Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING
– QUẢN TRỊ THƯƠNG HIỆU
----------- BÀI THẢO LUẬN
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài : Quan điểm, chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế và các
vấn đề đặt ra Nhóm : 5 Lớp học phần : 242_HCMI0131_26
Giảng viên hướng dẫn
: Hoàng Thị Thúy Kỳ II, Năm 2025 1 MỤC LỤC LỜI MỞ Đ
ẦU .............................................................................................................................. 4
CHƯƠNG I: YÊU CẦU KHÁCH QUAN CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ... 5
1.1. Khái niệm và n i dun ộ
g hội nhập kinh tế quốc tế ......................................................... 5
1.1.1 Khái niệm h i nh ộ p k ậ inh tế qu c t
ố ế ...................................................................... 5 1.1.2. Sự c n
ầ thiết khách quan của H i n ộ
hập kinh tế qu c t
ố ế ................................... 6
1.1.3 Nội dung của H i
ộ nhập kinh tế Qu c t
ố ế ............................................................... 8
1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế ................................. 9
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY Ở VIỆT
NAM.............................................................................................................................................12
2.1. Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam ......................................................12
2.1.1. Quá trình phát triển nhận thức của Đảng Cộng s n
ả Việt Nam về hội nhập
quốc tế ................................................................................................................................12
2.1.2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với các m t c ặ ủa đời s n ố g kinh tế.
.............................................................................................................................................13
2.2. Đánh giá quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam: ..................................17
2.2.1.Thành tựu nổi ậ
b t ...................................................................................................17
2.2.2.Hạn chế và thách thức...........................................................................................18
CHƯƠNG III: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP VỀ HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM. ...............................................................................................20
3.1. Những vấn đề đặt ra về hội nh p
ậ kinh tế qu c t
ố ế hiện nay .....................................20 3.1.1. H i
ộ nhập kinh tế g n
ắ liền với sự lãnh đạo của Đảng và lợi ích qu c ố gia, dân
tộc ........................................................................................................................................20
3.1.2. Vấn đề giữ gìn b n
ả sắc văn hóa, bình ổn chính trị và chủ quyền qu c gi ố a 21
3.1.3. Sức ép cạnh tranh trên thị trường quốc tế ........................................................24 2 3.1.4. H i
ộ nhập kinh tế quốc tế trong tình hình mới: chủ động, đổi mới, thiết thực
và hiệu quả ........................................................................................................................26 3.2. Gi i ả pháp nh m ằ
nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế qu c
ố tế trong phát triển ở
Việt Nam. ....................................................................................................................................28
3.2.1. Phát triển lực lượng sản xuất..............................................................................28
3.2.2. Hoàn thiện cơ chế về chính sách ........................................................................30 3.2.3 Chính sách h tr
ỗ ợ từ nhà nước............................................................................32
3.2.4. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ....................................................................34
KẾT LUẬN ................................................................................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................37 3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ, hội nhập kinh tế
quốc tế đã trở thành một xu thế tất yếu đối với tất cả các quốc gia, đặc biệt là các nước
đang phát triển như Việt Nam. Nhận thức rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của hội nhập
kinh tế đối với sự phát triển bền vững và lâu dài của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối, quan điểm và chủ trương về hội nhập kinh
tế quốc tế qua từng thời kỳ. Từ những bước đi thận trọng ban đầu đến các quy ết sách mang
tính đột phá, Đảng đã dẫn dắt quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng và hiệu quả, góp phần
nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội to lớn, quá trình hội nhập cũng đặt ra nhiều thách
thức và vấn đề phức tạp cần được nhận diện và giải quyết một cách toàn diện, khoa học và
phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước. Trên cơ sở đó, bài tiểu luận này sẽ t ập trung
làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập kinh tế quốc tế,
đồng thời phân tích một số vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện nhằm rút ra những nhận
định và đề xuất mang tính thực tiễn. 4
CHƯƠNG I: YÊU CẦU KHÁCH QUAN CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm và nội dung h i
ộ nhập kinh tế quốc tế
1.1.1 Khái niệm h i
ộ nhập kinh tế quốc tế a, Khái niệm
Hội nhập kinh tế quốc tế” là quá trình ở đó có sự liên kết, hợp tác giữa hai hay nhiều
quốc gia với nhau nhằm xây dựng và thực hiện một cơ chế chung, thống nhất điều chỉnh
dòng lưu chuyển của hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố liên quan quá trình sản xuất theo
hướng ngày càng tự do, thông thoáng, thuận lợi, góp phần hình thành thể chế kinh tế k hu vực hoặc thế giới.
Hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm các cấp độ chính: hội nhập song phương (giữa hai
nước), hội nhập khu vực (giữa nhóm các nước trong cùng khu vực hoặc liên khu vực) và
hội nhập toàn cầu (mở rộng trên phạm vi toàn thế giới)
Các mức độ hội nhập kinh tế được phân loại từ thấp đến cao như: thỏa thuận thương
mại ưu đãi (PTA), khu vực thương mại tự do (FTA), liên minh thuế quan (CU), thị trường
chung, liên minh kinh tế - tiền tệ b, Đặc điểm
Thứ nhất là quá trình loại bỏ các rào cản cản thuế quan và phi thuế quan đối với các
luồng di chuyển hàng hóa, dịch vụ và yếu tố sản xuất giữa các quốc gia hoặc giữa các khu
vực khác nhau của một quốc gia. Đặc điểm này chỉ ra việc xóa bỏ thuế quan giúp giả m chi
phí giao dịch, thúc đẩy thương mại và tăng cường tính cạnh tranh, trong khi tự do hóa dòng
vốn, lao động và công nghệ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Ở mức độ cao hơn, hội
nhập có thể dẫn đến việc hình thành mục tiêu thị trường chung, nơi các chí nh sách kinh tế
được điều chỉnh một cách đồng bộ
Thứ hai là việc loại bỏ sự phân biệt đối xử giữa các chủ thể kinh tế thuộc các quốc
gia khác nhau. Đảm bảo doanh nghiệp, nhà đầu tư và lao động nước ngoài được đối xử
công bằng như đối với chủ thể trong nước. Điều này thể hiện qua các nguyên tắc đối xử
quốc gia (NT) và đối xử tối huệ quốc (MFN) trong các hiệp định thương mại như WTO, 5 CPTPP hay các FTA
, giúp thúc đẩy thương mại, thu hút đầu tư và tăng cường cạnh tranh giữa các nước.
Thứ ba là sự kết hợp giữa các nền kinh tế kinh tế khác nhau dẫn đến hình thành một
khu vực kinh tế rộng lớn hơn. Sự kết hợp sẽ tạo điều kiện cho thương mại, đầu tư và sản
xuất diễn ra thuận lợi hơn. Quá trình này diễn ra theo nhiều cấp độ, từ khu vực thươn g mại
tự do (FTA) đến liên minh kinh tế, với điển hình như Liên minh châu Âu (EU). Việc mở
rộng không gian kinh tế giúp tăng cường thương mại, thu hút đầu tư và nâng cao năng lực
cạnh tranh, giúp chênh lệch giữa các nhóm nước phát triển và đang phát triể n
Thứ tư là quá trình đó sẽ dẫn đến các nền kinh tế vận hành hiệu quả hơn và phụ thuộc
lẫn nhau. Đặc điểm này thể hiện sự tối ưu hóa nguồn lực, chuyên môn hóa sản xuất và mở
rộng quy mô thị trường, sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm chi phí sản xuất. Bê n cạnh
đó, quá trình này cũng làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau, khi các quốc gia kết nối chặt
chẽ về thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng quốc tế.
1.1.2. Sự cần thiết khách quan của Hội nh p
ậ kinh tế qu c t ố ế
a. Trong xu thế khách quan trong bối cảnh toàn cầu hoá thế giới:
Toàn cầu hoá là quá trình tạo ra liên kết và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa
các uốn gia trên quy mô toàn cầu. Toàn cầu hoá diễn ra trên nhiều phương diện, trong đó
toàn cầu hoá kinh tế là xu thế nổi trội nhất; vừa là trung tâm vừa là cơ sở và cũng là động
lực thúc đẩy toàn cầu hoá các lĩnh vực khác. Toàn cầu hoá kinh tế là sự gia tăng nhanh
chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động và phát triển hướng tới một nền kinh tế thế giới thống nhất.
Trong toàn cầu hoá kinh tế, các yếu tố sản xuất được lưu thông trên phạm vi toàn cầu.
Do đó, nếu không hội nhập kinh tế quốc tế, các nước không thể tự đảm bảo được các điều
kiện cần thiết cho sản xuất trong nước.
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cơ hội để các quốc gia giải quyết những vấn đề toàn
cầu đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều, tận dụng được các thành tựu của cuộc cách
mạng công nghiệp, biến nó thành động lực cho sự phát triển. 6
b. Hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức phát triển phổ biến của các nước, nhất là các
nước đang và kém phát triển trong điều kiện hiện nay:
Đối với các nước đang và kém phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để tiếp
cận và sử dụng được các nguồn lực bên ngoài như tài chính, khoa học – công nghệ, kinh
nghiệm của các nước cho phát triển.
Hội nhập kinh tế quốc tế là con đường có thể giúp cho các nước đang và kém phát
triển có thể tận dụng thời cơ phát triển rút ngắn, thu hẹp khoảng cách với các nước tiên
tiến, khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng rõ rệt.
Từ đó, giúp mở cửa thị trường, thu hút vốn, thúc đẩy công nghiệp hoá, tăng tích lũy,
tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới và nâng cao mức thu nhập tương đối của các tầng lớp dân cư.
Các nước đang và kém phát triển cần phải có chiến lược hợp lý, tìm kiếm các đối
sách phù hợp để thích ứng với quá trình toàn cầu hoá đa bình diện và đầy nghịch lý để hạn
chế đối mặt với những rủi ro, thách thức do các nước TBCN đem lại (Gia tăng sự phụ th u ộc
do nợ nước ngoài, bất bình đẳng trong trao đổi mậu dịch – thương mại giữa các nước đang
phát triển và phát triển).
c. Tạo điều kiện mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học – c ông nghệ, vốn, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong nước:
Hội nhập kinh tế quốc tế thực chất là mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại phát
triển, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước, tận dụng các lợi thế kinh tế của nước ta trong
phân công lao động quốc tế, phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, bề n vững và
chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang chiều sâu với hiệu quả cao.
Hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý, hiện
đại và hiệu quả hơn, qua đó hình thành các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn để nâng cao hiệu quả
và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các sản phẩm và doanh nghiệp trong nước, tạo
cơ hội cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường, công nghệ và đối tác quốc tế, đồng thời giúp
nhà hoạch định chính sách xây dựng chiến lược phát triển phù hợp với xu thế toàn cầu.
d. Tạo điều kiện thúc đẩy hội nhập các lĩnh vực văn hoá, chính trị, củng cố an ninh – quốc phòng: 7
Hội nhập kinh tế quốc tế là tiền đề cho hội nhập về văn hoá, tạo điều kiện để thu
những giá trị tinh hoa của thế giới, bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hoá, văn minh
của thế giới để làm giàu thêm văn hoá dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội
Khi những công tác này thực hiện tốt sẽ có tác động mạnh đến hội nhập chính trị, tạo
điều kiện cho cải cách toàn diện hướng tới xây dựng một Nhà nước pháp quyền XHCN,
xây dựng một xã hội mở, dân chủ và văn minh; tạo điều kiện cho mỗi nước tìm cho mình
một vị trí thích hợp trong trật tự quốc tế, nâng cao vai trò, uy tín và vị thế quốc tế của nước
ta trong các tổ chức chính trị, kinh tế toàn cầu.
Không những vậy còn đảm bảo an ninh quốc gia, duy trì hòa bình, ổn định khu vực
và quốc tế để tập trung cho phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời mở ra khả năng phối hợp
các nỗ lực và nguồn lực của các nước để giải quyết những vấn đề quan tâm chung như:
môi trường, biến đổi khí hậu, phòng/chống tội phạm và buôn lậu quốc tế.
1.1.3 Nội dung của H i n ộ h p
ậ kinh tế Qu c ố tế
Thứ nhất, chuẩn bị các điều kiện để thực hiện hội nhập hiệu thành công.
Hội nhập là tất yếu, tuy nhiên, đối với Việt Nam, hội nhập không phải bằng mọi giá.
Quá trình hội nhập phải được cân nhắc với lộ trình và cách thức tối ưu. Quá trình này đòi
hỏi phải có sự chuẩn bị các điều kiện trong nội bộ nền kinh tế cũng như các mối quan hệ quốc tế thích hợp.
Các điều kiện sẵn sàng về tư duy, sự tham gia của toàn xã hội, sự hoàn thiện và hiệu
lực của thể chế, nguồn nhân lực và sự am hiểu môi trường quốc tế; nền kinh tế có năng lực
xuất thực... là những điều kiện chủ yếu để thực hiện hội nhập thành công.
Thứ hai, thực hiện đa dạng các hình thức, mức độ hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ. Theo đó hội nhập kinh tế
quốc tế có thể được coi là nông, sâu tùy vào mức độ tham gia của một nước vào các quan
hệ kinh tế đối ngoại, các tổ chức kinh tế quốc tế hoặc khu vực.
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được chia thành các mức độ cơ bản từ thấp đến cao là:
- Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA) 8
- Khu vực mậu dịch tự do (FTA) - Liên minh thuế quan(CU)
- Thị trường chung ( hay thị trường duy nhất) - Liên minh kinh tế - tiề n tệ...
Xét về hình thức, hội nhập kinh tế quốc tế là toàn bộ các hoạt động kinh tế đối
ngoại của một nước gồm nhiều hình thức đa dạng như: ngoại thương, đầu tư quốc tế, hợp
tác quốc tế, dịch vụ thu ngoại tệ..
1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng về hội nh p
ậ kinh tế quốc tế
Từ những năm 1980 đến nay, Đản
g và Nhà nước đã sớm nhận thức được tính cần
thiết và tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế. Đường lối, chủ trương hội nhập kinh tế của
Đảng đã được đề ra nhất quán, không ngừng được hoàn thiện và triển khai tích cực, phù
hợp với tình hình cụ thể của đất nước.
Hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung trọng tâm của hội nhập quốc tế. Trong 30 năm
qua, các quan điểm, chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế mang tính nhất quán,
hệ thống, luôn được cập nhật và mang tính kế thừa qua các kỳ Đại hội.
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước. Đảng ta đề
ra đường lối Đổi mới toàn diện và sâu sắc mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Sự nghiệp Đổi mới
của Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi sâu sắc và một c ục
diện, trật tự thế giới mới đang hình thành, trong đó các nước có chế độ chính trị khác nhau
vừa đấu tranh vừa hợp tác. Đảng đã đưa ra chủ trương tranh thủ những điều kiện thuận lợi
về hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi vào vi ệc phân công
và hợp tác quốc tế trong “Hội đồng tương trợ kinh tế và mở rộng với các nước khác".
Tới Đại hội VII năm 1991, Đảng ta định hướng: “Độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa
dạng hoá quan hệ đối ngoại” với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước
trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Đây là một cột mốc
quan trọng đánh dấu bước khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trong
thời kỳ mới. Nhờ chủ trương này, Việt Nam đã đẩy lùi được chính sách bao vây cô lập của
các thế lực thù địch, không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại song phương
và đa phương sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã. 9
Tại Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996, thuật ngữ “hội nhập” bắt đầu được đề cập
trong văn kiện của Đảng: “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế
giới”. Đây là lần đầu tiên Nghị quyết của Đảng đề cập đến việc đẩy nhanh quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế nhằm mục tiêu phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước. Điều này
đánh dấu một bước chuyển biến cơ bản trong nhận thức về nhu cầu cần tích cực, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế.
Đại hội IX năm 2001 của Đảng nhấn mạnh việc “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo
đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội Đảng đã khẳng định tính tất
yếu, đánh giá bản chất của toàn cầu hoá và cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam
khi tham gia quá trình này.
Đảng chỉ rõ nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và
trên thế giới là một trong bốn nguy cơ và chúng ta có thể tận dụng những cơ hội mà hội
nhập kinh tế quốc tế mang lại để tránh khỏi nguy cơ này. Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị
khóa IX đã ban hành Nghị quyết s 07 ố
-NQ/TW “Về hội nhập kinh tế quốc tế”.
Tại Đại hội X năm 2006, Đảng ta đã nhấn mạnh chủ trương “chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác”. Sau khi Việt
Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào tháng 1/2007, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 5/2/2007 về một số chủ trương,
chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO.
Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đối ngoại của
Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, trong đó có chủ trương rất quan trọng là “chủ động
và tích cực hội nhập quốc tế”. Từ “hội nhập kinh tế quốc tế” của các kỳ đại hội trước,
chuyển sang “hội nhập quốc tế” một cách toàn diện là một phát triển quan trọng về tư duy
đối ngoại của Đảng ta tại Đại hội XI.
Để cụ thể hóa chủ trương này, ngày 10/4/2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về h i
ộ nhập quốc tế. Với Nghị quyết 22-NQ/TW, tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế quốc tế của đất nước đã chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn h ội nhập toàn 10
diện trên cả lĩnh vực cơ bản: Kinh tế; Chính trị, Quốc phòng và An ninh; Văn hóa, xã hội,
Khoa học công nghệ và Giáo dục, đào tạo.
Phát triển định hướng hội nhập quốc tế từ Đại hội XI
, Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục yêu cầu phải triển khai mạnh mẽ định hướng chiến
lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, trong đó hội nhập kinh tế là trọng tâm. Cụ thể:
“Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, xây
dựng và triển khai chiến lược tham gia các khu vực mậu dịch tự do với các đối tác kinh tế,
thương mại quan trọng…; Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; Đa dạ ng hóa, đa
phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường , một đối tác cụ
thể…; Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm thực thi có hiệu
quả các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết….
Ngày 5/11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số
06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định
chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới. Nghị quyết 06 - NQ/TW khóa XII nêu rõ mục tiêu thực hiện tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nhằm tăng cường khả năng tự chủ của nền
kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm q uản lý,
bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân, bảo tồn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ;
nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong 30 năm qua đã có những bước
tiến quan trọng. Trải qua giai đoạn thực hiện các cam kết ban đầu, đến nay quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế đang ngày càng đi vào chiều sâu. Có thể nói, dưới sự chỉ đạo của
Đảng, Việt Nam đã tích cực, chủ động để mở rộng thị trường ra nước ngoài và từng bước
khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế khu vực và quốc tế. 11
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 2.1. Thực tr n
ạ g hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
2.1.1. Quá trình phát triển nhận thức của Đảng C n ộ g s n
ả Việt Nam về hội nhập qu c ố tế
Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về hội nhập quốc tế là một hành trình lịch
sử đầy ý nghĩa, phản ánh sinh động sự trưởng thành trong tư duy lý luận và năng lực vận
dụng sáng tạo của Đảng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đây không chỉ là quá trình
điều chỉnh chính sách đối ngoại đơn thuần mà còn là sự thể hiện tầm nhìn chiến lược của
Đảng trong việc định hướng phát triển đất nước trong từng thời kỳ lịch sử.
Trong giai đoạn trước Đổi mới (trước năm 1986), nhận thức về hội nhập quốc tế của
Đảng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi bối cảnh Chiến tranh lạnh và sự phân chia hai cực của
thế giới. Thời kỳ này, quan hệ quốc tế của Việt Nam bị giới hạn chủ yếu trong phạm vi các
nước xã hội chủ nghĩa, với chính sách đối ngoại theo hướng "đóng", tập trung vào liên
minh chính trị-quân sự và chưa chú trọng đến hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này một phần
xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử đặc thù, khi đất nước vừa trải qua cuộc kháng c h iến chống
Mỹ và đang phải đối mặt với tình trạng bị bao vây, cấm vận. Tuy nhiên, một dấu mốc quan
trọng đã được thiết lập khi Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc năm 1977, đánh dấu bước
đầu trong tiến trình hội nhập quốc tế và khẳng định vị thế của một quốc gi a độc lập, có chủ
quyền trên trường quốc tế.
Bước sang giai đoạn Đổi mới (1986-2000), Đại hội VI (1986) đã mở ra một chương
mới trong nhận thức về hội nhập quốc tế với những đổi mới mang tính đột phá. Đảng đã
thể hiện tư duy chiến lược khi chuyển từ tư duy đối đầu sang đối thoại và hợp tác quốc tế,
đồng thời triển khai chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Đặc biệt,
Đảng đã nhận thức rõ tầm quan trọng của hội nhập kinh tế quốc tế như một động lực then
chốt cho phát triển đất nước. Những thành tựu quan trọng trong giai đoạn này không c hỉ
dừng lại ở việc bình thường hóa quan hệ với các cường quốc như Trung Quốc (1991) và
Hoa Kỳ (1995), mà còn thể hiện qua việc Việt Nam tích cực tham gia các tổ chức khu vực
và quốc tế như ASEAN (1995), APEC (1998) và ASEM (1996). Những bước đi này đã
góp phần phá vỡ thế bị bao vây, cô lập, mở ra không gian phát triển mới cho đất nước. 12
Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, nhận thức về hội nhập quốc tế của Đảng được nâng lên
một tầm cao mới, thể hiện sự chín muồi trong tư duy chiến lược. Đại hội IX (2001) đã đánh
dấu bước tiến quan trọng khi xác định hội nhập quốc tế là yêu cầu khách quan, lâu dài của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp đó, Đại hội X (2006) mở rộng tầm nhìn khi
xác định phạm vi hội nhập toàn diện trên các lĩnh vực, không chỉ giới hạn trong kinh tế mà
còn bao gồm chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Đặc biệt, Đại h ội XIII (2021)
đã có bước phát triển mới trong nhận thức khi nhấn mạnh sự gắn kết chặt chẽ giữa hội nhập
quốc tế với việc củng cố độc lập, tự chủ của đất nước. Những thành tựu nổi bật trong giai
đoạn này bao gồm việc gia nhập WTO (2007), ký kết và thực thi các FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA
, RCEP), đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN 2020, và hoàn
thành xuất sắc nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ 2020 -2021. Về
mặt kinh tế, hội nhập quốc tế đã tạo ra những đột phá ấn tượng: thu hút đầu tư nước ngoài
tăng mạnh, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng vượt bậc, môi trường kinh doanh được
cải thiện theo chuẩn mực quốc tế, góp phần quan trọng vào công cuộc hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước.
Nhìn lại quá trình phát triển nhận thức của Đảng về hội nhập quốc tế, có thể thấy đây
là một hành trình vận động không ngừng từ tư duy hạn chế sang toàn diện, từ thụ động
sang chủ động, tích cực. Sự phát triển này không chỉ phản ánh năng lực tư duy lý luận ngày
càng sâu sắc của Đảng mà còn thể hiện khả năng thích ứng linh hoạt trước những biến động
của tình hình quốc tế. Những thành tựu đạt được trong tiến trình hội nhập đã góp phần nâng
cao vị thế quốc tế của Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát tr iển bền vững của
đất nước trong thế kỷ XXI
. Điều này khẳng định tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại
của Đảng và mở ra triển vọng tươi sáng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong
bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng.
2.1.2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với các m t c
ặ ủa đời sống kinh tế. a. Tích cực :
Hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam tham gia vào thị trường
thế giới và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Nhờ đó, nền kinh tế Việt Nam duy trì được sự
tăng trưởng ổn định trong nhiều năm, với mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt
khoảng 6% từ năm 2007 đến nay. Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những quốc
gia hàng đầu về xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trên toàn cầu. Số liệu thống kê từ Bộ Công 13
Thương cho thấy, giá trị xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã tăng đáng kể, từ khoảng 48
tỷ USD năm 2007 lên đến khoảng 370 tỷ USD vào năm 2022. Tỷ lệ xuất khẩu so với GDP
của Việt Nam cũng tăng từ khoảng 45% năm 2007 lên khoảng 100% vào năm 2021. Đến
năm 2022, tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã chiếm tới 180% GDP,
khẳng định vị thế của Việt Nam là một trong những quốc gia có độ mở thương mại lớn trên thế giới.
Hội nhập kinh tế đã thu hút một lượng lớn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) vào
Việt Nam. Doanh nghiệp FDI đã đầu tư vào các lĩnh vực, như: công nghiệp chế biến, dịch
vụ, du lịch và cơ sở hạ tầng. Điều này đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo ra vi ệc
làm và nâng cao công nghệ sản xuất của Việt Nam. Theo Báo cáo Đầu tư Thế giới 2021
của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Việt Nam là quốc
gia có lượng FDI đạt mức cao nhất ở khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 15 trên thế giới vào năm 2020
Hội nhập kinh tế tạo điều kiện cho Việt Nam đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, giảm bớt sự
lệ thuộc vào một vài ngành công nghiệp chủ chốt hoặc nguồn tài nguyên nhất định. Trước
khi tham gia sâu rộng vào quá trình hội nhập, Việt Nam chủ yếu dựa vào nông nghiệp và
khai thác tài nguyên thiên nhiên như nông sản, khoáng sản và thủy sản. Tuy nhiên, quá
trình hội nhập đã thúc đẩy sự mở rộng và phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác
nhau, bao gồm chế biến, điện tử, ô tô, dịch vụ tài chính, du lịch và đóng tàu. Sự đa dạng
hóa này giúp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro khi phụ thuộc
vào một ngành hoặc nguồn lực duy nhất. Việc phát triển các ngành công nghiệp mới như
công nghệ thông tin, dịch vụ tài chính, du lịch và năng lượng tái tạo góp phần tăng cường
tính đa dạng và khả năng phục hồi của nền kinh tế. Đồng thời, hội nhập kinh tế cũng tạo
điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp cận các thị trường quốc tế và tham gia vào chuỗi cung
ứng toàn cầu, mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam và tạo ra sự đa dạng
trong các mối quan hệ thương mại và đầu tư.
Hội nhập kinh tế đã mở rộng khả năng tiếp cận vốn và công nghệ từ các đối tác quốc
tế. Việc thu hút vốn FDI và chuyển giao công nghệ đã góp phần nâng cao khả năng sản
xuất và năng lực cạnh tranh của Việt Nam. Điều này cũng thúc đẩy sự phát triển của các
ngành công nghiệp hiện đại và tạo ra những ưu thế cạnh tranh cho Việt Nam trong khu vực
và toàn cầu. Như vậy, việc mở cửa thị trường và ký các FTA đã tạo ra cơ hội cho các doanh 14
nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế, mở rộng khách hàng và tăng cường cạnh
tranh. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế tại Việt Nam.
Chính phủ đã triển khai các chương trình cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh
quốc gia và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Hội nhập kinh tế đã đem lại
cơ hội tiếp cận công nghệ và quản lý tiên tiến từ các quốc gia phát triển. Việt Nam đã học
hỏi và áp dụng các tiến bộ công nghệ, quản lý chất lượng và quy trình sả n xuất hiệu quả,
từ đó cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam và thúc đẩy sự phát triển
bền vững trong nhiều lĩnh vực. b. Tiêu cực:
Xét về cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu, Việt Nam vẫn chưa thực sự tự chủ và còn
phụ thuộc nhiều vào các yếu tố bên ngoài. Quy mô thị trường xuất nhập khẩu lớn hơn gấp
4 lần so với thị trường nội địa, và sự mất cân đối giữa hai thị trường này ngày càng gia
tăng. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn đóng vai trò chủ đạo
trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp
chế biến, chế tạo. Khu vực FDI này cũng kiểm soát phần lớn nguồn cung ứng nguyên vật
liệu, thiết kế, kiểu dáng, máy móc thiết bị, quy trình sản xuất, thị trường và khách hàng,
tức là nắm giữ gần như toàn bộ các khâu quan trọng và tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất trong
chuỗi giá trị. Ngoài ra, Việt Nam nhập khẩu chủ yếu các nguyên liệu và thiết bị phục vụ
sản xuất trong nước, trong khi xuất khẩu chủ yếu tập trung vào các sản phẩm gia công và
nguyên liệu thô. Điều này phản ánh tính thiếu độc lập của nền sản xuất trong nước và mức
độ phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài. Hội nhập kinh t ế cũng làm cho Việt Nam phụ
thuộc nhiều vào thị trường xuất khẩu, đặc biệt là một số thị trường chủ chốt. Việt Nam phụ
thuộc vào nhập khẩu từ thị trường châu Á, với tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu xấp xỉ
80%; phụ thuộc vào một số thị trường xuất khẩu, như: Trung Quốc, EU, Hoa Kỳ. Điều đó
dẫn đến mỗi một sự biến đổi trong thị trường này có thể ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh
tế và xuất khẩu của Việt Nam, cũng như nguy cơ bị trả đũa thương mại. Sự tăng trưởng
nhanh của xuất - nhập khẩu ở Việt Nam trong những năm qua đã có đóng góp lớn vào tăng
trưởng kinh tế. Tuy nhiên, việc này cũng đồng nghĩa nền kinh tế Việt Nam dễ bị tác động,
ảnh hưởng hơn từ những biến động về kinh tế, địa chính trị trên thế giới thông qua kênh thương mại. 15
Việc mở cửa thị trường và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài mang lại cho Việt Nam
cơ hội huy động vốn cho phát triển, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng sự phụ thuộc và
nguy cơ tổn thất khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu. Việc vay vốn hoặc phụ thuộc
vào đầu tư nước ngoài đồng nghĩa với việc Việt Nam phải đối mặt với các rủi ro liên quan
đến biến động tỷ giá và sự thay đổi trong chính sách tài chính, tiền tệ của các quốc gia khác
cũng như thị trường tài chính quốc tế. Mặc dù Việt Nam đã nỗ lực giảm tỷ lệ nợ nước ngoài
từ gần 50% GDP năm 2017 xuống còn khoảng 37% năm 2022, nhưng hiệu quả sử dụng
nợ thấp vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro liên quan đến khả năng trả nợ khi đến hạn. Rủi ro này gia
tăng khi hoạt động xuất khẩu gặp khó khăn và tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại. Xu
hướng mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A) gần đây gia tăng, đặc biệt là việc các
nhà đầu tư nước ngoài mua lại các dự án quan trọng trong các ngành và lĩnh vực then chốt
như năng lượng và hạ tầng. Năm 2022, tổng giá trị các giao dịch M&A tại Việt Nam đạt
5,7 tỷ USD. Hình thức đầu tư vốn thông qua M&A tại Việt Nam đang có xu hướng tăng
lên so với hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Điều này tạo ra nguy cơ các doanh
nghiệp Việt Nam bị thâu tóm, tiềm ẩn rủi ro đối với an ninh quốc gia.
Tham gia các FTA có thể ảnh hưởng đến chính sách và pháp luật của các quốc gia
thành viên, đòi hỏi tuân thủ các quy tắc về thuế quan, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường
và giải quyết tranh chấp. Việc này yêu cầu các quốc gia điều chỉnh chính sách và phá p luật
để phù hợp với các quy định của hiệp định. Đề xuất thuế suất tối thiểu toàn cầu của OECD
mang đến cả cơ hội và thách thức cho Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh thu hút FDI vào
các lĩnh vực công nghệ cao. Việt Nam cần áp dụng chính sách thuế này để tă ng thu ngân
sách, hỗ trợ nhà đầu tư theo các phương thức phù hợp với luật pháp quốc tế và tránh việc
ưu đãi thuế bị chuyển sang quốc gia khác.
Khi điều chỉnh chính sách và pháp luật để đáp ứng các FTA, Việt Nam cần đảm bảo
lợi ích kinh tế, chính trị và xã hội của quốc gia, xây dựng chính sách linh hoạt, phù hợp với
tình hình và mục tiêu phát triển. Việc tham gia FTA không được làm mất đi quyền tự c hủ
và khả năng tự quyết của quốc gia. Đây là một thách thức lớn đối với Việt Nam khi hệ
thống pháp luật chưa hoàn thiện và đồng bộ.
Trong những năm gần đây, Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào các doanh nghiệp
FDI, đặc biệt trong các ngành điện tử, ô tô, dệt may, điện lạnh và công nghệ thông tin. Năm
2022, khối doanh nghiệp FDI đóng góp 74% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, 16
chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu điện thoại, máy tính và máy móc. Xuất khẩu của Việt
Nam đạt thành tích cao nhờ đóng góp chủ yếu của khối FDI, trong khi doanh nghiệp trong
nước nhập siêu lớn. Điều này đặt ra yêu cầu về chất lượng xuất khẩu và khả năng ứn g biến
linh hoạt khi thị trường biến động. Sự phụ thuộc quá mức vào FDI có thể tạo ra rủi ro cho
nền kinh tế. Nếu các doanh nghiệp FDI rời đi hoặc giảm đầu tư, có thể gây ra sự thiếu ổn
định trong các ngành công nghiệp chủ chốt. Việc chuyển giao công nghệ từ các doanh
nghiệp FDI cho doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, đòi hỏi Việt Nam phải đầu tư lớn để
phát triển năng lực cạnh tranh. Sự phụ thuộc vào FDI cũng có thể tạo ra mối quan hệ thương
mại không cân bằng, với việc các doanh nghiệp FDI nhập khẩu nhiều nguyên liệu và thiết
bị, dẫn đến sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng quốc tế và khó khăn trong việc tạo ra giá trị gia tăng tại Việt Nam.
2.2. Đánh giá quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam:
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản và Nhà nước đã mang lại nhiều thành tựu đáng kể, đồng thời cũng bộc lộ những
hạn chế cần khắc phục để phát triển bền vững trong tương lai.
2.2.1.Thành tựu nổi bật
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng như:
Thứ nhất, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại: Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại
giao với 175 quốc gia và quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đặc
biệt, Việt Nam đã ký kết và thực thi 12 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), đang đàm
phán 4 FTA khác, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại tự do với 60 nền kinh tế, chiếm
90% kim ngạch thương mại của Việt Nam
Thứ hai, tăng trưởng xuất khẩu và thu hút đầu tư: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
của Việt Nam đã tăng từ 84,7 tỷ USD năm 2006 lên 668,5 tỷ USD năm 2021, với kim
ngạch xuất khẩu đạt 336,25 tỷ USD. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đóng góp
73,6% tổng kim ngạch xuất khẩu . Việt Nam cũng nằm trong nhóm 12 quốc gia thu hút
FDI thành công nhất, với gần 26.000 doanh nghiệp FDI hoạt động và tổng vốn cam kết đầu tư trên 330 tỷ USD 17
Thứ ba, cải thiện môi trường pháp lý và thể chế: Việt Nam đã ban hành hơn 160 luật
và sửa đổi bổ sung hơn 50 luật, góp phần hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Thứ tư, tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm: HNKTQT đã thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, tạo ra khoảng 3,7 triệu việc làm trực tiếp và gần 5 triệu việc làm gián tiếp trong khu vực FDI
, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
2.2.2.Hạn chế và thách thức
Bên cạnh những thành tựu quan trọng thì quá trình hội nhập kinh tế quốc tế c ũng bộc lộ một số hạn chế:
Thứ nhất, năng lực cạnh tranh còn thấp: Năng suất lao động của Việt Nam vẫn ở mức
thấp so với các nước trong khu vực. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2023, năng suất lao
động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành ước đạt 199,3 triệu đồng/lao động (tương
đương 8.380 USD/lao động) . Tính theo sức mua tương đương (PPP) năm 2021, năng suất
lao động của Việt Nam năm 2023 đạt 24,5 nghìn USD, chỉ bằng 11,4% của Singapore,
15,1% của Brunei, 35,5% của Malaysia, 65,4% của Thái Lan và 85,6% của Indonesia .
Thứ hai, tác động lan tỏa về công nghệ, kỹ năng của khu vực FDI ở Việt Nam còn
yếu. Một số lĩnh vực sản xuất được bảo hộ quá lâu, hạn chế cạnh tranh và cả sự tham gia
trong mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ phát
triển chưa mạnh, công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, vì vậy, khả năng tiếp nhận hiệu ứng
lan tỏa tích cực từ FDI còn rất hạn chế
Thứ ba, chính sách và thể chế chưa đồng bộ: Hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh,
không đồng bộ gây khó khăn trong việc thực hiện cam kết của các tổ chức kinh tế quốc tế.
Theo Thứ trưởng Trần Quốc Khánh, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam chưa
thực sự chủ động, chưa tận dụng được lợi thế và giải quyết tốt các quan hệ kinh tế tiềm
năng. Có những thời điểm chúng ta tập trung vào các lợi ích mang tính ngắn hạn như cắt
giảm thuế quan mà chưa chú trọng đúng mức đến các mục tiêu dài hạn như nâng cao nă ng
lực cạnh tranh, chất lượng tăng trưởng, cải cách môi trường, thể chế trong nước, khả năng
thích ứng nhanh của nền kinh tế với biến động bên ngoài 18
Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu: Mặc dù lao động Việt Nam
rất năng động và có tiềm năng, nhưng chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu của quá trình hội nhập. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2023 ước đạt 27%, ca
o hơn 0,6 điểm phần trăm so với năm 2022 . Tuy nhiên, con số này vẫn
thấp so với yêu cầu của các ngành công nghiệp hiện đại.
Thứ năm, tác động tiêu cực x
ã hội và môi trường: Sự gia tăng trong sản xuất và xuất
khẩu có thể gây ra vấn đề về ô nhiễm môi trường và bất bình đẳng xã hội. Ngoài ra, cơ sở
hạ tầng kém phát triển, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn, cũng là một trong những hạn
chế lớn của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Cơ sở hạ tầng, bao gồm hệ
thống giao thông, viễn thông, điện lực, nước sạch, cơ sở sản xuất… là yếu tố quan trọng
để kích thích hoạt động kinh tế phát triển. Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay vẫ n còn thiếu hụt
cơ sở hạ tầng đáp ứng được nhu cầu kinh tế và phục vụ sản xuất, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn
Như vậy trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có rất nhiều hạn chế và thách thức
trước mắt vô cùng là khó khăn. Nhưng không vì tế mà phủ nhận q uá trình hội nhập kinh tế
quốc tế đã mang lại nhiều thành tựu cho Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
mở rộng thị trường và nâng cao vị thế quốc tế. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, Việt
Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực c
ạnh tranh, cải thiện chất lượng
nguồn nhân lực và đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. 19
CHƯƠNG III: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP VỀ HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM.
3.1. Những vấn đề đặt ra về hội nh p
ậ kinh tế quốc tế hiện nay
3.1.1. Hội nhập kinh tế gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng và lợi ích quốc gia, dân t c ộ
Vai trò định hướng và dẫn dắt của Đảng trong tiến trình hội nhập kinh tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều lĩnh vực như
thương mại, đầu tư, tài chính, công nghệ, lao động... đòi hỏi phải có một chiến lược toàn
diện, dài hạn, đồng bộ. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo tối cao, giữ vai t rò
trung tâm trong việc hoạch định và điều phối quá trình hội nhập này. Từ Đại hội Đảng lần
thứ VI (1986) đến nay, Đảng đã không ngừng đổi mới tư duy, xác định rõ hội nhập kinh tế
là con đường tất yếu để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa .
Chính sự lãnh đạo của Đảng đã giúp Việt Nam từng bước hội nhập sâu rộng vào nền
kinh tế thế giới, thông qua việc gia nhập các tổ chức lớn như ASEAN, APEC , WTO, ký
kết hàng loạt các hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA..
. Việc tham gia các tổ chức và hiệp định này không chỉ mang lại cơ hội
mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, mà còn thúc đẩy cải cách
thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Hội nhập trên cơ sở bảo vệ lợi ích quốc gia – d ân tộc
Một nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình hội nhập mà Đảng luôn kiên định là: hội
nhập nhưng không đánh mất chủ quyền, độc lập dân tộc; mở cửa nhưng phải bảo vệ được
lợi ích quốc gia, lợi ích của nhân dân. Đảng đã chỉ đạo rõ ràng rằng mọi quyết sách về hội
nhập phải được cân nhắc kỹ lưỡng, phù hợp với điều kiện thực tế và định hướng phát triển của đất nước. Việc tham gia các FTA
, đặc biệt là các hiệp định có tiêu chuẩn cao, được xem xét
dựa trên nguyên tắc lợi ích tổng thể, lâu dài. Trong đó, những ngành, lĩnh vực nhạy cảm
như nông nghiệp, an ninh lương thực, văn hóa, an ninh quốc phòng... luôn được xem là
"vùng đỏ", cần được bảo vệ và có lộ trình mở cửa phù hợp. 20