



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH DOANH VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ ----------
BÀI THẢO LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề tài thảo luận:
QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA Nhóm thực hiện : Nhóm 6 Giảng viên hướng
: Ts. Hoàng Thị Thúy dẫn Lớp học phần : 242_HCMI0131_11 Hà Nội, 2024 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.....................2
1.1. Khái niệm và đặc điểm của hội nhập kinh tế quốc tế.........................................2
1.1.1. Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế..................................................................2
1.1.2. Đặc điểm của hội nhập kinh tế quốc tế.............................................................2
1.2. Các hình thức và nội dung hội nhập kinh tế quốc tế..........................................4
1.2.1. Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế............................................................4
1.2.2. Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế....................................................................5
1.3. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế....................................................................7
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ...................................................................................................................9
2.1. Quan điểm của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế...............................................9
2.2. Chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế qua các thời kỳ.................11
2.2.1. Giai đoạn 1986-1991: Khởi nguồn của hội nhập............................................11
2.2.2. Giai đoạn 1991-2006: Định hình chính sách hội nhập....................................12
2.2.3. Giai đoạn 2007-2016: Chủ động hội nhập sâu rộng.......................................14
2.2.4. Giai đoạn 2016-nay: Hội nhập toàn diện........................................................16
2.3. Các vấn đề đặt ra đối với hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam...................17
2.3.1. Thách thức từ quốc tế.....................................................................................17
2.3.2. Thách thức nội tại của Việt Nam....................................................................20
2.4. Những thành tựu và hạn chế của Việt Nam nhờ quan điểm, chủ trương của
Đảng............................................................................................................................22
2.4.1. Thành tựu.......................................................................................................22
2.4.2. Hạn chế..........................................................................................................24
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HỘI NHẬP KINH TẾ....................................................................................................27
3.1. Định hướng phát triển hội nhập kinh tế quốc tế...............................................27
3.2. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.........................28
3.2.1. Đối với nhà nước............................................................................................28
3.2.2. Đối với doanh nghiệp.....................................................................................30
3.2.3. Đối với người dân...........................................................................................32
KẾT LUẬN.....................................................................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................37 LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa, đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, quá trình hội nhập không
chỉ là phương tiện để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn thể hiện tư duy đổi mới, tầm
nhìn chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng và phát triển đất nước.
Kể từ khi công cuộc đổi mới được khởi xướng năm 1986, Đảng ta đã có những bước đi
quan trọng trong việc mở cửa nền kinh tế, từng bước tham gia sâu rộng vào các thể chế
kinh tế khu vực và toàn cầu, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong hội nhập
kinh tế quốc tế, thể hiện qua việc tham gia các tổ chức như ASEAN, WTO cũng như ký
kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Những bước đi này không chỉ tạo điều
kiện thuận lợi cho thương mại, đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế mà
còn đặt ra nhiều thách thức trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia, đảm bảo phát triển bền
vững và giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu quan điểm, chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế
quốc tế và các vấn đề đặt ra có ý nghĩa quan trọng, giúp làm rõ những định hướng chiến
lược của Đảng trong quá trình hội nhập, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức cần
phải vượt qua để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Thông qua đề tài này, chúng
em mong muốn góp phần hệ thống hóa quan điểm, đường lối của Đảng, đánh giá những
kết quả đạt được và đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập. 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm và đặc điểm của hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1. Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia tham gia vào nền kinh tế thế giới
thông qua việc mở rộng quan hệ thương mại, đầu tư, tài chính và hợp tác kinh tế với các
quốc gia, khu vực và tổ chức quốc tế. Quá trình này nhằm tận dụng lợi thế so sánh, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện đời sống xã hội.
Trong lịch sử phát triển của Việt Nam, hội nhập kinh tế quốc tế được Đảng Cộng sản
Việt Nam xác định là một nội dung quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế. Đặc
biệt, từ sau Đổi mới (1986), Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa, tham gia vào các
tổ chức kinh tế quốc tế như ASEAN, WTO, CPTPP, RCEP…
1.1.2. Đặc điểm của hội nhập kinh tế quốc tế
Tính tất yếu và khách quan
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa. Không một
quốc gia nào có thể phát triển bền vững mà không tham gia vào nền kinh tế thế giới. Đây
là một quá trình khách quan, xuất phát từ nhu cầu mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và
nâng cao vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế. Đối với Việt Nam, hội nhập kinh tế
đã trở thành một nội dung quan trọng trong đường lối phát triển đất nước. Kể từ sau Đổi
mới (1986), Việt Nam đã từng bước mở cửa nền kinh tế, tham gia các tổ chức kinh tế lớn
như ASEAN (1995), APEC (1998) và WTO (2007), tạo tiền đề quan trọng để phát triển bền vững.
Tính đa cấp độ và đa dạng
Hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau, từ song phương, khu vực
đến toàn cầu. Các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương giữa Việt Nam với các
đối tác như Nhật Bản, Hoa Kỳ hay Liên minh châu Âu (EU) giúp mở rộng thị trường xuất
khẩu. Ở cấp độ khu vực, Việt Nam là thành viên tích cực của ASEAN và tham gia vào
các hiệp định thương mại như RCEP, tạo ra cơ hội giao thương rộng lớn. Ở cấp độ toàn
cầu, việc gia nhập WTO đánh dấu bước chuyển mình quan trọng, giúp Việt Nam hòa
nhập với hệ thống kinh tế thế giới. Bên cạnh thương mại hàng hóa, hội nhập còn mở rộng 5
sang nhiều lĩnh vực khác như tài chính, đầu tư, công nghệ và lao động, cho thấy sự đa
dạng trong tiến trình hội nhập.
Tác động hai mặt
Hội nhập kinh tế quốc tế mang đến cả cơ hội và thách thức. Về mặt tích cực, hội nhập
giúp Việt Nam tiếp cận thị trường lớn hơn, thu hút đầu tư nước ngoài và học hỏi công
nghệ tiên tiến, từ đó nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Đồng thời, hội
nhập tạo động lực cải cách kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong
nước. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích, hội nhập cũng đặt ra nhiều thách thức. Cạnh
tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng gay gắt, đặc biệt trong các ngành công
nghiệp có trình độ phát triển thấp. Ngoài ra, nền kinh tế trong nước có thể chịu ảnh hưởng
từ các biến động kinh tế toàn cầu, khủng hoảng tài chính hoặc suy thoái kinh tế, gây ra
những tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế và đời sống nhân dân.
Sự chi phối của các tổ chức quốc tế và khu vực
Hội nhập kinh tế không chỉ đơn thuần là mở cửa thương mại mà còn đòi hỏi mỗi quốc
gia phải tuân thủ các quy định, cam kết chung của các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực.
Việt Nam đã phải điều chỉnh nhiều chính sách kinh tế, pháp luật để phù hợp với các tiêu
chuẩn của WTO, CPTPP hay RCEP. Điều này mang lại cơ hội tiếp cận các chuẩn mực
quốc tế, giúp nền kinh tế phát triển bền vững hơn. Tuy nhiên, việc tuân thủ các cam kết
quốc tế cũng đặt ra những thách thức, đặc biệt trong việc bảo vệ doanh nghiệp trong nước,
giữ vững quyền lợi quốc gia và đảm bảo tính chủ động trong hoạch định chính sách kinh tế.
Gắn liền với vai trò của Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong quá trình hội nhập, vai trò của Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam là vô
cùng quan trọng. Đảng đã đề ra đường lối hội nhập theo nguyên tắc chủ động, tích cực,
đảm bảo giữ vững độc lập, tự chủ và bảo vệ lợi ích dân tộc. Nhà nước đóng vai trò điều
tiết, ban hành các chính sách phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế
và hạn chế các tác động tiêu cực từ hội nhập. Chính sách công nghiệp, chính sách bảo vệ
doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như các chính sách thu hút đầu tư đều được Nhà nước xây
dựng nhằm tận dụng tối đa lợi ích từ quá trình hội nhập, đồng thời đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững. 6
1.2. Các hình thức và nội dung hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1. Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, trong
đó hai tiêu chí quan trọng là theo nội dung hội nhập và phạm vi hội nhập.
Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế theo nội dung
Dựa trên mức độ liên kết kinh tế giữa các quốc gia, hội nhập kinh tế có thể chia thành
các cấp độ từ thấp đến cao như sau:
Thỏa thuận thương mại ưu đãi (Preferential Trade Arrangement - PTA): Là cấp độ
thấp nhất của hội nhập kinh tế, trong đó các nước tham gia thỏa thuận dành cho nhau
những ưu đãi thuế quan hoặc phi thuế quan nhất định, nhưng chưa có cam kết xóa bỏ
hoàn toàn các rào cản thương mại.
Khu vực thương mại tự do (Free Trade Area - FTA): Các nước thành viên loại bỏ
thuế quan và hạn chế thương mại nội bộ nhưng vẫn giữ quyền tự quyết với chính sách
thương mại đối với các nước ngoài khối.
Liên minh thuế quan (Customs Union - CU): Các nước thành viên không chỉ loại bỏ
thuế quan nội khối mà còn áp dụng chính sách thuế quan chung đối với các nước ngoài khối.
Thị trường chung (Common Market - CM): Ngoài các yếu tố của liên minh thuế quan,
các nước còn cho phép sự dịch chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động giữa các thành viên.
Liên minh kinh tế - tiền tệ (Economic Union - EU): Bên cạnh những yếu tố của thị
trường chung, các nước thành viên còn thống nhất chính sách kinh tế vĩ mô, bao gồm cả
chính sách tiền tệ và tài khóa chung.
Liên minh chính trị (Political Union): Đây là mức độ hội nhập cao nhất, trong đó các
quốc gia thành viên không chỉ hội nhập về kinh tế mà còn thống nhất về chính trị và chính sách đối ngoại.
Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế theo phạm vi
Bên cạnh cách phân loại theo nội dung, hội nhập kinh tế còn có thể được chia theo
phạm vi địa lý và quy mô như sau: 7
Hội nhập kinh tế song phương: Diễn ra giữa hai quốc gia thông qua các hiệp định
thương mại tự do (FTA) hoặc các thỏa thuận kinh tế đặc biệt.
Hội nhập kinh tế khu vực: Diễn ra giữa các nhóm quốc gia trong cùng khu vực địa lý
nhằm tăng cường hợp tác kinh tế và thương mại.
Hội nhập kinh tế toàn cầu: Hình thành trên phạm vi toàn thế giới, thể hiện qua sự
tham gia của các quốc gia vào các tổ chức kinh tế toàn cầu như Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB).
1.2.2. Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế
Liên kết, hợp tác dựa trên những chuẩn mực quốc tế
Hội nhập kinh tế không chỉ đơn thuần là việc tham gia vào các hoạt động thương mại
quốc tế mà còn đòi hỏi các quốc gia phải hợp tác dựa trên những chuẩn mực chung do
cộng đồng quốc tế thiết lập. Các chuẩn mực này bao gồm:
Tự do hóa thương mại và đầu tư: Các quốc gia thực hiện cắt giảm thuế quan, dỡ bỏ
rào cản thương mại và tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chảy hàng hóa, dịch vụ và vốn
giữa các nước. Ví dụ, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đặt ra các quy tắc về thương
mại công bằng, giúp giảm thiểu các hành vi bảo hộ.
Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: Việc tuân thủ các điều ước quốc tế như Hiệp định TRIPS
(về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại) đảm bảo lợi ích của các nhà sáng tạo và thúc đẩy đổi mới.
Chính sách cạnh tranh và chống độc quyền: Các quốc gia điều chỉnh luật pháp trong
nước để tránh các hành vi lạm dụng vị thế độc quyền, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và công bằng hơn.
Nhờ vào những cơ chế hợp tác này, các nền kinh tế có thể tận dụng lợi thế so sánh
của mình để phát triển bền vững hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Gia nhập vào các liên kết, tổ chức kinh tế quốc tế
Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của hội nhập kinh tế quốc tế là việc các quốc
gia trở thành thành viên của các tổ chức, liên minh kinh tế khu vực và toàn cầu. Việc gia
nhập này giúp các quốc gia mở rộng thị trường, tiếp cận nguồn vốn đầu tư và công nghệ
tiên tiến, đồng thời nâng cao vị thế trên trường quốc tế. 8
Ở cấp độ khu vực: Các liên kết kinh tế như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN) hay Liên minh châu Âu (EU) thúc đẩy thương mại nội khối bằng cách thiết lập
các khu vực thương mại tự do và giảm rào cản kinh tế giữa các thành viên.
Ở cấp độ toàn cầu: Việc gia nhập WTO giúp các quốc gia hưởng lợi từ một hệ thống
thương mại đa phương với các quy tắc thống nhất. Chẳng hạn, Việt Nam trở thành thành
viên WTO vào năm 2007, tạo ra động lực mạnh mẽ để cải cách kinh tế và thúc đẩy xuất khẩu.
Tuy nhiên, khi tham gia các tổ chức này, mỗi quốc gia cũng phải đáp ứng các yêu cầu
nghiêm ngặt về cải cách chính sách và thực thi cam kết, đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng về
cả thể chế và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Xây dựng và thực hiện các luật lệ, chuẩn mực, quy tắc quốc tế
Hội nhập kinh tế không chỉ dừng lại ở việc tham gia vào các liên kết kinh tế mà còn
yêu cầu các quốc gia điều chỉnh hệ thống luật pháp để phù hợp với các chuẩn mực quốc
tế. Việc này giúp tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn, đồng
thời tăng cường niềm tin của các đối tác thương mại và nhà đầu tư nước ngoài.
Cải cách pháp lý: Các quốc gia cần điều chỉnh luật thương mại, đầu tư, lao động và
môi trường để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Ví dụ, sau khi tham gia WTO, nhiều nước
đã sửa đổi hệ thống luật về thuế quan, xuất nhập khẩu và giải quyết tranh chấp thương mại.
Thực thi các hiệp định thương mại: Khi tham gia các hiệp định như Hiệp định Đối tác
Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) hoặc Hiệp định thương mại tự do
giữa EU và Việt Nam (EVFTA), các nước phải cam kết thực hiện những điều khoản liên
quan đến giảm thuế quan, bảo vệ quyền lợi người lao động và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường.
Đàm phán và ký kết các hiệp định mới: Hội nhập kinh tế là một quá trình liên tục, đòi
hỏi các quốc gia không ngừng tham gia vào các vòng đàm phán để điều chỉnh các quy tắc
thương mại và đầu tư phù hợp với bối cảnh mới. Ví dụ, Hiệp định tạo thuận lợi thương
mại (TFA) của WTO giúp đơn giản hóa thủ tục hải quan, tạo điều kiện cho thương mại
xuyên biên giới diễn ra thuận lợi hơn. 9
Nhìn chung, việc xây dựng và thực thi các quy tắc kinh tế quốc tế giúp đảm bảo một
hệ thống thương mại minh bạch, giảm thiểu xung đột và thúc đẩy phát triển kinh tế một cách bền vững.
1.3. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa, mang đến
nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đặt ra không ít thách thức. Việc tham gia sâu rộng vào
nền kinh tế toàn cầu giúp các quốc gia mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh,
đồng thời đối mặt với áp lực từ sự cạnh tranh và các vấn đề liên quan đến phát triển bền vững.
Thứ nhất, mở rộng thị trường và thúc đẩy phát triển kinh tế
Hội nhập giúp các doanh nghiệp tiếp cận nhiều thị trường quốc tế, gia tăng cơ hội
xuất khẩu, mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao năng suất lao động. Khi các rào cản
thương mại được dỡ bỏ, hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận thị
trường nước ngoài với chi phí thấp hơn. Điều này không chỉ giúp các doanh nghiệp tăng
trưởng mà còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế chung của quốc gia.
Bên cạnh đó, sự mở rộng thị trường cũng tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tham
gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tận dụng lợi thế về nhân công, tài nguyên và
công nghệ để phát triển bền vững.
Thứ hai, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư
Hội nhập giúp các quốc gia điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, giảm sự
phụ thuộc vào các ngành kinh tế truyền thống và phát triển các lĩnh vực có giá trị gia tăng
cao hơn. Việc gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế, tham gia vào các hiệp định thương
mại tự do (FTA) cũng tạo động lực để cải cách thể chế, nâng cao tính minh bạch và hấp
dẫn của môi trường đầu tư. Nhờ đó, các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn đầu tư
nước ngoài (FDI) dễ dàng hơn, đồng thời áp dụng các mô hình quản lý tiên tiến, nâng cao
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ ba, nâng cao trình độ nguồn nhân lực và phát triển khoa học công nghệ
Hội nhập giúp các quốc gia tiếp thu các thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến từ
các nền kinh tế phát triển, ứng dụng vào sản xuất và quản lý. Doanh nghiệp có thể tiếp
cận với công nghệ hiện đại, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và cải
thiện chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, hội nhập còn tạo cơ hội đào tạo và nâng cao tay 10
nghề cho người lao động thông qua các chương trình hợp tác quốc tế, giúp nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế.
Thứ tư, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng
Khi tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, các quốc gia có cơ hội nhập khẩu nhiều mặt
hàng chất lượng cao với giá cả cạnh tranh. Điều này giúp người tiêu dùng tiếp cận đa
dạng sản phẩm và dịch vụ tốt hơn, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống. Không chỉ vậy,
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nội địa và nước ngoài cũng thúc đẩy các công ty
trong nước nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến dịch vụ và giảm giá thành, mang lại
nhiều lợi ích thiết thực cho người dân.
Thứ năm, nâng cao vị thế quốc gia, tiếp cận xu hướng phát triển toàn cầu
Hội nhập giúp các quốc gia có điều kiện theo dõi và nắm bắt xu hướng kinh tế, chính
trị thế giới, từ đó điều chỉnh chiến lược phát triển phù hợp. Việc tham gia các tổ chức kinh
tế quốc tế giúp quốc gia có tiếng nói quan trọng hơn trong các vấn đề thương mại, đầu tư
và phát triển bền vững. Ngoài ra, thông qua hợp tác kinh tế, các quốc gia có cơ hội học
hỏi và tiếp thu kinh nghiệm quản lý, điều hành từ các nước tiên tiến, áp dụng vào thực
tiễn để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội.
Thứ sáu, thúc đẩy giao lưu văn hóa, hướng đến xã hội toàn diện hơn
Hội nhập không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà còn mở rộng ra văn hóa, xã
hội. Việc hợp tác và trao đổi với các nước giúp người dân có cơ hội tiếp xúc với nhiều
nền văn hóa khác nhau, làm phong phú đời sống tinh thần. Hội nhập cũng tạo động lực
cho các quốc gia xây dựng một xã hội phát triển toàn diện hơn, với chính sách an sinh xã
hội, giáo dục và y tế ngày càng được cải thiện.
Thứ bảy, sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn và tăng cường ổn định khu vực
Việc hợp tác kinh tế giữa các nước giúp khai thác tài nguyên một cách hợp lý hơn,
tránh lãng phí và đảm bảo sự phát triển bền vững. Đồng thời, các liên kết kinh tế chặt chẽ
cũng góp phần duy trì ổn định chính trị, tăng cường hòa bình và an ninh khu vực. 11
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1. Quan điểm của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước trong bối cảnh
quốc tế có nhiều thay đổi sâu sắc. Đảng ta đã đưa ra chủ trương tranh thủ những điều kiện
thuận lợi về hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi vào việc
phân công và hợp tác quốc tế trong “Hội đồng tương trợ kinh tế và mở rộng với các nước khác”.
Tại Đại hội lần thứ VII (năm 1991), Đảng ta đề ra phương châm “Việt Nam muốn là
bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát
triển”, đánh dấu cột mốc quan trọng khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế
quốc tế trong thời kỳ mới, không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại song
phương và đa phương sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã.
Tại Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996), với mục tiêu: “Xây dựng một nền kinh tế mở,
hội nhập với khu vực và thế giới”, Nghị quyết của Đảng đã đề cập đến việc đẩy nhanh
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mục tiêu phục vụ sự nghiệp phát triển của đất
nước, tiếp tục đánh dấu một bước chuyển biến cơ bản trong nhận thức về nhu cầu cần tích
cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Tại Đại hội IX (2001) của Đảng nhấn mạnh việc “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo
đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nhận thức được tầm quan trọng của
hợp tác kinh tế quốc tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, ngày
27/11/2001, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW có nội dung chủ
yếu về hội nhập kinh tế quốc tế.
Tại đại hội lần thứ XII (2016), ngày 5/11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XII ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các
hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Nghị quyết 06-NQ/TW xác định hội nhập
kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; Hội nhập trong các lĩnh vực khác phải
tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn
dân; doanh nhân, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu… 12
Trong các Nghị quyết và Chỉ thị nêu trên, quan điểm chỉ đạo được Đảng và Chính
phủ quán triệt về quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập vào các FTA là:
Thứ nhất, hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo
thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh
vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ
trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước. Kết hợp chặt chẽ
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, thông qua
hội nhập để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an
ninh đất nước, cảnh giác với những mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ ''diễn
biến hoà bình'' đối với nước ta.
Thứ hai, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa
nội lực và tiềm năng của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội, nâng cao hiệu quả hợp
tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa bảo vệ lợi ích dân
tộc; an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường. Hội nhập kinh
tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Thứ ba, đẩy nhanh nhịp độ cải cách thể chế, cơ chế, chính sách kinh tế phù hợp với
chủ trương, định hướng của Ðảng và Nhà nước, chủ động xây dựng các quan hệ đối tác
mới, tham gia vào các vòng đàm phán mới, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế song
phương, khu vực và đa phương. Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa
đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo,
khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tùy theo đối tượng, vấn
đề, trường hợp, thời điểm cụ thể; vừa phải đề phòng tư tưởng trì trệ, thụ động, vừa phải
chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng.
Thứ tư, xây dựng và triển khai chiến lược, tham gia các khu vực mậu dịch tự do với
các đối tác kinh tế - thương mại quan trọng trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp
lý, phù hợp với lợi ích và khả năng của đất nước. Chủ động xây dựng và thực hiện các
biện pháp bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng trong
nước. Hơn nữa, nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh nước ta, từ đó đề ra kế hoạch và lộ
trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng các quy định
của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia; tranh thủ những ưu đãi dành cho các
nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kinh trập trung bao cấp
sang kinh tế thị trường. 13
Thứ năm, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác có
tầm quan trọng chiến lược đối với sự phát triển và an ninh của đất nước, đưa khuôn khổ
quan hệ đã xác lập đi vào thực chất, tạo sự đan xen gắn kết lợi ích giữa nước ta với các đối tác.
Thứ sáu, chủ động và tích cực tham gia các thể chế đa phương, góp phần xây dựng
trật tự chính trị và kinh tế công bằng, dân chủ, ngăn ngừa chiến tranh, xung đột, củng cố
hòa bình, đẩy mạnh hợp tác cùng có lợi. Trong đó, đặc biệt chú trọng việc tham gia xây
dựng Cộng đồng ASEAN, phát huy vai trò của Việt Nam trong ASEAN và các cơ chế,
diễn đàn do ASEAN giữ vai trò trung tâm, nhằm tăng cường đoàn kết, gia tăng liên kết
nội khối, củng cố quan hệ hợp tác với các bên đối thoại của ASEAN, thúc đẩy xu thế hòa
bình, hợp tác và phát triển trong khu vực.
2.2. Chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế qua các thời kỳ
2.2.1. Giai đoạn 1986-1991: Khởi nguồn của hội nhập
Hội nhập quốc tế là quá trình quốc gia tham gia hợp tác, liên kết quốc tế trong lĩnh
vực kinh tế và những lĩnh vực khác, tạo điều kiện kết hợp có hiệu quả nguồn lực trong
nước với nguồn lực quốc tế, mở rộng không gian và môi trường để phát triển, chiếm lĩnh
vị trí thích hợp có thể được trong quan hệ quốc tế.
Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đã được Hồ Chí Minh nêu ra từ sau ngày lập
quốc trong thư gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc năm 1946: “Đối với các nước dân chủ,
nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực…
Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật
nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình… Việt Nam sẵn sàng mở rộng các
cảng sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế… Việt Nam
chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc”
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến việc phân tích bối cảnh quốc tế, bám sát
bước đi của nhân loại, tận dụng sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, đưa đất nước
vượt qua nhiều khó khăn thách thức, vừa phát triển nhanh, bền vững, vừa bảo đảm an
ninh, quốc phòng, giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội VI mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước, đặt cơ sở cho việc đổi mới tư duy và
hành động trong lĩnh vực đối ngoại, đề ra đường lối Đổi mới toàn diện và sâu sắc mọi lĩnh
vực của nền kinh tế. Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh quốc
tế có nhiều thay đổi sâu sắc và một cục diện, trật tự thế giới mới đang hình thành, trong 14
đó các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác với nhau. Đảng đã
nhận thức rõ rằng bối cảnh đó là điều kiện để chúng ta phát triển đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ và rộng mở. Nếu như tại Đại hội V (1982), Đảng chỉ xác định “Ưu tiên mở
rộng sự hợp tác toàn diện giữa nước ta với Liên Xô và các nước trong Hội đồng tương trợ
kinh tế” thì đến Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Đảng đã đưa ra chủ trương tranh thủ
những điều kiện thuận lợi về hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật, tham gia ngày càng
rộng rãi vào việc phân công và hợp tác quốc tế trong “Hội đồng tương trợ kinh tế và mở
rộng với các nước khác”; xác định quan hệ kinh tế quốc tế giai đoạn này không chỉ tập
trung vào Liên Xô và các nước trong cùng hệ thống xã hội chủ nghĩa mà phải mở rộng
quan hệ với các nước thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư
nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Nghị quyết Đại hội cũng xác
định nội dung chính của chính sách kinh tế đối ngoại trước hết bao gồm: đẩy mạnh xuất
nhập khẩu, tranh thủ vốn viện trợ và vay dài hạn, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước
ngoài… Chủ trương này của Đảng thể hiện cách tiếp cận mới, đó là độc lập, tự chủ không
có nghĩa là biệt lập, “đóng cửa” với thế giới, từ đó mở đường cho tư duy về hội nhập kinh
tế quốc tế trong những năm đầu đổi mới.
Đại hội Đảng lần thứ VII (năm 1991) đã xác định rõ chủ trương “độc lập tự chủ, đa
phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn
với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”,
đánh dấu bước khởi đầu tiến trình hội nhập trong giai đoạn mới của nước ta. Thực hiện
chủ trương này, Việt Nam đã không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại
song phương và đa phương với nhiều đối tác, dưới nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực
(trao đổi hàng hóa, đầu tư sản xuất, mở rộng quan hệ tài chính - tín dụng, hợp tác khoa
học kỹ thuật), tạo ra môi trường kinh doanh trong nước thuận lợi và khai thác hiệu quả
các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập
quốc tế của đất nước. Năm 1991, Chính phủ Australia bãi bỏ lệnh cấm vận buôn bán với
Việt Nam. Thực tế giai đoạn đó cho thấy chủ trương đúng đắn của Đảng đã đánh dấu
bước khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2.2. Giai đoạn 1991-2006: Định hình chính sách hội nhập
Sau gần 40 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đã từng bước hội nhập vào
nền kinh tế khu vực và thế giới, mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước, tham
gia tích cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế. Chủ trương hội nhập kinh
tế quốc tế của Đảng và Nhà nước được hiện thực hóa một cách sinh động: 15
Trước hết, Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế với hàng loạt quốc gia và khu vực,
trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế, thương mại chủ chốt, tạo điều kiện thuận lợi
cho hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiệu quả hơn. Nối lại các quan hệ với các nước
lớn: Trung Quốc, Hoa Kỳ, kết quả Chính phủ Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với
Việt Nam năm 1994, Tổng thống Mỹ tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ với
Việt Nam năm 1995, tháng 7/2000, ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. Khai
thông và phát triển quan hệ với Nhật Bản và năm 1992 Chính phủ Nhật nối lại viện trợ
ODA cho Việt Nam. Năm 1991, Chính phủ Australia bãi bỏ lệnh cấm vận buôn bán với
Việt Nam. Năm 1992, Việt Nam - Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ...
Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu
hết các nước trong tổ chức Liên hiệp quốc và có quan hệ kinh tế - thương mại, gần 60
Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều
Hiệp định hợp tác về văn hóa song phương với các nước và các tổ chức quốc tế. Hiện nay,
Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, được
xem là một trong những nước có nền kinh tế hướng xuất khẩu mạnh mẽ nhất trong khối các nước ASEAN.
Về hợp tác đa phương và khu vực, Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ
chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Quỹ tiền tệ thế
giới, Ngân hàng thế giới. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy
mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu
vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương.
Năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN và tham gia khu
vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), từ tháng 1 năm 1996 bắt đầu thực hiện nghĩa vụ và
các cam kết trong chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của AFTA,
theo đó đến 1/1/2006, Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các cam kết với mức thuế nhập
khẩu còn 0 - 5% (trừ một số mặt hàng nông sản nhạy cảm sẽ thực hiện vào năm 2010),
ngoài ra Việt Nam còn tham gia đàm phán các hiệp định, chương trình như: Hiệp định về
thương mại, dịch vụ, chương trình hợp tác trong các lĩnh vực giao thông, nông nghiệp...
Tháng 3 năm 1996, Việt Nam là thành viên sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM),
nội dung hợp tác chủ yếu là tập trung vào quá trình tự do hóa thương mại, đầu tư và hợp
tác giữa các nhà doanh nghiệp Á - Âu. Tháng 6 năm 1996, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập
Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), đến cuối năm 1998 được
công nhận chính thức là thành viên của tổ chức này. Đây là Diễn đàn hợp tác kinh tế được 16
thành lập từ năm 1998, đến nay có 21 nền kinh tế thành viên ở châu Á, châu Mỹ và châu
Đại Dương. Tổng số dân của các thành viên APEC là 2,67 tỷ người, chiếm 41% dân số
thế giới; tổng GDP khoảng 31,6 ngàn tỷ USD, bằng 57% GDP thế giới; tổng giá trị
thương mại khoảng 5,5 ngàn tỷ USD, bằng khoảng 50% thương mại thế giới. Việt Nam
đã chủ động, tích cực tham gia các hoạt động của Diễn đàn này một cách có hiệu quả.
Tháng 11-2006, sau một tuần Việt Nam gia nhập WTO, nước ta đã đăng cai tổ chức
Tuần lễ cấp cao APEC lần thứ 14 rất thành công, tạo được tiếng vang lớn với nhiều ấn
tượng tốt đẹp về một Việt Nam đang phát triển ổn định, giàu lòng mến khách và là một
điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài, tạo nên sự tăng trưởng ngoạn mục trong
thu hút FDI trong các năm 2007 và 2008.
2.2.3. Giai đoạn 2007-2016: Chủ động hội nhập sâu rộng
Từ những năm 1980 đến 2016, Đảng và Nhà nước đã sớm nhận thức được tính cần
thiết và tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế. Đường lối, chủ trương hội nhập kinh tế của
Đảng đã được đề ra nhất quán, không ngừng được hoàn thiện và triển khai tích cực, phù
hợp với tình hình cụ thể của đất nước.
Hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung trọng tâm của hội nhập quốc tế. Từ năm 2007
đến năm 2016, các quan điểm, chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế mang
tính nhất quán, hệ thống, luôn được cập nhật và mang tính kế thừa qua các kỳ Đại hội.
Tại Đại hội X, Đảng ta đã nhấn mạnh chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác”. Sau khi Việt Nam gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào tháng 1/2007, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 5/2/2007 về một số chủ trương, chính
sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO.
Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đối ngoại của
Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, trong đó có chủ trương rất quan trọng là “chủ động
và tích cực hội nhập quốc tế”. Từ “hội nhập kinh tế quốc tế” của các kỳ đại hội trước,
chuyển sang “hội nhập quốc tế” một cách toàn diện là một phát triển quan trọng về tư duy
đối ngoại của Đảng ta tại Đại hội XI.
Để cụ thể hóa chủ trương này, ngày 10/4/2013, Bô Ž Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về
hô Ži nhâ Žp quốc tế. Với Nghị quyết 22-NQ/TW, tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế quốc tế của đất nước đã chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn hội nhập 17
toàn diện trên cả lĩnh vực cơ bản: Kinh tế; Chính trị, Quốc phòng và An ninh; Văn hóa, xã
hội, Khoa học công nghệ và Giáo dục, đào tạo.
Tư duy của Đảng giai đoạn này đã có bước đổi mới về chất so với 20 năm đầu tiên
của công cuộc đổi mới. Điển hình như quyết định của Việt Nam tham gia đàm phán các
FTA thế hệ mới từ cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, đặc biệt là đàm phán Hiệp định
đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) thể hiện mục tiêu vừa nhằm tranh thủ nguồn lực
bên ngoài, nhất là từ các nước lớn, cho phát triển đất nước, vừa tạo thêm động lực từ bên
ngoài cho cải cách bên trong.
Phát triển định hướng hội nhập quốc tế từ Đại hội XI, Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục yêu cầu phải triển khai mạnh mẽ định hướng
chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, trong đó hội nhập kinh tế là trọng tâm.
Cụ thể: “Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc
tế, xây dựng và triển khai chiến lược tham gia các khu vực mậu dịch tự do với các đối tác
kinh tế, thương mại quan trọng…; Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; Đa dạng
hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối
tác cụ thể…; Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm thực thi có
hiệu quả các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết….
Nếu như tại các đại hội Đảng lần thứ VIII, IX và X sau khi Việt Nam gia nhập
ASEAN năm 1995, Đảng ta mới chỉ dừng lại ở mức độ nêu yêu cầu tăng cường quan hệ,
rồi nâng cao hiệu quả hợp tác với các nước ASEAN, thì từ Đại hội XI đến XII, Đảng ta có
bước chuyển tư duy theo hướng thể hiện sự chủ động, tự tin lớn hơn. Văn kiện Đại hội XI
của Đảng chỉ rõ: “Chủ động tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng cộng
đồng ASEAN vững mạnh, tăng cường quan hệ với các đối tác, tiếp tục giữ vai trò quan
trọng trong các khuôn khổ hợp tác ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương”.
Ngày 5/11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số
06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định
chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới. Nghị quyết 06 - NQ/TW khóa XII nêu rõ mục tiêu thực hiện tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nhằm tăng cường khả năng tự chủ của nền
kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý,
bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân, bảo tồn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ;
nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. 18
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đến năm 2016 đã có những bước
tiến quan trọng. Trải qua giai đoạn thực hiện các cam kết ban đầu, đến nay quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế đang ngày càng đi vào chiều sâu. Có thể nói, dưới sự chỉ đạo của
Đảng, Việt Nam đã tích cực, chủ động để mở rộng thị trường ra nước ngoài và từng bước
khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế khu vực và quốc tế.
2.2.4. Giai đoạn 2016-nay: Hội nhập toàn diện
Đại hội XII của Đảng năm 2016, tiếp tục khẳng định vai trò của hội nhập quốc tế
trong công cuộc đổi mới đất nước, nhấn mạnh hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung cơ bản
của hội nhập quốc tế, trong đó xác định rõ: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân
tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực
hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa
dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;
là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở
vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước,
nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và
chế độ XHCN; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.
Nhằm cụ thể hóa quan điểm của Đại hội XII về hội nhập quốc tế, Hội nghị lần thứ 4
Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (2016) đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TƯ về
“Thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã
hội trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”. Nghị
quyết xác định rõ quan điểm, đề ra những nhiệm vụ, các giải pháp để nâng cao hơn nữa
hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mới.
Năm 2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về “một số chủ trương,
chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, với quan điểm
chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu tất yếu
khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu
dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu
rộng. Nghị quyết đề ra các mục tiêu cụ thể đến 2025, các mục tiêu cụ thể đến 2030 và tầm
nhìn đến 2045, trong đó hướng đến mục tiêu hội nhập kinh tế toàn cầu. 19
Và gần đây nhất, trong Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII (2021) của Đảng
Cộng sản Việt Nam, một lần nữa tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò chiến lược của hoạt
động hội nhập quốc tế đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Trên cơ sở kế thừa nội dung trong văn kiện Đại hội XII của Đảng chủ trương: Triển khai
mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Văn kiện Đại hội
XIII của Đảng đã cụ thể hóa thành các định hướng và nhiệm vụ toàn diện và sâu rộng
hơn, cụ thể: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc
lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt,
hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia . Gắn
kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng với việc nâng cao sức
mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội; đổi mới, hoàn thiện thể chế trong
nước, nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước”.
Nhìn chung, quan điểm của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế qua gần 40 năm thực
hiện Đổi mới đã có sự kế thừa, bổ sung và phát triển liên tục. Trong quá trình này, các
chính sách về hội nhập kinh tế quốc tế cũng nhanh chóng được cụ thể hóa một cách đầy
đủ, toàn diện hơn, đồng thời được bổ sung bởi các nghị quyết của các đại hội, nhất là
được tổng kết tại Đại hội XIII của Đảng.
Hội nhập kinh tế quốc tế được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là trọng tâm đầu
tiên của quá trình hội nhập quốc tế và mở rộng sang các lĩnh vực khác, điều này hoàn toàn
phù hợp với lý luận và thực tiễn chung về hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng đã có chủ
trương đúng đắn về xử lý mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước, xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ
động, tích cực hội nhập quốc tế trên lĩnh vực kinh tế qua gần 40 năm đổi mới.
2.3. Các vấn đề đặt ra đối với hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
2.3.1. Thách thức từ quốc tế
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay cũng như những năm tới
không chỉ có thời cơ và thuận lợi, mà còn phải đối diện với nhiều thách thức lớn. Do đó,
chúng ta cần nhận thức rõ những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt để từ đó tìm ra
biện pháp khắc phục hữu hiệu.
Thứ nhất, biến động trong tương quan sức mạnh giữa các nền kinh tế lớn
Tương quan sức mạnh giữa các nền kinh tế đang thay đổi rất nhanh trong bối cảnh
hậu khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Mặc dù Mỹ, Nhật Bản và EU 20