



















Preview text:
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THƢƠNG MẠI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ LẦN
THỨ 4 ĐẾN VIỆT NAM. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT
NAM TRONG CUỘC HỘI NHẬP CUỘC CÁCH MẠNG 4.0
Giảng viên: Hoàng Thị Thúy Nhóm thực hiện: Nhóm 9
Mã lớp học phần: 231_HCMI0131_04 1 DANH SÁCH THÀNH VIÊN STT Họ tên Mã SV Ghi chú Điểm nhóm đánh giá 109 Phạm Thu Trang 21D300157 A 110 Vũ Quỳnh Trang 21D160357 B+ 111 Lê Thị Trà 21D160201 A 112 Lê Ngọc Trâm 21D160253 A 113 Hoàng Ngọc Trƣờng 21D160153 B+ 114 Nguyễn Thanh Tuyến 21D160254 A 115 Lê Thị Tuyết 21D160305 A 116 Ngô Thanh Vân 21D160203 B+ 117 Lê Thảo Vi 21D160255 Nhóm A Trƣởng 118 Mỗ Thị Yến 21D120531 B+ 119 Nguyễn Thị Yến 21D160256 B+ 120 Trịnh Kim Yến 21D160308 B+ 104 Phạm Thị Thoa 21D150152 B+ Phạm Quỳnh Nhi 19E100015 Bổ sung B+ 2 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................................................ 4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT .................................................................................................... 5
1. Sơ lƣợc về cách mạng công nghiệp (CMCN). ............................................................................. 5
1.1. Khái niệm cách mạng công nghiệp ....................................................................................... 5
1.2. Sơ lƣợc về lịch sử các cuộc cách mạng công nghiệp ............................................................ 5
2. Tổng quan về cách mạng công nghiệp 4.0 .................................................................................. 7
2.1. Khái niệm và sự ra đời của cách mạng công nghiệp 4.0 ..................................................... 7
2.2. Đặc điểm và xu hƣớng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4................................... 7
2.3. Các lĩnh vực chịu sự tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 .......................................... 8
2.4. Xu hƣớng phát triển công nghệ 4.0 trên thế giới............................................................... 10
2.5. Đánh giá sự sẵn sàng của Việt Nam cho CMCN 4.0. ........................................................ 10
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ CÁC CƠ HỘI, THÁCH THỨC CỦA CMCN 4.0 ĐẾN VIỆT
NAM. .................................................................................................................................................... 12
1. Thực trạng Việt Nam với CMCN 4.0. ....................................................................................... 12
1.1. Thực trạng Việt Nam trong cuộc hội nhập CMCN 4.0. .................................................... 12
1.2. Định hƣớng của nhà nƣớc về hội nhập CMCN 4.0 ........................................................... 14
2. Tác động của CMCN 4.0 đến Việt Nam .................................................................................... 15
2.1. Tác động tới kinh tế ............................................................................................................. 15
2.2. Tác động tới xã hội ............................................................................................................... 17
2.3. Tác động đến các ngành và lĩnh vực................................................................................... 19
2.4 Tác động đến môi trƣờng. .................................................................................................... 24
2.5. Ảnh hƣởng đến v n hóa ....................................................................................................... 26
2.6. Tác động tới an ninh - chính trị .......................................................................................... 28
3. Thành tựu, cơ hội phát triển của Việt Nam với CMCN 4.0. ................................................... 28
3.1. Thành tựu của Việt Nam trong cuộc CMCN 4.0 ............................................................... 28
3.2. Cơ hội phát triển của Việt Nam trong cuộc CMCN 4.0.................................................... 29
4. Một số thách thức đối với Việt Nam với CMCN 4.0. ............................................................... 34
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ KHAI THÁC CÁC CƠ HỘI VÀ GIẢI PHÁP VƢỢT
QUA THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM TỪ CMCN 4.0. ............................................................... 37
1. Xác định các mục tiêu phát triển của Việt Nam với CMCN 4.0. ........................................ 37
2. Một số kiến nghị để khai thác cơ hội ..................................................................................... 39
3. Giải pháp vƣợt qua thách thức .............................................................................................. 40
KẾT LUẬN .......................................................................................................................................... 44
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 45 3 LỜI MỞ ĐẦU
Nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật và hiện nay đang
trong thời đại cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tƣ - một cuộc cách mạng chƣa
từng có trong lịch sử với sự kết hợp kỳ diệu của công nghệ khiến cho lĩnh vực tƣởng
chừng nhƣ xa rời nhau dần trở nên hòa nhập, đƣa nhân loại lên một tầm cao mới của nền
văn minh. Nếu nhƣ các cuộc cách mạng công nghiệp trƣớc đây diễn ra với tốc độ theo
cấp số cộng thì tốc độ phát triển của cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ này là theo cấp số
nhân. Nhƣ một xu thế tất yếu không thể đảo ngƣợc, sự phát triển thần kỳ nhƣ vũ bão của
khoa học, kỹ thuật, công nghệ và những ứng dụng của nó làm nên cuộc cách mạng trong
công nghiệp đã và đang mang lại một diện mạo hết sức mới mẻ cho các quốc gia.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ hiện nay có thể thấy đã và đang có những
tác động nhất định đến Việt Nam trên cả hai bình diện tích cực và tiêu cực. Do đó, việc
làm rõ những tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ đến Việt Nam hiện nay để
thấy đƣợc, đánh giá đƣợc một cách đúng đắn những cơ hội và thách thức mà cuộc cách
mạng này mang đến, để thấy đƣợc thực trạng chúng ta đang ở đâu và những giải pháp
nào mà chúng ta cần thực hiện nhằm biến những thách thức thành cơ hội là một việc làm
cần thiết. Vì vậy nhóm chúng em đã chọn đề tài: “ Phân tích tác động của cuộc cách
mạng công nghệ lần thứ 4 đến Việt Nam. Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong
cuộc hội nhập cuộc cách mạng 4.0.” 4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Sơ lƣợc về cách mạng công nghiệp (CMCN).
1.1. Khái niệm cách mạng công nghiệp
Cách mạng công nghiệp là những bƣớc phát triển nhảy vọt về chất trình độ của tƣ
liệu lao động trên cơ sở những phát minh đột phá về kỹ thuật và công nghệ trong quá
trình phát triển của nhân loại kéo theo sự thay đổi căn bản về phân công lao động xã hội
cũng nhƣ tạo bƣớc phát triển năng suất lao động cao hơn hẳn nhờ áp dụng một cách phổ
biến những tính năng mới trong kỹ thuật – công nghệ đó vào đời sống xã hội.
1.2. Sơ lƣợc về lịch sử các cuộc cách mạng công nghiệp
a, Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất:
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế
kỷ XIX, mở đầu từ ngành dệt ở Anh, sau đó lan tỏa sang nhiều ngành sản xuất khác và
tới nhiều nƣớc khác, trƣớc hết là Mỹ, các nƣớc châu Âu và Nhật Bản. Đặc trƣng của
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất này là việc sử dụng năng lƣợng nƣớc, hơi
nƣớc và cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng đƣợc chia thành 3 sự kiện chính là:
Ngành dệt may: Vào năm 1784, Giêm Oát sáng chế máy hơi nƣớc, tạo động lực
cho sự phát triển máy dệt, mở đầu quá trình cơ giới hóa ngành công nghiệp dệt.
Ngành luyện kim: Henry Cort vào năm 1784 đã tạo ra cách luyện sắt đời đầu,
Henry Bessemer đã phát minh ra lò cao dùng để luyện gang thành thép.
Ngành giao thông vận tải: Năm 1804, William Murdoch đã chế tạo ra chiếc đầu
máy xe lửa đầu tiên dựa bằng hơi nƣớc. Năm 1807, Robert Fulton đã chế ra tàu
thủy chạy bằng hơi nƣớc và thay thế cho những mái chèo, cánh buồm. Cuộc Cách
mạng công nghiệp đầu tiên đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại –
kỷ nguyên sản xuất cơ khí, cơ giới hóa, giúp thay thế hệ thống kỹ thuật cũ có tính
truyền thống của thời đại nông nghiệp kéo dài 17 thế kỷ. 5
b, Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ hai:
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 2 diễn ra từ khoảng năm 1870 và kết thúc
vào năm 1914, khi chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra. Cuộc Cách mạng diễn ra sôi nổi
nhất tại Anh, Đức, Mỹ và một số quốc gia khác nhƣ Pháp, Ý, Nhật Bản.
Đặc trƣng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần này là việc sử dụng năng lƣợng
điện và sự ra đời của các dây chuyền sản xuất hàng loạt trên quy mô lớn. Cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra khi có sự phát triển của ngành điện, vận tải, hóa
học, sản xuất thép, và đặc biệt là sản xuất và tiêu dùng hàng loạt. Giai đoạn này đƣợc gọi
là giai đoạn của những phát minh, điển hình có thể kể đến nhƣ: điện thoại, đèn điện, máy
đánh chữ vào những năm 1870; thép thay thế trong xây dựng vào những năm 1880;
những năm 1990 là máy quay đĩa, động cơ đốt trong giúp tạo ra xe ô tô và chiếc máy bay
đầu tiên. Cuộc cách mạng lần thứ hai đã mở ra kỷ nguyên sản xuất hàng loạt, đƣợc thúc
đẩy bởi sự ra đời của điện và dây chuyền lắp ráp.
c, Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba:
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 3 hay còn gọi là cuộc cách mạng kỹ thuật số
bắt đầu xuất hiện không lâu sau Thế chiến thứ 2, vào nửa sau thế kỷ XX, với sự ra đời và
lan tỏa của công nghệ thông tin, sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất.
Trọng tâm của cuộc Cách mạng này là sản xuất hàng loạt và sử dụng logic kỹ
thuật số, MOSFET và chip mạch tích hợp, các công nghệ dẫn xuất bao gồm: máy tính cá
nhân (thập niên 1970 và 1980), điện thoại di động kỹ thuật số và Internet (thập niên
1990). Những phát minh từ cuộc Cách mạng này dần len lỏi và trở thành một phần không
thể thiếu trong cuộc sống hiện đại. Cuộc Cách mạng hiện đại đã tác động tới mọi lĩnh
vực đời sống xã hội loài ngƣời, nhất là ở các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa phát triển vì đây
chính là nơi phát sinh của cuộc Cách mạng này. Nảy nở từ cuộc Cách mạng lần ba, cũng
chính là tiền đề cho cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 xuất hiện. 6
2. Tổng quan về cách mạng công nghiệp 4.0
2.1. Khái niệm và sự ra đời của cách mạng công nghiệp 4.0
Trong hơn 75 năm qua, Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 đã đƣợc ứng dụng trên
nhiều lĩnh vực công nghệ quan trọng. Khái niệm Công nghiệp 4.0 hay nhà máy thông
minh lần đầu tiên đƣợc đƣa ra tại Hội chợ công nghiệp Hannover tại Cộng hòa Liên bang
Đức vào năm 2011. Công nghiệp 4.0 nhằm thông minh hóa quá trình sản xuất và quản lý
trong ngành công nghiệp chế tạo. Năm 2013, một từ khóa mới là "Công nghiệp 4.0" bắt
đầu nổi lên xuất phát từ một báo cáo của chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói
tới chiến lƣợc công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con ngƣời.
Bản chất của CMCN lần thứ 4 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả
các công nghệ thông minh để tối ƣu hóa quy trình, phƣơng thức sản xuất; nhấn mạnh
những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là công nghệ in 3D, công nghệ sinh
học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, ngƣời máy,...
2.2. Đặc điểm và xu hƣớng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4
Dưới nhiều tên gọi khác nhau, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang một số đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, về tốc độ: Trái ngƣợc với các cuộc cách mạng công nghiệp trƣớc, cuộc
cách mạng này có gia tốc ngày càng lớn chứ không đều đặn về tốc độ. CMCN 4.0 diễn ra
theo cấp số nhân. Những đột phá công nghệ diễn ra trong nhiều lĩnh vực với tốc độ rất
nhanh và tƣơng tác thúc đẩy nhau đang tạo ra một thế giới đƣợc số hóa, tự động hóa và
ngày càng trở nên hiệu quả và thông minh hơn.
Thứ hai, về bề rộng và chiều sâu: Không chỉ là về các máy móc, hệ thống thông
minh mà còn có phạm vi rộng lớn, làn sóng ứng dụng công nghệ mới trong tất cả các lĩnh
vực trải rộng từ vật lý đến lĩnh vực kỹ thuật số và công nghệ sinh học.
Thứ ba, sự tác động mang tính hệ thống: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ
dẫn đến sự chuyển đổi của toàn bộ các hệ thống giữa các quốc gia, doanh nghiệp, ngành
công nghiệp và toàn xã hội. 7
Thứ tư, tính tự động hóa cao độ là một trong những đặc trƣng cơ bản của cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ.
Thứ năm, hàm lƣợng công nghệ trong mỗi sản phẩm ngày càng cao, kinh tế tri
thức trở thành một lực lƣợng sản xuất trực tiếp. Mỗi sản phẩm ra đời đều là kết quả của
những cải tiến, đổi mới không ngừng về công nghệ, hàm chứa trong đó là tri thức.
Các xu hướng chính của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư:
Theo Klaus Schwab, có thể kể đến các xu hƣớng chính của cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tƣ, đƣợc chia thành 3 nhóm vật chất, kỹ thuật số, sinh học.
Nhóm vật chất: gồm xe tự hành, in 3D, robot tiên tiến và vật liệu mới;
Nhóm kỹ thuật số có biểu hiện chính là internet kết nối vạn vật;
Nhóm sinh học điển hình là công nghệ gen.
2.3. Các lĩnh vực chịu sự tác động của cách mạng công nghiệp 4.0
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ có những tác động to lớn về kinh tế, xã
hội và môi trƣờng ở tất cả các cấp – toàn cầu, khu vực và trong từng quốc gia. Các tác
động này mang tính rất tích cực trong dài hạn, song cũng tạo ra nhiều thách thức điều
chỉnh trong ngắn đến trung hạn.
Về mặt kinh tế, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ có tác động đến tiêu dùng,
sản xuất và giá cả. Từ góc độ tiêu dùng và giá cả, mọi ngƣời dân đều đƣợc hƣởng lợi nhờ
tiếp cận đƣợc với nhiều sản phẩm và dịch vụ mới có chất lƣợng với chi phí thấp hơn.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ cũng tác động tích cực đến lạm phát toàn
cầu. Nhờ những đột phá về công nghệ trong các lĩnh vực năng lƣợng (cả sản xuất cũng
nhƣ sử dụng), vật liệu, Internet vạn vật, ngƣời máy, ứng dụng công nghệ in 3D (hay còn
đƣợc gọi là công nghệ chế tạo đắp dần, có ƣu việt là giúp tiết kiệm nguyên vật liệu và chi
phí lƣu kho hơn nhiều so với công nghệ chế tạo cắt gọt truyền thống v.v… đã giúp giảm
mạnh áp lực chi phí đẩy đến lạm phát toàn cầu nhờ chuyển đổi sang một thế giới hiệu
quả, thông minh và sử dụng nguồn lực tiết kiệm hơn.
Từ góc độ sản xuất, trong dài hạn, cuộc cách mạng công nghiệp lần này sẽ tác
động hết sức tích cực. Kinh tế thế giới đang bƣớc vào giai đoạn tăng trƣởng chủ yếu dựa 8
vào động lực không có trần giới hạn là công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay cho tăng
trƣởng chủ yếu dựa vào các yếu tố đầu vào luôn có trần giới hạn.
Tuy nhiên cuộc cách mạng công nghệ này đang tạo ra những thách thức liên quan
đến những chi phí điều chỉnh trong ngắn đến trung hạn do tác động không đồng đều đến
các ngành khác nhau: có những ngành sẽ tăng trƣởng mạnh mẽ và có những ngành sẽ
phải thu hẹp đáng kể. Trong từng ngành, kể cả các ngành tăng trƣởng, tác động cũng có
sự khác biệt giữa các doanh nghiệp, với sự xuất hiện và tăng trƣởng nhanh của nhiều
doanh nghiệp tạo ra những công nghệ mới và sự thu hẹp, kể cả đào thải của các doanh
nghiệp lạc nhịp về công nghệ.
Chính vì vậy mà Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ đang vẽ lại bản đồ kinh
tế trên thế giới, với sự suy giảm quyền lực của các quốc gia dựa chủ yếu vào khai thác tài
nguyên và sự gia tăng sức mạnh của các quốc gia dựa chủ yếu vào công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tác động đến môi trường là tích cực trong ngắn hạn và hết sức tích cực trong
trung và dài hạn nhờ các công nghệ tiết kiệm năng lƣợng, nguyên vật liệu và thân thiện
với môi trƣờng. Các công nghệ giám sát môi trƣờng cũng đang phát triển nhanh, đồng
thời còn đƣợc hỗ trợ bởi Internet kết nối vạn vật, giúp thu thập và xử lý thông tin liên tục 24/7 theo thời gian thực.
Tác động đến xã hội thông qua kênh việc làm trong trung hạn là điều đáng quan
ngại nhất hiện nay. Trong những thập niên gần đây, bất bình đẳng về thu nhập đã có xu
hƣớng tăng nhanh, nổi bật là 1% số ngƣời giàu nhất nắm tài sản tƣơng đƣơng với 99% số
ngƣời còn lại. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ diễn ra lại càng làm khuếch đại
thêm xu hƣớng này do lợi suất của ý tƣởng tăng mạnh. Lợi suất của kỹ năng, đặc biệt là
các kỹ năng thúc đẩy hay bổ trợ cho quá trình số hóa, tự động hóa (bằng ngƣời máy hay
bằng phần mềm – tức là trí tuệ nhân tạo có khả năng tự học) cũng tăng mạnh. Nhóm lao
động chịu tác động mạnh nhất là lao động giản đơn, ít kỹ năng do rất dễ bị thay thế bởi
ngƣời máy và do vậy có giá đang giảm nhanh. Đây là một trong những nguyên nhân
chính dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng trên toàn cầu, làm doãng chênh lệch về thu nhập
và tài sản giữa một bên là lao động ít kỹ năng hay có kỹ năng dễ bị ngƣời máy thay thế 9
chiếm tuyệt đại bộ phận ngƣời lao động, và bên kia là những ngƣời có ý tƣởng hay kỹ
năng bổ trợ cho quá trình tự động hóa và số hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh.
2.4. Xu hƣớng phát triển công nghệ 4.0 trên thế giới.
Công nghiệp 4.0 bao gồm nhiều công nghệ và mô hình liên quan. Một số mô hình
mới nổi này là Nhận dạng tần số vô tuyến (RFID), Lập kế hoạch tài nguyên doanh
nghiệp, Internet vạn vật (IoT), Internet vạn vật công nghiệp (IIoT) , trí tuệ nhân tạo (AI),
in 3D, Hệ thống vật lý điện tử, sản xuất dựa vào đám mây, nhà máy thông minh, sản
phẩm thông minh, dữ liệu lớn, v.v. Những tính năng này không chỉ tƣơng quan cao với
các công nghệ internet và thuật toán tiên tiến. Song cũng chỉ ra rằng đó là một quá trình
xử lý thông tin giá trị gia tăng và giá trị gia tăng công nghiệp.
Trong Công nghiệp 4.0, những nơi quan trọng mà các đối tƣợng giao tiếp với
nhau là các nhà máy thông minh. Chúng đƣợc trang bị những công nghệ thông minh, gọi
là Dark Factory - nhà máy thông minh có khả năng sản xuất, vận hành tự động hóa hoàn
toàn và hoạt động 24/7. Từ Dark - tối ở đây ý chỉ không cần sự xuất hiện của con ngƣời
nhƣng việc sản xuất vẫn diễn ra xuyên suốt và đƣợc vận hành một cách thông minh. Nhà
máy tối đầu tiên của Trung Quốc, sản xuất các mô-đun điện thoại di động, giảm 90%,
trong khi tỷ lệ tạo thành sản phẩm bị lỗi giảm từ 25% xuống 5%.
2.5. Đánh giá sự sẵn sàng của Việt Nam cho CMCN 4.0.
Việt Nam đã có các chính sách phát triển kinh tế tri thức, công nghệ cao, mặc dù
các chính sách đó có thể chƣa trực tiếp liên quan nhiều đến CMCN 4.0. Theo đó, các Đề
án “Thanh toán không dùng tiền mặt” của Ngân hàng Nhà nƣớc; “Số hóa” của Bộ Thông
tin và Truyền thông; “Đổi mới công nghệ” của Bộ Khoa học & Công nghệ… và các chỉ
thị của các cấp cao hơn.
Theo giới phân tích, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, nhất là trong
các lĩnh vực: Công nghệ gốc, công nghệ nguồn, nhân lực chất lƣợng cao; chính sách và
hạ tầng kỹ thuật số; quyền lực mềm, biên giới mềm, an ninh không gian mạng, tội phạm
công nghệ cao, xuyên quốc gia… 10
Về công nghệ, do trình độ công nghệ của Việt Nam ở mức vừa phải và không
đồng đều, nên khi tiếp cận với CMCN 4.0 sẽ rất khó khăn. Tuy nhiên, đây cũng lại là
thuận lợi, vì chúng ta không phải chi phí quá tốn kém để phá hủy cái cũ thay thế cái mới.
Công nghệ năng lƣợng, vật liệu mới, in 3D sẽ ảnh hƣởng lớn đến việc khai thác và
sử dụng tài nguyên, khi thế giới không còn phụ thuộc quá nhiều vào các hoạt động nhƣ
khai thác, quặng, than, dầu khí… Theo dự báo, 20 năm tới, sẽ có từ 70 - 75% những công
việc đơn giản, thủ công sẽ bị thay thế, khiến hàng chục triệu lao động truyền thống bị
thất nghiệp, đòi hỏi Nhà nƣớc ta cần có sự chủ động ứng phó và kiểm soát tốt nhất để
bảo đảm an ninh cho ngƣời dân và chủ quyền của đất nƣớc. 11
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ CÁC CƠ HỘI, THÁCH THỨC
CỦA CMCN 4.0 ĐẾN VIỆT NAM.
1. Thực trạng Việt Nam với CMCN 4.0.
1.1. Thực trạng Việt Nam trong cuộc hội nhập CMCN 4.0.
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nƣớc ta đã có sự phát triển vƣợt
bậc, đạt đƣợc những thành tựu to lớn, từ một nƣớc nghèo, kém phát triển đã trở thành
nƣớc đang phát triển có thu nhập trung bình thấp. Trong 30 năm, tốc độ tăng trƣởng kinh
tế luôn ở mức cao, trung bình 6% -7% năm. Quy mô, trình độ công nghệ chung của nền
kinh tế, của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, của hệ thống kết cấu hạ tầng
đều tăng lên; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. Nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã
hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trƣờng hiện
đại, hội nhập quốc tế. Việt Nam đã thu hút đƣợc những nguồn vốn lớn từ trong và ngoài
nƣớc, tiếp thu đƣợc nhiều thành tựu khoa học - công nghệ của thế giới.
Tuy nhiên, thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam
còn chƣa hoàn thiện. Mô hình tăng trƣởng kinh tế của Việt Nam vẫn chủ yếu theo chiều
rộng, dựa nhiều vào khai thác tự nhiên và lao động phổ thông giá rẻ, chuyển đổi chậm.
Các nguồn lực vốn, lao động, đất đai, tài nguyên khoa học - công nghệ còn chƣa đƣợc
huy động, phân bổ hợp lý, sử dụng có hiệu quả. Năng suất, chất lƣợng, hiệu quả, sức
cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và của nhiều sản phẩm của Việt Nam còn
thấp. Nền công nghiệp có bƣớc phát triển, nhƣng quy mô còn nhỏ, trình độ còn thấp. Sản
xuất công nghiệp chủ yếu là gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp; trình độ công nghệ
còn lạc hậu, phần lớn là của thời kỳ cách mạng công nghệ 2.0, chậm đƣợc đổi mới; năng
suất lao động của Việt Nam chƣa bằng 1/5 của Xin-ga-po, 1/3 của Thái Lan, 1/2 của Phi-
líp-pin; Nội lực của nền công nghiệp yếu, phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp có vốn
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI); Công nghiệp hỗ trợ kém phát triển; chƣa có những
ngành công nghiệp mũi nhọn có vai trò dẫn dắt nền kinh tế; nhiều ngành công nghiệp
đƣợc ƣu tiên phát triển nhƣng không đạt đƣợc mục tiêu đề ra.. Công nghiệp phần mềm
khá phát triển cũng chỉ chủ yếu là gia công cho nƣớc ngoài. 12
Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ công bố tháng 4-2017,
Việt Nam tiếp cận với Cuộc CMCN 4.0 ở mức trung bình thấp, chỉ đạt 4,9/10 điểm về
mức độ sẵn sàng với cách mạng 4.0. Điều này đƣợc đánh giá dựa trên những khía cạnh sau:
Đánh giá dựa trên các chỉ số cạnh tranh: Trong khi nguồn nhân lực Việt Nam
đƣợc đánh giá có ƣu thế về các môn học STEM (Science Technology Engineering Math -
là môn học mà học sinh đƣợc học các kiến thức về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán
học một cách tích hợp), nhƣng theo đánh giá của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)
và Trƣờng Đại học Cornell năm 2017, các chỉ số đánh giá của Việt Nam còn thấp. Chẳng
hạn, năm 2017 chỉ số về đổi mới sáng tạo toàn cầu xếp thứ 47/127, mặc dù đã tăng 12
bậc so với năm 2016; về năng lực sáng tạo, Việt Nam xếp hạng 77/100; về đổi mới công
nghệ, Việt Nam chỉ đứng ở vị trí 90/100.
Đánh giá dựa trên trình độ công nghệ: Trình độ công nghệ của Việt Nam thấp.
Điều này có thể thấy qua tỷ lệ giá trị sản phẩm công nghệ trung bình và cao cấp của Việt
Nam chỉ chiếm 30% trong tổng giá trị xuất khẩu, trong khi các nƣớc trong khu vực là
80%, thấp nhƣ Philippines cũng chiếm 50%. Với trình độ công nghệ ở mức thấp, năng
suất lao động của Việt Nam không cao, chỉ bằng 4,4% Singapore, 17,4% Malaysia,
35,2% Thái Lan, 48,5% Philippines (năm 2015). Vì vậy, nguy cơ mất việc làm do áp
dụng những tiến bộ của tự động hóa ở Việt Nam sẽ rất cao. khía cạnh này, Việt Nam
chỉ có ƣu điểm duy nhất là mật độ thuê bao di động vƣợt xa các nƣớc có mức thu nhập
tƣơng đƣơng trong khu vực ASEAN. Năm 2017, số ngƣời sử dụng Internet ở Việt Nam
tăng lên 64 triệu, chiếm xấp xỉ 67% dân số.
Các yếu tố về đổi mới sáng tạo công nghệ và giáo dục đang ở mức thấp: Chỉ số về
công nghệ và đổi mới của Việt Nam ở mức thấp nhất với 3,1/10 điểm, đứng thứ 90/100
về công nghệ và đổi mới (Technology & Innovation); xếp thứ 92/100 về công nghệ nền
(Technology Platform); xếp thứ 77/100 về năng lực sáng tạo; xếp hạng 70/100 về nguồn
lực con ngƣời, xếp thứ 81/100 về lao động chuyên môn cao; xếp hạng 75/100 về chất
lƣợng đào tạo đại học; đầu tƣ cho nghiên cứu và phát triển (R&D) chỉ chiếm 0,2% GDP,
xếp hạng 82/100 nền kinh tế. Tỷ lệ lao động có trình độ kỹ thuật cao trong ngành chế
biến, chế tạo chỉ chiếm trung bình 9% (trình độ từ cao đẳng trở lên), trong khi với các 13
nƣớc phát triển, tỷ lệ này là 40% - 60%. Dự đoán sẽ có 74% trong tổng số lao động
ngành chế biến, chế tạo của Việt Nam có mức độ rủi ro cao, bị thay thế do tự động hóa.
Con số này cao hơn nhiều so với các nƣớc trong khu vực, nhƣ Phillipines (54%), Thái
Lan (58%) và Indonesia (67%).
1.2. Định hƣớng của nhà nƣớc về hội nhập CMCN 4.0
Theo Chiến lƣợc, để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ,
theo mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra tại Nghị quyết số 50/NQ-CP và Quyết định số
749/QĐ-TTg; cần đi theo các định hƣớng trọng tâm sau:
Một là, nâng cao chất lượng thể chế và năng lực xây dựng chính sách. Xây dựng
thể chế mới cho các công nghệ mới, mô hình, thực tiễn kinh doanh mới; Chính phủ số và an toàn an ninh mạng.
Hai là, phát triển hạ tầng kết nối, xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu. Phát triển
internet tốc độ cao, hạ tầng số an toàn, đáp ứng nhu cầu về kết nối và xử lý dữ liệu lớn;
Xây dựng, nâng cấp hệ thống kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực bảo đảm an toàn, an ninh mạng.
Ba là, phát triển nguồn nhân lực. Mở rộng, nâng cao chất lƣợng các chƣơng trình
đào tạo đại học, sau đại học và đào tạo nghề; Đổi mới, nâng cao chất lƣợng giáo dục phổ
thông theo hƣớng tăng hoạt động thực hành, nhất là giáo dục về khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học (STEM).
Bốn là, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số. Ứng dụng mạnh mẽ
công nghệ số vào quản lý nhà nƣớc trong tất cả các lĩnh vực; đầu tƣ, phát triển các ứng
dụng công nghệ thông tin phục vụ quản lý nhà nƣớc (GovTech) và cung cấp dịch vụ công…
Năm là, phát triển và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia. Phát triển hệ
thống đổi mới sáng tạo quốc gia theo hƣớng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, cơ sở giáo
dục đại học và viện nghiên cứu là chủ thể nghiên cứu.
Sáu là, đầu tư, nghiên cứu, phát triển một số công nghệ ưu tiên để chủ động tham
gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ nhƣ công nghệ rô-bốt, vật liệu tiên tiến, năng 14
lƣợng tái tạo, trí tuệ nhân tạo, công nghệ trong y học, internet vạn vật, dữ liệu lớn, chuỗi khối...
Bảy là, mở rộng hợp tác quốc tế và hội nhập về khoa học và công nghệ, nhất là
trong các lĩnh vực công nghệ ƣu tiên để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ.
2. Tác động của CMCN 4.0 đến Việt Nam
2.1. Tác động tới kinh tế
Trong lĩnh vực kinh tế, sự thay đổi đáng kể về tầm quan trọng của các nguồn lực
đang vẽ lại bản đồ kinh tế thế giới có lợi cho các nền kinh tế „thâm dụng” công nghệ gắn
với cuộc cách mạng số (cốt lõi của CMCN 4.0), và làm giảm vị thế của các nền kinh tế
„thâm dụng” tài nguyên khoáng sản hay „thâm dụng” lao động. Tác động tích cực
Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp chế tạo thâm dụng lao động
có định hƣớng xuất khẩu đang có tác động đáng kể đến quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Quá trình này giúp Việt Nam rút lao động ra khỏi nông nghiệp để chuyển sang
làm việc trong các ngành công nghiệp và dịch vụ với năng suất và thu nhập cao hơn, qua
đó mở ra nhiều cơ hội để đất nƣớc thực hiện hiệu quả quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn
với chuyển đổi mô hình tăng trƣởng, chuyển sang quỹ đạo tăng trƣởng nhanh và bền vững hơn.
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ đang mở ra nhiều cơ hội cho các nƣớc
trong khu vực, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam. Nhờ tiềm năng to lớn
của chuyển đổi số và sự cải thiện đáng kể của các trụ cột chính để tiếp cận cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ tƣ, nhƣ hạ tầng công nghệ thông tin, nguồn nhân lực và thể
chế thời gian qua chính là điều kiện để Việt Nam có thể tận dụng tối đa các cơ hội mà
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ mang lại.
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ làm thay đổi nền tảng, thúc đẩy các nền
kinh tế truyền thống chuyển đổi sang kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo. Thực tiễn cho
thấy, các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trƣớc đều góp phần quan trọng vào thúc 15
đẩy tăng trƣởng kinh tế. Theo nghiên cứu của Công ty kiểm toán hàng đầu thế giới
Pricewaterhousecoopers (PwC), công nghệ AI có thể làm tốc độ tăng trƣởng kinh tế thế
giới tăng 14% (tƣơng đƣơng 15,7 nghìn tỷ USD) vào năm 2030.
Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới, với việc tham gia nhiều hiệp định thƣơng mại tự do thế hệ mới, quy mô lớn và chất
lƣợng cao, nhƣ Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dƣơng (CPTPP),
Hiệp định thƣơng mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA),... sẽ tạo điều kiện
tiếp cận thành tựu công nghệ sản xuất mới để tham gia hiệu quả chuỗi giá trị toàn cầu,
tạo cơ sở để Việt Nam có thể đổi mới mô hình tăng trƣởng kinh tế, tăng năng suất lao
động, góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và các nƣớc trong khu
vực và trên thế giới. Theo dự báo, tới năm 2030, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ
có thể thúc đẩy tăng trƣởng nền kinh tế Việt Nam từ 28,5 tỷ USD - 62,1 tỷ USD, tƣơng đƣơng 7% - 16% GDP.
Bên cạnh đó, đổi mới công nghệ cũng làm gia tăng các yếu tố sản xuất - kinh
doanh, kéo theo tăng thu nhập và dẫn đến sự gia tăng tiêu dùng dân cƣ, tăng đầu tƣ cho
cả nền kinh tế và tăng năng suất lao động. Cùng với đó, nhờ ứng dụng công nghệ, chi phí
giao thông vận tải và thông tin liên lạc sẽ giảm xuống, chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ trở
nên hiệu quả hơn, các chi phí thƣơng mại đƣợc giảm bớt. Tất cả những yếu tố trên góp
phần mở rộng thị trƣờng, thúc đẩy hoạt động thƣơng mại và đầu tƣ toàn cầu. Tác động tiêu cực
Tuy nhiên “cửa sổ cơ hội của cách mạng công nghệ thứ tƣ ” đó của Việt Nam
đang bị thu hẹp lại dƣới tác động của cuộc cách mạng công nghệ đang tăng tốc. Trong
trung đến dài hạn, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò ngày càng quan trọng
trong nền kinh tế toàn cầu, bắt đầu phá vỡ nhiều phƣơng thức sản xuất truyền thống trong
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, tạo ra những cơ hội và thách thức mới tác động
mạnh mẽ đến tăng trƣởng và bất bình đẳng cũng nhƣ giảm nghèo ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Những công nghệ phá vỡ cũng đang làm thay đổi tƣơng quan sức mạnh giữa các
nhóm nền kinh tế trên thế giới nói chung cũng nhƣ Việt Nam nói riêng, với vai trò của 16
các nền kinh tế “thâm dụng công nghệ” gia tăng trong tƣơng quan so sánh với các nền
kinh tế “thâm dụng tài nguyên”. Các nền kinh tế “thâm dụng lao động” – cạnh tranh chủ
yếu dựa trên lợi thế về lao động giá rẻ, trong đó có Việt Nam, cũng có xu hƣớng chịu ảnh
hƣởng bất lợi do quá trình số hóa và tự động hóa đang tăng tốc làm giảm đáng kể lợi thế
này trong trung đến dài hạn.
Ngoài ra, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ cũng tạo ra sức ép lớn đối với
một số ngành, nhóm ngành, nhƣ năng lƣợng, công nghiệp chế tạo, dệt may, điện tử...
trong trung hạn. Một số chuyên gia kinh tế nhận định, trong khi thế giới đang tiến vào
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ thì Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn tƣơng ứng
với trình độ cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ hai với công nghệ lạc hậu, thâm dụng lao
động và chủ yếu tham gia chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu ở một số khâu đơn giản, giá
trị gia tăng thấp nhƣ gia công, lắp ráp... Bên cạnh đó, phần lớn doanh nghiệp của Việt
Nam là các MSME phải đối mặt với nhiều rào cản trong quá trình chuyển đổi số. Trong
báo cáo của Tập đoàn Cisco năm 2018 về chỉ số phát triển kỹ thuật số của doanh nghiệp
vừa và nhỏ khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng cho thấy, các rào cản của MSME Việt
Nam bao gồm thiếu kỹ năng số và nhân lực (17%), thiếu nền tảng công nghệ thông tin đủ
mạnh để cho phép chuyển đổi kỹ thuật số (16,7%), thiếu tƣ duy kỹ thuật số hoặc các
thách thức về văn hóa kỹ thuật số trong doanh nghiệp (15,7%)....
2.2. Tác động tới xã hội Tác động tích cực
Các cuộc cách mạng công nghiệp trƣớc đây và cuộc Cách mạng công nghiệp lần
thứ tƣ hiện nay đã tạo ra những xáo trộn và thay đổi về mặt xã hội trên quy mô toàn cầu,
nhƣng kết quả đều làm gia tăng năng suất lao động, của cải vật chất, cải thiện sức khỏe
và đời sống tinh thần của mọi ngƣời dân,... hay nói cách khác, các cuộc cách mạng công
nghiệp đều góp phần phát triển phúc lợi xã hội cho nhân loại.
Trong lịch sử, các cuộc cách mạng công nghiệp đều tạo ra hàng loạt cải cách, điều
chỉnh lớn về chính trị cũng nhƣ thể chế xã hội, nhƣ cách mạng dân chủ, quyền lợi công
đoàn hay những thay đổi về luật thuế, an sinh xã hội... Đặc biệt, với những tiến bộ đột
phá gần đây, thế giới đã có thể ứng phó tốt hơn với các thách thức toàn cầu, nhƣ trong 17
lĩnh vực môi trƣờng, công nghệ sinh học đƣợc ứng dụng vào xử lý ô nhiễm, khắc phục
suy thoái và sự cố môi trƣờng...
Trong lĩnh vực y dƣợc, công nghệ sinh học cũng đƣợc ứng dụng để nghiên cứu,
phát triển sản xuất các vắc-xin thiết yếu, vắc-xin thế hệ mới, chế phẩm chẩn đoán và
thuốc chữa bệnh... Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, việc sản xuất nhanh
chóng các loại vắc-xin phòng, chống dịch bệnh cho thấy rõ vai trò hết sức quan trọng của
ngành công nghệ sinh học. Ngoài ra, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ cũng thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội, tạo ra những thay đổi về việc làm, cả về cơ cấu
lẫn bản chất công việc với sự xuất hiện ngày càng đông đảo các tầng lớp sáng tạo trong
các lĩnh vực khoa học, thiết kế, văn hóa, nghệ thuật, giải trí, truyền thông, giáo dục, y tế...
Cuộc CMCN 4.0 sẽ giúp các quốc gia có cơ hội phát triển thịnh vƣợng hơn, kết
nối và hội nhập nhanh chóng, đồng thời cũng phải đối diện với những thách thức về thất
nghiệp, việc làm, bất bình đẳng, sự gia tăng tính dễ bị tổn thƣơng cho các nhóm đối
tƣợng trong xã hội. Trong khi đó lực lƣợng lao động Việt Nam đang tăng lên nhanh
chóng. Vì thế yêu cầu về trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, nghề nghiệp của
ngƣời lao động Việt Nam ngày càng cần đƣợc cải thiện là một tác động tích cực đối với
ngƣời lao động giúp cho ngƣời lao đông luôn có đông lực và định hƣớng chính xác ,để
không bị thụt lùi trƣớc làn sóng của CNCM 4.0. Tác động tiêu cực
Tuy nhiên, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ cũng tác động sâu sắc đến mọi
mặt của đời sống xã hội, nhất là vấn đề bất bình đẳng và chênh lệch phát triển,... Cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ đã và đang thúc đẩy phân công lao động theo hƣớng
các ngành, nghề đòi hỏi khả năng đổi mới sáng tạo cùng với đó, giảm thiểu các công việc
chân tay có thu nhập thấp và các công việc có tính chất lặp đi, lặp lại. Nhiều lĩnh vực có
khả năng tự động hóa cao, nhƣ chế tạo, điện thoại viên, ngƣời khai thuế, giám định bảo
hiểm và một số ngành, nghề khác đã đƣợc thay thế một phần hoặc hoàn toàn. Hệ quả là,
một bộ phận ngƣời lao động đang làm các công việc này sẽ phải nghỉ việc hoặc tìm một
công việc khác thay thế, có thể thất nghiệp trong một thời gian dài. 18
2.3. Tác động đến các ngành và lĩnh vực Nhóm ngành n ng lƣợng
Nhóm ngành này cung cấp các đầu vào chiến lƣợc cho nền kinh tế. Tuy nhiên tác
động có sự khác biệt giữa dầu khí và điện năng: dầu khí có thể xuất nhập khẩu đƣợc và
do vậy chịu sự chi phối của giả thế giới, trong khi đó điện năng cơ bản là không. Ngành dầu khí
Từ 2006 đến nay, bên cạnh những bƣớc phát triển mạnh mẽ, ngành Dầu khí còn
tồn tại một số vấn đề trong quá trình phát triển, đặc biệt là việc ứng dụng khoa học công
nghệ để gia tăng các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí. Hiện Tập đoàn Dầu
khí Việt Nam và các doanh nghiệp thành viên đang từng bƣớc nỗ lực làm tốt quá trình
chuyển đổi “số” để nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng hiệu quả hoạt động. Đây là nền
tảng quan trọng để có thể ứng dụng đƣợc các thành tựu của CMCN 4.0. Trong đó, toàn
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã và đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công
nghệ số, công nghệ điều khiển tự động vào hoạt động sản xuất kinh doanh và quản trị
doanh nghiệp nhƣ: Triển khai hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP); cải tiến
nâng cấp các phần mềm, các ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao hiệu quả quản lý;
triển khai Internet of Things (kết nối vạn vật); nghiên cứu ứng dụng robot trong các hoạt
động vận hành, bảo dƣỡng sửa chữa và dịch vụ đặc biệt khác có yếu tố nguy hiểm độc
hại mà con ngƣời gặp khó khăn tiếp cận hoặc hiệu quả thấp…Đặc biệt quan trọng, Tập
đoàn Dầu khí Việt Nam đã quan tâm đầu tƣ nguồn nhân lực chất lƣợng cao, có tƣ duy và
kỹ năng số để có thể tiếp nhận các xu thế công nghệ sản xuất mới ứng dụng vào hoạt
động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Ngành điện
Việt Nam, năng lƣợng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời đã có những đột phá rõ
rệt. Tuy hiện nay công suất của các dự án đang hoạt động trong các lĩnh vực điện gió và
điện mặt trời còn khá khiêm tốn song số lƣợng và công suất của các dự án đăng ký tăng
vọt. Về mặt địa lý, một số địa phƣơng có nhiều nắng và gió ở miễn Trung và Tây 19
Nguyên nhƣ Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk, Khánh Hòa hay ở miền Nam nhƣ Tây
Ninh đang đứng trƣớc những cơ hội lớn để phát triển các loại hình năng lƣợng này.
Nhóm ngành công nghiệp chế tạo
Đây là nhóm ngành mà Việt Nam sẽ phải chịu tác động mạnh nhất. Cụ thể, những
tiến bộ vƣợt bậc trong quá trình tự động hóa và số hóa đã và đang giúp giảm mạnh chi
phí chế tạo và vận hành ngƣời máy, và do vậy làm tăng khả năng công nghiệp chế tạo
quay trở lại các nƣớc phát triển để gần hơn với thị trƣờng tiêu thụ lớn và các trung tâm
R&D ở các nƣớc này. Tác động đến một số phân ngành cụ thể nhƣ sau: Ngành dệt may, giày dép
Có một số đột phá công nghệ quan trọng đang vẽ lại bức tranh của ngành này trên
phạm vi toàn cầu: công nghệ chế tạo đắp dần, máy chụp thân thể, thiết kế bằng máy tính
giúp có thể sản xuất các sản phẩm hàng loạt các sản phẩm phù hợp với những thông số
đơn lẻ của từng khách hàng; công nghệ nano giúp các sản phẩm dệt may, giày dép có thể
tích hợp các chức năng theo dõi sức khỏe (đo nhịp tim, lƣợng calo giải phóng liên tục
…); tự động hóa khâu cắt và khâu may (sử dụng robots, trong khâu may còn đƣợc gọi là sewbots).
Việt Nam, ngành dệt may đạt đƣợc tốc độ tăng trƣởng xuất khẩu cao, một phần
lớn nhờ đơn hàng chuyển dịch ra khỏi Trung Quốc theo chiến lƣợc “Trung Quốc + 1”
của các tập đoàn đa quốc gia do chi phí lao động ở quốc gia này tăng mạnh. Tuy nhiên,
tình hình đang thay đổi nhanh chóng với đơn hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam giảm mạnh, và khách hàng yêu cầu giảm giá đáng kể. Công nhân trong
các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam đang bị kẹt ở giữa trong cuộc cạnh tranh khốc
liệt trên toàn cầu, với một bên là nhân công rẻ hơn từ các nƣớc Campuchia, Bangladesh,
Myanmar v.v…, và bên kia là ngƣời máy đang đƣợc ứng dụng ngày một rộng rãi ở các
nƣớc phát triển và cả ở Trung Quốc. Triển vọng của ngành dệt may hiện nay hết sức bấp
bênh, dẫn đến việc các doanh nghiệp hiện đang hoạt động kêu gọi không đầu tƣ thêm vào ngành này nữa. Ngành điện tử 20