HỌC VIỆN BÁO CHÍ TUYÊN TRUYỀN
---a&b---
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG
ƯƠNG CÁC CÔNG CỤ ĐIỀU TIẾT CUNG TIỀN. LIÊN HỆ
THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM.
Sinh viên thực hiện: THẾ PHONG
Lớp hành chính: QUẢN CÔNG K40
sinh viện: 2054030042
Môn học: KINH TẾ
Nội, 2022
2
lời nói đầu
Khi pháp lệnh Ngân hàng, hệ thống Ngân hàng Việt nam được hình
thành thực hiện theo hai cấp đã cho phép Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò
Ngân hàng Trung ương từ đây ra đời một hệ thống chính sách tiền tệ được
đúc rút từ kinh nghiệm của nhiều nước trên Thế giới. Ngân hàng Nhà nước với
chức năng quản Nhà nước đối với Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đã
từng bước tiếp cận với chế mới trong việc xây dựng điều hành chính sách
tiền tệ Quốc gia thông qua các công cụ trực tiếp hoặc gián tiếp như hạn mức tín
dụng, nghiệp vụ tiêu thụ mở hoặc cạnh tranh dự trữ bắt buộc.
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương thời gian qua đã góp phần
nhất định vào sự phát triển kinh tế, ổn định tiền tệ đất nước. Tuy nhiên trong
việc vận hành các công cụ của chính sách tiền tệ chúng ta còn gặp nhiều trở
ngại. Trước hết sự am hiểu về một phương pháp điều hành mới còn nhiều hạn
chế trong khi nền kinh tế chuyển đổi còn thiếu những điều kiện để điều hành
chính sách tiền tệ theo nghĩa gốc của mỗi công cụ. vậy đối với Ngân hàng
Trung ương việc lùa chọn giải pháp nào để xây dựng điều hành chính sách
tiền tệ Quốc gia hiệu quả nhất vẫn còn Èn số chắc chắn những bắt
cập điều khó tránh khỏi.
Chính thế, chuyên đề này tập trung phân tích nội dung các công cụ, thực
hiện điều hành chính sách tiền tệ Việt nam, kinh nghiệm trên Thế giới một
số điều kiện để chuyển đổi công cụ chính sách tiền tệ từ trực tiếp sang gián tiếp,
góp phần nâng cao tính hiệu quả sự linh hoạt của chính sách tiền tệ.
3
CHƯƠNG I: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG CÁC CÔNG CỤ
ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.
I. NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VỚI VAI TĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ.
tất cả các nước Ngân hàng Trung ương được sử dông mét công cụnh
quan trọng để điều chỉnh kinh tế của Nhà nước. Ngân hàng Trung ương tuy
không tham gia vào thị trường tài chính nhưng quản mọi hoạt động về tiền
tệ tín dụng của quốc gia. Điều hành chính sách tiền tệ một trong những nghiệp
vụ chủ yếu của Ngân hàng Trung ương.
Chính sách tiền tệ tổng hoà các phương thức Ngân hàng Trung ương
thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu
thông nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế hội của đất nước
trong một thơì kỳ nhất định. Các chính sách tiền tệ của các Quốc gia trên thế
giới hiện nay đều hướng vào các mục tiêu chủ yếu là:
- Tạo ra thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế: Đây mục tiêu hàng đầu
quan trọng nhất của chính sách tiền tệ. rằng mục tiêu này mục tiêu bao
trùm để giải quyết hàng loạt các mục tiêu khác.
- Ổn định giá cả: ổn định giá cả ý nghĩa quan trọng trong kinh tế vi
còng mô. Ổn định giá cả giúp cho Nhà nước hoạch định được phươngnh
hướng phát triển kinh tế một cách hiệu quả hơn loại trừ được sự biến động
của giá cả. Ổn định giá cả giúp cho môi trường đầu ổn định góp phần thu hót
vốn đầu tư, khai thác mọi nguồn lực hội, thúc đẩy các doanh nghiệp còng
nh nh các nhân phát triển sản xuất đem lại nguồn lợi cho mình còng hội.
- Tạo công ăn việc làm: Cùng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chính sách
tiền tệ cũng hướng vào mục tiêu tạo công ăn việc làm cho mọi thành viên trong
hội, nhất đối với một quốc gia chưa phát triển, năng suất lao động thấp,
dân số tăng với tốc độ cao thì tỷ lệ thất nghiệp cao tất yếu. vậy chính sách
4
tiền tệ phải tập trung vào tạo ra công ăn việc làm nhiều hơn nhằm giảm thất
nghiệp. Bằng các biện pháp tác động để tăng cường vốn đầu tư, mở rộng các
hoạt động cho nền kinh tế.
- Cân bằng cán cân thanh toán.
Tuy nhiên trong hoàn cảnh điều kiện kinh tế từng nước, trình độ quản
các vấn đề kinh tế hội của nước chính sách tiền tệ hướng ưu tiên vào
các mục tiêu khác nhau. Mặt khác cùng một lúc chính sách tiền tệ không thể đạt
được tất cả các mục tiêu khi các mục tiêu mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn:
Về mặt dài hạn không mâu thuẫn giữa các mục tiêu của chính sách tiền tệ
nhưng trong ngắn hạn những mục tiêu phù hợp nhưng cũng mục tiêu mâu
thuẫn, thậm chí đối nghịch.
Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, giảm lạm
phát để đảm bảo giá trị đồng tiền, điều đó dẫn đến lãi suất tăng lên, không
khuyến khích đầu thất nghiệp xu hướng tăng trong khi muốn duy trì
một tỷ lệ thất nghiệp thấp thì phải khuyến khích đầu tư, dẫn đến thực thi chính
sách tiền tệ mở rộng làm tăng giá.
Sự mâu thuẫn giữa mục tiêu công ăn việc làm mục tiêu ổn định giá còn
được thể hiện do mức cung tiền tệ nhằm thoả mãn mức cầu tiền thực tế dẫn đến
giá cả hàng hoá tăng theo...
Để đạt được mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ Ngân hàng Trung
ương phải xác định mục tiêu trung gian để thể xét đoán nhanh chóng được
tình hình thực hiện các hoạt động của mình phục vụ cho các mục tiêu cuối cùng,
hơn chờ cho đến khi nhìn thấy được kết quả cuối cùng của các mục tiêu đó.
Mục tiêu trung gian điều tiết cung tiền thông qua chi phối dòng tiền chu
chuyển khối lượng tiền.
Xét cho cùng Ngân hàng Trung ương thể thực thi hai loại chính sách
tiền tệ phù hợp với tình hình thực tiễn của nền kinh tế:
5
- Chính sách tiền tệ mở rộng: chính sách tăng tiền cung ứng vào lưu
thông, dẫn đến trong lưu thông thừa tiền. Trong trường hợp khi nền kinh tế
dấu hiệu của sự suy thoái, Ngân hàng Trung ương sẽ hoạch định theo hướng
chính sách mở rộng tiền tệ nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo
công ăn việc làm cho người lao động.
- Chính sách tiền tệ thắt chặt: chính sách thu hẹp lượng tiền cung ứng
dẫn đến trong lưu thông khan hiếm tiền. Trong trường hợp nền kinh tế nhứng
dấu hiệu lạm phát gia tăng, thì Ngân hàng Trung ương sẽ hoạch định chính sách
tiền tệ thắt chặt nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự tăng trưởng quá mức của nền
kinh tế.
Để thực hiện hai chính sách tiền tệ này Ngân hàng Trung ương thể sử
dụng nhiều loại ccông cụ tiền tệ trong tầm tay của mình, các công cụ được chia
thành công cụ trực tiếp công cụ gián tiếp.
II. CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.
Công cụ của chính sách tiền tệ hệ thống các biện pháp Ngân hàng
Trung ương thể sử dụng để tác động vào các mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Để thực hiện chính sách tiền tệ, Ngân hàng Trung ương đã sử dụng hàng
loạt các công công công cụ tài cấp vốn, lãi suất tín dụng dự trữ bắt buộc,nh
nghiệp vụ thị trường mở... Mỗi loại công cụ đều chế tác động riêng
đem lại những kết quả trên những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên các công cụ
này đều nhằm ảnh hưởng trực tiếp hany gián tiếp đến lượng tiền cung ứngvà lãi
suất để từ đó đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ.
1. Công cụ trực tiếp:
Công cụ trực tiếp công cụ tác động về lượngvà Ngân hàng Trung
ương kiểm soát công cụ bằng biện pháp hành chính. Khi Ngân hàng Trung ương
sử dụng công cụ trực tiếp, tác động vào mục tiêu trung gian, từ mục tiêu
trung gian đã tác động đến tổng cầu.
1.1. Hạn mức tín dụng:
6
Hạn mức tín dụng mức nợ tối đa Ngân hàng Trung ương buộc các
tổ chức tín dụng phải tôn trọng trong khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Đây một biện pháp mạnh, hiệu lực đáng kể. Thực chất biện pháp này
cho phép Ngân hàng Trung ương Ên định trước khối lượng tín dụng phải cung
cấp cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định sau đó tìm con đường để
đưa vào nền kinh tế.
Việc quy định hạn mức tín dụng thường được Ngân hàng Trung ương sử
dụng khi nền kinh tế nhiều biến động để kiểm soát khối lượng tiền trong lưu
thông đảm bảo cho sự bình ổn của tiền tệ, giá cả. Hạn mức tín dụng phát huy
được tác dụng trong điều kiện lạm phát. Song trong nền kinh tế thị trường,
cung - cầu tín dụng biến động không ngừng, biện pháp này chỉ được áp dụng
một cách hạn chế khi tình huống yêu cầu.
Khi sử dụng hạn mức tín dụng khống chế nợ của các Ngân hàng
thương mại, từ đó quyết định đến lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế mỗi
khoản cho vay cấu thành nợ tín dụng của các Ngân hàng thương mại thì
tương ứng với một lượng nguồn vốn tiền gửi huy động, từ đó ảnh hưởng
đến tỷ trọng vốn tín dụng so với lượng tiền cung ứng. Khi Ngân hàng Trung
ương tăng hạn mức tín dụng dẫn đến tăng khả năng tạo tiền qua hệ thống Ngân
hàng, do đó làm tăng lượng tiền cung ứng ngược lại. Hạn mức tín dụng tác
động vào hệ số mở rộng tiền tệ nên tác động vào lượng tiền cung ứng.
1.2. Lãi suất tiền gửi cho vay.
Ngân hàng Trung ương thể quy định khung lãi suất tiền gửi cho vay
buộc các Ngân hàng kinh doanh phải thi hành.
Nếu lãi suất tiền gửi cao sẽ thu hót được nhiều tiền gửi làm gia tăng nguồn
vốn cho vay. Ngược lại sẽ làm giảm khả năng mở rộng kinh doanh tín dụng.
Song biện pháp này sẽ làm cho Ngân hàng thương mại mất tính chủ động linh
hoạt trong kinh doanh.
7
Khi muốn tăng khối lượng cho vay, Ngân hàng Trung ương giảm mức lãi
suất cho vay để kích thích các nhà đầu vay vốn khi cần hạn chế đầu tư, Ngân
hàng Trung ương Ên định mức lãi suất cao.
2. Các công cụ gián tiếp.
Công cụ gián tiếp những công cụ tác dụng của được nhờ chế
thị trường (Hay công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ công cụ tác động vào
mục tiêu trung gian thông qua việc điều chỉnh các mục tiêu cuối cùng.
2.1. Dự trữ bắt buộc.
Dự trữ bắt buộc số tiền tổ chức tín dụng giử tại Ngân hàng Trung
ương để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. được xác định bằng một tỷ lệ
phần trăm nhất định trên tổng số tiền gửi tuy theo tính chất thời hạn
các tổ chức tín dụng huy động được.
Dự tữ bắt buộc bị tác động trực tiếp bởi tỷ lệ dự tứ bắt buộc do Ngân hàng
Trung ương quy định bằng việc tăng tỷ lệ dự tr bắt buộc sẽ tác dụng làm
giảm khả năng cho vay đầu của Ngân hàng thương mại, từ đó giảm lượng
tiền trong lưu thông, góp phần giảm cầu tiền để cân bằng với sự giảm cung
hội. Như vậy tỷ lệ dự trữ bắt buộc càng cao mức độ an toàn trong hoát động của
các Ngân hàng thương mại càng cao, tuy nhiên nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc quá cao
đến mức nào đó sẽ làm cho các Ngân hàng thương mại mất khả năng tạo tiền -
mét khả năng cần của Ngân hàng. Trong trường hợp giảm tỷ lệ dự trữ bắt
buộc, khả năng mở rộng cho vay của Ngân hàng thương mại sẽ tăng lên, đẫn đến
sự gia tăng lượng tiền trong lưu thông, góp phần tăng cung hội để thể cân
đối tăng cầu về tiền.
2.2. Lãi suất tài chiết khấu.
Chính sách tài chiết khấu thể hiện qua việc Ngân hàng Trung ương cung
ứng vốn tín dụng cho Ngân hàng thương mại. Chính sách tài chiết khấu được
thực hiện thông qua các cửa sổ chiết khấu. Ngân hàng Trung ương áp dụng lãi
8
suất chiêt khấu qui định các điều kiện để tài chiết khấu cho các tổ chức tín
dụng.
Ngân hàng Trung ương áp dụng chính sách tài chiết khấu: lãi suất
Ngân hàng Trung ương áp dụng để chiết khấu lại các giấy tờ giá của Ngân
hàng thương mại. Đây loại cho vay đảm bảo.
Lãi suất tài chiết khấu tác động vào giá tín dụng nên khi lãi suất tài chiết
khấu tăng sẽ tác động vào mặt bằng giá vốn đầu của Ngân hàng thương mại,
gây áp lực lãi suất nền kinh tế sẽ tăng theo, thu hẹp khả năng cho vay của
Ngân hàng thương mại dẫn đến hệ số tạo tiền giảm ngược lại. Việc tăng lãi
suất tài chiết khấu cũng gây hiệu ứng thông báo, nhà kinh doanh sẽ biết tác động
của Ngân hàng Trung ương thông qua chính sách chiết khấu tối thị trường.
Người đầu giám sát sự thông báo lãi suất của Ngân hàng Trung ương để dự
tính được xu hướng thay đổi lãi suất để tìm biện pháp phòng ngõa, ngăn chặn
làm thay đổi tiền gửi lãi xuất cho vay đồng thời tác động giá chứng khoán.
Đi kèm với lãi suất tài chiết khấu Ngân hàng Trung ương còn qui định hạn
mức tài chiết khấu tức qui định cho vay tối đa trên sở lãi suất đã qui định
để gây ảnh hưởng về lượng vốn các tổ chức tín dụng vay của Ngân hàng
Trung ương. Đồng thời Ngân hàng Trung ương còn qui định các tiêu chuẩn thể
hiện tài chiết khấu về thời hạn về thể loại giấy tờ giá, chất lượng giấy tờnh
giá, uy tín của tổ chức tín dụng khi vay vốn của Ngân hàng Trung ương.
2.3. Nghiệp vụ thị trường mở.
Thị trường mở thị trường tiền tệ đố người ta thực hiện việc mua
bán các công cụ tài chính ngắn hạn.
Nghiệp vụ thị trường mở sẽ tác động vào các mục tiêu của chính sách tiền
tệ cả về mặt giá lượng.
Về mặt lượng: ảnh hưởng của nghiệp vụ thị trường mở vào dự trữ của
Ngân hàng thương mại. Khi Ngân hàng Trung ương thực hiện việc mua chứng
từ giá trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của Ngân hàng thương mại tăng
9
lên khi Ngân hàng Trung ương bán các chứng từ giá trên thị trường mở
dẫn đến dự trữ của Ngân hàng thương mại giảm đi. Như vậy khi Ngân hàng
Trung ương thực hiện nghiệp vụ thị trường mở sẽ tác động vào dự trữ của
Ngân hàng thương mại làm ảnh hưởng đến khối lượng tiền cung ứng.
Về mặt giá: Khi Ngân hàng Trung ương mua các giấy tờ giá sẽ làm tăng
dự trữ của Ngân hàng thương mại , cung vốn tín dụng cũng tăng lên. Điều đó sẽ
ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn làm lãi suất ngắn hạncó xu hướng giảm xuống
tác động vào lãi suất kỳ hạn giảm xuống. Bên cạnh đó Ngân hàng Trung
ương thực hiện mua chứng từ giá trị trên thị trường mở sẽ ảnh hưởng đến tỷ
suất sinh lời của các chứng từ giá, đẫn đến sự chuyển dịch vốn đầu làm
ảnh hưởng đến lãi suất thị trường, tác động vào cung cầu vốn trên nền kinh tế,
ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.
Khi Ngân hàng Trung ương thực hiện mua, bán các chứng từ giá trên thị
trường mở sẽ tác động vào giá cả của chứng từ giá khi Ngân hàng Trung
ương thực hiện can thiệp vào giá cả của các chứng từ khối lượng chiếm tỷ
trọng lớn thì vai trò can thiệp của Ngân hàng Trung ương càng ý nghĩa quan
trọng tác động vào lượng tiền cung ứng.
10
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VIỆT NAM.
I. BỐI CẢNH CHUNG.
Đảng Cộng Sản Việt nam lần thứ 6 đã đánh dấu sự chuyển đổi từ chế kế
hoạch hoá tập trung sang chế thị trường sự điều tiết của Nhà nước. Bước
ngoặt này tiền đề khách quan, điều kiện mới cho cải cách tổ chức hoạt động
hệ thống Ngân hàng định hướng chính sách tiền tệ Việt nam.
Từ năm 1990, sau khi 2 pháp lệnh Ngân hàng được ban hành (pháp lệch về
Ngân hàng Nhà nước pháp lệch Ngân hàng - Hợp tác tín dông - Công ty
tài chính), hệ thống Ngân hàng Việt nam chuyển đổi từ một cấp sang 2 cấp,
phân định chức năng quản Nhà nước chức năng kinh doanh tiền tệ của
các tổ chức tín dụng, bước đầu thích ứng dần với hệ thống Ngân hàng của nền
kinh tế tiền tệ.
Chính sách tiền tệ được xác định thông qua xây dựng các chính sách cụ thể:
chính sách tín dụng tạo ra nhiều công cụ huy động vốn đồng thời mở rộng
cho vay đến mọi thành phần kinh tế; chính sách lãi suất (xoá bỏ bao cấp qua lãi
suất cho vay, thực hiện chính sách lãi suất thực dương, điều chỉnh lãi suất huy
động cho vay phù hợp với sự biến động của chỉ số lạm phát...); chính sách
quản ngoại hối một số các công cụ hỡ trợ khác.
Đến tháng 10 năm 1998, luật Ngân hàng Nhà nước luật các tổ chức tín
dụng bắt đầu được thực thi, thay thế hai pháp lệnh năm 1990 nhằm giúp hoạt
động của hệ thống Ngân hàng tự do hơn, thông thoáng hơn phù hợp với thay đổi
lớn lao trong hệ thống Ngân hàng.
II. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN.
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương tổng hoà các giải pháp
đảm bảo ổn định đồng tiền thị trường tiền tệ , góp phần giải quyết các mục
tiêu của nền kinh tế. Đứng trên phương diện này, thời kỳ 1986 đến nay
thể chia làm 4 giai đoạn.
11
1. Giai đoạn 1986 - 1988.
Đây giai đoạn đặc trưng của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tổng cầu
luôn vượt tổng cung. Nền kinh tế đang giai đoạn khủng hoảng do thiếu hụt
ngân sách. vậy Nhà nước đã bành trướng tăng tiền làm cho lạm phát đạt kỷNh
lục 3 con số. Nhiệm vụ trung tâm lúc này chống lạm phát. Do vậy đã 2
thay đổi lớn trong lĩnh vực tiền tệ: Đưa tỷ giá hối đoái nên ngang mức giá thị
trường thi hành lãi suất thực dương nhằm tạo nên xung lực mạnh mẽ làm đảo
lộn tình hình trên thực tế, hai biện pháp này đã đẩy lùi được lạm phát khủng
hoảng, khôi phục lòng tin của người dân vào đồng tiền tạo động lực để thực hiện
đổi mới.
2. Giai đoạn 1989 -1991.
Đây giai đoạn nền kinh tế đong trong quá trình chuyển đổi, tuy các chính
sách kinh tế mới đã cắt được lạm phát cao nhưng lạm phát năm 1990 - 1991 vẫn
lên tới 60%. Nhà nước đã thực hiện những biện pháp thắt chặt chi tiêu tài chính,
tiết kiệm chi, giảm bội chi, tăng cường hoạt động của các Ngân hàng nhằm đảm
bảo nguồn vốn cần thiết cho tăng trưởng. Đặc biệt việc cải cách hệ thống thuế đã
tăng cường các nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
3. Giai doạn 1992 - 1995.
Chính sách tiền tệ Việt nam được coi công cụ quản của Nhà
nước về tiền tệ do Ngân hàng trung ương chịu trách nhiệm soạn thảo thực thi
nhằm ổn định giá trị đồng tiền, ổn định tăng trưởng kinh tế. Thời kỳ này mục
tiêu của chính sách tiền tệ đặt ra là: ổn định tiền tệ bao gồm ổn định sức mua đối
nội đối ngoại của đông tiền, tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm cao. Nhận
thức nội dung chủ yếu của thời kỳ này thông qua các chính sách: Chính sách
cung ứng điều tiết khối lượng tiền, chính sách ngoại hối, chính sách tạm ứng
cho ngân sách, chính sách cung ứng điều tiết tiền lúc này đã nhận thức được
khối tiền tệ:
12
M
1
: Tiền mặt lưu thông ngoài hệ thông Ngân hàng tiền gửi không kỳ
hạn tại Ngân Hàng.
M
2
: Gồn M tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi kỳ hạn.
1
M
3
: Gồn M các loại tiền gửi các định chế tổ chức khác.
2
L: Gồm M các giấy tờ giá
3
Khối lượng tiền cung ứng tăng thêm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, do đó
trong quá trình xác định chi tiêu này Ngân hàng Nhà nước quán triệt các nguyên
tắc:
- Căn cứ vào tình hình tăng trưởng kinh tế. Khối lượng tiền tệ tương ứng
với mức tăng trưởng kinh tế.
- Khối lượng tiền cung ứng tính đến phạm vi tỷ lệ lạm phát.
- Khối lượng tiền cung ứng dùa vào ngoại hối trong tay người trú.
- Tiền cung ứng chịu ảnh hưởng bởi tốc đọ lưu thông tiền tệ theo công
thức:
Khối lượng tiền cung ứng tăng thêm hàng năm bao gồm tiền mặt, các loại
tiền gửi Ngân hàng nhằm dành cho nhu cầu đầu tín dụng cho nền kinh tế,
tăng dự trữ ngoại hối tạm ứng cho ngân sách. Khối lượng tiền cung ứng tăng
thêm chỉ một chỉ tiêu định hướng, điều quan trọng Ngân hàng Nhà nước
phải theo dõi diễn biến của hoạt động kinh tế, giá cả tỷ giá hối đoái để điều
chỉnh kịp thời việc cung ứng tiền sao cho sao cho khối lượng tiền tăng hay giảm
không làm ảnh hưởng đến giá cả hoặc thiếu phương tiện lưu thông gây cản trở
cho lưu thông hàng hoá. Việc điều chỉnh khối lượng tiền cung ứng theo tín hiệu
cuả thị trường, thông qua nhu cầu đối ứng xuất phát từ các kênh tạo tiền (Tín
dụng, Ngân hàng, thị trường ngoại hối, thị trường mở).
P Qx
V=
M
GNP
V=
M
13
Chính sách tín dụng cho nền kinh tế: Kiểm soát lượng tiền cung ứng thông
qua chỉ tiêu hạn mức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng cho các Ngân
hàng thương mại thông qua hoạt động tài cấp vốn.
Chính sách ngoại hối: Ngân hàng Nhà nước thực hiện biện pháp quản
ngoại hối bao gồm việc sử dụng tỷ giá nhằm điều tiết thị trường ngoại hôí, quản
dự trữ ngoại hối quốc gia, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Ngân hàng
Nhà nước sử dụng chính sách tỷ giá linh hoạt, sự quản lý, phản ánh sức mua
của đồng tiền, ổn định giá cả.
Các công cụ của chính sách thời kỳ này bao gồm:
+ Lãi suất: Lãi suất tài cấp vốn cho các Ngân hàng thương mại vay khi họ
nhu cầu tiền Trung ương để thanh toán cho khách hàng rút tiền mặt, thanh
toán cho Ngân hàng khác, mua ngoại tệ của Ngân hàng Trung ương hoặc của thị
trường.
Khung lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định để chỉ đạo điều tiết lãi
suất, huy động tiền gửi lãi suất cho vay của các Ngân hàng kinh doanh. Ngân
hàng Nhà nước quy định lãi suất tiền gửi tối thiểu, lãi suất cho vay tối đa hoặc
chỉ khống chế trần lãi suất cho vay. Tất cả các loại lãi suất trên đều ảnh
hưởng đến lãi suất thị trường.
+ trữ bắt buộc: để kiểm soát việc tạo tiền của các Ngân hàng thương
mại điều tiết khối lượng tind dông cho nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt
nam áp dụng công cụ dự trữ bắt buộc.
Tiền DTBB = Tỷ lệ DTBB x Số tiền gửi huy động
Theo pháp lệnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10 - 30% nhưng Ngân hàng Nhà
nước thường xuyên áp dụng mức 10% cho tất cả tiền gửi huy động. Sau đó
thể quy định riêng cho tiền gửi không kỳ hạn tiền gửi kỳ hạn. Thời kỳ này
còn áp dụng cấu dự trữ bắt buộc bao gồm: Tiền gửi trên tài khoản tại Ngân
hàng Nhà nước tiền mặt ngân phiếu tại quỹ của Ngân hàng thương mại, cũng
14
khi cho phép cả khoản mua tín phiếu kho bạc cũng được coi dự trữ bắt
buộc để giảm bớt gánh nặng dự trữ bắt buộc cho các Ngân hàng.
+ Hạn mức tín dụng: công cụ để Ngân hàng Nhà nước khống chế mức
tăng lượng tiền cung ứng. Trong thời kỳ này công cu hạn mức tín dụng được
hiểu mức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước sử dụng để cấp cho nền kinh tế
thông qua hệ thông hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng kết hợp với sử dụng
nghiệp vụ tái cấp vốn lãi suất chiết khấu để khống chế mức tăng khối lượng
tiền cung ứng phù hợp với yêu cầu của kiểm soát lạm phát.
Tóm lại, trong giai đoạn này, nền kinh tế đã đi dần vào trạng thái ổn định
tăng trưởng cao: tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1994 đạt 8,8%, năm 1995 đạt
9,5%. Nhân tố quyết định trạng thái ổn định này do Nhà nước qua kinh
nghiệm điều hành đã nhận thức được tác dụng của cung ứng tiền tệ lên lạm
phát nên đã thực hiện đổi mới mạnh mẽ hoạt động ngân hàng thực hiện thành
công chính sách tiền tệ.
Giai đoạn này đã tạo ra nhiều yếu tố quyết định cho chiều hướng thuận lợi
cho chính sách tiền tệ.và sự phát triển trong tiền tệ giai đoạn sau.
4. Giai đoạn từ 1996 đến nay.
Tháng 12/1997 bộ luật Ngân hàng boa gồm luật Ngân hàng Nhà nước
luật tổ chức tín dụng thì hệ thống Ngân hàng được tiếp tục đổi mới bước voà
thời kỳ đổi mới căn bản toàn diện trên tất cả các mặt. Theo đó chính sách tiền
tệ mới bắt đầu xây dựng từng bước được đi vào thực hiện, di dân từ thấp đến
cao phú hợp với tình hình thực tế. Theo luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam thì
các công cụ chính sách tiền tệ boa gồm:
- trữ bắt buộc.
- Lãi suất.
- Tài cấp vốn.
- Thị trường mở
15
- Tỷ giá
Hiện nay thực tế vận hành chính sách tiền tệ Quốc gia Ngân hàng Nhà
nước Việt nam sử dụng các công cụ:
+ Công cụ hạn mức tín dụng: Công cụ này được Ngân hàng Nhà nước áp
dụng trong điều hành chính sách tiền tệ từ năm 1994 đã tác dụng hiệu quả
đến tốc độ tăng lượng tiền cung ứng qua đó kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên
trong những năm gần đây việc áp dụng công cụ này đã mất dần vai trò của nó.
Hơn nữa việc mở rộng tín dụng trong giai đoạn này cần thiết để thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế nhưng nếu tiếp tục thực hiện hạn mức tín dụng sẽ tạo thêm những
khó khăn cho các Ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng do vậy từ quý II năm
1998 Ngân hàng Nhà nước đã không sử dụng công cụ thường xuyên trong điều
hành chính sách tiền tệ.
+ Áp dông quy chế dự trữ bắt buộc đối với các Ngân hàng các tổ chức
tín dụng khác huy động tiền gửi để điều tiết khối lượng tiền cung ứng theo
năm kế hoạch.
+ Công cụ tài cấp vốn: Ngân hàng Nhà nước thực hiện tài cấp vốn ngắn
hạn nhằm đắp khó khăn tạm thời về thanh toán cho các Ngân hàng thương
mại theo các hình thức:
\ Cho vay theo hồ tín dụng.
\ Chiết khấu, tài chiết khấuthương phiếu các chứng từ giá ngằn
hạnkhác.
\ Cho vay đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu các chứng từ giá
ngắn hạn khác.
+ Công cụ lãi suất: Chính sách lãi suất được Ngân hàng Nhà nước sử dụng
trong mối quan hệ điều hoà với tỷ giá. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện
việc kiểm soát lãi suất trên thị trường tiền tệ bằng chính sách quy định trần lãi
suất cho vay đối với VNĐ ngoại tệ, trên sở đó các tổ chức tín dụng Ên
16
định các mức lãi suất huy động phù hợp với cung - cầu tín dụng. Hiện nay đang
tiến hành tới quy định lãi suất bản.
+ Công cụ tỷ giá: Tỷ giá hối đoái quan hệ so sánh giữa 2 đồng tiền hay
giá cả một đơn vị tiền nước này bằng bao nhiêu đơn vị tiền nước khác.
Ngân hàng Nhà nước thực hiện biện pháp điều hành tỷ giá linh hoạt, phù
hợp với diễn biến trên thị trường ngoại hối trong khu vực.
+ Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: Hiện nay Việt nam đang chuẩn bị các
điều kiện cần thiết để đưa công cụ nào về vận hành. Vừa qua mới ban hành quy
chế đang thí điểm, thể hiện Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua bán tín phiếu
ngăng hạn, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước để tác động vào lượng tiền cung ứng,
việc thực hiện ban đầy gặp lhó khăn, song do hàng hoá thị trường chưa
nhiều, vậy công cụ này chưa phát huy được hiệu quả.
Từ năm 1996, hàng năm Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ
bằng cách xác định mục tiêu của chính sách tiền tệ. Mục tiêu cuảu chính sách
tiền tệ phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ, diễn biến tiền
tệ của năm trước như: Tốc độ tăng trưởng phương tiện thanh toán, tốc độ tăng
tín dụng, tốc độ tăng huy động tiền gửi, tốc độ tăng dự trữ ngoại tệ.
Hướng điều hành chính sách tiền tệ: Ngân hàng Nhà nước phải xác định
được khối lượng tiền tăng thêm hàng năm, xác định công cụ chính sách tiền tệ
như lãi suất, dự trữ bắt buộc, tài cấp vốn, tỷ giá, quản ngoại hối.
III. NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VIỆT
NAM.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc điều hành chính sách tiền tệ
Việt nam cũng đang được bộc những hạn chế thiếu sót nhất định. Hiện tượng
thiếu lành mạnh trong hệ thống tài chính tiền tệ nói chung sự thiếu nhất quán
về một số mặt trong chính sách mô, trong đó chính sách tiền tệ cóng bộc
khá sớm, đe doạ sự ổn định của nền kinh tế về trung dài hạn. Bên cạnh đó
vòng xoái tụt dốc “đô mi nô” về tăng trưởng kinh tế cũng ảnh hưởng đến Việt
17
nam Ýt nhất trong vòng 2 đến 3 năm kể từ năm 1997. Tình hình xấu đi càng
bộc những khó khăn tồn tại trong việc hoạch định điều hành chính
sách tiền tệ trong vòng 5 năm trở lại đây. thể nêu một sđiều chủ yếu sau:
- Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ chưa được hoàn chỉnh theo
chế thị trường còn rạng khai. Yêu cầu kiện toàn chính sách lãi suất trong
mối tương quan chế độ tỷ giá hối đoái thích hợp hơn vẫn chưa được xử tốt.
- Kinh doanh của hầu hết các Ngân hàng thương mại bị , thiếu chủ
động tự chủ. Hơn nữa phần lớn các Ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay đều
trong tình trạng thua lỗ, cho vay không hiệu quả, tỷ lệ nợ khó đòi, nợ quá hạn,
nợ không sinh lời khá cao. Nhìn chung rủi ro tín dụng Ngân hàng đáng lo
ngại, bên cạnh đó các loại rủi ro khác về tỷ giá, về thanh toán đối ngoại...
Thị trường liên Ngân hàng nội ngoại tệ được thành lập đi vào hoạt động
từ những năm 1993 - 1994 nhưng chưa phát triển sôi động, chưa trở thành giao
điểm hội tụ định hướng chuyển dịch các dòng vốn nhàn rỗi giữa các Ngân
hàng thương mại. Các giao dịch ngoại tệ chinhd thức bị bó, chi phối chưa
mạnh kịp thời với biến đọng tỷ giá hối đoái thị trường. Thị trường vốn mới
dạng “manh nha” nên khả năng cung ứng vốn đầu trung, dài hạn cho nền kinh
tế còn rất yếu. Việc tạo lập các công cụ thể chế phát triển thị trường tiền tệ
ngắn hạn thị trường vốn dài hạn nói chung mới bắt đầu còn gặp không Ýt
khó khăn: Đó những trở ngại lớn cho Ngân hàng Nhà nước trong việc tiến
hành nghiệp vụ thị trường mở để kiểm soát, điều chỉnh kịp thời tổng lượng tiền
trong lưu thông.
- thâm hụt lớn của cán cân vãng lai do nhập siêu triền miên gánh
nặng của bội chi ngân sách tạo nên những áp lực từ nhiều phía đe doạ tính ổn
định, độc lập tương đối của chính sách tiền tệ bước đầu đã tạo dựng được
giai đoạn chống lạm phát trước đây, thâm hụt cán cân vãng lai chủ yếu phải
đắp bằng nhập khẩu vốn nguyên nhân chính gây ra nạn “dollar hoá” khiến
VNĐ bị đánh giá quá cao kích thích tâm tích luỹ giá trị dưới dạng ngoại tệ,
không gian tiền tệ bị méo mó. Trong khi đó sự nôn nóng uốn nắn một cách cứng
18
nhắc hoạt động tiền tệ tín dụng Ngân hàng sau một vụ đổ vỡ tài chính làm tái
phát xu hướng bao cấp tràn lan qua hạn mức tín dụng, qua lãi suất ưu đãi, qua áp
lực chỉ định cho vay của các cấp chính quyền... Đó những trở ngại không dễ
dỡ bỏ trong quá trình hoàn thiện chính sách tiền tệ hiện nay.
19
CHƯƠNG III. HẠN CHẾ CỦA CHẾ ĐIỀU CHỈNHTRỰC TIẾP
TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VIỆT NAM CÁC
ĐIỀU KIỆN NHẰM CHUYỂN ĐỔI CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ TỪ TRỰC TIẾP SANG GIÁN TIẾP.
I. HẠN CHẾ CỦA CHẾ ĐIỀU CHỈNH TRỰC TIẾP TRONG ĐIỀU HÀNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VIỆT NAM.
Hiện nay Ngân hàng Nhà nước Việt nam đang sử dụng một hệ thống các
công cụ chính sách tiền tệ trực tiếp bao gồm: Hạn mức tín dụng, lãi suất (thông
qua hệ thống trần lãi suất cho vay), tỉ giá. Bên cạnh đó các công cụ gián tiếp
nh trữ bắt buộc chính sách tài cấp vốn (bao gồm hạn mức tài cấp vốn
lãi suất tài cấp vốn) cũng được sử dụng nhưng hiệu quả tác động còn hạn chế.
Để bổ trcho các công cụ trên, Ngân hàng Nhà nước Việt nam còn sử dụng một
loạt các chính sách điều chỉnh trực tiếp chính sách tín dụng, chính sách quảnnh
ngoại hối.
Việc sử dụng hệ thống công cụ điều tiết trực tiếp trong thời 10 năm qua
mặc những hạn chế của được biết trước hoàn toàn phù hợp với điều
kiện cụ thể của Việt nam khi những điều kiện sử dụng công cụ gián tiếp chưa
được hình thành.
Thứ nhất: Ngân hàng Nhà nước Việt nam không khả nảng kiểm soát
chính xác sự biến động số dự trữ của hệ thông Ngân hàng, một trong những
căn cứ quan trọng để thể sử dụng chế điều chỉnh gián tiếp. Khả năng cập
nhật thông tin những phương tiện kỹ thuật phụ trợ hiện tại làm hạn chế khả
năng của Ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soát dự boá chính xác sự biến
độngmức dự trữ của hệ thống Ngân hàng.
Thứ hai: Mối quan hệ giữa lượng tiền cung ứng rất khó dự đoán do sự
biến động bất thường của cả sở tiền tệ các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số
tạo tiền.
20
Thứ ba: Hệ thống thị trường tài chính khả năng chứng khoán hoá các
nhu cầu vốn chưa phát triển chưa trở thành thãi quen của cộng đồng. đương
nhiên khi các điều kiện của chế gián tiếp chưa hình thành thì việc sử dụng
chế trực tiếp tất yếu.
Trong thực tế, chế điều chỉnh trực tiếp đã đem lại sự thành công đáng kể
cho chính sách tiền tệ trong thập kỷ 90 khi nhìn vào sự biến động của các mục
tiêu mô, lạm phát, sản lượng công ăn việc làm. chính sách tiền tệ đã đạt
được hiệu quả tối đa của nó.
Nếu quan niệm rằng mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ ổn định giá
trị tiền tệ với ý nghĩa ổn định tỷ lệ lạm phát mức thấp thì trong thời gian vưa
qua mục tiêu này chưa được thực hiện một cách hoàn hảo tỷ lệ lạm phát biến
động tương đối mạnh khó dự đoán từ năm này qua năm khác. Những biến
động về hiệu quả phân phối lại các lạm phát do ảnh hưởng đến giá trị thực
của các chỉ tiêu giá trị không chỉ nảy sinh từ mức lạm phát cao chủ yếu từ sự
bất ổn định của tỷ lệ lạm phát. điều quan trọng bắt đầu từ năm 1996, mặc
tổng phương tiện thanh toán tăng liên tục nhưng giấ cả xu hướng giảm các
tháng đầu năm 1996, 1997, 1998 sự giảm giá này diễn ra hầu hết các tháng
trong năm 1999. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng giảm mạnh từ năm 1998. Điều
này chứng tỏ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước tỏ ra lúng túng
thiếu chủ động trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng để đảm bảo cho phù hợp
vỡi nhu cầu về tiền tệ của nền kinh tế.
do chủ yếu dẫn đến tình trạng trên lẽ xuất phát từ hạn chế vốn của
chế điều chỉnh trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ ngày càng bộc
nét:
Một là: Các công cu trực tiếp không cho phép Ngân hàng Nhà nước thể
điều chỉnh linh hoạt lượng vốn khả dụng trong điều kiện thừa.
Tình trạng dự trữ không mong muốn các Ngân hàng thương mại bắt đầu
từ năm 1994 kéo dài đến nau. do ban đầu lẽ bởi việc duy trì lãi suất

Preview text:

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN ---a&b---
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG
ƯƠNG VÀ CÁC CÔNG CỤ ĐIỀU TIẾT CUNG TIỀN. LIÊN HỆ
THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM.
Sinh viên thực hiện: LÊ THẾ PHONG Lớp hành chính: QUẢN LÝ CÔNG K40 Mã sinh viện: 2054030042
Giảng viên hướng dẫn: MRS.ĐINH THU HÀ Môn học: KINH TẾ VĨ MÔ Hà Nội, 2022 2 lời nói đầu
Khi có pháp lệnh Ngân hàng, hệ thống Ngân hàng Việt nam được hình
thành và thực hiện theo hai cấp đã cho phép Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò
Ngân hàng Trung ương và từ đây ra đời một hệ thống chính sách tiền tệ được
đúc rút từ kinh nghiệm của nhiều nước trên Thế giới. Ngân hàng Nhà nước với
chức năng quản lý Nhà nước đối với Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đã
từng bước tiếp cận với cơ chế mới trong việc xây dựng và điều hành chính sách
tiền tệ Quốc gia thông qua các công cụ trực tiếp hoặc gián tiếp như hạn mức tín
dụng, nghiệp vụ tiêu thụ mở hoặc cạnh tranh dự trữ bắt buộc.
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương thời gian qua đã góp phần
nhất định vào sự phát triển kinh tế, ổn định tiền tệ đất nước. Tuy nhiên trong
việc vận hành các công cụ của chính sách tiền tệ chúng ta còn gặp nhiều trở
ngại. Trước hết là sự am hiểu về một phương pháp điều hành mới còn nhiều hạn
chế trong khi nền kinh tế chuyển đổi còn thiếu những điều kiện để điều hành
chính sách tiền tệ theo nghĩa gốc của mỗi công cụ. Vì vậy đối với Ngân hàng
Trung ương việc lùa chọn giải pháp nào để xây dựng và điều hành chính sách
tiền tệ Quốc gia có hiệu quả nhất vẫn còn là Èn số và chắc chắn có những bắt
cập là điều khó tránh khỏi.
Chính vì thế, chuyên đề này tập trung phân tích nội dung các công cụ, thực
hiện điều hành chính sách tiền tệ ở Việt nam, kinh nghiệm trên Thế giới và một
số điều kiện để chuyển đổi công cụ chính sách tiền tệ từ trực tiếp sang gián tiếp,
góp phần nâng cao tính hiệu quả và sự linh hoạt của chính sách tiền tệ. 3
CHƯƠNG I: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CÁC CÔNG CỤ
ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.
I. NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VỚI VAI TRÒ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.
Ở tất cả các nước Ngân hàng Trung ương được sử dông nh mét công cụ
quan trọng để điều chỉnh kinh tế của Nhà nước. Ngân hàng Trung ương tuy
không tham gia vào thị trường tài chính nhưng nó quản lý mọi hoạt động về tiền
tệ tín dụng của quốc gia. Điều hành chính sách tiền tệ là một trong những nghiệp
vụ chủ yếu của Ngân hàng Trung ương.
Chính sách tiền tệ là tổng hoà các phương thức mà Ngân hàng Trung ương
thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu
thông nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước
trong một thơì kỳ nhất định. Các chính sách tiền tệ của các Quốc gia trên thế
giới hiện nay đều hướng vào các mục tiêu chủ yếu là:
- Tạo ra và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế: Đây là mục tiêu hàng đầu và
quan trọng nhất của chính sách tiền tệ. Vì rằng mục tiêu này là mục tiêu bao
trùm để giải quyết hàng loạt các mục tiêu khác.
- Ổn định giá cả: Vì ổn định giá cả có ý nghĩa quan trọng trong kinh tế vi mô còng
nh vĩ mô. Ổn định giá cả giúp cho Nhà nước hoạch định được phương
hướng phát triển kinh tế một cách có hiệu quả hơn vì loại trừ được sự biến động
của giá cả. Ổn định giá cả giúp cho môi trường đầu tư ổn định góp phần thu hót
vốn đầu tư, khai thác mọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy các doanh nghiệp còng
nh các cá nhân phát triển sản xuất đem lại nguồn lợi cho mình còng nh xã hội.
- Tạo công ăn việc làm: Cùng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chính sách
tiền tệ cũng hướng vào mục tiêu tạo công ăn việc làm cho mọi thành viên trong
xã hội, nhất là đối với một quốc gia chưa phát triển, năng suất lao động thấp,
dân số tăng với tốc độ cao thì tỷ lệ thất nghiệp cao là tất yếu. Vì vậy chính sách 4
tiền tệ phải tập trung vào tạo ra công ăn việc làm nhiều hơn nhằm giảm thất
nghiệp. Bằng các biện pháp tác động để tăng cường vốn đầu tư, mở rộng các
hoạt động cho nền kinh tế.
- Cân bằng cán cân thanh toán.
Tuy nhiên trong hoàn cảnh và điều kiện kinh tế ở từng nước, trình độ quản
lý và các vấn đề kinh tế xã hội của nước mà chính sách tiền tệ hướng ưu tiên vào
các mục tiêu khác nhau. Mặt khác cùng một lúc chính sách tiền tệ không thể đạt
được tất cả các mục tiêu vì có khi các mục tiêu mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn:
Về mặt dài hạn không có mâu thuẫn giữa các mục tiêu của chính sách tiền tệ
nhưng trong ngắn hạn có những mục tiêu phù hợp nhưng cũng có mục tiêu mâu
thuẫn, thậm chí đối nghịch.
Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, giảm lạm
phát để đảm bảo giá trị đồng tiền, điều đó dẫn đến lãi suất tăng lên, không
khuyến khích đầu tư và thất nghiệp có xu hướng tăng trong khi muốn duy trì
một tỷ lệ thất nghiệp thấp thì phải khuyến khích đầu tư, dẫn đến thực thi chính
sách tiền tệ mở rộng làm tăng giá.
Sự mâu thuẫn giữa mục tiêu công ăn việc làm và mục tiêu ổn định giá còn
được thể hiện do mức cung tiền tệ nhằm thoả mãn mức cầu tiền thực tế dẫn đến
giá cả hàng hoá tăng theo...
Để đạt được mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ Ngân hàng Trung
ương phải xác định mục tiêu trung gian để có thể xét đoán nhanh chóng được
tình hình thực hiện các hoạt động của mình phục vụ cho các mục tiêu cuối cùng,
hơn là chờ cho đến khi nhìn thấy được kết quả cuối cùng của các mục tiêu đó.
Mục tiêu trung gian là điều tiết cung tiền thông qua chi phối dòng tiền chu
chuyển và khối lượng tiền.
Xét cho cùng Ngân hàng Trung ương có thể thực thi hai loại chính sách
tiền tệ phù hợp với tình hình thực tiễn của nền kinh tế: 5
- Chính sách tiền tệ mở rộng: Là chính sách tăng tiền cung ứng vào lưu
thông, dẫn đến trong lưu thông thừa tiền. Trong trường hợp khi nền kinh tế có
dấu hiệu của sự suy thoái, Ngân hàng Trung ương sẽ hoạch định theo hướng
chính sách mở rộng tiền tệ nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo
công ăn việc làm cho người lao động.
- Chính sách tiền tệ thắt chặt: Là chính sách thu hẹp lượng tiền cung ứng
dẫn đến trong lưu thông khan hiếm tiền. Trong trường hợp nền kinh tế có nhứng
dấu hiệu lạm phát gia tăng, thì Ngân hàng Trung ương sẽ hoạch định chính sách
tiền tệ thắt chặt nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự tăng trưởng quá mức của nền kinh tế.
Để thực hiện hai chính sách tiền tệ này Ngân hàng Trung ương có thể sử
dụng nhiều loại ccông cụ tiền tệ trong tầm tay của mình, các công cụ được chia
thành công cụ trực tiếp và công cụ gián tiếp.
II. CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.
Công cụ của chính sách tiền tệ là hệ thống các biện pháp mà Ngân hàng
Trung ương có thể sử dụng để tác động vào các mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Để thực hiện chính sách tiền tệ, Ngân hàng Trung ương đã sử dụng hàng loạt các công cô
nh công công cụ tài cấp vốn, lãi suất tín dụng dự trữ bắt buộc,
nghiệp vụ thị trường mở... Mỗi loại công cụ đều có cơ chế tác động riêng và
đem lại những kết quả trên những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên các công cụ
này đều nhằm ảnh hưởng trực tiếp hany gián tiếp đến lượng tiền cung ứngvà lãi
suất để từ đó đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ.
1. Công cụ trực tiếp:
Công cụ trực tiếp là công cụ có tác động về lượngvà Ngân hàng Trung
ương kiểm soát công cụ bằng biện pháp hành chính. Khi Ngân hàng Trung ương
sử dụng công cụ trực tiếp, nó tác động vào mục tiêu trung gian, từ mục tiêu
trung gian đã tác động đến tổng cầu.
1.1. Hạn mức tín dụng: 6
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các
tổ chức tín dụng phải tôn trọng trong khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Đây là một biện pháp mạnh, có hiệu lực đáng kể. Thực chất biện pháp này
cho phép Ngân hàng Trung ương Ên định trước khối lượng tín dụng phải cung
cấp cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định và sau đó tìm con đường để
đưa nó vào nền kinh tế.
Việc quy định hạn mức tín dụng thường được Ngân hàng Trung ương sử
dụng khi nền kinh tế có nhiều biến động để kiểm soát khối lượng tiền trong lưu
thông đảm bảo cho sự bình ổn của tiền tệ, giá cả. Hạn mức tín dụng sé phát huy
được tác dụng trong điều kiện có lạm phát. Song trong nền kinh tế thị trường,
cung - cầu tín dụng biến động không ngừng, biện pháp này chỉ được áp dụng
một cách hạn chế khi tình huống yêu cầu.
Khi sử dụng hạn mức tín dụng là khống chế dư nợ của các Ngân hàng
thương mại, từ đó quyết định đến lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế vì mỗi
khoản cho vay cấu thành dư nợ tín dụng của các Ngân hàng thương mại thì
tương ứng với nó là một lượng nguồn vốn tiền gửi huy động, từ đó ảnh hưởng
đến tỷ trọng vốn tín dụng so với lượng tiền cung ứng. Khi Ngân hàng Trung
ương tăng hạn mức tín dụng dẫn đến tăng khả năng tạo tiền qua hệ thống Ngân
hàng, do đó làm tăng lượng tiền cung ứng và ngược lại. Hạn mức tín dụng tác
động vào hệ số mở rộng tiền tệ nên tác động vào lượng tiền cung ứng.
1.2. Lãi suất tiền gửi và cho vay.
Ngân hàng Trung ương có thể quy định khung lãi suất tiền gửi và cho vay
buộc các Ngân hàng kinh doanh phải thi hành.
Nếu lãi suất tiền gửi cao sẽ thu hót được nhiều tiền gửi làm gia tăng nguồn
vốn cho vay. Ngược lại sẽ làm giảm khả năng mở rộng kinh doanh tín dụng.
Song biện pháp này sẽ làm cho Ngân hàng thương mại mất tính chủ động linh hoạt trong kinh doanh. 7
Khi muốn tăng khối lượng cho vay, Ngân hàng Trung ương giảm mức lãi
suất cho vay để kích thích các nhà đầu tư vay vốn khi cần hạn chế đầu tư, Ngân
hàng Trung ương Ên định mức lãi suất cao.
2. Các công cụ gián tiếp.
Công cụ gián tiếp là những công cụ mà tác dụng của nó được là nhờ cơ chế
thị trường (Hay công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ là công cụ tác động vào
mục tiêu trung gian thông qua việc điều chỉnh các mục tiêu cuối cùng.
2.1. Dự trữ bắt buộc.
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng giử tại Ngân hàng Trung
ương để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Nó được xác định bằng một tỷ lệ
phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi tuy theo tính chất và thời hạn mà
các tổ chức tín dụng huy động được.
Dự tữ bắt buộc bị tác động trực tiếp bởi tỷ lệ dự tứ bắt buộc do Ngân hàng
Trung ương quy định bằng việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ có tác dụng làm
giảm khả năng cho vay và đầu tư của Ngân hàng thương mại, từ đó giảm lượng
tiền trong lưu thông, góp phần giảm cầu tiền để cân bằng với sự giảm cung xã
hội. Như vậy tỷ lệ dự trữ bắt buộc càng cao mức độ an toàn trong hoát động của
các Ngân hàng thương mại càng cao, tuy nhiên nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc quá cao
đến mức nào đó sẽ làm cho các Ngân hàng thương mại mất khả năng tạo tiền -
mét khả năng cần có của Ngân hàng. Trong trường hợp giảm tỷ lệ dự trữ bắt
buộc, khả năng mở rộng cho vay của Ngân hàng thương mại sẽ tăng lên, đẫn đến
sự gia tăng lượng tiền trong lưu thông, góp phần tăng cung xã hội để có thể cân
đối tăng cầu về tiền.
2.2. Lãi suất tài chiết khấu.
Chính sách tài chiết khấu thể hiện qua việc Ngân hàng Trung ương cung
ứng vốn tín dụng cho Ngân hàng thương mại. Chính sách tài chiết khấu được
thực hiện thông qua các cửa sổ chiết khấu. Ngân hàng Trung ương áp dụng lãi 8
suất chiêt khấu và qui định các điều kiện để tài chiết khấu cho các tổ chức tín dụng.
Ngân hàng Trung ương áp dụng chính sách tài chiết khấu: Là lãi suất mà
Ngân hàng Trung ương áp dụng để chiết khấu lại các giấy tờ có giá của Ngân
hàng thương mại. Đây là loại cho vay có đảm bảo.
Lãi suất tài chiết khấu tác động vào giá tín dụng nên khi lãi suất tài chiết
khấu tăng sẽ tác động vào mặt bằng giá vốn đầu tư của Ngân hàng thương mại,
gây áp lực và lãi suất nền kinh tế sẽ tăng theo, thu hẹp khả năng cho vay của
Ngân hàng thương mại dẫn đến hệ số tạo tiền giảm và ngược lại. Việc tăng lãi
suất tài chiết khấu cũng gây hiệu ứng thông báo, nhà kinh doanh sẽ biết tác động
của Ngân hàng Trung ương thông qua chính sách chiết khấu tối thị trường.
Người đầu tư giám sát sự thông báo lãi suất của Ngân hàng Trung ương để dự
tính được xu hướng thay đổi lãi suất để tìm biện pháp phòng ngõa, ngăn chặn
làm thay đổi tiền gửi và lãi xuất cho vay đồng thời tác động giá chứng khoán.
Đi kèm với lãi suất tài chiết khấu Ngân hàng Trung ương còn qui định hạn
mức tài chiết khấu tức là qui định cho vay tối đa trên cơ sở lãi suất đã qui định
để gây ảnh hưởng về lượng vốn mà các tổ chức tín dụng vay của Ngân hàng
Trung ương. Đồng thời Ngân hàng Trung ương còn qui định các tiêu chuẩn thể
hiện tài chiết khấu nh về thời hạn về thể loại giấy tờ có giá, chất lượng giấy tờ
có giá, và uy tín của tổ chức tín dụng khi vay vốn của Ngân hàng Trung ương.
2.3. Nghiệp vụ thị trường mở.
Thị trường mở là thị trường tiền tệ mà ở đố người ta thực hiện việc mua
bán các công cụ tài chính ngắn hạn.
Nghiệp vụ thị trường mở sẽ tác động vào các mục tiêu của chính sách tiền
tệ cả về mặt giá và lượng.
Về mặt lượng: Là ảnh hưởng của nghiệp vụ thị trường mở vào dự trữ của
Ngân hàng thương mại. Khi Ngân hàng Trung ương thực hiện việc mua chứng
từ có giá trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của Ngân hàng thương mại tăng 9
lên và khi Ngân hàng Trung ương bán các chứng từ có giá trên thị trường mở
dẫn đến dự trữ của Ngân hàng thương mại giảm đi. Như vậy khi Ngân hàng
Trung ương thực hiện nghiệp vụ thị trường mở nã sẽ tác động vào dự trữ của
Ngân hàng thương mại làm ảnh hưởng đến khối lượng tiền cung ứng.
Về mặt giá: Khi Ngân hàng Trung ương mua các giấy tờ có giá sẽ làm tăng
dự trữ của Ngân hàng thương mại , cung vốn tín dụng cũng tăng lên. Điều đó sẽ
ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn làm lãi suất ngắn hạncó xu hướng giảm xuống
và tác động vào lãi suất có kỳ hạn giảm xuống. Bên cạnh đó Ngân hàng Trung
ương thực hiện mua chứng từ có giá trị trên thị trường mở sẽ ảnh hưởng đến tỷ
suất sinh lời của các chứng từ có giá, đẫn đến có sự chuyển dịch vốn đầu tư làm
ảnh hưởng đến lãi suất thị trường, tác động vào cung cầu vốn trên nền kinh tế,
ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.
Khi Ngân hàng Trung ương thực hiện mua, bán các chứng từ có giá trên thị
trường mở sẽ tác động vào giá cả của chứng từ cá giá và khi Ngân hàng Trung
ương thực hiện can thiệp vào giá cả của các chứng từ có khối lượng chiếm tỷ
trọng lớn thì vai trò can thiệp của Ngân hàng Trung ương càng có ý nghĩa quan
trọng tác động vào lượng tiền cung ứng. 10
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM. I. BỐI CẢNH CHUNG.
Đảng Cộng Sản Việt nam lần thứ 6 đã đánh dấu sự chuyển đổi từ cơ chế kế
hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Bước
ngoặt này là tiền đề khách quan, là điều kiện mới cho cải cách tổ chức hoạt động
hệ thống Ngân hàng và định hướng chính sách tiền tệ ở Việt nam.
Từ năm 1990, sau khi 2 pháp lệnh Ngân hàng được ban hành (pháp lệch về
Ngân hàng Nhà nước và pháp lệch Ngân hàng - Hợp tác xã tín dông - Công ty
tài chính), hệ thống Ngân hàng Việt nam chuyển đổi từ một cấp sang 2 cấp,
phân định ró chức năng quản lý Nhà nước và chức năng kinh doanh tiền tệ của
các tổ chức tín dụng, bước đầu thích ứng dần với hệ thống Ngân hàng của nền kinh tế tiền tệ.
Chính sách tiền tệ được xác định thông qua xây dựng các chính sách cụ thể:
chính sách tín dụng tạo ra nhiều công cụ huy động vốn và đồng thời mở rộng
cho vay đến mọi thành phần kinh tế; chính sách lãi suất (xoá bỏ bao cấp qua lãi
suất cho vay, thực hiện chính sách lãi suất thực dương, điều chỉnh lãi suất huy
động và cho vay phù hợp với sự biến động của chỉ số lạm phát...); chính sách
quản lý ngoại hối và một số các công cụ hỡ trợ khác.
Đến tháng 10 năm 1998, luật Ngân hàng Nhà nước và luật các tổ chức tín
dụng bắt đầu được thực thi, thay thế hai pháp lệnh năm 1990 nhằm giúp hoạt
động của hệ thống Ngân hàng tự do hơn, thông thoáng hơn phù hợp với thay đổi
lớn lao trong hệ thống Ngân hàng.
II. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN.
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương là tổng hoà các giải pháp
đảm bảo ổn định đồng tiền và thị trường tiền tệ , góp phần giải quyết các mục
tiêu vĩ mô của nền kinh tế. Đứng trên phương diện này, thời kỳ 1986 đến nay có
thể chia làm 4 giai đoạn. 11
1. Giai đoạn 1986 - 1988.
Đây là giai đoạn đặc trưng của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tổng cầu
luôn vượt tổng cung. Nền kinh tế đang ở giai đoạn khủng hoảng do thiếu hụt
ngân sách. Nh vậy Nhà nước đã bành trướng tăng tiền làm cho lạm phát đạt kỷ
lục 3 con số. Nhiệm vụ trung tâm lúc này là chống lạm phát. Do vậy đã có 2
thay đổi lớn trong lĩnh vực tiền tệ: Đưa tỷ giá hối đoái nên ngang mức giá thị
trường và thi hành lãi suất thực dương nhằm tạo nên xung lực mạnh mẽ làm đảo
lộn tình hình trên thực tế, hai biện pháp này đã đẩy lùi được lạm phát và khủng
hoảng, khôi phục lòng tin của người dân vào đồng tiền tạo động lực để thực hiện đổi mới.
2. Giai đoạn 1989 -1991.
Đây là giai đoạn nền kinh tế đong trong quá trình chuyển đổi, tuy các chính
sách kinh tế mới đã cắt được lạm phát cao nhưng lạm phát năm 1990 - 1991 vẫn
lên tới 60%. Nhà nước đã thực hiện những biện pháp thắt chặt chi tiêu tài chính,
tiết kiệm chi, giảm bội chi, tăng cường hoạt động của các Ngân hàng nhằm đảm
bảo nguồn vốn cần thiết cho tăng trưởng. Đặc biệt việc cải cách hệ thống thuế đã
tăng cường các nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
3. Giai doạn 1992 - 1995.
Chính sách tiền tệ ở Việt nam được coi là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà
nước về tiền tệ do Ngân hàng trung ương chịu trách nhiệm soạn thảo và thực thi
nhằm ổn định giá trị đồng tiền, ổn định tăng trưởng kinh tế. Thời kỳ này mục
tiêu của chính sách tiền tệ đặt ra là: ổn định tiền tệ bao gồm ổn định sức mua đối
nội và đối ngoại của đông tiền, tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm cao. Nhận
thức nội dung chủ yếu của thời kỳ này thông qua các chính sách: Chính sách
cung ứng và điều tiết khối lượng tiền, chính sách ngoại hối, chính sách tạm ứng
cho ngân sách, chính sách cung ứng và điều tiết tiền lúc này đã nhận thức được khối tiền tệ: 12
M1: Tiền mặt lưu thông ngoài hệ thông Ngân hàng và tiền gửi không kỳ hạn tại Ngân Hàng.
M2: Gồn M1 và tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn.
M3: Gồn M2 và các loại tiền gửi các định chế tổ chức khác.
L: Gồm M3 và các giấy tờ có giá
Khối lượng tiền cung ứng tăng thêm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, do đó
trong quá trình xác định chi tiêu này Ngân hàng Nhà nước quán triệt các nguyên tắc:
- Căn cứ vào tình hình tăng trưởng kinh tế. Khối lượng tiền tệ tương ứng
với mức tăng trưởng kinh tế.
- Khối lượng tiền cung ứng có tính đến phạm vi tỷ lệ lạm phát.
- Khối lượng tiền cung ứng dùa vào ngoại hối trong tay người cư trú.
- Tiền cung ứng chịu ảnh hưởng bởi tốc đọ lưu thông tiền tệ theo công thức: P Q x GNP V= V= M M
Khối lượng tiền cung ứng tăng thêm hàng năm bao gồm tiền mặt, các loại
tiền gửi ở Ngân hàng nhằm dành cho nhu cầu đầu tư tín dụng cho nền kinh tế,
tăng dự trữ ngoại hối và tạm ứng cho ngân sách. Khối lượng tiền cung ứng tăng
thêm chỉ là một chỉ tiêu định hướng, điều quan trọng là Ngân hàng Nhà nước
phải theo dõi diễn biến của hoạt động kinh tế, giá cả và tỷ giá hối đoái để điều
chỉnh kịp thời việc cung ứng tiền sao cho sao cho khối lượng tiền tăng hay giảm
không làm ảnh hưởng đến giá cả hoặc thiếu phương tiện lưu thông gây cản trở
cho lưu thông hàng hoá. Việc điều chỉnh khối lượng tiền cung ứng theo tín hiệu
cuả thị trường, thông qua nhu cầu đối ứng xuất phát từ các kênh tạo tiền (Tín
dụng, Ngân hàng, thị trường ngoại hối, thị trường mở). 13
Chính sách tín dụng cho nền kinh tế: Kiểm soát lượng tiền cung ứng thông
qua chỉ tiêu hạn mức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng cho các Ngân
hàng thương mại thông qua hoạt động tài cấp vốn.
Chính sách ngoại hối: Ngân hàng Nhà nước thực hiện biện pháp quản lý
ngoại hối bao gồm việc sử dụng tỷ giá nhằm điều tiết thị trường ngoại hôí, quản
lý dự trữ ngoại hối quốc gia, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Ngân hàng
Nhà nước sử dụng chính sách tỷ giá linh hoạt, có sự quản lý, phản ánh sức mua
của đồng tiền, ổn định giá cả.
Các công cụ của chính sách thời kỳ này bao gồm:
+ Lãi suất: Lãi suất tài cấp vốn cho các Ngân hàng thương mại vay khi họ
có nhu cầu tiền Trung ương để thanh toán cho khách hàng rút tiền mặt, thanh
toán cho Ngân hàng khác, mua ngoại tệ của Ngân hàng Trung ương hoặc của thị trường.
Khung lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định để chỉ đạo điều tiết lãi
suất, huy động tiền gửi và lãi suất cho vay của các Ngân hàng kinh doanh. Ngân
hàng Nhà nước quy định lãi suất tiền gửi tối thiểu, lãi suất cho vay tối đa hoặc
chỉ khống chế trần lãi suất cho vay. Tất cả các loại lãi suất trên đều có ảnh
hưởng đến lãi suất thị trường.
+ Dù trữ bắt buộc: để kiểm soát việc tạo tiền của các Ngân hàng thương
mại và điều tiết khối lượng tind dông cho nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt
nam áp dụng công cụ dự trữ bắt buộc.
Tiền DTBB = Tỷ lệ DTBB x Số dư tiền gửi huy động
Theo pháp lệnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10 - 30% nhưng Ngân hàng Nhà
nước thường xuyên áp dụng ở mức 10% cho tất cả tiền gửi huy động. Sau đó có
thể quy định riêng cho tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn. Thời kỳ này
còn áp dụng cơ cấu dự trữ bắt buộc bao gồm: Tiền gửi trên tài khoản tại Ngân
hàng Nhà nước và tiền mặt ngân phiếu tại quỹ của Ngân hàng thương mại, cũng 14
có khi cho phép cả khoản mua tín phiếu kho bạc cũng được coi là dự trữ bắt
buộc và để giảm bớt gánh nặng dự trữ bắt buộc cho các Ngân hàng.
+ Hạn mức tín dụng: Là công cụ để Ngân hàng Nhà nước khống chế mức
tăng lượng tiền cung ứng. Trong thời kỳ này công cu hạn mức tín dụng được
hiểu là mức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước sử dụng để cấp cho nền kinh tế
thông qua hệ thông hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng kết hợp với sử dụng
nghiệp vụ tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu để khống chế mức tăng khối lượng
tiền cung ứng phù hợp với yêu cầu của kiểm soát lạm phát.
Tóm lại, trong giai đoạn này, nền kinh tế đã đi dần vào trạng thái ổn định
và tăng trưởng cao: tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1994 đạt 8,8%, năm 1995 đạt
9,5%. Nhân tố quyết định trạng thái ổn định này là do Nhà nước qua kinh
nghiệm điều hành đã nhận thức được rõ tác dụng của cung ứng tiền tệ lên lạm
phát nên đã thực hiện đổi mới mạnh mẽ hoạt động ngân hàng và thực hiện thành
công chính sách tiền tệ.
Giai đoạn này đã tạo ra nhiều yếu tố quyết định cho chiều hướng thuận lợi
cho chính sách tiền tệ.và sự phát triển trong tiền tệ ở giai đoạn sau.
4. Giai đoạn từ 1996 đến nay.
Tháng 12/1997 bộ luật Ngân hàng boa gồm luật Ngân hàng Nhà nước và
luật tổ chức tín dụng thì hệ thống Ngân hàng được tiếp tục đổi mới và bước voà
thời kỳ đổi mới căn bản và toàn diện trên tất cả các mặt. Theo đó chính sách tiền
tệ mới bắt đầu xây dựng và từng bước được đi vào thực hiện, di dân từ thấp đến
cao phú hợp với tình hình thực tế. Theo luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam thì
các công cụ chính sách tiền tệ boa gồm: - Dù trữ bắt buộc. - Lãi suất. - Tài cấp vốn. - Thị trường mở 15 - Tỷ giá
Hiện nay thực tế vận hành chính sách tiền tệ Quốc gia Ngân hàng Nhà
nước Việt nam sử dụng các công cụ:
+ Công cụ hạn mức tín dụng: Công cụ này được Ngân hàng Nhà nước áp
dụng trong điều hành chính sách tiền tệ từ năm 1994 đã có tác dụng hiệu quả
đến tốc độ tăng lượng tiền cung ứng và qua đó kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên
trong những năm gần đây việc áp dụng công cụ này đã mất dần vai trò của nó.
Hơn nữa việc mở rộng tín dụng trong giai đoạn này là cần thiết để thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế nhưng nếu tiếp tục thực hiện hạn mức tín dụng sẽ tạo thêm những
khó khăn cho các Ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng do vậy từ quý II năm
1998 Ngân hàng Nhà nước đã không sử dụng công cụ thường xuyên trong điều
hành chính sách tiền tệ.
+ Áp dông quy chế dự trữ bắt buộc đối với các Ngân hàng và các tổ chức
tín dụng khác có huy động tiền gửi để điều tiết khối lượng tiền cung ứng theo năm kế hoạch.
+ Công cụ tài cấp vốn: Ngân hàng Nhà nước thực hiện tài cấp vốn ngắn
hạn nhằm bù đắp khó khăn tạm thời về thanh toán cho các Ngân hàng thương mại theo các hình thức:
\ Cho vay theo hồ sơ tín dụng.
\ Chiết khấu, tài chiết khấuthương phiếu và các chứng từ có giá ngằn hạnkhác.
\ Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các chứng từ có giá ngắn hạn khác.
+ Công cụ lãi suất: Chính sách lãi suất được Ngân hàng Nhà nước sử dụng
trong mối quan hệ điều hoà với tỷ giá. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện
việc kiểm soát lãi suất trên thị trường tiền tệ bằng chính sách quy định trần lãi
suất cho vay đối với VNĐ và ngoại tệ, trên cơ sở đó các tổ chức tín dụng Ên 16
định các mức lãi suất huy động phù hợp với cung - cầu tín dụng. Hiện nay đang
tiến hành tới quy định lãi suất cơ bản.
+ Công cụ tỷ giá: Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa 2 đồng tiền hay
giá cả một đơn vị tiền nước này bằng bao nhiêu đơn vị tiền nước khác.
Ngân hàng Nhà nước thực hiện biện pháp điều hành tỷ giá linh hoạt, phù
hợp với diễn biến trên thị trường ngoại hối trong khu vực.
+ Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: Hiện nay Việt nam đang chuẩn bị các
điều kiện cần thiết để đưa công cụ nào về vận hành. Vừa qua mới ban hành quy
chế và đang thí điểm, thể hiện Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua bán tín phiếu
ngăng hạn, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước để tác động vào lượng tiền cung ứng,
việc thực hiện ban đầy gặp lhó khăn, song do hàng hoá ở thị trường chưa có
nhiều, vì vậy công cụ này chưa phát huy được hiệu quả.
Từ năm 1996, hàng năm Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ
bằng cách xác định mục tiêu của chính sách tiền tệ. Mục tiêu cuảu chính sách
tiền tệ phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ, diễn biến tiền
tệ của năm trước như: Tốc độ tăng trưởng phương tiện thanh toán, tốc độ tăng
tín dụng, tốc độ tăng huy động tiền gửi, tốc độ tăng dự trữ ngoại tệ.
Hướng điều hành chính sách tiền tệ: Ngân hàng Nhà nước phải xác định
được khối lượng tiền tăng thêm hàng năm, xác định công cụ chính sách tiền tệ
như lãi suất, dự trữ bắt buộc, tài cấp vốn, tỷ giá, quản lý ngoại hối.
III. NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc điều hành chính sách tiền tệ ở
Việt nam cũng đang được bộc lé những hạn chế thiếu sót nhất định. Hiện tượng
thiếu lành mạnh trong hệ thống tài chính tiền tệ nói chung và sự thiếu nhất quán
về một số mặt trong chính sách vĩ mô, trong đó có chính sách tiền tệ cóng bộc lé
khá sớm, đe doạ sự ổn định của nền kinh tế về trung và dài hạn. Bên cạnh đó
vòng xoái tụt dốc “đô mi nô” về tăng trưởng kinh tế cũng ảnh hưởng đến Việt 17
nam Ýt nhất là trong vòng 2 đến 3 năm kể từ năm 1997. Tình hình xấu đi càng
bộc lé rõ những khó khăn và tồn tại trong việc hoạch định và điều hành chính
sách tiền tệ trong vòng 5 năm trở lại đây. Có thể nêu một số điều chủ yếu sau:
- Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ chưa được hoàn chỉnh theo cơ
chế thị trường và còn ở rạng sơ khai. Yêu cầu kiện toàn chính sách lãi suất trong
mối tương quan chế độ tỷ giá hối đoái thích hợp hơn vẫn chưa được xử lý tốt.
- Kinh doanh của hầu hết các Ngân hàng thương mại bị gò bã , thiếu chủ
động tự chủ. Hơn nữa phần lớn các Ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay đều
trong tình trạng thua lỗ, cho vay không hiệu quả, tỷ lệ nợ khó đòi, nợ quá hạn,
nợ không sinh lời khá cao. Nhìn chung rủi ro tín dụng Ngân hàng là đáng lo
ngại, bên cạnh đó là các loại rủi ro khác về tỷ giá, về thanh toán đối ngoại...
Thị trường liên Ngân hàng nội ngoại tệ được thành lập và đi vào hoạt động
từ những năm 1993 - 1994 nhưng chưa phát triển sôi động, chưa trở thành giao
điểm hội tụ và định hướng chuyển dịch các dòng vốn nhàn rỗi giữa các Ngân
hàng thương mại. Các giao dịch ngoại tệ chinhd thức bị gò bó, chi phối chưa
mạnh và kịp thời với biến đọng tỷ giá hối đoái thị trường. Thị trường vốn mới ở
dạng “manh nha” nên khả năng cung ứng vốn đầu tư trung, dài hạn cho nền kinh
tế còn rất yếu. Việc tạo lập các công cụ và thể chế phát triển thị trường tiền tệ
ngắn hạn và thị trường vốn dài hạn nói chung mới bắt đầu và còn gặp không Ýt
khó khăn: Đó là những trở ngại lớn cho Ngân hàng Nhà nước trong việc tiến
hành nghiệp vụ thị trường mở để kiểm soát, điều chỉnh kịp thời tổng lượng tiền trong lưu thông.
- Sù thâm hụt lớn của cán cân vãng lai do nhập siêu triền miên và gánh
nặng của bội chi ngân sách tạo nên những áp lực từ nhiều phía đe doạ tính ổn
định, độc lập tương đối của chính sách tiền tệ mà bước đầu đã tạo dựng được ở
giai đoạn chống lạm phát trước đây, thâm hụt cán cân vãng lai chủ yếu phải bù
đắp bằng nhập khẩu vốn là nguyên nhân chính gây ra nạn “dollar hoá” khiến
VNĐ bị đánh giá quá cao kích thích tâm lý tích luỹ giá trị dưới dạng ngoại tệ,
không gian tiền tệ bị méo mó. Trong khi đó sự nôn nóng uốn nắn một cách cứng 18
nhắc hoạt động tiền tệ tín dụng và Ngân hàng sau một vụ đổ vỡ tài chính làm tái
phát xu hướng bao cấp tràn lan qua hạn mức tín dụng, qua lãi suất ưu đãi, qua áp
lực chỉ định cho vay của các cấp chính quyền... Đó là những trở ngại không dễ
dỡ bỏ trong quá trình hoàn thiện chính sách tiền tệ hiện nay. 19
CHƯƠNG III. HẠN CHẾ CỦA CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNHTRỰC TIẾP
TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM VÀ CÁC
ĐIỀU KIỆN NHẰM CHUYỂN ĐỔI CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ TỪ TRỰC TIẾP SANG GIÁN TIẾP.
I. HẠN CHẾ CỦA CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH TRỰC TIẾP TRONG ĐIỀU HÀNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM.
Hiện nay Ngân hàng Nhà nước Việt nam đang sử dụng một hệ thống các
công cụ chính sách tiền tệ trực tiếp bao gồm: Hạn mức tín dụng, lãi suất (thông
qua hệ thống trần lãi suất cho vay), tỉ giá. Bên cạnh đó các công cụ gián tiếp
nh dù trữ bắt buộc và chính sách tài cấp vốn (bao gồm hạn mức tài cấp vốn và
lãi suất tài cấp vốn) cũng được sử dụng nhưng hiệu quả tác động còn hạn chế.
Để bổ trợ cho các công cụ trên, Ngân hàng Nhà nước Việt nam còn sử dụng một
loạt các chính sách điều chỉnh trực tiếp nh chính sách tín dụng, chính sách quản lý ngoại hối.
Việc sử dụng hệ thống công cụ điều tiết trực tiếp trong thời 10 năm qua
mặc dù những hạn chế của nó được biết trước là hoàn toàn phù hợp với điều
kiện cụ thể của Việt nam khi những điều kiện sử dụng công cụ gián tiếp chưa được hình thành.
Thứ nhất: Ngân hàng Nhà nước Việt nam không có khả nảng kiểm soát
chính xác sự biến động số dư dự trữ của hệ thông Ngân hàng, một trong những
căn cứ quan trọng để có thể sử dụng cơ chế điều chỉnh gián tiếp. Khả năng cập
nhật thông tin và những phương tiện kỹ thuật phụ trợ hiện tại làm hạn chế khả
năng của Ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soát và dự boá chính xác sự biến
độngmức dự trữ của hệ thống Ngân hàng.
Thứ hai: Mối quan hệ giữa lượng tiền cung ứng là rất khó dự đoán do sự
biến động bất thường của cả cơ sở tiền tệ và các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số tạo tiền. 20
Thứ ba: Hệ thống thị trường tài chính và khả năng chứng khoán hoá các
nhu cầu vốn chưa phát triển và chưa trở thành thãi quen của cộng đồng. đương
nhiên khi các điều kiện của cơ chế gián tiếp chưa hình thành thì việc sử dụng cơ
chế trực tiếp là tất yếu.
Trong thực tế, cơ chế điều chỉnh trực tiếp đã đem lại sự thành công đáng kể
cho chính sách tiền tệ trong thập kỷ 90 khi nhìn vào sự biến động của các mục
tiêu vĩ mô, lạm phát, sản lượng và công ăn việc làm. chính sách tiền tệ đã đạt
được hiệu quả tối đa của nó.
Nếu quan niệm rằng mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ là ổn định giá
trị tiền tệ với ý nghĩa là ổn định tỷ lệ lạm phát ở mức thấp thì trong thời gian vưa
qua mục tiêu này chưa được thực hiện một cách hoàn hảo tỷ lệ lạm phát biến
động tương đối mạnh và khó dự đoán từ năm này qua năm khác. Những biến
động về hiệu quả và phân phối lại các lạm phát do ảnh hưởng đến giá trị thực
của các chỉ tiêu giá trị không chỉ nảy sinh từ mức lạm phát cao mà chủ yếu từ sự
bất ổn định của tỷ lệ lạm phát. Vì điều quan trọng bắt đầu từ năm 1996, mặc dù
tổng phương tiện thanh toán tăng liên tục nhưng giấ cả có xu hướng giảm ở các
tháng đầu năm 1996, 1997, 1998 và sự giảm giá này diễn ra ở hầu hết các tháng
trong năm 1999. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng giảm mạnh từ năm 1998. Điều
này chứng tỏ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước tỏ ra lúng túng và
thiếu chủ động trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng để đảm bảo cho phù hợp
vỡi nhu cầu về tiền tệ của nền kinh tế.
Lý do chủ yếu dẫn đến tình trạng trên có lẽ xuất phát từ hạn chế vốn có của
cơ chế điều chỉnh trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ mà ngày càng bộc lé rõ nét:
Một là: Các công cu trực tiếp không cho phép Ngân hàng Nhà nước có thể
điều chỉnh linh hoạt lượng vốn khả dụng trong điều kiện ứ thừa.
Tình trạng dự trữ không mong muốn ở các Ngân hàng thương mại bắt đầu
từ năm 1994 và kéo dài đến nau. Lý do ban đầu có lẽ bởi việc duy trì lãi suất