức mạnh từ nhân dân, từ khối đại đoàn kết toàn dân — là then
chốt cho sự phát triển bền vững.
1.2.3.Giá tr ý nghĩa của ng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi
mới hiện nay
Tư tưởng Hồ Chí Minh nền tảng ởng, kim chnam cho đưng lối cách mạng Việt
Nam, được Đảng ta khng định cùng với chnghĩa Mác Lênin sở luận của công cuộc
đổi mới đất c. Trong bối cảnh sau năm 1986, đất ớc đứng trước yêu cầu cấp bách phải
thoát khỏi khng hong kinh tế - hội, hội nhập quốc tế phát triển bền vững, việc vận dụng
ng Hồ Chí Minh ng trở nên quan trọng. Nhng quan điểm của Người về phát triển đất
c, y dựng nhà ớc của dân, do dân, dân, về phát triển kinh tế gắn với ến bộ công
bằng hội, về đoàn kết dân tộc mở rộng quan hệ quốc tế đã trở thành kim chỉ nam cho toàn
bộ ến trình đi mới. vậy, ng Hồ Chí Minh không chmang giá tr luận sâu sắc mà còn
ý nghĩa thực ễn lớn lao trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
a)Giá trị của ng Hồ Chí Minh đối với công cuộc đổi mới
Trước hết, ng Hồ Chí Minh giá trđịnh ng chiến lược cho đường lối đổi mới.
Người luôn nhấn mạnh rng mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ thực ễn đất ớc
nhu cầu của nhân dân. Quan điểm “dĩ bất biến,ng vạn biến” thhiện duy linh hot, sáng
tạo, đề cao việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Chính duy này đã giúp Đảng ta đề ra đưng lối đổi mới mang nh ớc ngoặt tại Đại hội VI
năm 1986, chuyển nền kinh tế từ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường
định ng hội ch nghĩa.
Một giá trquan trng khác ng coi phát triển kinh tế phải gắn liền với nâng cao
đời sống nhân dân. Hồ Chí Minh khng định: “Mục đích của chnghĩa hội là không ngng nâng
cao đời sống vật chất nh thần của nhân dân”. Đây chính sở để Đảng ta xác định mục êu
đổi mới không chnhằm phát triển kinh tế mà còn thực hiện công bằng hội, đảm bảo an sinh
phúc lợi cho nhân dân.
11
Bên cạnh đó, ng về xây dựng Nhà ớc của dân, do dân, dân giá trđịnh ng
cho đổi mới chính trị. Hồ Chí Minh yêu cầu bộ y nhà ớc phải trong sạch, hoạt động hiệu
quả, cán bộ phải gần dân, tôn trng dân phc vụ nhân dân. Tư tưởng đó nền tảng để Đảng
ta triển khai cải cách hành chính, y dựng Chính phliêm chính, kiến tạo, phục vụ nhân dân
trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, ng đại đoàn kết dân tộc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại ý nghĩa đặc biệt đối với đổi mới hội nhập quốc tế. Người luôn khẳng định sức mạnh
nội lực là quyết định, nhưng phải biết tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển đất c.
Đây là sở lý luận để Đảng ta thực hiện đưng lối đối ngoại rng mở, đa phương hóa, đa
dạng hóa quan hệ quốc tế trong thời kỳ đổi mới.
b)Ý nghĩa thực ễn trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, hội quốc tế
Trong lĩnh vực kinh tế, ng Hồ Chí Minh về phát triển sản xut, khuyến khích các
thành phần kinh tế cải thiện đời sống nhân dân đã được vận dụng sâu sắc. Chủ trương phát
triển nền kinh tế nhiều thành phn, vận hành theo chế thtrường định ng hội ch
nghĩa chính là cụ thể hóa ng “làm cho dân giàu, ớc mạnh”. Nhờ đổi mới, Việt Nam đã
từ một ớc thiếu lương thực trthành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng
đầu thế giới như gạo, phê, thủy sản. Các chương trình xóa đói giảm nghèo, y dựng nông
thôn mới cũng thhiện giá trị tư tưởng của Người về chăm lo đời sống nhân dân.
Trong lĩnh vực chính trị, ng xây dựng Nhà ớc của dân, do dân, dân được th
hiện qua cải cách hành chính, công khai minh bạch hoạt động của nhà ớc, xây dựng Chính
phđiện tử, chuyển đổi số trong quản lý. Việc Đảng Nhà ớc đẩy mạnh phòng chng tham
nhũng, êu cực, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực là minh chng sinh động cho
việc vận dụng ng Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ chng quan liêu, tham nhũng.
Trong lĩnh vực hội, ng Hồ Chí Minh nhấn mạnh con người là trung tâm của sự
phát triển. Điều này được thhiện trong các chính sách phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, bảo
đảm an sinh hội, nâng cao chất lượng cuộc sống. Các chương trình như bảo hiểm y tế tn
dân, phổ cập giáo dục, chăm lo chính sách cho người công, giảm nghèo bền vững… đều
phản ánh nh thần “vì con người” mà Bác đã đề xut.
12
Trong lĩnh vực quốc tế, đưng lối đối ngoại hòa bình, hợp tác, hữu nghị ca Hồ Chí Minh
được vận dụng linh hoạt trong hội nhập quốc tế hiện nay. Việt Nam chđộng tham gia các tổ
chức quốc tế, kết các hiệp định thương mại tự do, trthành thành viên ch cực trong ASEAN
Liên Hợp Quc. ng “thêm bạn, bớt thù” đã giúp Việt Nam mở rộng quan hệ, thu hút
đầu tư, nâng cao vị thế quốc tế.
Như vậy, ng Hồ Chí Minh không ch giá trị lý luận sâu sắc còn
mang ý nghĩa thực ễn to lớn đối với sự nghiệp đổi mới đất c. Việc vận dụng sáng tạo
ng của Người đã góp phần đưa Việt Nam đạt được nhiu thành tựu quan trng trên các
lĩnh vực, tạo nền tảng để phát triển bền vững trong tương lai.
1. 3.Quan điểm nhận thức về đổi mới trong Đảng Cộng sản Việt Nam
ớc vào thời kỳ đổi mới năm 1986, từ kinh nghiệm của nhng bài học những năm trước
đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu nhận thức mới lại một loạt vấn đề quan trng về CNXH.
Trở lại lời căn dặn của C.Mác Ph.Ăngghen: “Đi với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải
một trng thái cần phải sáng tạo ra, không phải một ý ng hiện thực phải khuôn theo.
Chúng ta gọi chnghĩa cộng sản một phong trào hiện thc, xóa bỏ trng thái hiện nay.
Nhng điều kiện của phong trào ấy do nhng ền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”. Trên sở đó,
Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức lại nhng luận điểm mang nh phbiến của CNXH Hội
nghị đại biểu các Đảng Cộng sản Công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva năm 1957 đã khái quát.
t về bản chất thì 9 nội dung mang nh phbiến của CNXH Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng
sản Công nhân quốc tế họp Mátxcơva năm 1957 là đúng. Tuy nhiên, khi vận dụng vào từng
ớc thì các đảng phải nh tới đặc thù của dân tộc mình. Không nh tới đặc điểm dân tộc nhất
định sẽ rơi vào giáo điu. Tất nhiên, không được tuyệt đối hóa đặc thù dân tộc để dẫn tới xét lại,
dân tộc, hẹp hòi. Cần quán triệt sâu sắc lời chỉ dẫn của V.I.Lênin: “Chúng ta không hề coi luận
của Mác như một cái đã xong xuôi hẳn bất khxâm phm; trái lại, chúng ta n rng
luận đó chđặt nền móng cho môn khoa học nhng người hội chnghĩa cần phải phát
triển hơn nữa v mọi mặt, nếu họ không muốn trthành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi
nghĩ rng nhng người hội chnghĩa Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa
luận của Mác, lý luận này chỉ đề ra nhng nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng nguyên
ấy thì xét riêng từng nơi, Anh không ging Pháp, Pháp không ging Đức, Đức không
ging Nga”. Chính Chtịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nhắc nhcán bộ, đảng viên phi hiu:
“Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái nh thần xử trí mọi việc,... là học tập nhng chân lý
13
phbiến của ch nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế ở ớc
ta” chkhông phải để thuộc lòng từng câu từng chluận Mác-Lênin. Xuấtphát từ nhng ch
dẫn củacác nhà kinh điển chnghĩa Mác-Lênin, ng Hồ ChíMinh, rútkinh nghiệm của thời
kỳ trước đổi mới, tổng kết thực ễn Việt Nam thời đại, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định
trên nền tảng kiên trì chnghĩa MácLênin, ng Hồ Chí Minh nhưng phải vận dụng sáng tạo
phù hợp thực ễn Việt Nam. Chính vậy, ngay từ Đại hội VI (1986), Đảng thừa nhn:Trong lĩnh
vực tư tưởng đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận vận dụng các quy luật đang hoạt động
trong thời kỳ quá độ; đã mắc bệnh duy ý chí, giản đơn hóa, mun thực hiện nhanh chóng nhiều
mục êu của chủ nghĩa hội trong điều kiện ớc ta mới ở chặng đường đầu ên. Chúng ta đã
nhng thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thật sự thừa nhận nhng quy luật của sản
xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan”. Điều quan trng ngay từ Đại hội VI, Đảng đã đề ra
nhiệm vụ: “Đkhắc phục những khuyết đim, chuyển biến được nh hình, Đảng ta, trước hết
phải thay đổi nhận thức, đổi mới duy. Phải nhận thức đúng đắn hành động phù hợp với hệ
thng quy luật khách quan, trong đó, các quy luật đặc thù của chnghĩa hội ngày càng chi phối
mạnh mẽ phương ng phát triển chung của hội”. Nhưng ngay từ khi bắt đầu đổi mới, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã thái độ rất đúng đắn: “Đổi mới duy không nghĩa phnhận
nhng thành tựu luận đã đạt đưc, phnhận nhng quy luật phbiến của sự nghiệp xây dựng
chnghĩa hội, ph nhận đưng lối đúng đắn đã được xác định, trái lại, chính bổ sung
phát triển nhng thành tựu ấy”. Trên nh thn y, Đảng bổ sung nhiều luận điểm của chnghĩa
Mác-Lênin cho phù hợp thực ễn Việt Nam thời đại. Chng hạn về bản chất của Đảng, Đảng
Cộng sản Việt Nam không ch đại din, êu biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động, mà còn cho cả dân tộc. Các nhà kinh đin chnghĩa Mác-Lênin mới đề cập tới xây dựng
đảng về ởng, chính tr tchc, thì Đảng Cộng sản Việt Nam yêu cầu tăng cường y dựng
Đảng cả về đạo đức. Hay các nhà kinh điển chnghĩa Mác- Lênin, chủ yếu liên minh công-
nông, trong điều kiện Việt Nam, Đảng bổ sung liên minh công nhân-nông dân-trí thc. Nếu
V.I.Lênin mới dừng ở kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thì Đảng đã phát triển thành kinh tế th
trường định ng XHCN... Tất cả nhng luận điểm luận này kết qucủa sự nhận thức
vận dụng đúng đắn những nguyên phbiến của chnghĩa Mác-Lênin vào điều kiện đặc thù
Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam.
CHƯƠNG II: SỞ THỰC TIỄN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT
ỚC
2. 1.Tình hìnhbối cảnh thế giới
14
2.1.1.Cuộc cách mạng khoa học - thuật phát triển mạnh
Trong nhng thập niên cuối thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển
với tốc độ nhanh phạm vi rng chưa tng có. Cũng như cách mạng công nghiệp thế kỉ XVIII
XIX, cuộc cách mạng khoa học - thuật này diễn ra do những đòi hỏi của cuộc sống, của
sản xuất nhằm đáp ng nhu cầu vật chất nh thần ngày càng cao của con người, nhất
trong nh hình bùng nổ dân số thế giới và sự vơi cạn nghiêm trng các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, đặc biệt từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đặc điểm lớn nhất của cách mạng khoa học
thuật này khoa học trthành lực lượng sản xuất trực ếp. Khoa học đã tham gia trực
ếp vào sản xuất, đã trở thành nguồn gốc chính của nhng ến bộ thuật công nghệ.
Trong nhng thập niên cuối thế kỷ XX, khoa học bản công nghệ đều đạt được
nhng ớc ến ợt bậc, tạo ra nhng thành tựu mang nh đột phá mở ra nhiều knguyên
mới cho nhân loại. Các phát minh lớn trong Toán học, Vật lí, Hoá học Sinh học được ng
dụng mạnh mẽ vào thực ễn, êu biểu như sự ra đời của cừu Đôli (1997) hay việc công bố Bản
đồ gen người (2000), đặt nền tảng cho sự phát triển hiện đại của y học công nghệ sinh hc.
Đồng thời, lĩnh vực công nghệ cũng chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ với sự xuất hiện của
máy nh điện tử, hệ thng tự động hóa, rôbốt; các nguồn năng lượng mới; vật liệu mới; nhng
đột phá trong công nghdi truyền, công nghệ tế bào; cùng hàng loạt ến bộ trong thông n
liên lạc, giao thông vận tải chinh phục trụ. Đặc bit, công nghệ thông n bùng nổ trên
phạm vi toàn cầu, với sự phbiến của máy nh Internet, giúp liên kết dliệu toàn thế giới
đưa nhân loại ớc vào thời đại “văn minh thông n”. Nhng thành tựu đó hợp thành một
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật toàn din, tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực đời sống
sản xut.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã thúc đẩy sự hình thành thtrường thế giới
tạo nên xu thế toàn cầu hoá, đó quá trình các quốc gia ngày càng gắn bó, tác động ph
thuộc lẫn nhau. Xu thế y thhiện qua sự phát triển nhanh của thương mại quốc tế, sự mở
rộng nh ng mạnh mẽ của các công ty xuyên quc gia, làn sóng sáp nhập tạo ra nhng
tập đoàn lớn nhằm tăng khả năng cạnh tranh, cùng sự ra đời của hàng loạt tổ chức kinh tế - tài
chính quốc tế như IMF, WB, WTO,
EU, NAFTA, AFTA, APEC hay ASEM. Là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xut,
toàn cầu hoá vừa mang mặt ch cực khi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất
đòi hỏi cải cách để bắt kịp cnh tranh, vừa mặt êu cực khi làm gia tăng bất bình đẳng,
15
khiến đời sống con người kém an toàn hơn ềm ẩn nguy mai một bản sắc cũng như ảnh
ng đến độc lập tự chủ của các quốc gia.
Nhìn chung, cuộc cách mạng khoa học công nghệ thời lịch sử, hội rất to lớn
cho các ớc phát triển mạnh mẽ, đồng thời cũng tạo ra nhng thách thức to lớn. Việt Nam
cũng nằm trong xu thế chung đó. Đặc bit, khi hình kinh tế kế hoch hóa tập trung quan
liêu, bao cấp của Việt Nam đang bộc lộ nhiu bất cập. Sản xuất ttrệ, năng suất lao động thp,
đời sống nhân dân khó khăn, nền kinh tế rơi vào khủng hong nghiêm trng vào đầu thập niên
1980. Do vy, “Nắm bắt hội, ợt qua thách thc, phát triển mạnh mẽ trong thời mới, đó
là vn đề ý nghĩa sống còn đối với Đảng nhân dân ta" (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thIX).
2.1.2.Xu thế đối thoại thay xu thế đối đầu
Từ đầu nhng năm 1970, quan hệ quốc tế bắt đầu chng kiến sự dịch chuyển quan trọng từ
đối đầu sang đối thoại, thhiện nhất trong ến trình hòa hoãn ĐôngTây. Sau nhiều thập niên
căng thng của Chiến tranh lạnh, cả Mỹ Liên đều từng ớc m kiếm các thỏa thuận nhằm
giảm bớt xung đột rủi ro đối đầu quân sự. Những hiệp định kiểm soát khí chiến lược như
Hiệp ước ABM (1972) hay SALT I (1972) đã mở đầu cho giai đoạn giảm căng thẳng, thhiện ý chí
hạn chế chạy đua trang vốn đã trthành gánh nng kinh tế chiến ợc đối với cả hai siêu
ờng. Tiếp đó, Định ước Henxinki năm 1975 với sự tham gia của 35 quốc gia đã thiết lập những
nguyên tắc quan trng về bình đẳng chquyn, bất khxâm phạm biên giới giải quyết tranh
chấp bằng biện pháp hòa bình, từ đó hình thành một chế đa phương giúp duy trì an ninh
ổn định châu Âu. Nhng sự kiện y cho thấy xu thế đối thoại không chxuất hiện đơn lẻ
từng ớc trthành khuynh ng chung trong quan hệ quc tế thời kỳ này.
ớc sang nhng năm 1980, xu thế đối thoại càng được củng cố khi lãnh đạo
Liên ến hành cải tổ, chủ trương giảm đối đầu mở rng hợp tác với phương Tây. Các cuc
gặp cấp cao – Mỹ diễn ra liên tục, đạt được các thỏa thuận quan trọng, êu biểu Hiệp ước
INF năm 1987 về việc loại bỏ tên lửa tầm trung ở châu Âu, cắt giảm kho khí chiến lược và
hạn chế mở rộng chy đua trang. Đến tháng 12/1989, Tun bố Manta gia M. Goócbachóp
G. Busơ đã đánh dấu sự chấm dứt chính thức của Chiến tranh lạnh, khép lại hơn bốn thập kỷ
đối đầu căng thẳng. Sự kết thúc của trng thái đối đầu hai cực không chphản ánh sự suy yếu
nội tại của Liên nhng chi phí ngày càng lớn trong chạy đua trang, còn cho thấy
16
nhu cầu khách quan của toàn cầu trong việc thiết lập một môi trường ổn định, thuận lợi hơn
cho hợp tác phát triển.
Sau Chiến tranh lạnh, xu thế đối thoại được củng cố mạnh mẽ với hàng loạt thay đổi lớn
trên phạm vi toàn cu. Sự tan của Liên (1991) sự giải thể của các tổ chức như Hội đồng
tương trợ kinh tế (SEV) hay Hiệp ước Vácsava đã chấm dứt trật tự hai cực, mđưng cho trt
tự thế giới mới theo xu ng đa cực, nơi các ng quốc như Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga Trung
Quốc cùng cạnh tranh hợp tác. Các quốc gia chuyển trng tâm sang phát triển kinh tế, giảm
đối đầu ý thức hệ, ưu ên hội nhập quốc tế hợp tác khu vực. Nhiều cuộc chiến tranh kéo dài
được giải quyết bằng đàm phán, êu biểu như ến trình hòa bình Campuchia (1991) với sự
tham gia của Liên Hợp Quốc các ớc trong khu vực.
Trong bối cảnh đó, việc ếp tục giữ lập trường đối đầu, khép kín không giúp Việt Nam phát
triển về chính trị - ngoại giao, không tận dụng được nhng hội mới từ hợp tác quốc tế. Do
vậy, duy đối ngoại cũng cần đổi mới sang ng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, từ
phthuộc viện trsang chđộng hội nhp. Đây điều kiện khách quan quan trng thôi thúc
Việt Nam chuyển mình, tng ớc ng tới đổi mới toàn diện trong đối nội đối ngoại.
2.1.3.Công cuộc cải tổ diễn ra các ớc hội chủ nghĩa
Tgiữa nhng năm 1970, Liên bắt đầu bộc lộ nhng dấu hiệu khng hoảng kinh tế chính
trị. Cuộc khng hong dầu mỏ năm 1973 nh ng nghiêm trọng đến nền kinh tế, trong khi đời
sống chính trxuất hiện nhiều diễn biến phức tạp, với các ng đối lập một số nhóm phản
đối Đảng Cộng sản. Đến đầu nhng năm 1980, nền kinh tế Liên suy thoái rệt, đời sống nhân
dân giảm sút hội xuất hiện nhiều bất ổn. Tháng 3/1985, M. Goócbachốp lên nắm quyền lãnh
đạo Đảng Nhà ớc Liên Xô, ến hành công cuộc cải tổ đất c. Đưng lối cải tổ tập trung
vàoviệc “cải cách kinh tế triệt để", ếp theo là cải cách hệ thống chính trị đổi mới tư ởng. Tuy
nhiên, các cải cách kinh tế thiếu điều ết, chuyển sang kinh tế thị trường quá nhanh, kết hợp với
cải cách chính trđa nguyên đã gây rối loạn hội, đình công, xung đột sắc tộc bất ổn chính trị,
dẫn đến khng hong toàn din. Đến cuối năm 1991, Liên chính thức tan rã, Nhà ớc Liên
bang sụp đổ, Đảng Cộng sản bị đình chhot động, các ớc cộng hòa thành lập Cng đồng các
quốc gia độc lập (SNG). M.Goócbachớp từ chức Tng thống, lá cờ búa liếm trên nóc điện Kremli bị
hạ xuống, đánh dấu sự chấm dứt chế độ hội chủ nghĩa ở Liên sau 74 năm tồn tại.
17
Các ớc Đông Âu, vốn chịu ảnh ng trực ếp từ Liên Xô, cũng rơi vào khủng hong
kinh tế chính trị từ cuối nhng năm 1970 đến đầu nhng năm 1980. Cuộc khng hong dầu
mỏ năm 1973 đã tác động mạnh đến nền kinh tế, dẫn đến trì trệ kinh tế giảm sút lòng n
của nhân dân vào Đảng Cộng sản Nhà ớc. Những sai lầm trong các biện pháp cải cách
cùng với tác động từ khng hong ở Liên
làm cho nh hình Đông Âu càng trnên gay gắt. Nhiều ớc như Ba Lan, Tiệp Khắc,
Hungary, Bulgaria, Romania, cùng với Cộng hòa Dân chủ Đức, lần lượt phải từ bỏ chế độ hội
chnghĩa, chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng ến hành tổng tuyển cử. Điển hình
Cộng hòa Dân chủ Đức, nơi bức ng Berlin bị phá bỏ cuối năm 1989, dẫn tới thng nhất ớc
Đức vào năm 1990. Quá trình này cho thấy sự phthuộc vào Liên các biện pháp cải cách
thất bại đã thúc đẩy các ớc Đông Âu phải điều chnh đưng lối chính tr kinh tế.
Trái với nh hình khng hong ở Liên Đông Âu, Trung Quốc ến hành công cuộc cải
cách – mở cửa từ năm 1978 ới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình. Trung Quc tập trung phát
triển kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoch hóa tập trung sang kinh tế thị trường hội ch
nghĩa linh hot, nâng cao năng lực khoa học – kỹ thuật, giáo dục văn hóa. Sau 20 năm, GDP
tăng trung bình trên 8%/năm, cấu kinh tế chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp,y
dựng dịch vụ, đời sống nhân dân cải thiện rệt. Các thành tựu khoa học kỹ thuật nổi bật
như chương trình vũ trụ “Thần Châu” thử bom nguyên tử nâng cao vị thế quốc gia. Trong
đối ngoại, Trung Quốc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam năm 1991, đồng thời nâng cao
vai trò trên trường quốc tế thông qua các hoạt động hợp tác thu hồi Hồng Kông – Ma Cao.
Trong bối cảnhy, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rằng cần đổi mới toàn diện v
kinh tế chính trị, dẫn tới việc phát động Đổi mới bắt đầu từ Đại hội VI (1986), đánh dấu ớc
phát triển mới trong thời kỳ quá đ lên chủ nghĩa hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại
hóa hội nhập quốc tế của đất c.
2.2.Tình hình trong ớc trước đổi mới 2.2.1.Đất ớc
khng hong kinh tế- hội
a) Tình hình kinh tế
Trước đổi mi, nền kinh tế ớc ta cùng khó khăn. Chúng ta bị các ớc bao vây cấm
vận. Liên Đông Âu bắt đầu cải cách mở cửa nên cắt giảm viện trợ. Trong ớc sản xuất đình
đốn, đời sống nhân dân đói nghèo đến cùng cực. Tiềm lực kinh tế cùng nhỏ bé. Trong thập
18
niên đầu sau thng nht (1975-1985), Việt Nam đã áp dụng chủ nghĩa hội chặt chẽ trong địa
hạt kinh qua hệ thông chính sách "bao cấp", tập trung kiểm soát các phương ện sản xuất
phân phi. Nền kinh tế bị hoàn toàn liệt dân chúng bị đói kém khó khăn.
Việt Nam áp dụng hình kinh tế kế hoch hóa tập trung từ sau khi thng nhất đất
ớc vào năm 1975. Các kế hoch 5 năm được Nhà ớc đề ra với mục êu phát triển nông
nghiệp, công nghiệp, các ngành sản xuất khác. Tuy nhiên, việc tập trung quyền lực vào tay
nhà ớc không sự tham gia của kinh tế nhân đã khiến mô hình kinh tế này tr nên
thiếu hiệu quả. Các kế hoch do trung ương lập ra thường không phù hợp với nh hình thực tế
tại các địa phương, dẫn đến việc không đạt được mục êu sản xuất y lãng phí nguồn lực.
Hơn nữa, tất choạt động sản xuất, phân phối đều do Nhà ớc kiêm soát dân đến các doanh
nghiệp nhà ớc thiêu động lực cạnh tranh nâng cao năng sut. Công nhân nhân viên
cũng không được khuyến khích cải ến hay nâng cao hiệu suất làm vic.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam gặp khó khăn trong sản xuất lương thực. Phần lớn
nông dân làm việc với năng suất thấp do thiếu công cụ hin đại kỹ thuật canh tác lạc hậu.
Nông sản sản xuất ra chủ yếu để tự cung tự cấp, không đủ cung ứng cho nhu cầu trong c.
Việc thiếu lương thực đã dẫn đến nh trng nhập khẩu gạo từ ớc ngoài trong một số năm.
Trng công nghiệp, các nhà máy, sở công nghiệp chủ yếu là từ thi thuộc địa thời
chiến trnh, công nghệ kỹ, lạc hậu, làm giảm khả năng cạnh
tranh của sản phẩm.Thiếu vốn đầu cho cơ sở hạ tầng công nghệ mới, khiến năng lực sản
xuất không thể phát triển.
Kinh tế tập trung khiến các sản phẩm hàng êu dùng không được sản xuất đầy đủ để đáp
ng nhu cầu người dân. Các mặt hàng thiết yếu như lương thc, thực phẩm, quần áo, hàng
gia dụng đều bị thiếu thn. Cộng thêm hệ thng phân phối yếu kém do Nhà ớc kiểm soát hệ
thng phân phối qua hình thức tem phiếu. Người dân phi xếp hàng để mua nhng mặt hàng
bản, điều này làm gia tăng sự bất mãn cảm giác thiếu thốn trong hội.
Chính sách chi êu ngân sách không được điều hành hợp lý. Trong đó, chi êu công ợt
quá khả năng thu ngân sách, gây mất cân đối tài chính, Nhà ớc buộc phải dựa vào việc in
ền, dẫn đến lạm phát. Các chính sách n dụng chủ yếu phục vụ cho các doanh nghiệp nhà
c, nhưng năng suất của nhng doanh nghiệp này kém, nền nguồn vốn này không được
sử dụng hiệu quả. Điều này làm giảm khả năng phát triển của nền kinh tế nói chung.
Chiến tranh kéo dài trong suốt nhiều thập kđã phá hủy hạ tng làm cạn kiệt nguồn
lực kinh tế của đất c. Sau khi thng nht, Vit Nam phải đối mặt với nhiệm vụ tái thiết đất
19
ớc trong bối cảnh các nguồn lực bị thiếu hụt. Sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam không
được sự hỗ trtừ các ớc phương Tây, đặc biệt do bị Hoa Kcấm vận.Việc mất đi các th
trường xuất khẩu hạn chế khả năng nhập khẩu công nghệ hàng hóa tc ngoài khiến
nền kinh tế gặp khó khăn trong việc hội nhập phát triển.
b) Tình hình hội
Sau khi đất ớc thng nhất vào năm 1975, Việt Nam ớc vào giai đoạn tái thiết y
dựng hội theo định ng hội chnghĩa. Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn này, nền kinh tế
tập trung bao cấp đã bộc lộ nhiều khuyết đim, hệ qu hội rơi vào khng hong với
nhng khó khăn sâu sắc trong nhiều lĩnh vực.
Sau năm 1975, Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong sản xuất nông nghiệp. là một
ớc nông nghiệp, nhưng sản lượng lương thực không đáp ứng được nhu cầu
của dân số. Nông nghiệp bị quản lý chặt chẽ bởi Nhà c, đặc biệt là
việc thực hiện các hợp tác nông nghiệp miền Bắc. Người dân không động lực sản xuất
do thiếu quyền sở hữu đất đai lợi ích nhân. Điều này dẫn đến nh trng thiếu lương thực
trầm trọng, đặc biệt là tại các vùng nông thôn. Nạn đói xảy ra nhiều nơi, sự khan hiếm lương
thực trthành vấn đề nghiêm trọng. Đầu thập niên 1980, Việt Nam đã trải qua nhng cuộc
khng hong lương thực lớn. Nhiều vùng tại miền Bắc min Trung rơi vào nh trng thiếu đói.
Năm 1984, chính phVit Nam phải nhập khẩu ng thực từ ớc ngoài để đối phó với nh
trng khng hoảng lượng thực trong c. Điều này cho thấy nền sản xuất nông nghiệp không
còn tự cung tự cấp được như kỳ vng ban đầu.
Hệ thng bao cấp được triển khai để kiểm soát toàn bhoạt động sản xuất phân phối
hàng hóa, nhưng đã tạo ra sự phân hóa bất bình đẳng trong hội. Nhà ớc kiểm soát
chặt chviệc phân phối lương thc, hàng êu dùng, các nhu yếu phẩm bản, khiến cho
một bộ phận lớn người dân phải dựa vào hệ thng tem phiếu để tồn tại. Người dân không th
tự do mua hàng hóa phải nhận khẩu phần theo quy định của nhà ớc thông qua hthông
tem phiếu. Hàng hóa cung cấp thông qua hệ thông này thường khan hiếm, chất lượng kém
không đủ đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân.
Điều này dẫn đến nh trng phân biệt giữa các tâng lớp dân khi một số người
quyn ếp cận nguồn hàng hóa phong phú hơn, trong khi số đông khác phải chật vật với khẩu
phần ít ỏi . Nhiều người dân phải xếp hàng dài để mua các mặt hàng như gạo, đưng, dầu,
phòng, thậm chí quần áo. Hệ thng bao cấp làm giảm động lực làm việc của người lao động,
20
nỗ lực sản xuất nhiều hay ít, họ vẫn chnhận được lượng hàng hóa cố định. Điều này dẫn
đến sự bất mãn sâu rộng trong hội.
Trong suốt giai đoạn từ 1975 đến 1985, nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh ởng nặng nề từ
chính sách kinh tế tập trung bao cấp hậu qucủa chiến tranh. Một trong nhng vấn đề nghiêm
trng nhất nh trng lạm phát phi mã. Trong thập niên 1980, Việt Nam chng kiến mức lạm
phát rất cao, lên tới 700- 800% mỗi năm. Giá cả hàng hóa tăng vọt, ền lương của người lao
động không theo kịp với sự gia tăng của giá cả. Điều này làm giảm sức mua của người dân, khiến
đời sống ngày càng trở nên khó khăn. Người dân gặp khó khăn trong việc ếp cận hàng hóa
bản để duy trì cuộc sống, từ đó gây ra nh trng khng hong kinh tế - hội nghiêm trọng. Cuc
cải cách ền tệ năm 1985 là một nỗ lực của chính phnhằm kiềm chế lạm phát,
nhưng lại y ra nhng hậu quêu cực. Đồng ền mất giá trầm trọng, người dân bị nh
ng nặng nkhi ền lương không đủ để chi trả cho các nhu yếu phẩm hàng ny. Cuộc cải
cách này không chthất bại trong việc kiềm chế lạm phát còn khiến niềm n của người dân
vào chính sách kinh tế của nhà ớc suy gim.
Tình trng hội trong giai đoạn này đã tạo ra nhiều bất mãn trong nhân dân. Sự bất
bình đẳng trong việc phân phối hàng hóa, nh trng khng hong kinh và lạm phát, cũng
như đời sống văn hóa nghèo nàn đã làm gia tăng áp lực đòi hỏi cải cách. Người dân mong
muốn một sự thay đối toàn diện để thoát khỏi nh trng khủng hoảng kéo dài.
2.2.2.Bị đế quc thế lực thù địch bao vây, cấm vn
Không chphải chng chọi với khó khăn nội tại của nền kinh tế, Việt Nam giai đoạn 1975–
1985 còn phi đối mặt với sức ép nặng nề từ nh hình quốc tế. Sau khi chiến tranh kết thúc, quan
hệ giữa Việt Nam Mvẫn không được bình thường hóa. Mỹ các đồng minh phương Tây, vốn
đối nghịch với hệ thng hội chủ nghĩa, lo ngại Vit Nam ngày càng vai trò lớn trong khu vực
quan hệ ngày càng chặt chẽ với Liên Xô. Tcui nhng năm 1970, Mỹ áp đặt cấm vận toàn
diện đối với Việt Nam, ngăn cản mọi giao dịch kinh tế, thương mại, tài chính giữa Việt Nam với
các nước bản.Chính sách cấm vận khiến Việt Nam rơi vào nh thế bị lập về kinh tế quốc tế.
Việt Nam không được vay vốn phát triển từ các tổ chức tài chính như Ngân hàng Thế giới (WB),
QuTiền tệ Quốc tế (IMF), cũng như không được ng các chương trình hỗ trợ phát triển chính
thức của các ớc phương Tây. Nhiều hiệp định thương mại bị cắt bỏ, hàng hóa Việt Nam khó m
được thtrường êu thụ. Việc nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghiệp, vật kỹ thuật các
nguồn hàng hóa khác gặp khó khăn nghiêm trọng. Điều đó làm cho quá trình hin đại hóa đất

Preview text:

– 1 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC...............5
1. 1.Chủ nghĩa Mác Lênin............................................................................................... 5
1.1.1.Khái quát về chủ nghĩa Mác Lênin........................................................................5
1.1.2.Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về xây dựng, phát triển và đổi mới đất
nước..........................................................................................................................5
1.1.3.Giá trị và ý nghĩa của học thuyết Mác Lênin đối với công cuộc đổi mới ở Việt
Nam.......................................................................................................................... 7
1. 2.Tư tưởng Hồ Chí Minh.............................................................................................9
1.2.1.Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh......................................................................9
1.2.2.Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển và đổi mới đất nước......10
1.2.3.Giá trị và ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới hiện nay 10
1. 3.Quan điểm nhận thức về đổi mới trong Đảng Cộng sản Việt Nam....................... 13
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT
NƯỚC.............................................................................................................................14
2. 1.Tình hình bối cảnh thế giới.....................................................................................15
2.1.1.Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật phát triển mạnh......................................... 15
2.1.2.Xu thế đối thoại thay xu thế đối đầu....................................................................16
2.1.3.Công cuộc cải tổ diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa........................................17
2. 2.Tình hình trong nước trước đổi mới.......................................................................19
2.2.1.Đất nước khủng hoảng kinh tế- xã hội..................................................................19
2.2.2.Bị đế quốc và thế lực thù địch bao vây, cấm vận..................................................22
2.2.3Nhiều hiện tượng tiêu cực diễn ra phổ biến...........................................................23
2.2.4Đã có những bước đột phá trong lĩnh vực kinh tế................................................. 24
2. 3.Tính tất yếu khách quan của việc thực hiện đường lối đổi mới............................. 27
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI
ĐẤT NƯỚC Ở VIỆT NAM...........................................................................................28
3. 1.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI.................................................................... 28 2
3. 2.Thực tiễn công cuộc đổi mới ở Việt Nam.............................................................. 33
3.2.1.Tác động của tình hình quốc tế và trong nước đến quá trình đổi mới................ 33
3.2.2.Vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi
mới..........................................................................................................................36
3.2.3.Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.................................................. 38
3.3.Những thành tựu đạt được sau gần 40 năm đổi mới.............................................. 39
3.4.Những hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện đường lối đổi mới......................52
3. 4.1Những hạn chế trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới...............................52
3.4.2.Nguyên nhân trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới.................................60
3. 5.Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện đường lối đổi mới.................................... 63
3.5.1.Nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển đổi mô hình kinh tế...................... 64
3.5.2.Hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước...................................64
3.5.3.Phát triển doanh nghiệp, khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực...................65
3.5.4.Phát triển xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế ...66
KẾT LUẬN.....................................................................................................................68
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................69 3 MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam bước vào thập niên 80 của thế kỷ XX trong bối cảnh tình hình thế giới
và trong nước có nhiều biến động sâu sắc. Sau khi thống nhất đất nước (1975), Việt Nam đối
mặt với hàng loạt khó khăn và thử thách nghiêm trọng: nền kinh tế rơi vào khủng hoảng kéo dài,
cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế; đời sống nhân dân gặp vô vàn
khó khăn; quan hệ đối ngoại bị cô lập và cấm vận. Trên bình diện thế giới, cuộc cách mạng khoa
học – kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, xu thế hoà bình và hợp tác dần thay thế đối đầu, cùng với sự
khủng hoảng của mô hình xã hội chủ nghĩa ở nhiều nước đã đặt ra đòi hỏi cấp bách về việc phải
thay đổi tư duy phát triển.
Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rõ yêu cầu khách quan của lịch
sử: phải đổi mới tư duy lý luận, đổi mới mô hình tổ chức và quản lý kinh tế – xã hội nhằm đưa
đất nước thoát khỏi khủng hoảng, từng bước phát triển và hội nhập với thế giới. Con đường
đổi mới không chỉ xuất phát từ nhu cầu bức thiết của thực tiễn mà còn dựa trên nền tảng lý
luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đất nước, giải
phóng lực lượng sản xuất và xây dựng xã hội mới.
Đề tài “Phân tích cơ sở vì sao Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới đất nước” nhằm làm
rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, cũng như tính tất yếu của quá trình đổi mới. Đồng thời, đề tài
cũng phân tích thực tiễn triển khai đường lối đổi mới, những thành tựu đạt được sau gần 40 năm,
cũng như hạn chế và giải pháp để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới. Việc nghiên cứu đề tài
này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc trong việc hiểu đúng, hiểu
đủ bản chất và ý nghĩa của đường lối đổi mới – một bước ngoặt lịch sử quan trọng trong tiến trình
phát triển của Việt Nam.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐƯỜNG LỐIĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC 1. 1.Chủ nghĩa Mác Lênin
1.1.1.Khái quát về chủ nghĩa Mác Lênin
Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng do
C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX, và được
V.I.Lênin phát triển trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa
cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Học thuyết này ra đời từ những điều kiện kinh tế – xã hội của
thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh, đặc biệt là sự trưởng thành của giai cấp vô sản cùng
các thành tựu khoa học – tư tưởng thế giới. 4
Chủ nghĩa Mác – Lênin gồm ba bộ phận lý luận thống nhất hữu cơ:
-Triết học Mác – Lênin: nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy,
hình thành thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận khoa học. -Kinh tế chính trị
học Mác – Lênin: phân tích bản chất và quy luật vận động của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là học
thuyết giá trị thặng dư, chỉ ra tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của
phương thức sản xuất mới.
-Chủ nghĩa xã hội khoa học: chỉ rõ quy luật, điều kiện và lực lượng để chuyển từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội và cộng sản chủ nghĩa, khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Về bản chất, chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học, nhân văn và cách mạng,
nhằm mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, xóa bỏ mọi hình
thức áp bức bóc lột, xây dựng xã hội công bằng, tự do, hạnh phúc.
Đây cũng là một học thuyết mở, luôn được vận dụng, phát triển trong thực tiễn, tiêu
biểu như quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô trước đây, và sự vận dụng sáng tạo của
Việt Nam, Trung Quốc, Cuba… trong thời kỳ đổi mới, cải cách và mở cửa.
1.1.2.Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về xây dựng, phát triển và đổi mới đất nước
Chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các lực
lượng cách mạng trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Với tính khoa học và cách mạng sâu sắc,
học thuyết này không chỉ giải thích những quy luật vận động của xã hội loài người mà còn định
hướng cho sự nghiệp xây dựng, phát triển và đổi mới của các quốc gia đi theo con đường xã
hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh lịch sử hiện đại, việc nhận thức đúng đắn quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin về xây dựng và đổi mới đất nước có ý nghĩa quan trọng để định hình chiến
lược phát triển bền vững, phù hợp với yêu cầu của thời đại.
Trước hết, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định rằng sự phát triển của xã hội là một quá
trình lịch sử – tự nhiên, diễn ra theo những quy luật khách quan. Sự vận động của lực lượng sản
xuất, sự mâu thuẫn với quan hệ sản xuất và quá trình đấu tranh xã hội tạo nên động lực thúc
đẩy sự chuyển biến của các hình thái kinh tế – xã hội. Từ đó, học thuyết chỉ ra rằng công cuộc
xây dựng và đổi mới đất nước phải xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và vận dụng đúng các quy
luật khách quan. Mọi sự áp đặt chủ quan hay giáo điều đều dẫn đến trì trệ, xơ cứng và làm chậm
sự phát triển. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để các quốc gia, trong đó có Việt Nam, tiến hành
đổi mới toàn diện nhưng có lộ trình, không xa rời quy luật và điều kiện lịch sử cụ thể. 5
Thứ hai, chủ nghĩa Mác – Lênin nhấn mạnh tính đa dạng trong con đường phát triển của
mỗi dân tộc. Mặc dù cùng hướng tới mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và xã hội cộng sản, mỗi
quốc gia phải lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa, kinh tế – xã
hội của mình. Điều này lý giải vì sao Việt Nam, Trung Quốc hay Cuba đều có cách tiếp cận riêng
trong công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lênin luôn xem lý luận
là hệ thống mở, đòi hỏi sự bổ sung và sáng tạo không ngừng, chứ không phải khuôn mẫu cứng nhắc.
Một quan điểm rất quan trọng khác của chủ nghĩa Mác – Lênin là khẳng định nhân dân là
chủ thể sáng tạo lịch sử. Sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước phải dựa trên sức mạnh của
nhân dân, vì lợi ích của nhân dân và do nhân dân thực hiện. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ
hưởng thành quả phát triển mà còn là lực lượng trực tiếp xây dựng xã hội mới. Do đó, việc mở
rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ và động viên mọi nguồn lực của nhân dân là giải pháp cốt
lõi để bảo đảm thành công của sự nghiệp đổi mới.
Bên cạnh đó, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản là
nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, có sứ mệnh dẫn dắt xã hội hướng tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng giúp định hướng phát triển, giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh
và phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc. Đồng thời, để thực hiện tốt vai trò lãnh đạo,
Đảng phải luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực, đạo đức và uy tín của đội ngũ cán bộ.
Cuối cùng, chủ nghĩa Mác – Lênin nhấn mạnh việc phát huy các động lực phát triển xã
hội, bao gồm động lực kinh tế, động lực chính trị – xã hội và động lực tinh thần. Lợi ích kinh tế
phải được giải quyết hài hòa giữa cá nhân, tập thể và xã hội. Dân chủ phải được mở rộng, pháp
luật phải được thực thi nghiêm minh. Đồng thời, các giá trị văn hóa, tinh thần yêu nước, ý chí tự
lực tự cường và khát vọng phát triển phải được khơi dậy mạnh mẽ để tạo thành nguồn lực nội
sinh quan trọng của đất nước. Mục tiêu cao nhất của quá trình xây dựng và đổi mới đất nước
theo quan điểm Mác – Lênin là xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh – nơi con người được phát triển toàn diện và sống hạnh phúc.
Có thể khẳng định rằng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng, phát triển và
đổi mới đất nước mang ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn. Những quan điểm đó không chỉ
phù hợp với quy luật khách quan mà còn đáp ứng yêu cầu của sự phát triển bền vững, nhân văn
và tiến bộ. Đối với Việt Nam, việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin luôn là nền tảng để 6
dẫn dắt con đường đổi mới và hội nhập, đưa đất nước ngày càng phát triển phồn vinh và hạnh phúc.
1.1.3.Giá trị và ý nghĩa của học thuyết Mác Lênin đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Học thuyết Mác – Lênin, với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động
của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã giữ vai trò định hướng xuyên suốt trong sự nghiệp đổi mới đất
nước từ năm 1986 đến nay. Những nguyên lý khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin
không chỉ cung cấp cơ sở lý luận để nhận thức đúng quy luật vận động của xã hội mà còn định
hướng cho việc hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Qua hơn ba thập kỷ đổi mới, giá trị và ý nghĩa của học thuyết Mác –
Lênin đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, chính trị và công tác xây dựng Đảng ở Việt
Nam đã thể hiện sâu sắc và toàn diện.
Thứ nhất, trong lĩnh vực kinh tế, học thuyết Mác – Lênin giúp Đảng ta nhận thức sâu sắc
về tính khách quan của các quy luật kinh tế, từ đó đổi mới tư duy và phương thức phát triển.
Việc vận dụng sáng tạo lý luận về sở hữu và quan hệ sản xuất đã dẫn tới sự hình thành chế độ
sở hữu đất đai “thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản
lý”, được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai. Từ cơ sở lý luận của Mác về
sở hữu tư liệu sản xuất, Việt Nam đã phát triển thành mô hình tách ba quyền: chiếm hữu, sử
dụng và định đoạt, qua đó vừa bảo đảm tính công hữu về đất đai, vừa tạo điều kiện hình thành
thị trường quyền sử dụng đất phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những cải cách pháp lý như Nghị quyết số 18-NQ/TW (2022) và Luật Đất đai 2024 thể hiện rõ
sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững, giải
phóng sức sản xuất và phát huy mọi nguồn lực cho phát triển đất nước.
Thứ hai, trong lĩnh vực văn hóa – xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin với quan điểm giải phóng
con người và vì con người đã trở thành nền tảng cho đường lối phát triển của Việt Nam. Đảng
ta nhất quán đặt con người ở vị trí trung tâm và coi hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu tối
thượng. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”
là sự cụ thể hóa tinh thần dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Mác – Lênin đã đề cập. Đồng thời, lý luận
của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng kinh tế và kiến trúc thượng tầng
giúp Đảng nhận thức rõ: muốn giải quyết tốt các vấn đề xã hội phải dựa trên nền tảng phát triển
kinh tế. Từ đó, Việt Nam đã triển khai hiệu quả nhiều chính sách xã hội như xóa đói giảm nghèo,
bảo hiểm y tế toàn dân, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giáo dục bắt buộc, bảo tồn văn hóa dân 7
tộc và phát huy tinh hoa văn hóa nhân loại. Tất cả những chính sách ấy đều phản ánh bản chất
nhân văn của chủ nghĩa xã hội mà học thuyết Mác – Lênin đề xướng.
Thứ ba, trong công tác xây dựng Đảng, học thuyết Mác – Lênin giữ vai trò quyết định
trong việc xác định bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ khi thành lập
đến nay, Đảng luôn kiên định nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp
công nhân – đội tiên phong của giai cấp và dân tộc. Qua các kỳ đại hội, đặc biệt từ Đại hội X đến
Đại hội XIII, Đảng ta không ngừng phát triển lý luận về Đảng cầm quyền, nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng, phù hợp với yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Nhờ kiên
định lập trường tư tưởng Mác – Lênin, Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo và bảo đảm sự phát triển
đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư, trong xây dựng hệ thống chính trị và nhà nước, việc vận dụng chủ nghĩa
Mác – Lênin giúp Việt Nam xây dựng mô hình nhà nước kiểu mới – Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Từ lý luận về chuyên chính vô sản, Việt
Nam đã phát triển thành quan điểm tổ chức quyền lực nhà nước “thống nhất, có phân công,
phối hợp và kiểm soát quyền lực”, không sao chép mô hình tam quyền phân lập nhưng vẫn bảo
đảm tính dân chủ và hiệu quả quản lý. Bên cạnh đó, việc chuyển từ khái niệm “hệ thống chuyên
chính vô sản” sang “hệ thống chính trị” thể hiện bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý
luận, phù hợp thực tiễn Việt Nam với sự tham gia của các tổ chức chính trị – xã hội như Mặt trận
Tổ quốc, Công đoàn, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên… Điều này không xa rời bản chất của học
thuyết Mác – Lênin mà còn phát triển nó phù hợp hơn với bối cảnh mới của cách mạng Việt Nam.
Học thuyết Mác – Lênin có giá trị và ý nghĩa to lớn đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Đó là cơ sở lý luận khoa học để nhận thức đúng các quy luật phát triển, định hướng xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa – xã hội vì con người,
xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh và xây dựng hệ thống chính trị hiện đại, hiệu quả. Sự vận
dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin trong thực tiễn đổi mới đã và đang góp phần quan trọng
đưa Việt Nam từng bước trở thành quốc gia phát triển, đạt mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”.
1. 2.Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1.Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm lý luận, đường lối cách mạng do Chủ tịch
Hồ Chí Minh khởi xướng, định hình trong quá trình hoạt động cách mạng lâu dài — từ khi Người 8
đấu tranh giành độc lập dân tộc cho tới khi xây dựng và bảo vệ đất nước xã hội chủ nghĩa. Tư
tưởng này mang tính cách mạng sâu sắc, khoa học và nhân văn, là sự tổng hòa giữa chủ nghĩa
Mác-Lênin với truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam.
Điều đặc biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là cách Người kết hợp trí tuệ chính trị cao với
tình cảm sâu sắc dành cho nhân dân. Người luôn nhấn mạnh “nói đi đôi với làm”, không chỉ lý
luận mà còn hành động thực tiễn sát với đời sống nhân dân — điều làm cho tư tưởng của
Người dễ tiếp thu, thẩm thấu sâu rộng trong quần chúng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là kim chỉ nam cho cuộc đấu tranh giành
độc lập dân tộc, màcòn là nền tảng tư tưởng cho sự nghiệp xây dựng xã hội sau này; Đảng Cộng
sản Việt Nam đã lấy nó cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin làm cơ sở lý luận, phương pháp luận
trong mọi hoạt động cách mạng, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay.
1.2.2.Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển và đổi mới đất nước
Hồ Chí Minh có quan điểm rất rõ ràng và sâu sắc về đổi mới: đổi mới không phải là sao
chép mô hình của nước khác mà là sáng tạo phù hợp với thực tiễn dân tộc.
Trong bài viết “Tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh” được các học giả phân tích, Người đã
khẳng định không nên “sao chép lý thuyết hay mô hình của bất cứ nước nào”, mà phải dựa
vào kinh nghiệm lịch sử của dân tộc Việt Nam, kết hợp với thời đại để tìm ra con đường riêng.
Về mục tiêu phát triển, Hồ Chí Minh luôn hướng tới một Việt Nam độc lập, giàu mạnh,
dân chủ, công bằng và văn minh — một khao khát vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính nhân
văn. Người đặt lợi ích của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, đề cao vai trò nhân dân làm chủ,
khẳng định “dân là gốc”: mọi chính sách đổi mới, phát triển đất nước phải hướng tới người dân, phục vụ nhân dân.
Về phương pháp thực hiện đổi mới, Hồ Chí Minh cũng có tư tưởng rất bài bản:
Người đề cao tinh thần kiên định, nhưng cũng nhấn mạnh cần đổi mới sáng tạo — “kiên định
nhưng không giáo điều”. Ngoài ra, phong cách làm việc của Người là dân chủ, thực tiễn, hiệu
quả, luôn gắn “nói” với “làm”, không nói suông mà luôn hành động vì lợi ích thực tế của nhân dân. 9
Một khía cạnh rất quan trọng trong quan điểm của Người là hợp tác quốc tế: Hồ Chí
Minh nhân rộng tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nhấn mạnh việc
tranh thủ nguồn lực bên ngoài nhưng luôn giữ vững độc lập, tự chủ. Đồng thời, Người coi
trọng sức mạnh nội sinh — sức mạnh từ nhân dân, từ khối đại đoàn kết toàn dân — là then
chốt cho sự phát triển bền vững.
1.2.3.Giá trị và ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới hiện nay
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho đường lối cách mạng Việt
Nam, được Đảng ta khẳng định cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở lý luận của công cuộc
đổi mới đất nước. Trong bối cảnh sau năm 1986, đất nước đứng trước yêu cầu cấp bách phải
thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững, việc vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở nên quan trọng. Những quan điểm của Người về phát triển đất
nước, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, về phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công
bằng xã hội, về đoàn kết dân tộc và mở rộng quan hệ quốc tế đã trở thành kim chỉ nam cho toàn
bộ tiến trình đổi mới. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ mang giá trị lý luận sâu sắc mà còn
có ý nghĩa thực tiễn lớn lao trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
a)Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc đổi mới
Trước hết, tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị định hướng chiến lược cho đường lối đổi mới.
Người luôn nhấn mạnh rằng mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ thực tiễn đất nước và
nhu cầu của nhân dân. Quan điểm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” thể hiện tư duy linh hoạt, sáng
tạo, đề cao việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Chính tư duy này đã giúp Đảng ta đề ra đường lối đổi mới mang tính bước ngoặt tại Đại hội VI
năm 1986, chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Một giá trị quan trọng khác là tư tưởng coi phát triển kinh tế phải gắn liền với nâng cao
đời sống nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Đây chính là cơ sở để Đảng ta xác định mục tiêu
đổi mới không chỉ nhằm phát triển kinh tế mà còn thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo an sinh
và phúc lợi cho nhân dân. 10
Bên cạnh đó, tư tưởng về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân có giá trị định hướng
cho đổi mới chính trị. Hồ Chí Minh yêu cầu bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động hiệu
quả, cán bộ phải gần dân, tôn trọng dân và phục vụ nhân dân. Tư tưởng đó là nền tảng để Đảng
ta triển khai cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, phục vụ nhân dân
trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại có ý nghĩa đặc biệt đối với đổi mới và hội nhập quốc tế. Người luôn khẳng định sức mạnh
nội lực là quyết định, nhưng phải biết tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước.
Đây là cơ sở lý luận để Đảng ta thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa
dạng hóa quan hệ quốc tế trong thời kỳ đổi mới.
b)Ý nghĩa thực tiễn trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và quốc tế
Trong lĩnh vực kinh tế, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển sản xuất, khuyến khích các
thành phần kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân đã được vận dụng sâu sắc. Chủ trương phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa chính là cụ thể hóa tư tưởng “làm cho dân giàu, nước mạnh”. Nhờ đổi mới, Việt Nam đã
từ một nước thiếu lương thực trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng
đầu thế giới như gạo, cà phê, thủy sản. Các chương trình xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông
thôn mới cũng thể hiện rõ giá trị tư tưởng của Người về chăm lo đời sống nhân dân.
Trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân được thể
hiện qua cải cách hành chính, công khai minh bạch hoạt động của nhà nước, xây dựng Chính
phủ điện tử, chuyển đổi số trong quản lý. Việc Đảng và Nhà nước đẩy mạnh phòng chống tham
nhũng, tiêu cực, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực là minh chứng sinh động cho
việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ và chống quan liêu, tham nhũng.
Trong lĩnh vực xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh nhấn mạnh con người là trung tâm của sự
phát triển. Điều này được thể hiện trong các chính sách phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, bảo
đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống. Các chương trình như bảo hiểm y tế toàn
dân, phổ cập giáo dục, chăm lo chính sách cho người có công, giảm nghèo bền vững… đều
phản ánh tinh thần “vì con người” mà Bác đã đề xuất. 11
Trong lĩnh vực quốc tế, đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác, hữu nghị của Hồ Chí Minh
được vận dụng linh hoạt trong hội nhập quốc tế hiện nay. Việt Nam chủ động tham gia các tổ
chức quốc tế, ký kết các hiệp định thương mại tự do, trở thành thành viên tích cực trong ASEAN
và Liên Hợp Quốc. Tư tưởng “thêm bạn, bớt thù” đã giúp Việt Nam mở rộng quan hệ, thu hút
đầu tư, nâng cao vị thế quốc tế.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị lý luận sâu sắc mà còn
mang ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước. Việc vận dụng sáng tạo tư
tưởng của Người đã góp phần đưa Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các
lĩnh vực, tạo nền tảng để phát triển bền vững trong tương lai.
1. 3.Quan điểm nhận thức về đổi mới trong Đảng Cộng sản Việt Nam
Bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986, từ kinh nghiệm của những bài học những năm trước
đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu nhận thức mới lại một loạt vấn đề quan trọng về CNXH.
Trở lại lời căn dặn của C.Mác và Ph.Ăngghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là
một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một ý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo.
Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay.
Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”. Trên cơ sở đó,
Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức lại những luận điểm mang tính phổ biến của CNXH mà Hội
nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva năm 1957 đã khái quát.
Xét về bản chất thì 9 nội dung mang tính phổ biến của CNXH mà Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng
sản và Công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva năm 1957 là đúng. Tuy nhiên, khi vận dụng vào từng
nước thì các đảng phải tính tới đặc thù của dân tộc mình. Không tính tới đặc điểm dân tộc nhất
định sẽ rơi vào giáo điều. Tất nhiên, không được tuyệt đối hóa đặc thù dân tộc để dẫn tới xét lại,
dân tộc, hẹp hòi. Cần quán triệt sâu sắc lời chỉ dẫn của V.I.Lênin: “Chúng ta không hề coi lý luận
của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý
luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát
triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi
nghĩ rằng những người xã hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý
luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng nguyên lý
ấy thì xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không
giống ở Nga”. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải hiểu:
“Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc,... là học tập những chân lý 12
phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế ở nước
ta” chứ không phải để thuộc lòng từng câu từng chữ lý luận Mác-Lênin. Xuấtphát từ những chỉ
dẫn củacác nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, rútkinh nghiệm của thời
kỳ trước đổi mới, tổng kết thực tiễn Việt Nam và thời đại, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ
trên nền tảng kiên trì chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng phải vận dụng sáng tạo
phù hợp thực tiễn Việt Nam. Chính vì vậy, ngay từ Đại hội VI (1986), Đảng thừa nhận: “Trong lĩnh
vực tư tưởng đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật đang hoạt động
trong thời kỳ quá độ; đã mắc bệnh duy ý chí, giản đơn hóa, muốn thực hiện nhanh chóng nhiều
mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nước ta mới ở chặng đường đầu tiên. Chúng ta đã
có những thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản
xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan”. Điều quan trọng là ngay từ Đại hội VI, Đảng đã đề ra
nhiệm vụ: “Để khắc phục những khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta, trước hết
phải thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy. Phải nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ
thống quy luật khách quan, trong đó, các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã hội ngày càng chi phối
mạnh mẽ phương hướng phát triển chung của xã hội”. Nhưng ngay từ khi bắt đầu đổi mới, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã có thái độ rất đúng đắn: “Đổi mới tư duy không có nghĩa là phủ nhận
những thành tựu lý luận đã đạt được, phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội, phủ nhận đường lối đúng đắn đã được xác định, trái lại, chính là bổ sung và
phát triển những thành tựu ấy”. Trên tinh thần ấy, Đảng bổ sung nhiều luận điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin cho phù hợp thực tiễn Việt Nam và thời đại. Chẳng hạn về bản chất của Đảng, Đảng
Cộng sản Việt Nam không chỉ là đại diện, tiêu biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động, mà còn cho cả dân tộc. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin mới đề cập tới xây dựng
đảng về tư tưởng, chính trị và tổ chức, thì Đảng Cộng sản Việt Nam yêu cầu tăng cường xây dựng
Đảng cả về đạo đức. Hay ở các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin, chủ yếu là liên minh công-
nông, trong điều kiện Việt Nam, Đảng bổ sung liên minh công nhân-nông dân-trí thức. Nếu
V.I.Lênin mới dừng ở kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thì Đảng đã phát triển thành kinh tế thị
trường định hướng XHCN... Tất cả những luận điểm lý luận này là kết quả của sự nhận thức và
vận dụng đúng đắn những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện đặc thù
Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam.
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
2. 1.Tình hìnhbối cảnh thế giới 13
2.1.1.Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật phát triển mạnh
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật phát triển
với tốc độ nhanh và phạm vi rộng chưa từng có. Cũng như cách mạng công nghiệp ở thế kỉ XVIII
– XIX, cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật này diễn ra là do những đòi hỏi của cuộc sống, của
sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người, nhất là
trong tình hình bùng nổ dân số thế giới và sự vơi cạn nghiêm trọng các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, đặc biệt từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đặc điểm lớn nhất của cách mạng khoa học
– kĩ thuật này là khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Khoa học đã tham gia trực
tiếp vào sản xuất, đã trở thành nguồn gốc chính của những tiến bộ kĩ thuật và công nghệ.
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, khoa học cơ bản và công nghệ đều đạt được
những bước tiến vượt bậc, tạo ra những thành tựu mang tính đột phá và mở ra nhiều kỉ nguyên
mới cho nhân loại. Các phát minh lớn trong Toán học, Vật lí, Hoá học và Sinh học được ứng
dụng mạnh mẽ vào thực tiễn, tiêu biểu như sự ra đời của cừu Đôli (1997) hay việc công bố Bản
đồ gen người (2000), đặt nền tảng cho sự phát triển hiện đại của y học và công nghệ sinh học.
Đồng thời, lĩnh vực công nghệ cũng chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ với sự xuất hiện của
máy tính điện tử, hệ thống tự động hóa, rôbốt; các nguồn năng lượng mới; vật liệu mới; những
đột phá trong công nghệ di truyền, công nghệ tế bào; cùng hàng loạt tiến bộ trong thông tin
liên lạc, giao thông vận tải và chinh phục vũ trụ. Đặc biệt, công nghệ thông tin bùng nổ trên
phạm vi toàn cầu, với sự phổ biến của máy tính và Internet, giúp liên kết dữ liệu toàn thế giới
và đưa nhân loại bước vào thời đại “văn minh thông tin”. Những thành tựu đó hợp thành một
cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật toàn diện, tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực đời sống và sản xuất.
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã thúc đẩy sự hình thành thị trường thế giới và
tạo nên xu thế toàn cầu hoá, đó là quá trình các quốc gia ngày càng gắn bó, tác động và phụ
thuộc lẫn nhau. Xu thế này thể hiện qua sự phát triển nhanh của thương mại quốc tế, sự mở
rộng và ảnh hưởng mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia, làn sóng sáp nhập tạo ra những
tập đoàn lớn nhằm tăng khả năng cạnh tranh, cùng sự ra đời của hàng loạt tổ chức kinh tế - tài
chính quốc tế như IMF, WB, WTO,
EU, NAFTA, AFTA, APEC hay ASEM. Là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất,
toàn cầu hoá vừa mang mặt tích cực khi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất và
đòi hỏi cải cách để bắt kịp cạnh tranh, vừa có mặt tiêu cực khi làm gia tăng bất bình đẳng, 14
khiến đời sống con người kém an toàn hơn và tiềm ẩn nguy cơ mai một bản sắc cũng như ảnh
hưởng đến độc lập tự chủ của các quốc gia.
Nhìn chung, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ là thời cơ lịch sử, là cơ hội rất to lớn
cho các nước phát triển mạnh mẽ, đồng thời cũng tạo ra những thách thức to lớn. Việt Nam
cũng nằm trong xu thế chung đó. Đặc biệt, khi mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu, bao cấp của Việt Nam đang bộc lộ nhiều bất cập. Sản xuất trì trệ, năng suất lao động thấp,
đời sống nhân dân khó khăn, nền kinh tế rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng vào đầu thập niên
1980. Do vậy, “Nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, phát triển mạnh mẽ trong thời kì mới, đó
là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta" (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX).
2.1.2.Xu thế đối thoại thay xu thế đối đầu
Từ đầu những năm 1970, quan hệ quốc tế bắt đầu chứng kiến sự dịch chuyển quan trọng từ
đối đầu sang đối thoại, thể hiện rõ nhất trong tiến trình hòa hoãn Đông – Tây. Sau nhiều thập niên
căng thẳng của Chiến tranh lạnh, cả Mỹ và Liên Xô đều từng bước tìm kiếm các thỏa thuận nhằm
giảm bớt xung đột và rủi ro đối đầu quân sự. Những hiệp định kiểm soát vũ khí chiến lược như
Hiệp ước ABM (1972) hay SALT I (1972) đã mở đầu cho giai đoạn giảm căng thẳng, thể hiện ý chí
hạn chế chạy đua vũ trang vốn đã trở thành gánh nặng kinh tế và chiến lược đối với cả hai siêu
cường. Tiếp đó, Định ước Henxinki năm 1975 với sự tham gia của 35 quốc gia đã thiết lập những
nguyên tắc quan trọng về bình đẳng chủ quyền, bất khả xâm phạm biên giới và giải quyết tranh
chấp bằng biện pháp hòa bình, từ đó hình thành một cơ chế đa phương giúp duy trì an ninh và
ổn định ở châu Âu. Những sự kiện này cho thấy xu thế đối thoại không chỉ xuất hiện đơn lẻ mà
từng bước trở thành khuynh hướng chung trong quan hệ quốc tế thời kỳ này.
Bước sang những năm 1980, xu thế đối thoại càng được củng cố khi lãnh đạo
Liên Xô tiến hành cải tổ, chủ trương giảm đối đầu và mở rộng hợp tác với phương Tây. Các cuộc
gặp cấp cao Xô – Mỹ diễn ra liên tục, đạt được các thỏa thuận quan trọng, tiêu biểu là Hiệp ước
INF năm 1987 về việc loại bỏ tên lửa tầm trung ở châu Âu, cắt giảm kho vũ khí chiến lược và
hạn chế mở rộng chạy đua vũ trang. Đến tháng 12/1989, Tuyên bố Manta giữa M. Goócbachóp
và G. Busơ đã đánh dấu sự chấm dứt chính thức của Chiến tranh lạnh, khép lại hơn bốn thập kỷ
đối đầu căng thẳng. Sự kết thúc của trạng thái đối đầu hai cực không chỉ phản ánh sự suy yếu
nội tại của Liên Xô và những chi phí ngày càng lớn trong chạy đua vũ trang, mà còn cho thấy 15
nhu cầu khách quan của toàn cầu trong việc thiết lập một môi trường ổn định, thuận lợi hơn
cho hợp tác và phát triển.
Sau Chiến tranh lạnh, xu thế đối thoại được củng cố mạnh mẽ với hàng loạt thay đổi lớn
trên phạm vi toàn cầu. Sự tan rã của Liên Xô (1991) và sự giải thể của các tổ chức như Hội đồng
tương trợ kinh tế (SEV) hay Hiệp ước Vácsava đã chấm dứt trật tự hai cực, mở đường cho trật
tự thế giới mới theo xu hướng đa cực, nơi các cường quốc như Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga và Trung
Quốc cùng cạnh tranh và hợp tác. Các quốc gia chuyển trọng tâm sang phát triển kinh tế, giảm
đối đầu ý thức hệ, ưu tiên hội nhập quốc tế và hợp tác khu vực. Nhiều cuộc chiến tranh kéo dài
được giải quyết bằng đàm phán, tiêu biểu như tiến trình hòa bình Campuchia (1991) với sự
tham gia của Liên Hợp Quốc và các nước trong khu vực.
Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục giữ lập trường đối đầu, khép kín không giúp Việt Nam phát
triển về chính trị - ngoại giao, và không tận dụng được những cơ hội mới từ hợp tác quốc tế. Do
vậy, tư duy đối ngoại cũng cần đổi mới sang hướng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, từ
phụ thuộc viện trợ sang chủ động hội nhập. Đây là điều kiện khách quan quan trọng thôi thúc
Việt Nam chuyển mình, từng bước hướng tới đổi mới toàn diện trong đối nội và đối ngoại.
2.1.3.Công cuộc cải tổ diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa
Từ giữa những năm 1970, Liên Xô bắt đầu bộc lộ những dấu hiệu khủng hoảng kinh tế và chính
trị. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế, trong khi đời
sống chính trị xuất hiện nhiều diễn biến phức tạp, với các tư tưởng đối lập và một số nhóm phản
đối Đảng Cộng sản. Đến đầu những năm 1980, nền kinh tế Liên Xô suy thoái rõ rệt, đời sống nhân
dân giảm sút và xã hội xuất hiện nhiều bất ổn. Tháng 3/1985, M. Goócbachốp lên nắm quyền lãnh
đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô, tiến hành công cuộc cải tổ đất nước. Đường lối cải tổ tập trung
vàoviệc “cải cách kinh tế triệt để", tiếp theo là cải cách hệ thống chính trị và đổi mới tư tưởng. Tuy
nhiên, các cải cách kinh tế thiếu điều tiết, chuyển sang kinh tế thị trường quá nhanh, kết hợp với
cải cách chính trị đa nguyên đã gây rối loạn xã hội, đình công, xung đột sắc tộc và bất ổn chính trị,
dẫn đến khủng hoảng toàn diện. Đến cuối năm 1991, Liên Xô chính thức tan rã, Nhà nước Liên
bang sụp đổ, Đảng Cộng sản bị đình chỉ hoạt động, và các nước cộng hòa thành lập Cộng đồng các
quốc gia độc lập (SNG). M.Goócbachớp từ chức Tổng thống, lá cờ búa liếm trên nóc điện Kremli bị
hạ xuống, đánh dấu sự chấm dứt chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sau 74 năm tồn tại. 16
Các nước Đông Âu, vốn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Liên Xô, cũng rơi vào khủng hoảng
kinh tế và chính trị từ cuối những năm 1970 đến đầu những năm 1980. Cuộc khủng hoảng dầu
mỏ năm 1973 đã tác động mạnh đến nền kinh tế, dẫn đến trì trệ kinh tế và giảm sút lòng tin
của nhân dân vào Đảng Cộng sản và Nhà nước. Những sai lầm trong các biện pháp cải cách
cùng với tác động từ khủng hoảng ở Liên
Xô làm cho tình hình ở Đông Âu càng trở nên gay gắt. Nhiều nước như Ba Lan, Tiệp Khắc,
Hungary, Bulgaria, Romania, cùng với Cộng hòa Dân chủ Đức, lần lượt phải từ bỏ chế độ xã hội
chủ nghĩa, chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng và tiến hành tổng tuyển cử. Điển hình là
Cộng hòa Dân chủ Đức, nơi bức tường Berlin bị phá bỏ cuối năm 1989, dẫn tới thống nhất nước
Đức vào năm 1990. Quá trình này cho thấy sự phụ thuộc vào Liên Xô và các biện pháp cải cách
thất bại đã thúc đẩy các nước Đông Âu phải điều chỉnh đường lối chính trị và kinh tế.
Trái với tình hình khủng hoảng ở Liên Xô và Đông Âu, Trung Quốc tiến hành công cuộc cải
cách – mở cửa từ năm 1978 dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình. Trung Quốc tập trung phát
triển kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường xã hội chủ
nghĩa linh hoạt, nâng cao năng lực khoa học – kỹ thuật, giáo dục và văn hóa. Sau 20 năm, GDP
tăng trung bình trên 8%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp, xây
dựng và dịch vụ, đời sống nhân dân cải thiện rõ rệt. Các thành tựu khoa học kỹ thuật nổi bật
như chương trình vũ trụ “Thần Châu” và thử bom nguyên tử nâng cao vị thế quốc gia. Trong
đối ngoại, Trung Quốc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam năm 1991, đồng thời nâng cao
vai trò trên trường quốc tế thông qua các hoạt động hợp tác và thu hồi Hồng Kông – Ma Cao.
Trong bối cảnh này, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rõ rằng cần đổi mới toàn diện về
kinh tế và chính trị, dẫn tới việc phát động Đổi mới bắt đầu từ Đại hội VI (1986), đánh dấu bước
phát triển mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.
2.2.Tình hình trong nước trước đổi mới 2.2.1.Đất nước
khủng hoảng kinh tế- xã hội a) Tình hình kinh tế
Trước đổi mới, nền kinh tế nước ta vô cùng khó khăn. Chúng ta bị các nước bao vây cấm
vận. Liên Xô và Đông Âu bắt đầu cải cách mở cửa nên cắt giảm viện trợ. Trong nước sản xuất đình
đốn, đời sống nhân dân đói nghèo đến cùng cực. Tiềm lực kinh tế vô cùng nhỏ bé. Trong thập 17
niên đầu sau thống nhất (1975-1985), Việt Nam đã áp dụng chủ nghĩa xã hội chặt chẽ trong địa
hạt kinh tê qua hệ thông chính sách "bao cấp", tập trung kiểm soát các phương tiện sản xuất và
phân phối. Nền kinh tế bị hoàn toàn tê liệt và dân chúng bị đói kém khó khăn.
Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung từ sau khi thống nhất đất
nước vào năm 1975. Các kế hoạch 5 năm được Nhà nước đề ra với mục tiêu phát triển nông
nghiệp, công nghiệp, và các ngành sản xuất khác. Tuy nhiên, việc tập trung quyền lực vào tay
nhà nước mà không có sự tham gia của kinh tế tư nhân đã khiến mô hình kinh tế này trở nên
thiếu hiệu quả. Các kế hoạch do trung ương lập ra thường không phù hợp với tình hình thực tế
tại các địa phương, dẫn đến việc không đạt được mục tiêu sản xuất và gây lãng phí nguồn lực.
Hơn nữa, tất cả hoạt động sản xuất, phân phối đều do Nhà nước kiêm soát dân đến các doanh
nghiệp nhà nước thiêu động lực cạnh tranh và nâng cao năng suất. Công nhân và nhân viên
cũng không được khuyến khích cải tiến hay nâng cao hiệu suất làm việc.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam gặp khó khăn trong sản xuất lương thực. Phần lớn
nông dân làm việc với năng suất thấp do thiếu công cụ hiện đại và kỹ thuật canh tác lạc hậu.
Nông sản sản xuất ra chủ yếu là để tự cung tự cấp, không đủ cung ứng cho nhu cầu trong nước.
Việc thiếu lương thực đã dẫn đến tình trạng nhập khẩu gạo từ nước ngoài trong một số năm.
Trọng công nghiệp, các nhà máy, cơ sở công nghiệp chủ yếu là từ thời thuộc địa và thời
chiến trạnh, công nghệ cũ kỹ, lạc hậu, làm giảm khả năng cạnh
tranh của sản phẩm.Thiếu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng và công nghệ mới, khiến năng lực sản
xuất không thể phát triển.
Kinh tế tập trung khiến các sản phẩm hàng tiêu dùng không được sản xuất đầy đủ để đáp
ứng nhu cầu người dân. Các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, quần áo, và hàng
gia dụng đều bị thiếu thốn. Cộng thêm hệ thống phân phối yếu kém do Nhà nước kiểm soát hệ
thống phân phối qua hình thức tem phiếu. Người dân phải xếp hàng để mua những mặt hàng cơ
bản, điều này làm gia tăng sự bất mãn và cảm giác thiếu thốn trong xã hội.
Chính sách chi tiêu ngân sách không được điều hành hợp lý. Trong đó, chi tiêu công vượt
quá khả năng thu ngân sách, gây mất cân đối tài chính, và Nhà nước buộc phải dựa vào việc in
tiền, dẫn đến lạm phát. Các chính sách tín dụng chủ yếu phục vụ cho các doanh nghiệp nhà
nước, nhưng vì năng suất của những doanh nghiệp này kém, nền nguồn vốn này không được
sử dụng hiệu quả. Điều này làm giảm khả năng phát triển của nền kinh tế nói chung.
Chiến tranh kéo dài trong suốt nhiều thập kỷ đã phá hủy hạ tầng và làm cạn kiệt nguồn
lực kinh tế của đất nước. Sau khi thống nhất, Việt Nam phải đối mặt với nhiệm vụ tái thiết đất 18
nước trong bối cảnh các nguồn lực bị thiếu hụt. Sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam không
được sự hỗ trợ từ các nước phương Tây, đặc biệt do bị Hoa Kỳ cấm vận.Việc mất đi các thị
trường xuất khẩu và hạn chế khả năng nhập khẩu công nghệ và hàng hóa từ nước ngoài khiến
nền kinh tế gặp khó khăn trong việc hội nhập và phát triển. b) Tình hình xã hội
Sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975, Việt Nam bước vào giai đoạn tái thiết và xây
dựng xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn này, nền kinh tế
tập trung bao cấp đã bộc lộ nhiều khuyết điểm, và hệ quả là xã hội rơi vào khủng hoảng với
những khó khăn sâu sắc trong nhiều lĩnh vực.
Sau năm 1975, Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong sản xuất nông nghiệp. Dù là một
nước nông nghiệp, nhưng sản lượng lương thực không đáp ứng được nhu cầu
của dân số. Nông nghiệp bị quản lý chặt chẽ bởi Nhà nước, đặc biệt là
việc thực hiện các hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc. Người dân không có động lực sản xuất
do thiếu quyền sở hữu đất đai và lợi ích cá nhân. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu lương thực
trầm trọng, đặc biệt là tại các vùng nông thôn. Nạn đói xảy ra ở nhiều nơi, và sự khan hiếm lương
thực trở thành vấn đề nghiêm trọng. Đầu thập niên 1980, Việt Nam đã trải qua những cuộc
khủng hoảng lương thực lớn. Nhiều vùng tại miền Bắc và miền Trung rơi vào tình trạng thiếu đói.
Năm 1984, chính phủ Việt Nam phải nhập khẩu lượng thực từ nước ngoài để đối phó với tình
trạng khủng hoảng lượng thực trong nước. Điều này cho thấy nền sản xuất nông nghiệp không
còn tự cung tự cấp được như kỳ vọng ban đầu.
Hệ thống bao cấp được triển khai để kiểm soát toàn bộ hoạt động sản xuất và phân phối
hàng hóa, nhưng nó đã tạo ra sự phân hóa và bất bình đẳng trong xã hội. Nhà nước kiểm soát
chặt chẽ việc phân phối lương thực, hàng tiêu dùng, và các nhu yếu phẩm cơ bản, khiến cho
một bộ phận lớn người dân phải dựa vào hệ thống tem phiếu để tồn tại. Người dân không thể
tự do mua hàng hóa mà phải nhận khẩu phần theo quy định của nhà nước thông qua hệ thông
tem phiếu. Hàng hóa cung cấp thông qua hệ thông này thường khan hiếm, chất lượng kém và
không đủ đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân.
Điều này dẫn đến tình trạng phân biệt giữa các tâng lớp dân cư khi một số người có
quyền tiếp cận nguồn hàng hóa phong phú hơn, trong khi số đông khác phải chật vật với khẩu
phần ít ỏi . Nhiều người dân phải xếp hàng dài để mua các mặt hàng như gạo, đường, dầu, xà
phòng, và thậm chí quần áo. Hệ thống bao cấp làm giảm động lực làm việc của người lao động, 19
vì dù nỗ lực sản xuất nhiều hay ít, họ vẫn chỉ nhận được lượng hàng hóa cố định. Điều này dẫn
đến sự bất mãn sâu rộng trong xã hội.
Trong suốt giai đoạn từ 1975 đến 1985, nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề từ
chính sách kinh tế tập trung bao cấp và hậu quả của chiến tranh. Một trong những vấn đề nghiêm
trọng nhất là tình trạng lạm phát phi mã. Trong thập niên 1980, Việt Nam chứng kiến mức lạm
phát rất cao, lên tới 700- 800% mỗi năm. Giá cả hàng hóa tăng vọt, và tiền lương của người lao
động không theo kịp với sự gia tăng của giá cả. Điều này làm giảm sức mua của người dân, khiến
đời sống ngày càng trở nên khó khăn. Người dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận hàng hóa cơ
bản để duy trì cuộc sống, từ đó gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế -xã hội nghiêm trọng. Cuộc
cải cách tiền tệ năm 1985 là một nỗ lực của chính phủ nhằm kiềm chế lạm phát,
nhưng lại gây ra những hậu quả tiêu cực. Đồng tiền mất giá trầm trọng, và người dân bị ảnh
hưởng nặng nề khi tiền lương không đủ để chi trả cho các nhu yếu phẩm hàng ngày. Cuộc cải
cách này không chỉ thất bại trong việc kiềm chế lạm phát mà còn khiến niềm tin của người dân
vào chính sách kinh tế của nhà nước suy giảm.
Tình trạng xã hội trong giai đoạn này đã tạo ra nhiều bất mãn trong nhân dân. Sự bất
bình đẳng trong việc phân phối hàng hóa, tình trạng khủng hoảng kinh tê và lạm phát, cũng
như đời sống văn hóa nghèo nàn đã làm gia tăng áp lực đòi hỏi cải cách. Người dân mong
muốn có một sự thay đối toàn diện để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kéo dài.
2.2.2.Bị đế quốc và thế lực thù địch bao vây, cấm vận
Không chỉ phải chống chọi với khó khăn nội tại của nền kinh tế, Việt Nam giai đoạn 1975–
1985 còn phải đối mặt với sức ép nặng nề từ tình hình quốc tế. Sau khi chiến tranh kết thúc, quan
hệ giữa Việt Nam và Mỹ vẫn không được bình thường hóa. Mỹ và các đồng minh phương Tây, vốn
đối nghịch với hệ thống xã hội chủ nghĩa, lo ngại Việt Nam ngày càng có vai trò lớn trong khu vực
và có quan hệ ngày càng chặt chẽ với Liên Xô. Từ cuối những năm 1970, Mỹ áp đặt cấm vận toàn
diện đối với Việt Nam, ngăn cản mọi giao dịch kinh tế, thương mại, tài chính giữa Việt Nam với
các nước tư bản.Chính sách cấm vận khiến Việt Nam rơi vào tình thế bị cô lập về kinh tế quốc tế.
Việt Nam không được vay vốn phát triển từ các tổ chức tài chính như Ngân hàng Thế giới (WB),
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), cũng như không được hưởng các chương trình hỗ trợ phát triển chính
thức của các nước phương Tây. Nhiều hiệp định thương mại bị cắt bỏ, hàng hóa Việt Nam khó tìm
được thị trường tiêu thụ. Việc nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghiệp, vật tư kỹ thuật và các
nguồn hàng hóa khác gặp khó khăn nghiêm trọng. Điều đó làm cho quá trình hiện đại hóa đất 20