



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN ĐỀ TÀI TRÊN CƠ SỞ ẬN NH
THỨC VỀ NỀN KINH TẾ ĐỘC
LẬP, TỰ CHỦ, HÃY PHÂN TÍCH VAI TRÒ CÓ THỂ CÓ
CỦA BẢN THÂN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP, TỰ Ủ CỦA CH VIỆT NAM
Giảng viên: TS. Hoàng Văn Mạnh
Bộ môn: Kinh tế chính trị Mac – Lenin
Lớp học phần: 232_RLCP1211_02 Nhóm: 6 Hà nội, 2024 LỜI MỞ ĐẦU
Độc lập, tự chủ là năng lực quốc gia trong giữ vững chủ quyền và sự tự quyết về đối
nội, đối ngoại, nhất là lựa chọn con đường, mô hình phát triển, chế độ chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trong đó, độc lập, tự chủ về kinh tế là
nền tảng vật chất cơ bản để giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập,
tự chủ quốc gia. Không thể có độc lập, tự chủ về chính trị trong khi lệ thuộc về kinh tế.
Trên cơ sở đó, việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực
hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả là hết sức cần thiết, là tất yếu khách quan.
Trong đó xác định rõ, con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực của sự
phát triển. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; kết hợp hài
hòa, hiệu quả giữa các yếu tố nền tảng là con người, tài nguyên thiên nhiên và truyền
thống lịch sử, văn hoá. Phát huy giá trị văn hóa và tinh thần đoàn kết, trí tuệ, bản lĩnh,
đạo đức, tài năng và phẩm chất của con người Việt Nam để thực sự trở thành sức mạnh
nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Nền kinh tế độc lập, tự chủ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với nước ta, và việc xây
dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là một nội dung trong các nội dung cốt lõi của hoàn
thiện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam. Vậy nền kinh tế độc lập, tự chủ đó là gì? Việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự
chủ ở Việt Nam quan trọng như thế nào? Ảnh hưởng của mỗi cá nhân trong quá trình
xây dựng nền kinh tế, tự chủ của Việt Nam ra sao?
Đó là hàng loạt những câu hỏi được đặt ra cần được giải quyết, tìm hiểu để có thể
nắm vững những kiến thức cơ bản về nền kinh tế độc lập, tự chủ của nước ta và là cơ sở
để mỗi cá nhân tự nâng cao vai trò của bản thân trong quá trình xây dựng nền kinh tế
độc lập, tự chủ tại Việt Nam. Do đó, nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, nhóm 6
chúng em quyết định lựa chọn đề tài “Trên cơ sở nhận thức về nền kinh tế độc lập,
tự chủ, hãy phân tích vai trò có thể có của bản thân đối với quá trình xây dựng nền
kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam”. 2 MỤC LỤC 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ NHẬN THỨC VỀ NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ
1. Khái niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ
Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào nước
khác, người khác, hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách phát
triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài chính, thương mại, viện trợ…
để áp đặt, khống chế, làm tổn hại chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc.
2.Tầm quan trọng của việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ tại Việt Nam
Bảo vệ lợi ích quốc gia:
Nền kinh tế độc lập, tự chủ giúp Việt Nam chủ động trong việc hoạch định chiến
lược phát triển, bảo vệ các ngành công nghiệp quan trọng, và đảm bảo an ninh kinh
tế. Tránh phụ thuộc vào các nước khác, giảm thiểu rủi ro bị can thiệp vào nội bộ và lợi
dụng kinh tế để gây sức ép chính trị.
Thúc đẩy phát triển bền vững:
− Tạo điều kiện cho Việt Nam chủ động khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn
lực nội địa, phát triển các ngành công nghiệp có tiềm năng, và nâng cao năng lực cạnh tranh.
− Giúp Việt Nam chủ động trong việc ứng phó với các biến động của thị trường
quốc tế, giảm thiểu tác động tiêu cực từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Nâng cao vị thế quốc tế:
Nền kinh tế độc lập, tự chủ giúp Việt Nam nâng cao vị thế và uy tín trên trường
quốc tế, tăng cường khả năng tự chủ trong các hoạt động đối ngoại.
Tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia tích cực và hiệu quả vào các tổ chức quốc tế,
đóng góp vào hòa bình, ổn định và phát triển chung của khu vực và thế giới.
Góp phần nâng cao đời sống người dân:
Nền kinh tế độc lập, tự chủ giúp Việt Nam tạo ra nhiều việc làm hơn, tăng thu nhập
cho người dân, và cải thiện đời sống xã hội.
Giúp Việt Nam thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo an ninh lương
thực, và nâng cao chất lượng giáo dục, y tế.
Đảm bảo an sinh xã hội:
Nền kinh tế độc lập, tự chủ giúp Việt Nam chủ động trong việc giải quyết các vấn
đề an sinh xã hội, như: xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, nâng cao đời sống người dân.
Đảm bảo công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, hướng tới một xã hội
phát triển văn minh, tiến bộ.
Thúc đẩy tinh thần đoàn kết dân tộc:
Việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là trách nhiệm chung của toàn dân, góp
phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần tự lực, tự cường của mỗi người dân trong
quá trình xây dựng và phát triển đất nước. 4
3. Mối quan hệ giữa việc xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ với
hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam
❖ Giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Độc lập tự chủ là khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc. Hội nhập quốc tế là
phương thức phát triển đất nước trong thế giới ngày nay. Giữa độc lập, tự chủ và hội
nhập quốc tế có mối quan hệ biện chứng; vừa tạo tiền đề cho nhau và phát huy lẫn nhau,
vừa thống nhất với nhau trong việc thực hiện mục tiêu cơ bản của cách mạng và lợi ích
căn bản của đất nước của dân tộc, trước hết là mục tiêu phát triển và an ninh.
– Giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy sức mạnh bên trong là nền tảng của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
+ Có giữ vững độc lập, tự chủ thì mới có thể đẩy mạnh hội nhập quốc tế, vì không
giữ được độc lập, tự chủ thì quá trình hội nhập sẽ chuyển hóa thành “hòa tan”, mục tiêu
phát triển và an ninh đều không đạt được.
+ Càng hội nhập quốc tế có hiệu quả thì càng có thêm điều kiện và tạo được thế
thích hợp để giữ vững độc lập, tự chủ thông qua việc tranh thủ các nguồn lực bên ngoài,
tạo lập sự đan xen lợi ích với đối tác, nâng cao vị thế của Việt Nam ở khu vực và trên
thế giới, cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh…
– Giữ vững độc lập, tự chủ, vừa chủ động, tích cực hội nhập quốc tế còn là phương
thức kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng CNXH
và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN.
– Hiệu quả của hội nhập quốc tế được đo bằng mức độ thực hiện các mục tiêu phát
triển, an ninh và gia tăng vị thế của đất nước. Để bảo đảm hội nhập quốc tế có hiệu quả,
cần độc lập, tự chủ trong việc quyết định chiến lược tổng thể, mức độ, phạm vi, lộ trình
và bước đi hội nhập quốc tế trên từng lĩnh vực. Hội nhập quá nhanh, quá rộng trong khi
năng lực tự chủ còn yếu thì không thể có hiệu quả.
– Độc lập, tự chủ còn là cơ sở để giữ gìn bản sắc của dân tộc. Càng hội nhập sâu
rộng càng đòi hỏi khẳng định bản sắc, càng có nhu cầu giữ gìn giá trị văn hóa, truyền thống dân tộc.
❖ Hội nhập quốc tế tạo nên những thách thức mới đối với nhiệm vụ giữ vững
độc lập, tự chủ.
Sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước có thể chuyển hóa sự lệ thuộc của nước này
vào nước khác. Trường hợp này dễ xảy ra đối với các nước nghèo, nước nhỏ trong mối
quan hệ với các nước giàu, nước lớn.
– Hội nhập quốc tế có thể tác động tới sự phân hóa xã hội của từng nước, khi lợi ích
từ việc hội nhập được phân chia khác nhau đối với các nhóm khác nhau trong xã hội, và
từ đó góp phần làm trầm trọng thêm các vấn đề xã hội.
– Hội nhập quốc tế có thể làm cho lợi ích nhóm nổi trội hơn, từ đó làm cho quá trình
quyết sách thêm phức tạp, nhất là trong trường hợp lợi ích nhóm trong các nước liên kết
với các yếu tố nước ngoài
– Hội nhập quốc tế không hiệu quả sẽ làm suy giảm độc lập, tự chủ, suy giảm quyền quốc gia.
❖ Để hội nhập có hiệu quả, không thể tuyệt đối hóa độc lập, tự chủ 5
– Tuyệt đối hóa hay quan niệm cứng nhắc về độc lập, tự chủ sẽ ngăn cản hội nhập,
bỏ lỡ thời cơ hoặc làm giảm hiệu quả của hội nhập và dó đó sẽ tác động tiêu cực trở lại
tới độc lập, tự chủ
– Không chủ động, sáng tạo tìm ra những phương thức mới phù hợp với hoàn cảnh
và các điều kiện hình thành từ quá trình hội nhập quốc tế, thì việc bảo đảm độc lập, tự
chủ cũng sẽ gặp nhiều thách thức.
4. Một số biện pháp nhằm xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ đi
đôi với tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam
Thứ nhất, hoàn thiện, bổ sung đường lối chung và đường lối kinh tế, xây dựng và phát triển đất nước.
Thứ hai, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là nhiệm vụ trọng
tâm nằm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, giúp
Việt Nam đi tắt, đón đầu, tránh được nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước
khác. Trong giai đoạn hiện nay, cần tập trung vào một số biện pháp sau:
1. Đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển sang tăng trưởng chủ yếu theo chiều sâu.
2. Mở rộng và tìm kiếm thị trường mới, đa dạng hóa thị trường, nguồn vốn đầu tư
và đối tác, tránh phụ thuộc vào một thị trường, một đối tác, tạo nền tảng cho phát triển
ổn định, bền vững. Chiến lược thị trường cần gắn kết chặt chẽ với chiến lược sản phẩm
và xúc tiến quảng bá sản phẩm nhằm nâng cao vị thế và uy tín của sản phẩm hàng hóa trong nước;
3. Quy định chặt chẽ và mạnh dạn trong đổi mới công nghệ. Đi liền với quá trình
du nhập công nghiệp, cần tăng nguồn tài chính đầu tư cho nghiên cứu và triển khai,
nhằm từng bước nghiên cứu phát triển, tiến tới tự chủ dần về công nghệ.
Thứ ba, đẩy mạnh quan hệ kinh tế đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
đáp ứng yêu cầu và lợi ích của đất nước trong quá trình phát triển đồng thời qua đó phát
huy vai trò của Việt Nam trong quá trình hợp tác với các nước, các tổ chức khu vực và
thế giới. Để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế một cách có hiệu quả, trong thời gian tới
cần chú ý thực hiện những giải pháp cụ thể sau:
1. Tiếp tục nghiên cứu, đàm phán, ký kết, chuẩn bị kỹ các điều kiện thực hiện các
FTA yêu cầu ở cấp độ cao hơn trong hội nhập kinh tế toàn cầu, tham gia các điều ước
quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư…; có đại diện làm việc tại các tổ
chức thương mại, đầu tư, giải quyết tranh chấp quốc tế.
2. Huy động mọi nguồn lực để thực hiện thành công ba đột phá chiến lược: cải cách
thể chế; phát triển cơ sở hạ tầng; phát triển nguồn nhân lực.
3. Chính phủ cần tiếp tục thực hiện các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô và cải
thiện môi trường sản xuất, kinh doanh để thu hút đầu tư trong và ngoài nước tham gia
sản xuất hàng hoá và dịch vụ cung cấp cho thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu
ra thị trường khu vực và thế giới.
4. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất cao đáp ứng nhu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế bằng đổi mới, hoàn thiện thể chế
kinh tế, hành chính, đặc biệt là tăng cường áp dụng khoa học công nghệ hiện đại, đào 6
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành kinh tế, nhất là những ngành có vị thế của Việt Nam.
Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong hội nhập quốc
tế. Mở rộng quan hệ quốc tế phải quán triệt và thực hiện nguyên tắc bình đẳng, cùng có
lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; giữ
gìn bản sắc văn hoá dân tộc; giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hòa bình. Đẩy
mạnh và nâng cao hiệu quả các quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế, quốc phòng, an ninh
và đối ngoại để tạo sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới. 7
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CÓ THỂ CÓ CỦA BẢN THÂN ĐỐI VỚI
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA VIỆT NAM
1. Tổng quan về quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ tại Việt Nam
1.1.Bối cảnh và lịch sử
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam đứng trước nhiều thách thức. Đó
là những thách thức đến từ trong nước như nền kinh tế kiệt quệ do chiến tranh và ách
thống trị thực dân; nạn đói kém, thất nghiệp, dịch bệnh hoành hành; mức độ dân trí thấp,
trình độ khoa học kĩ thuật lạc hậu;.. hay từ yếu tố ngoài nhà nước, điển hình là nguy cơ
xâm lược từ các nước đế quốc. – Giai đoạn 1945–1954:
Ở giai đoạn này, mục tiêu của nước ta là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, thoát
khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Đồng thời đảm bảo đời sống cho nhân dân, phục
vụ công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Để có thể hoàn thành mục tiêu đề ra. nhà nước đã triển khai thực hiện một số biện
pháp. Đầu tiên đó là cải cách ruộng đất, chia đất cho nông dân, xóa bỏ chế độ phong
kiến. Thứ hai, Nhà nước chủ trương phát triển sản xuất nông nghiệp, khuyến khích tăng
gia sản xuất, đẩy mạnh cày cấy, tổ chức các cuộc thi cày, vỡ hoang. Đồng thời, Nhà
nước hỗ trợ người dân làm việc ở lĩnh vực công nghiệp và thủ công nghiệp khôi phục
các nhà máy xí nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp nhỏ và thủ công nghiệp. Cuối
cùng đó là thực hiện sống tiết kiệm, chống tham nhũng, khuyến khích mọi người đóng
góp sức người, sức của cho kháng chiến.
Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và tinh thần đoàn kết, chiến
đấu anh dũng của nhân dân Việt Nam, sau khi nỗ lực thực hiện các biện pháp, nền kinh
tế nước ta được cải thiện đáng kể. Nạn đói được đẩy lùi, đời sống nhân dân được cải
thiện. Sản xuất nông nghiệp tăng lên, công nghiệp và thủ công nghiệp có sự phục hồi;
đặc biệt nước ta hình thành các ngành công nghiệp cơ bản. Thành tựu đáng kể nhất là
đất nước chuyển từ nền kinh tế thuộc địa sang nền kinh tế độc lập tự chủ. Đây là nền
tảng cho sự phát triển của đất nước cũng như góp phần củng cố chính quyền, tăng cường sức mạnh quốc phòng.
– Giai đoạn 1955 – 1975:
Nước ta ở giai đoạn này có sự khác biệt giữa hai miền Bắc– Nam. Miền Bắc xây
dựng chủ nghĩa xã hội, cụ thể là hoàn thành cải cách ruộng đất; phát triển kinh tế, văn
hóa, giáo dục; xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang; đồng thời hỗ trợ miền Nam trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trong khi đó, miền Nam tập trung lực lượng kháng chiến
chống Mỹ cứu nước. Tuy có sự khác nhau nhưng mục tiêu chung của cả nước đều hướng
tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giành lại độc lập tự chủ và xây dựng một
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trong giai đoạn này, nhà nước tăng cường đoàn kết nhân dân, phát huy tinh thần
yêu nước, cống hiến, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đảng đã phát huy
cao độ tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc phân tích tình hình, xác định đường
lối chiến lược của cách mạng Việt Nam nói chung, đường lối đối ngoại nói riêng. 8
Nhờ sự nỗ lực của Đảng, toàn dân, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn
trong giai đoạn 1955 –1975. Miền Bắc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Miền
nam đánh thắng Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Việt Nam trở thành
một nước độc lập, thống nhất, có chủ quyền. Đời sống của nhân dân ngày càng được cải
thiện, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
– Giai đoạn 1976 –1986:
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi, cách mạng Việt Nam
chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất, thực hiện chiến lược
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Năm 1976, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV
họp, đề ra đường lối đổi mới. Năm 1986, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI
họp, thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Tuy còn gặp khó khăn như nền kinh tế bao cấp, kế hoạch hóa tập trung, nhiều hạn
chế hay sản xuất bị trì trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn nhưng Đảng và nhà
nước đã cố gắng đưa đất nước thoát khỏi hậu quả của chiến tranh. Nước ta đạt được một
số thành tựu trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Nông nghiệp tăng sản
lượng lương thực, một số ngành công nghiệp trọng điển được phát triển, giao thông vận
tải được khôi phục. Giáo dục đại học cao đẳng dần phát triển, giáo dục tiểu học được
phổ cập. Y tế được cải thiện, dịch bệnh bị đẩy lùi. Văn học, nghệ thuật, khoa học cũng dần phát triển hơn.
– Giai đoạn 1986 – nay:
Tháng 12–1986, đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức. Đây là mốc
son quan trọng, đánh dấu khởi đầu công cuộc đổi mới đất nước. Mục tiêu của công cuộc
đổi mới nhằm xây dựng Việt Nam thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, văn
minh; nâng cao đời sống nhân dân.
Giai đoạn này Việt Nam đạt được vô số thành tựu.
Về kinh tế: Nền kinh tế từ bao cấp chuyển sang thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa; GDP tăng trưởng liên tục, đạt tốc độ cao; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Về chính trị: Hệ thống chính trị được củng cố, nền dân chủ được phát huy, Việt Nam
gia nhập nhiều tổ chức quốc tế và khu vực.
Về văn hóa, xã hội: Giáo dục,y tế, khoa học– kỹ thuật phát triển. Các hoạt động văn
hóa, nghệ thuật được đẩy mạnh
Tuy nhiên, đất nước vẫn tồn tại những khó khăn cần giải quyết triệt để, một trong
số đó phải kể đến như sự chênh lệch giàu nghèo còn lớn, nạn tham nhũng vẫn xảy ra, tệ nạn xã hội gia tăng,...
Nhờ những nỗ lực của Đảng và Nhà nước cũng như toàn nhân dân ta, hiện nay Việt
Nam đã xây dựng thành công nền kinh tế độc lập tự chủ, hội nhập quốc tế. Đất nước ta
ngày càng đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, xã hội, văn hóa và quốc phòng, an ninh.
1.2.Đặc điểm nền kinh tế tự chủ tại Việt Nam
Một số đặc điểm nổi bật của nền kinh tế độc lập tự chủ tại Việt Nam phải kể đến là: 9
– Tự chủ về đường lối phát triển: Việt Nam tự quyết định đường lối, chính sách phát
triển nền kinh tế phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước mà không cần phụ thuộc vào
các nước hay tổ chức quốc tế nào
– Nắm giữ các ngành, lĩnh vực kinh tế quan trọng: Nhà nước giữ vai trò chủ đạo
trong các ngành, lĩnh vực kinh tế quan trọng như năng lượng, bưu chính viễn thông,
ngân hàng, quốc phòng an ninh
– Đa dạng hóa các hình thức sở hữu: Kinh tế Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu
như nhà nước, tập thể, tư nhân, hỗn hợp
– Hội nhập quốc tế sâu rộng:
+ Việt Nam tham gia nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực
+ Ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do FTA
+ Thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI
– Đảm bảo an ninh lương thực, năng lượng
+ Việt Nam tự chủ về sản xuất lương thực, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước
+ Tăng cường khai thác các nguồn năng lượng trong nước
– Nâng cao đời sống nhân dân: Xóa đói, giảm nghèo. Tập trung phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội
– Bảo vệ môi trường: Phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường và ứng phó
với biến đổi khí hậu
– Nâng cao vị thế quốc tế: Việt Nam ngày càng nâng cao vị thế trên trường quốc tế
và góp phần vào hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Tuy nhiên nền kinh tế độc lập tự chủ tại Việt Nam vẫn tồn tại một số hạn chế như:
Năng suất lao động thấp, chất lượng nguồn lực chưa cao hay hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu kém.
Hiện nay ta có thể khẳng định rằng, nhờ đường lối đổi mới, đặc biệt là xây dựng nền
kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, từ một nền
kinh tế kém phát triển, sau hơn 35 năm đổi mới Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, đạt
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã
tuyên bố: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".
Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN; một trong 20 nền kinh
tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; là nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản
đứng đầu thế giới; có mạng lưới 15 hiệp định thương mại tự do (FTAs) đã có hiệu lực.
An sinh xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều
giảm còn 2,2% năm 2021. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, quy mô nền kinh
tế không ngừng được mở rộng, năm 2021 đạt trên 362 tỷ USD (so với 4,2 tỷ USD năm
1986); GDP bình quân đầu người đạt gần 3.700 USD, tăng khoảng 26 lần so với năm 1990 (142 USD). 10
1.3. Thành tựu và thách thức 1.3.1. Thành tựu
Quán triệt chủ trương và chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, trong thời gian qua, chúng
ta đã từng bước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội
nhập quốc tế, đem lại nhiều kết quả ấn tượng.
– Nâng cao tiềm lực kinh tế
+ Tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao. Sau gần 40 năm đổi mới, nền kinh tế Việt
Nam đã tăng từ khoảng 4 tỷ USD lên hơn 400 tỷ USD. Mức tăng trưởng bình quân GDP
giai đoạn năm 2020–2021 lần lượt là 2,91% và 2,58%, là một trong những nước hiếm
hoi có tăng trưởng dương trong khu vực và trên thế giới trong giai đoạn kinh tế chịu ảnh
hưởng nặng nề của đại dịch COVID–19. Năm 2022, tăng trưởng GDP đạt 8,02%, mức
tăng cao nhất trong 12 năm qua. Năm 2023, GDP của Việt Nam tăng 5,05% trong bối
cảnh toàn cầu khó khăn, nhiều nước tăng thấp.
+ Với việc phối hợp đồng bộ, hiệu quả, linh hoạt các chính sách tài khóa, tiền tệ và
các chính sách khác đã giúp thực lực của nền kinh tế tăng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn
định; lạm phát được kiểm soát; mở rộng thị trường xuất khẩu gắn với chú trọng phát
triển thị trường trong nước, tăng cường năng lực phân tích, dự báo, chủ động các kịch
bản, phương án ứng phó, phản ứng chính sách phù hợp, nền kinh tế Việt Nam đã kịp
thời ứng phó với những biến động, cú sốc từ bên ngoài. Điển hình là trong giai đoạn đại
dịch COVID–19, Việt Nam bảo đảm được chuỗi cung ứng về lương thực trong nước và
xuất khẩu được nhiều lương thực, thực phẩm ra thế giới
– Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực
Cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã và đang chuyển dịch theo hướng tích cực và phù
hợp hơn với mô hình tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế dịch chuyển theo hướng hiện đại,
tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh, trở thành động lực tăng trưởng chính,
trong khi tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống. Theo số liệu của tổng cục Thống kê,
trong giai đoạn từ 2011–2023; tỷ trọng ngành nông–lâm–thủy sản chiếm 11,96% (2023)
giảm 7,61% so với năm 2011; ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 37,12% (2023);
ngành dịch vụ chiếm 42,57% (2023) tăng so với năm 2011 lần lượt là 4,88% và 5,8%.
Việc chuyển dịch cơ cấu cho thấy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra
một cách hiệu quả. Đây là kết quả tích cực của công cuộc xây dựng nền kinh tế độc lập,
tự chủ gắn với hội nhập quốc tế của Việt Nam
– Văn hóa–xã hội tiến bộ, đời sống nhân dân được nâng cao
Việc phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển đã giúp cho văn hóa,
xã hội phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, mức
sống và chất lượng sống ngày càng được nâng cao
− Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm duy trì mức giảm khoảng 1%–1,5%, giảm từ
58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ, dưới 3%
năm 2020 và năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều còn khoảng 2,93%
− Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều
có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế,... 11
− Số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua
− Tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có
hoàn cảnh khó khăn. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí
− Năm 2021, Theo Báo cáo Phát triển con người (HDR), chỉ số phát triển con người
(HDI) của Việt Nam đạt mức 0,703, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là
so với các nước có cùng trình độ phát triển
Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng
thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống
an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Luôn gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh
tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển nhằm
khuyến khích lao động, sáng tạo, tăng năng suất, đảm bảo công bằng xã hội, thúc đẩy phát triển bền vững
– Thiết lập được các quan hệ hợp tác, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế. Không
ngừng “mở rộng” và phát triển quan hệ với hầu hết quốc gia, tổ chức trên toàn thế giới
như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, ASEAN,EU, FTA,... Việc ký kết và
đàm phán với các đối tác có tác động tích cực tới phát triển kinh tế, nâng cao năng lực
cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, phát triển nông nghiệp, nông thôn, tạo
thêm nhiều việc làm, nâng cao năng suất lao động xã hội.
− Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội có xu hướng tăng nhanh, giai đoạn 2016–
2020, năng suất lao động xã hội tăng khoảng 6,05% (cao hơn 1,52% so với giai đoạn 2011–2015).
− Thị trường xuất khẩu của Việt Nam được mở rộng đến 230 quốc gia và vùng lãnh
thổ, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân trên 10%/năm. Năm 2022, xuất khẩu đạt
khoảng 371,5 tỷ USD, tăng 10,5% so với năm 2021. Đây là lần đầu kim ngạch xuất –
nhập khẩu của Việt Nam vượt mốc 700 tỷ USD.
− Môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp
chủ động hơn trong việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam đã tham gia bốn chuỗi
giá trị có vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu, đó là: Chuỗi giá trị
lương thực và an ninh lương thực; chuỗi giá trị năng lượng và an ninh năng lượng (dầu
mỏ, khí, than đá); chuỗi giá trị hàng dệt may và da giầy; và chuỗi giá trị hàng điện, điện
tử. Một số sản phẩm của Việt Nam bước đầu khẳng định thương hiệu và có khả năng
cạnh tranh trên thị trường quốc tế như gạo, cà phê (cà phê Trung Nguyên,..), hàng dệt
may, tơ lụa, gốm sứ (Bát Tràng, Chu Đậu,..),... hay sản phẩm thương hiệu VinFast, sữa Vinamilk,. .
Nhìn chung, quan hệ hợp tác của Việt Nam với các đối tác trong nhiều nội dung đã
được triển khai hiệu quả, thực chất, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định,
huy động các nguồn lực cho phát triển và nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. 12 1.3.2. Thách thức
Tuy nhiên, việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ cũng đem đến nhiều thách thức cho Việt Nam
– Thứ nhất, sản xuất phụ thuộc vào bên ngoài
+ Với độ mở của nền kinh tế khá lớn (trên dưới 200% nếu lấy tổng kim ngạch xuất
– nhập khẩu so với GDP), sản xuất và xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào nguyên, vật liệu
nhập khẩu từ bên ngoài, chi phí nguyên, vật liệu nhập khẩu chiếm khoảng 40% trong
tổng chi phí nguyên, vật liệu dùng trong sản xuất của nền kinh tế. Việt Nam mỗi năm
phải nhập tới 85,4% tổng nhu cầu xơ sợi trong nước. Nhiều ngành sản xuất chính như
dệt may phụ thuộc đến 50% vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, với da giày là khoảng 45%
và sản xuất nhựa lên tới 80%. Thậm chí, thế mạnh truyền thống của Việt Nam là nông
nghiệp cũng phải nhập khẩu hơn 70% máy móc, thiết bị; 80% giống rau và 60% giống ngô;…
+ Nguyên vật liệu nhập khẩu dùng cho sản xuất phụ thuộc vào một số ít thị trường.
Đây là rủi ro đối với kinh tế Việt Nam khi các thị trường này xảy ra biến cố hoặc môi
trường địa – chính trị, địa – kinh tế có nhiều biến động.
– Thứ hai, quá trình mua bán, sáp nhập và đầu tư nước ngoài có thể đẩy nền kinh tế
ra xa "bến bờ" độc lập, tự chủ
+ Thương mại quốc tế của nước ta phụ thuộc khá lớn vào khu vực FDI. Theo số liệu
năm 2023, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của khu vực FDI chiếm 73,1% tổng kim ngạch
xuất khẩu của toàn nền kinh tế, giảm nhẹ so với năm 2022 (74,4%), tuy nhiên đây vẫn
là một con số khá cao. Điều này phản ánh thương mại quốc tế của nước ta dễ bị ảnh hưởng.
+ Từ năm 2018 đến nay, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng
chuyển dịch rất đáng chú ý với mua bán và sáp nhập (M&A) ngày càng chiếm tỷ trọng
lớn và có tốc độ tăng nhanh. Việc các nhà đầu tư nước ngoài mua bán và sáp nhập khiến
quyền sở hữu các tổ chức kinh tế của nước ta rơi vào tay các nhà đầu tư nước ngoài, đưa
đến kinh tế Việt Nam phụ thuộc nước ngoài.
– Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội
+ Thị trường lao động nước ta hiện nay có một số hạn chế đáng lo ngại: cả bên cung
và bên cầu chưa đáp ứng được một thị trường lao động hiện đại, linh hoạt, bền vững và
hội nhập. Cơ cấu lao động theo 3 khu vực kinh tế chưa hợp lý, lao động làm việc trong
khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tới 27,5% tổng số.
+ Số lượng lao động tăng nhanh ở khu vực phi chính thức. Chất lượng lao động
không đáp ứng nhu cầu. Tính bấp bênh và dễ bị tổn thương đến việc làm và thu nhập
của người lao động khá cao. Lao động thời vụ phát triển, hạn chế về đào tạo kỹ năng.
Theo số liệu thống kê năm 2023, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn
thấp (27,0%). Lao động không có trình độ chiếm 71,8% trong tổng số lực lượng lao
động. Trình độ tay nghề tương đối thấp so với tiêu chuẩn khu vực và thế giới.
+ Bên cạnh đó, năng lực và trình độ đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành
chính chưa đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập
quốc tế; trách nhiệm công vụ còn kém, lề lối làm việc trì trệ, chậm đổi mới, đùn đẩy, né 13
tránh. Một bộ phận cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý chưa nâng cao tinh thần
trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu, coi việc thực thi công vụ,
phục vụ nhân dân như là ban phát ân huệ.
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam, đất nước đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn. Việt Nam đã có những bước tiến vững chắc trong việc phát
triển kinh tế, chuyển nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp–dịch vụ, đạt được
mức tăng trưởng kinh tế cao, hội nhập kinh tế thế giới, tạo ra cơ hội việc làm cho người
lao động và nâng cao đời sống nhân dân. Bên cạnh những thành tựu đáng chú ý thì vẫn
có những thách thức cần đối diện. Trong đó cần giải quyết các vấn đề như nâng cao chất
lượng lao động, cải thiện môi trường kinh doanh. Ngoài ra, cần phải đối mặt với việc
sản xuất bị phụ thuộc vào nước ngoài do trình độ công nghệ thấp, thiếu thốn nguyên vật
liệu, thị trường trong nước còn hạn chế,... Tuy nhiên, với sự quyết tâm và nỗ lực của
chính phủ và nhân dân, Việt Nam đang từng bước vượt qua những thách thức và tiếp
tục phát triển mạnh mẽ hơn, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng bền vững
2. Năng lực và vai trò cụ thể của bản thân đối với quá trình xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ của Việt Nam
2.1.1. Phân tích năng lực bản thân dưới vai trò là một nhà nghiên cứu thị
trường đến xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam 2.1.1.1. Kiến thức ❖ Đã có
– Kiến thức về marketing và quảng cáo: Hiểu biết về các phương pháp marketing
và quảng cáo để phân tích tác động của chúng đối với thị trường; Nắm vững về các khái
niệm cơ bản của marketing như phân khúc thị trường, vị trí cạnh tranh, và chiến lược tiếp thị.
– Kiến thức về phương pháp nghiên cứu khoa học: Hiểu biết về các phương pháp
nghiên cứu thị trường như khảo sát, phỏng vấn, quan sát và phân tích dữ liệu thị trường. ❖ Cải thiện
– Kiến thức chuyên sâu về nghiên cứu thị trường: bổ sung, nắm vững các kiến thức
liên quan đến nghiên cứu thị trường trong quá trình học tại trường lớp.
– Kiến thức về thị trường: bao gồm cấu trúc, đặc điểm của thị trường, các nhân tố
ảnh hưởng, và xu hướng phát triển của thị trường đó. 2.1.1.2. Kỹ năng ❖ Đã có
– Kỹ năng nghiên cứu: Kỹ năng tìm kiếm thông tin, tài liệu; Khả năng phân tích dữ
liệu và sử dụng các công cụ phân tích thống kê như SPSS, Excel; Lập bảng khảo sát, đặt câu hỏi phỏng vấn…
– Thích nghi nhanh với thị trường biến đổi: Cập nhật nhanh chóng xu hướng của thị
trường; bình tĩnh giải quyết trước các biến số, phát sinh trong quá trình làm việc. ❖ Cải thiện
– Kỹ năng giao tiếp: Khả năng giao tiếp hiệu quả để tương tác với đối tượng khảo
sát và trong làm việc nhóm; Khả năng thuyết trình tự tin và trình bày kết quả nghiên cứu
một cách logic và thuyết phục; Khả năng giao tiếp bằng Tiếng Anh. 14
– Kỹ năng quản lý dự án: Khả năng quản lý dự án nghiên cứu từ việc lập kế hoạch,
tổ chức và điều hành các hoạt động nghiên cứu một cách hiệu quả để đảm bảo đạt được mục tiêu nghiên cứu.
– Tầm nhìn chiến lược, dự đoán xu hướng thị trường và đề xuất giải pháp phát triển cho doanh nghiệp. 2.1.1.3. Kinh nghiệm ❖ Đã có
Kinh nghiệm nghiên cứu khi tham gia thảo luận trong quá trình học tập trên lớp:
Tham gia “Nghiên cứu ảnh hưởng của chiến lược Marketing thông qua thái độ đến quyết
định mua khóa học Tiếng Anh Prep của sinh viên Đại học Thương mại”; Tham gia
“Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua mỹ phẩm thiên nhiên của sinh
viên trên địa bàn Thành phố Hà Nội”. ❖ Cải thiện
Trải nghiệm thực tế: Tham gia nghiên cứu thị trường cho một công ty, doanh nghiệp;
Tiếp xúc với các nhà nghiên cứu thị trường chuyên nghiệp. 2.1.1.4. Mối quan hệ ❖ Đã có
Có tương đối bạn bè theo học chuyên ngành Marketing thương mại và có định hướng
trở thành nhà nghiên cứu thị trường. ❖ Cải thiện
Có thêm các mối quan hệ học hỏi với các đàn anh, đàn chị cùng chuyên ngành
Marketing; các mối quan hệ với đồng nghiệp là những người đi trước trong lĩnh vực
nghiên cứu thị trường khi đi làm hoặc thực tập.
2.1.1.5. Tư duy đổi mới ❖ Đã có
Luôn cập nhật, tiếp thu và biết ứng dụng những đổi mới của công nghệ vào quá trình
nghiên cứu thị trường. ❖ Cải thiện
Khả năng tư duy, làm việc sáng tạo, hiệu quả.
2.1.1.6. Thái độ – Đạo đức ❖ Đã có
– Ý thức trách nhiệm cao với công việc: Hoàn thành nhiệm vụ được giao đúng giờ;
trung thực, khách quan trong công việc.
– Tích cực trong quá trình làm việc: cố gắng tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa các thành
viên trong nhóm; tích cực lắng nghe ý kiến, góp ý của các thành viên ❖ Cải thiện
– Hăng hái đóng góp ý kiến – Chăm chỉ, cần cù 15
2.2.1. Phân tích năng lực hiện tại của bản thân dưới vai trò là một nhà quản
trị Marketing tương lai đối với quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam 2.2.1.1. Kiến thức
Bản thân em đang là sinh viên năm 2 khoa Marketing thương mại, Trường Đại học
Thương mại. Qua việc học tập trên giảng đường và tự nghiên cứu, em nhận thấy bản
thân mình đã nắm được các khái niệm và nguyên tắc cơ bản trong marketing, hiểu biết
về những yếu tố của Marketing như phân tích thị trường, quảng cáo, quan hệ khách hàng
và tiếp thị trong môi trường kinh tế độc lập, tự chủ tại Việt Nam.
Không chỉ dừng lại ở đó, để đảm bảo kiến thức đặc biệt là một ngành nghề đòi hỏi
khá cao như quản trị Marketing. Em luôn theo dõi và tìm hiểu về các xu hướng, phương
pháp và công cụ Marketing mới nhất. Thị trường và môi trường kinh tế luôn thay đổi,
do đó việc nắm bắt và thích nghi với những thay đổi sẽ giúp trong tương lai em có thể
áp dụng các chiến lược tiếp thị một cách hiệu quả hơn. 2.2.1.2. Kỹ năng
Một số kỹ năng cần thiết và phù hợp của bản thân với vị trí quản trị marketing:
Kỹ năng nghiên cứu thị trường: Trong và trình học tập và thực hành trong thực tế,
em đã biết sử dụng các phương pháp nghiên cứu thị trường như khảo sát, phỏng vấn,
quan sát và phân tích dữ liệu để hiểu rõ hơn về thị trường.
Kỹ năng xây dựng và triển khai các chiến lược Marketing: Việc xây dựng và triển
khai các chiến lược marketing phù hợp là một yếu tố rất quan trọng để có thể trở thành
một nhà quản trị Marketing. Hiểu rõ được tầm quan trọng đó, tại thời điểm hiện tại, em
đã tìm hiểu về các yếu tố trong marketing mix bao gồm sản phẩm (product), giá cả
(price), kênh phân phối (place) và quảng cáo (promotion); tìm hiểu về các yếu tố khác
liên quan để có thể xây dựng những chiến lược marketing chất lượng trong tương lai.
Quản lý dự án: Em cảm thấy bản mình có khả năng lập kế hoạch, phân công công
việc, giám sát tiến độ của các dự án đã thực hiện. Biết sử dụng một số công cụ quản lý
dự án như biểu đồ Gantt hay biểu đồ phân chia công việc,...
Kỹ năng mềm: Ngoài các kỹ năng chuyên môn kể trên, em nhận thấy ở bản thân có
một số kỹ năng như làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng quản lý thời gian 2.2.1.3. Kinh nghiệm
Em đã có một số kinh nghiệm quan trọng trong việc lập kế hoạch, xây dựng chiến
dịch truyền thông và sử dụng công cụ Marketing thông qua việc tham gia vào các hoạt
động teamwork trên lớp. Trong quá trình này, em đã học cách làm việc nhóm, giao tiếp
hiệu quả và đóng góp ý kiến trong việc lập kế hoạch và thực hiện các dự án. Em đã rèn
kỹ năng phân công công việc, quản lý thời gian và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả
thông qua việc làm việc cùng với đồng đội. Điều này đã giúp em hiểu rõ tầm quan trọng
của việc làm việc hợp tác trong môi trường đa dạng và đóng góp ý kiến xây dựng.
Bên cạnh đó, em đã tham gia vào các hoạt động của CLB và khoa trường liên quan
đến Marketing. Đây là cơ hội để em tiếp cận kiến thức chuyên môn và rèn luyện kỹ năng
thực tế trong lĩnh vực này. Em đã học về các chiến lược marketing, phân tích thị trường,
quảng cáo, truyền thông và các công cụ marketing khác. Thông qua việc tham gia vào 16
những dự án thực tế, em đã có cơ hội áp dụng những kiến thức đã học và rèn luyện kỹ năng thực tế.
Ngoài ra, em cũng đã nâng cao kinh nghiệm làm việc của mình thông qua việc đi
làm thêm. Trong môi trường làm việc thực tế, em đã đối mặt với những thách thức và
tình huống phức tạp. Điều này đã giúp em rèn luyện khả năng quản lý thời gian, tư duy
linh hoạt và khả năng giải quyết vấn đề. Em đã có cơ hội tìm hiểu về quy trình làm việc
trong một tổ chức, tương tác với khách hàng, đối tác và xây dựng hình ảnh thương hiệu. 2.2.1.4. Mối quan hệ
Mối quan hệ với bạn bè, thầy cô và những người đi trước là rất quan trọng đối với
sự phát triển của em trong’. Em luôn tích cực xây dựng mối quan hệ này để có thể học
hỏi từ kinh nghiệm của họ và mở ra những cơ hội phát triển trong tương lai.
Với bạn bè, em luôn tạo ra môi trường hỗ trợ và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với
nhau. Chúng tôi thường thảo luận về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực chúng tôi quan
tâm, cùng nhau nghiên cứu và tìm hiểu những xu hướng mới. Bằng cách này, em không
chỉ có thể mở rộng kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm.
Với thầy cô và những người đi trước, em luôn tôn trọng và tận dụng những kiến
thức và kinh nghiệm mà họ chia sẻ. Em thường xuyên tham gia các buổi hội thảo, lớp
học ngoại khóa hoặc tìm kiếm cơ hội thực tập để có thể học tập từ những chuyên gia
trong lĩnh vực của mình. Em cũng luôn tìm kiếm cơ hội tham gia vào các dự án và hoạt
động mà những người đi trước đã từng tham gia, nhằm học hỏi từ các bước đi và quyết định của họ.
Việc xây dựng mối quan hệ tốt với bạn bè, thầy cô và những người đi trước không
chỉ giúp em mở rộng kiến thức và kỹ năng, mà còn tạo ra những cơ hội phát triển trong
tương lai. Mối quan hệ này còn giúp em xây dựng mạng lưới gắn kết trong lĩnh vực của
mình và tạo điều kiện cho sự thành công trong sự nghiệp.
2.2.1.5. Tư duy đổi mới
Em nhận thấy ở bản thân mình có một khả năng tư duy đổi mới và sáng tạo mạnh
mẽ đặc trong lĩnh vực quản trị marketing. Em luôn khai thác các công nghệ hiện đại,
như kỹ thuật số và truyền thông xã hội, để phát triển chiến lược tiếp thị đột phá và hiệu
quả. Điều này cho phép em mở rộng tầm nhìn và tận dụng các công cụ và nguồn tài
nguyên kỹ thuật để đạt được hiệu quả cao hơn trong việc xây dựng thương hiệu, tăng cường.
Quản trị marketing là một lĩnh vực đòi hỏi sự tư duy linh hoạt, khả năng phân tích
và đánh giá, cùng với sự sáng tạo và khả năng áp dụng công nghệ. Em tin rằng khả năng
tư duy đổi mới và sáng tạo sẽ giúp em nắm bắt được các cơ hội mới, giải quyết các thách
thức và đạt được thành công trong vai trò quản trị marketing.ng tiếp cận khách hàng và tăng doanh số bán hàng.
2.2.1.6. Thái độ – Đạo đức
Em luôn thức hiện đúng các quy tắc và chuẩn mực đạo đức trong học tập và công
việc đặc biệt là trong lĩnh vực Marketing
Luôn tích cực tham gia vào các hoạt động công đồng và bảo vệ lợi ích chung trong
quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam 17
Trong thế giới hiện đại, nơi mà mọi thứ thay đổi chóng mặt, marketing đóng vai trò
như ngón tay dẫn dắt xu hướng, kiến tạo tương lai cho các doanh nghiệp và thương hiệu.
Nghề marketing không chỉ đơn thuần là quảng bá sản phẩm hay dịch vụ, mà còn là nghệ
thuật kết nối, thấu hiểu và tạo dựng mối quan hệ bền chặt với khách hàng. Tương lai của
ngành marketing hứa hẹn sẽ bùng nổ với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ. Là một
cá nhân trong thế hệ trẻ năng động, là một sinh viên ngành marketing, với sáng tạo và
đam mê khám phá, tôi chọn việc làm theo đúng chuyên ngành mình học là con đường
sự nghiệp của mình. Với mong muốn được góp phần tạo dựng những thương hiệu Việt
Nam lớn mạnh, đóng góp một phần công sức nhỏ bé của bản thân vào quá trình xây
dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam, tôi sẵn sàng học hỏi, trau dồi kiến thức
và kỹ năng để trở thành một marketer chuyên nghiệp, bản lĩnh và thành công. Cụ thể
hơn tôi có mong muốn trở thành một chuyên gia marketing trong lĩnh vực mĩ phẩm– làm đẹp.
2.3.1. Phân tích năng lực bản nhân liên quan đến xây dựng nền kinh tế độc
lập, tự chủ của Việt Nam 2.3.1.1. Kiến thức
Để trở thành một chuyên gia marketing thành công trong lĩnh vực mỹ phẩm làm
đẹp, tôi cần trang bị cho mình một nền tảng kiến thức vững chắc.
Thứ nhất là các kiến thức giáo dục đại cương theo chuẩn chương trình đào tạo quốc
gia khối ngành Kinh tế, quản lý và kinh doanh và ngành marketing. Các kiến thức rộng
và bao quát về kinh tế và kinh doanh như: kiến thức về kinh tế học vi mô; kinh tế học vĩ
mô, các kiến thức về kinh tế xã hội; các kiến thức về các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp,
về các luật căn bản và luật kinh tế.
Thứ hai là kiến thức chuyên môn về ngành marketing. Dù làm việc trong bất cứ
mảng nhỏ nào trong ngành, chúng ta cũng cần phải nắm được các kiến thức tổng quát
về marketing. Đó là kiến thức về thị trường như hiểu biết về thị trường mục tiêu, nhận
biết được nhu cầu và hành vi mua khách hàng; khả năng nghiên cứu và phân tích thị
trường để xác định cơ hội và thách thức của sản phẩm cũng như doanh nghiệp; nắm bắt
các xu hướng mới nhất trong ngành marketing và áp dụng vào thực tế. Chúng ta cũng
cần hiểu rõ về sản phẩm/ dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp, điểm mạnh, điểm yếu và
lợi thế cạnh tranh của công ty. Ta cần nắm vững các kênh marketing truyền thống và
kênh marketing hiện đại để có thể lựa chọn kênh marketing phù hợp với mục tiêu và
ngân sách của chiến dịch marketing.
Thứ ba, khi làm việc trong lĩnh vực mĩ phẩm, làm đẹp, ta cần trang bị cho mình các
kiến thức về da, về các thành phần, công dụng của các loại mỹ phẩm. Cụ thể, ta cần hiểu
rõ cấu trúc, chức năng và các loại da khác nhau; nắm vững các vấn đề da thường gặp và
nguyên nhân của chúng. Đồng thời, ta phải hiểu rõ thành phần, công dụng của các hoạt
chất trong các sản phẩm mỹ phẩm, nắm vững các quy định về an toàn và chất lượng mỹ phẩm. 2.3.1.2. Kỹ năng
Kỹ năng cũng là một yếu tố vô cùng quan trong khi làm marketing. Bởi chỉ có kiến
thức mà không có kỹ năng để thực hiện thì công việc không thể hoàn thành một cách tốt nhất được. 18
Ta cần có kỹ năng thu thập và phân tích dữ liệu thị trường, khách hàng và đối thủ
cạnh tranh, đồng thời là kỹ năng sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu để đưa ra quyết
định sáng suốt. Kỹ năng tiếp theo cần rèn luyện là kỹ năng giao tiếp để có thể truyền đạt
thông điệp rõ ràng và hiệu quả, trình bày ý tưởng để thuyết phục khách hàng và đối tác
cũng như giao tiếp hiệu quả với các đồng nghiệp và cấp trên để hoàn thành công việc.
Hơn nữa, ta cần thành thạo các kỹ năng về công nghệ như sử dụng các công cụ marketing
automation để tối ưu hiệu quả công việc. Ngoài ra, kỹ năng làm việc nhóm cũng rất cần
thiết cho vị trí chuyên gia marketing. Khi phối hợp với đồng nghiệp, không chỉ trong
nội bộ nhóm mà còn với các bộ phận khác như sales, design… chúng ta có thể hoàn
thành công việc dễ dàng hơn. 2.3.1.3. Kinh nghiệm
Để có thể làm tốt ở vị trí chuyên viên marketing, ta cần có kinh nghiệm thực tế. Các
kinh nghiệm này có thể thông qua tham gia các dự án marketing thực tế để áp dụng các
kiến thức đã học vào thực tiễn. Ta có thể tìm kiếm cơ hội thực tập hoặc làm việc bán
thời gian tại các công ty marketing và tham gia các hoạt động marketing tình nguyện
cho các tổ chức phi lợi nhuận để trau dồi kinh nghiệm, phục vụ nhu cầu công việc trong tương lai. 2.3.1.4. Mối quan hệ
Kết nối các mối quan hệ là một phần quan trọng để có thể trở thành một chuyên gia
marketing. Ta có thể xây dựng mối quan hệ bằng nhiều cách như tham gia các hội nhóm
chuyên nghiệp, tham gia các sự kiện networking, kết nối trên mạng xã hội hay cung cấp
các nội dung có giá trị,.. Từ đó ta có thể gặp gỡ những người có cùng sở thích và xây
dựng mối quan hệ với họ. Qua việc xây dựng mạng lưới quan hệ mạnh mẽ, tôi có thể
mở rộng thị trường, tăng cường sự tin tưởng và uy tín, thu thập thông tin thị trường để
tằn hiệu quả cho các chiến dịch marketing và xây dựng thương hiệu vững chắc cho doanh nghiệp.
2.3.1.5. Tư duy đổi mới
Tư duy đổi mới trong marketing là cách tiếp cận sáng tạo và đột phá để giải quyết
các vấn đề, nắm bắt cơ hội và tạo ra lợi thế cạnh tranh trong thị trường luôn thay đổi.
Nó đòi hỏi sự phá vỡ các quy tắc truyền thống, thử nghiệm những điều mới mẻ và sẵn
sàng chấp nhận rủi ro. Tư duy ấy thể hiện thông qua các biểu hiện như:
– Tập trung vào khách hàng: Hiểu rõ nhu cầu, mong muốn và hành vi của khách
hàng là nền tảng cho mọi hoạt động Marketing. Doanh nghiệp cần sử dụng các phương
pháp nghiên cứu mới mẻ và sáng tạo để thu thập dữ liệu khách hàng và đưa ra những giải pháp phù hợp.
– Sử dụng công nghệ: Công nghệ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong
Marketing. Doanh nghiệp cần áp dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu
lớn, thực tế ảo... để nâng cao hiệu quả của các chiến dịch marketing.
– Tư duy đa chiều: marketing không chỉ là quảng cáo sản phẩm hay dịch vụ. Doanh
nghiệp cần xây dựng thương hiệu, tạo ra trải nghiệm khách hàng độc đáo và tham gia
vào các hoạt động xã hội để tạo dựng mối quan hệ bền chặt với khách hàng.
– Lắng nghe và học hỏi: Doanh nghiệp cần lắng nghe phản hồi của khách hàng, học
hỏi từ các đối thủ cạnh tranh và cập nhật các xu hướng mới nhất để liên tục đổi mới và
cải tiến hoạt động marketing. 19
2.3.1.6. Thái độ – Đạo đức
Để hoàn thành tốt công việc của một chuyên gia marketing, ta cần chủ động và tích
cực trong công việc, tìm kiếm cơ hội mới và giải quyết vấn đề một cách tích cực, không
ngại học hỏi và phát triển kiến thức và kỹ năng của bản thân bởi ngành marketing luôn
thay đổi và phát triển nhanh chóng; có trách nhiệm với công việc của mình, đảm bảo
chất lượng công việc và hoàn thành deadline.
Tôi cũng cần rèn luyện đạo đức tốt. Đó là trung thực và minh bạch trong mọi hoạt
động, cung cấp thông tin chính xác cho khách hàng, công bằng và tôn trọng với tất cả
khách hàng và đối thủ cạnh tranh, tôn trọng các giá trị văn hóa và đạo đức; giữ chữ tín,
bảo mật thông tin như bảo mật thông tin của khách hàng và doanh nghiệp, không tiết lộ
thông tin bí mật cho bên thứ ba.
Tóm lại, để trở thành một chuyên gia marketing trong lĩnh vực mỹ phẩm, làm đẹp,
tôi cần không ngừng nỗ lực trau dồi kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm cũng như nâng cao
phẩm chất đạo đức để đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp. Từ đó có thể góp phần mang lại
doanh thu cho doanh nghiệp, đóng góp vào quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam.
2.4.1. Phân tích năng lực bản nhân liên quan đến xây nền kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam
Việt Nam đến hiện nay đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ như …(trong phần thành tựu nhóm nội dung làm) thế nhưng,
bên cạnh đó vẫn tồn tại nhiều những thách thức hiện hữu. Bản chất của những khó khăn
đó nhìn chung là vẫn xuất phát từ trình độ và khả năng của mỗi công dân Việt Nam có
đóng góp như thế nào (bao gồm cả bộ phận cán bộ quản lý và người dân). Thế hệ trẻ là
tương lai của đất nước. Cũng chính vì thế tương lai của nền kinh tế Việt Nam độc lập,
tự chủ được đặt trên vai và dựa vào năng lực của thế hệ trẻ. Việt Nam đang dần chuyển
mình qua giai đoạn dân số già nên thế hệ trẻ cần cố gắng hơn bao giờ hết để đóng góp
năng lực và thể hiện vai trò của mình trong công cuộc xây dựng Tổ quốc.
Bản thân em là một sinh viên chuyên ngành Marketing Thương mại của trường Đại
học Thương mại với định hướng tương lai sẽ làm việc trong bộ phận quản trị truyền
thông, xúc tiến thương mại, quảng cáo của một doanh nghiệp thực phẩm. Marketing vốn
là một ngành nghề đang rất được quan tâm của xã hội bởi đây là nghề diễn ra hoạt động
kết nối doanh nghiệp với toàn xã hội. Nếu sự kết nối ấy diễn ra bền chặt, liên tục sẽ là
một sự đóng góp vào thúc đẩy nền kinh tế độc lập, tự chủ của nước nhà. Chính vì thế,
em tin rằng khi được làm việc trong lĩnh vực marketing sẽ gián tiếp thúc đẩy nền kinh
tế nước nhà. Để đạt được vai trò như thế thì chắc chắn sẽ cần phải trau dồi nhiều yếu tố
quan trọng như kiến thức, kỹ năng, kinh nghiêm, đổi mới tư duy và kỷ luật. 2.4.1.1. Kiến thức
Kiến thức là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Trải
qua 12 năm học, qua các cấp bậc học phổ thông đã cung cấp cho em nhiều kiến thức cơ
bản về nền kinh tế quốc gia. Thế nhưng, để đạt được mục tiêu về kiến thức thì cần phải
học hỏi nhiều hơn ở lĩnh vực chuyên ngành.
Trong quá trình học ngành Marketing ở trường Đại học, em cũng được tham gia các
lớp học phần như kinh tế vi mô, kinh tế vĩ mô, kinh tế chính trị mác lenin… giúp em có 20