



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
LỰC CHẤT LƯỢNG CAO, VẬN DỤNG TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG 4.0 Nhóm: 3 Lớp học phần : 242_HCMI0131_26
Giảng viên hướng dẫn: Hoàng Thị Thuý
Hà Nội, năm 2025 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................................1
1.1. Nguồn nhân lực chất lượng cao....................................................................................2
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm......................................................................................2
1.1.2. Vai trò nguồn lực chất lượng cao trong sự phát triển kinh tế - xã hội................4
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao................6
1.2. Bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0...........................................................................7
1.2.1. Đặc điểm của cách mạng công nghiệp 4.0.........................................................7
1.2.2. Tác động của cách mạng 4.0 đến phát triển nguồn nhân lực.............................8
1.2.3. Cơ hội và thách thức đối với phát triển nguồn nhân lực Việt Nam....................9
1.3. Quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao............................11
1.3.1. Nghị quy Nghị quyết Đại hội XI, XII, XIII của Đảng về phát triển nguồn nhân
lực........................................................................................................................11
1.3.2. Các chủ trương, chính sách của đảng về đào tạo và phát triển nhân lực..........14
1.3.3. Định hướng phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển kinh tế-xã
hội........................................................................................................................19
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TRONG THỰC TIỄN PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO................................................22
2.1. Thực trạng sự vận dụng quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao Việt Nam trong bối cảnh cách mạng 4.0...............................................................22
2.2. Đánh giá thực trạng....................................................................................................26
2.2.1. Thành tựu........................................................................................................26
2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế..............................................................28
2.3. Đề xuất giải pháp.......................................................................................................29
KẾT LUẬN.......................................................................................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................36
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CNH Công nghiệp hoá HĐH Hiện đại hoá ILO
Tổ chức lao động Quốc tế WEF
Diễn đàn kinh tế Thế giới NNLCLC
Nguồn nhân lực chất lượng cao LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách
mạng 4.0) đang diễn ra mạnh mẽ, nguồn lực chất lượng cao đã trở thành yếu tố then
chốt quyết định vị thế và sức cạnh tranh của mỗi quốc gia. Ngay từ những ngày đầu
đổi mới, Đảng ta đã xác định rằng “nguồn lực con người là tài sản quý báu nhất”, và
trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, điều này càng trở nên rõ ràng hơn bao giờ
hết. Khi công nghệ thay đổi từng ngày, sự cạnh tranh diễn ra trên quy mô toàn cầu, thì
yếu tố quyết định sự vươn lên mạnh mẽ của một quốc gia không nằm ở tài nguyên
thiên nhiên hay vốn đầu tư, mà chính là chất lượng nguồn nhân lực.
Với tầm nhìn chiến lược, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiều chủ trương,
chính sách quan trọng nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo không
chỉ đáp ứng yêu cầu hội nhập mà còn tạo nên bước đột phá trong mọi lĩnh vực. Tuy
nhiên, để biến những định hướng ấy thành hiện thực, cần có sự chung tay của toàn xã
hội, từ Nhà nước, doanh nghiệp, các cơ sở giáo dục cho đến từng cá nhân – đặc biệt là
thế hệ trẻ. Đề tài "Quan điểm của Đảng về phát triển nguồn lực chất lượng cao, vận
dụng trong bối cảnh cách mạng 4.0" nhằm tìm hiểu rõ hơn về nhận thức, định hướng
và giải pháp của Đảng trong việc phát triển nguồn lực, đồng thời phân tích việc vận
dụng các quan điểm đó trong điều kiện mới, góp phần nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững. 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Nguồn nhân lực chất lượng cao
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
Nguồn nhân lực
Theo cách hiểu thông thường, nguồn nhân lực là nguồn lực con người của một
quốc gia hay vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định và đủ các yếu tố để tham gia
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt, “Nguồn” là nơi phát
sinh, nơi cung cấp, còn “Nhân lực” là sức lực của con người bao gồm: sức lực cơ bắp
(thể lực), trình độ tri thức được vận dụng vào quá trình lao động của mỗi con người (trí
lực), và những ham muốn, hoài bão của bản thân người lao động hướng tới một mục
đích xác định. Ngoài ra, “Nhân lực” với ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố: Thể
lực, trí lực và tâm lực. Ba yếu tố đó có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, trí lực
giữ vai trò quyết định, nhưng thể lực và tâm lực là điều kiện cần thiết không thể thiếu
đối với sự phát triển của nguồn nhân lực.
Theo khái niệm của Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là
kiến thức và năng lực của con người hiện có hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế – xã
hội trong một cộng đồng”. Ngân hàng Thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ
“vốn con người” bao gồm: thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… mà mỗi cá nhân thành viên sở hữu.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), khái niệm nguồn nhân lực là toàn bộ số
người trong độ tuổi có khả năng lao động, hiểu theo nghĩa rộng, đây là nguồn cung cấp
sức lao động cho xã hội; theo nghĩa hẹp, là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực
cho sự nghiệp phát triển xã hội.
Từ khái niệm trên cho thấy: Nguồn nhân lực là nguồn vốn con người (hay là
tổng thể số lượng và chất lượng con người) có thể lực, trí lực và tâm lực của một quốc
gia, vùng, lãnh thổ đã, đang và sẽ sử dụng hoặc được sử dụng để tạo ra những lợi ích
cho xã hội (dưới dạng vật chất và tinh thần).
Trong quá trình phát triển của đất nước có rất nhiều nguồn lực khác nhau để
phát triển xã hội. Tuy nhiên, xét trong mối quan hệ giữa các nguồn lực thì nguồn nhân
lực đóng vai trò quyết định các nguồn lực khác. Từ khái niệm trên cho thấy: bất kỳ xã
hội nào cũng có nguồn nhân lực vì bất cứ xã hội nào cũng đều có con người. Trong đó,
bản chất và quá trình phát triển đã bồi đắp cho họ có cả trí và lực. Vấn đề khác nhau là 2
những con người đó sử dụng và được sử dụng vốn họ có đem lại lợi ích cho xã hội (tức
là cái tự thân và cái xã hội sử dụng) không? Đối cái tự thân thì bất cứ con người nào
cũng có nhu cầu nên họ đều mong muốn đưa hết khả năng của mình để mang lại lợi
ích cho xã hội, trong đó có cá nhân. Vấn đề quan tâm hiện nay là xã hội sử dụng nguồn
lực đó như thế nào? Đúng mục đích cho xã hội hay không? Đây cũng chính là vấn đề
cốt lõi khi đề cập tới nguồn nhân lực, là yếu tố nói lên sự khác biệt giữa xã hội này với
xã hội khác, quốc gia này với quốc gia khác và thế hệ này với thế khác, thậm chí nhà
nước này khác với nhà nước khác. Tóm lại, vấn đề sử dụng đúng nhân tài sẽ nói lên sự
tiến bộ, dân chủ của từng quốc gia.
Nguồn nhân lực chất lượng cao
Chính từ quan điểm nguồn nhân lực như vậy nên có thể có nhiều cách hiểu về
nguồn nhân lực chất lượng cao. Dưới góc độ định tính, nguồn nhân lực chất lượng cao
là lực lượng lao động có khả năng đáp ứng được những vấn đề quan trọng của kinh tế
xã hội để từ đó tạo ra hiệu quả cao trong giải quyết công việc cho sự tăng trưởng và phát triển xã hội.
Tiếp cận theo định lượng, nguồn nhân lực chất lượng cao là những con người
được trang bị tri thức, có trình độ cao về chuyên môn. Khái niệm tri thức ở đây bao
gồm các nội hàm là con người được đào tạo cơ bản, được đào tạo càng cao và chuyên
sâu thì nhân lực đó càng có chất lượng cao; Còn nói về trình độ cao về chuyên môn
tức là nói về cách thức thể hiện tri thức đó trong thực tế với trình độ của các chuyên gia lành nghề.
Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao có thể được hiểu là là một bộ phận của
nguồn nhân lực trong xã hội, được thể hiện vai trò nòng cốt, tiêu biểu đáp ứng những
vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia, vùng lãnh thổ trong từng giai đoạn.
Hay nói cách khác nguồn nhân lực chất lượng cao được đánh giá bởi nhiều yếu
tố: thể lực, trí lực, khả năng lao động, tính tích cực chính trị – xã hội, đạo đức, tình
cảm, …của nguồn lực con người. Các yếu tố này có sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau
nhằm giúp chủ thể phát huy hết giá trị của mình. Theo đó, biểu hiện cụ thể của nguồn
nhân lực chất lượng cao có thể được xem xét ở những vấn đề cơ bản sau: Về thể lực 3
Có thể nói, một yếu tố không thể thiếu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao là
sức khỏe. Sức khỏe ngày nay không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật, mà
còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần. Người lao động có sức khỏe tốt có
thể mang lại năng suất lao động cao nhờ sự bền bỉ, dẻo dai. Mọi người lao động, dù
lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát
triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức
mạnh vật chất. Hơn nữa, cần phải có sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, niềm tin và ý
chí, khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau và trong những
thử thách hết sức khó khăn và khắc nghiệt. Về trí lực
Trí tuệ là yếu tố thiết yếu, quan trọng nhất của con người, của nguồn nhân lực,
đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngày nay, sự phát triển nhanh và mạnh của
khoa học – công nghệ yêu cầu người lao động có học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ
thuật, làm việc chủ động, sử dụng được các công cụ hiện đại. Năng lực trí tuệ biểu
hiện ở khả năng sử dụng những thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật
công nghệ tiên tiến, sự nhạy bén, thích nghi nhanh và làm chủ được kỹ thuật công
nghệ hiện đại. Quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH càng đi vào chiều sâu thì càng đòi hỏi
trình độ chuyên môn hóa cao của nhân lực để đạt năng suất cao, hiệu quả sản xuất kinh
doanh lớn hơn nhiều lần.
Về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp
Yêu cầu cơ bản đối với con người trong xã hội đó là phải có tâm, lòng nhân hậu
và vị tha, phải biết trân trọng lao động và quý trọng sức lao động của người khác. Phải
biết yêu thương và san sẻ tình yêu thương trong cuộc sống. Đối với nguồn nhân lực
chất lượng cao, những người có thể lực, trí lực và trình độ hiểu biết chuyên, nếu thiếu
đi những điều này, đôi khi sẽ gây ra những hậu quả khó lường đối với con người và xã hội.
1.1.2. Vai trò nguồn lực chất lượng cao trong sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, khi nền kinh tế chủ yếu dựa trên
tri thức thì nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể
hiện vai trò quyết định. Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập quốc tế, vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao càng thể hiện rõ nét hơn. 4
Thứ nhất, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá
trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Con người là trung tâm của chiến lược
phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Xét trong quá trình sản xuất, con người
không chỉ là một yếu tố cấu thành, mà còn là nhân tố quyết định việc khai thác, sử
dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác. Thực tế cho thấy, tài nguyên thiên nhiên,
cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ đều hữu hạn, nó chỉ có thể phát huy tác
dụng khi kết hợp hiệu quả với nguồn nhân lực. Trong khi đó, nguồn nhân lực có ưu thế
nổi bật là không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý. Tại Đại
hội XI, Đảng ta chỉ rõ: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn
nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và
bền vững đất nước”.
Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định
sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế từ
dựa vào nông nghiệp và thủ công sang máy móc công nghiệp là chính. Đây là quá
trình sử dụng nguồn lao động được đào tạo, kết hợp với công nghệ, phương pháp tiên
tiến nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), Đảng ta đã đưa ra quan
điểm "Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt
Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa".
Điều đó cho thấy, Đảng ta đã xác định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất
lượng cao đối với sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
và phát triển bền vững. Quan điểm này tiếp tục được thể hiện ở Đại hội Đảng lần thứ X và XI.
Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát
triển và ứng dụng khoa học - công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình
tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.
Khi khoa học và công nghệ thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, kinh
tế tri thức ngày càng chiếm ưu thế trong phát triển kinh tế - xã hội thì lợi thế cạnh
tranh dựa trên công nghệ, tri thức, tư duy đổi mới và năng lực sáng tạo của chính con
người. Vì vậy, nguồn nhân lực được xác định là yếu tố trung tâm trong hệ thống các 5
nguồn lực phát triển như tài nguyên thiên nhiên, nguồn tài chính, nguồn lực khoa học -
công nghệ. Nguồn lực con người là yếu tố động nhất, nguồn gốc của mọi của cải vật
chất và sức sáng tạo ra các nền văn minh; là nhân tố quyết định việc khai thác, sử
dụng, ứng dụng khoa học - công nghệ và tái tạo các nguồn lực khác.
Thứ tư, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với
những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen phức tạp. Sự tùy
thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa các nước ngày càng trở thành phổ
biến. Kinh tế tri thức phát triển mạnh, do đó nguồn nhân lực chất lượng cao càng trở
thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Đảng ta chủ trương phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và
khoa học - công nghệ đầu đàn; coi đây là điều kiện cần thiết để hội nhập và cạnh tranh
trong khu vực và quốc tế, cũng như khẳng định vị thế của tri thức và trí tuệ Việt Nam trong sân chơi toàn cầu.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Chất lượng đào tạo
Tri thức của từng con người có vai trò quan trọng hình thành nên nguồn nhân
lực chất lượng cao. Nhưng việc tiếp nhận các tri thức của mỗi con người phải thông
qua các cơ sở đào tạo. Bởi lẽ, để mỗi cá nhân có thể trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng
và tư duy đáp ứng yêu cầu công việc hiện đại, họ cần trải qua quá trình học tập và rèn
luyện tại các cơ sở giáo dục, đào tạo chuyên nghiệp. Nếu môi trường đào tạo tốt,
chương trình học cập nhật, phương pháp giảng dạy hiện đại, cùng đội ngũ giảng viên
giàu chuyên môn và kinh nghiệm thì người học sẽ có điều kiện phát triển toàn diện về
cả kiến thức lẫn năng lực thực tiễn. Ngược lại, nếu chất lượng đào tạo kém, thiếu đầu
tư, lạc hậu thì sẽ khó tạo ra những con người có năng lực thực sự, từ đó ảnh hưởng tiêu
cực đến chất lượng nguồn nhân lực.
Áp dụng tri thức tiên tiến vào quá trình đào tạo
Thời đại ngày nay là thời đại đốt cháy giai đoạn tri thức nhờ sự phát minh
nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ và áp dụng kỹ thuật tiên tiến của tri
thức cho quá trình đào tạo. Ở các cơ sở khác nhau với trang thiết bị đào tạo khác nhau
thì việc trang bị kiến thức cho nguồn nhân lực hoàn toàn khác nhau. Điều này, dẫn đến 6
việc hình thành tri thức cho từng con người cũng ở các mức độ khác nhau. Vì vậy,
nhiều người sau khi trải qua đào tạo có thể phát minh ngay nhưng cũng có một số
người ra vẫn còn thiếu cái gì đó mang tính chất cơ bản nên không thể triển khai được công việc.
Môi trường áp dụng của nguồn nhân lực chất lượng cao
Vốn tri thức của từng con người cũng chỉ là ý thức được lưu trữ trong một cơ sở
vật chất, khi đưa ra sử dụng mới thấy được giá trị tốt hay xấu. Vì vậy, môi trường để
cho tri thức thể hiện hết sức quan trọng. Nếu một hạt giống tốt mà gieo trên mảnh đất
cằn cỗi thì hạt giống đó sẽ bị thối hoặc không nảy mầm và ngược lại. Chỉ ở trong môi
trường thuận lợi thì con người mới có thể hình thành và phát huy được những tố chất
tiêu biểu để hình thành nền kinh tế tri thức trong thời đại mới.
Quan điểm sử dụng và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong thực tế một con người được đào tạo với chất lượng cao thì vẫn chưa phát
huy được lợi ích cho xã hội nếu như chưa được sử dụng đúng. Mỗi người đều có một
sở trường, sở đoản nhất định, nếu sử dụng đúng và được trọng dụng thì mới đem lại lợi
ích cho xã hội. Những chính sách trọng dụng nhân tài như tuyển dụng, bố trí công
việc, thăng tiến, đãi ngộ về mặt xã hội cũng tác động lớn đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tùy theo trình độ, khả năng của từng người mà phân công, bố trí công việc cho
đúng người, đúng việc, đảm bảo có sự dẫn dắt, kèm cặp và hỗ trợ, đặc biệt là lúc ban
đầu. Đây là một công việc rất quan trọng và quyết định sự thành công, mức độ gắn bó
của nhân tài đối với cơ quan, tổ chức mà họ vào làm việc. Việc phân công hợp lý sẽ
tạo động lực cho họ làm việc hiệu quả hơn, chất lượng công việc sẽ tốt hơn và họ sẽ
phát huy được thế mạnh, niềm đam mê cá nhân của họ.
1.2. Bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
1.2.1. Đặc điểm của cách mạng công nghiệp 4.0
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh
vực vật lý, công nghệ số và sinh học, tạo ra những khả năng sản xuất hoàn toàn mới và
có tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới. Có thể khái
quát bốn đặc điểm chính của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: 7
Một là, dựa trên nền tảng của sự kết hợp công nghệ cảm biến mới, phân tích dữ
liệu lớn, điện toán đám mây và kết nối internet vạn vật sẽ thúc đẩy sự phát triển của
máy móc tự động hóa và hệ thống sản xuất thông minh.
Hai là, sử dụng công nghệ in 3D để sản xuất sản phẩm một cách hoàn chỉnh
nhờ nhất thể hóa các dây chuyền sản xuất không phải qua giai đoạn lắp ráp các thiết bị
phụ trợ - công nghệ này cũng cho phép con người có thể in ra sản phẩm mới bằng
những phương pháp phi truyền thống, bỏ qua các khâu trung gian và giảm chi phí sản
xuất nhiều nhất có thể.
Ba là, công nghệ nano và vật liệu mới tạo ra các cấu trúc vật liệu mới ứng dụng
rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực.
Bốn là, trí tuệ nhân tạo và điều khiển học cho phép con người kiểm soát từ xa,
không giới hạn về không gian, thời gian, tương tác nhanh hơn và chính xác hơn. Là
yếu tố then chốt góp phần nâng cao vượt bậc năng lực xử lý thông tin và khả năng
tương tác giữa con người với máy móc
1.2.2. Tác động của cách mạng 4.0 đến phát triển nguồn nhân lực
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 khác biệt rõ rệt so với các cuộc cách mạng
trước đây về tốc độ, phạm vi và mức độ tác động. Nó lan rộng nhanh chóng, bao phủ
mọi lĩnh vực từ sản xuất đến dịch vụ, kể cả dịch vụ công. Cách mạng công nghiệp 4.0
đang làm thay đổi toàn diện hệ thống sản xuất, quản lý và vận hành toàn cầu, ảnh
hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội. Do đó, nó tạo ra những tác động mạnh
mẽ, tạo ra những biến đổi sâu rộng đối với phát triển nguồn nhân lực như sau:
Thứ nhất, thay đổi cơ cấu việc làm và yêu cầu kỹ năng, sự phát triển của tự
động hóa và trí tuệ nhân tạo dẫn đến việc thay thế nhiều công việc truyền thống bằng
máy móc và robot. Theo dự báo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), khoảng 56% số
lao động tại 5 quốc gia Đông Nam Á có nguy cơ mất việc làm do tự động hóa, trong
đó Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Điều này đòi hỏi
người lao động phải nâng cao trình độ, chuyển đổi sang các công việc đòi hỏi kỹ năng
cao hơn và khả năng thích ứng với công nghệ mới.
Thứ hai, tăng cường nhu cầu về kỹ năng số và công nghệ, dưới tác động của
Cách mạng công nghiệp 4.0, người lao động buộc phải trang bị kỹ năng số và hiểu biết
về công nghệ thông tin để thích ứng với môi trường làm việc ngày càng tự động hóa
và số hóa. Trong lĩnh vực sản xuất, việc vận hành máy móc thông minh, giám sát hệ 8
thống qua phần mềm, hay phân tích dữ liệu từ cảm biến đòi hỏi người lao động không
chỉ có kỹ năng thao tác kỹ thuật mà còn cần kiến thức về lập trình, công nghệ IoT và
xử lý dữ liệu. Tuy nhiên, theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Việt
Nam chỉ xếp thứ 70/100 về mức độ sẵn sàng của nguồn nhân lực cho nền sản xuất
tương lai. Điều này cho thấy nguồn nhân lực trong nước còn thiếu kỹ năng cần thiết,
hệ thống giáo dục đào tạo chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ, và doanh
nghiệp vẫn phải đối mặt với khó khăn trong việc tìm kiếm và nâng cao chất lượng lao
động phù hợp với bối cảnh.
Thứ ba, xuất hiện các ngành nghề và mô hình làm việc mới, Cách mạng công
nghiệp 4.0 đã thúc đẩy sự ra đời của các ngành nghề mới như phân tích dữ liệu, an
ninh mạng và thương mại điện tử. Người lao động phải chuyển dịch từ lao động phổ
thông sang lao động kỹ thuật cao, thích nghi với công việc số hóa, linh hoạt và toàn
cầu hóa. Vì vậy, nguồn nhân lực phải đòi hỏi sự nâng cao kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng
số, tư duy công nghệ và khả năng tự học, đồng thời buộc hệ thống đào tạo phải đổi
mới để đáp ứng nhu cầu mới của thị trường lao động.
Thứ tư, gia tăng bất bình đẳng trong thị trường lao động, việc tự động hóa thay
thế người lao động bằng máy móc có thể làm trầm trọng thêm sự chênh lệch giữa lợi
nhuận từ vốn đầu tư và lợi nhuận từ sức lao động, dẫn đến gia tăng bất bình đẳng trong
thị trường lao động. Mặt khác, tri thức sẽ là yếu tố quan trọng của sản xuất trong tương
lai và làm phát sinh một thị trường việc làm ngày càng tách biệt thành các mảng "kỹ
năng thấp/lương thấp" và "kỹ năng cao/lương cao", do đó dễ dẫn đến sự phân tầng xã
hội ngày càng trầm trọng thêm.
1.2.3. Cơ hội và thách thức đối với phát triển nguồn nhân lực Việt Nam Cơ hội
Hiện nay Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn dân số vàng, dự kiến kéo dài đến
khoảng năm 2039 (Tổng cục Thống kê). Hiện tại, khoảng 70% dân số nằm trong độ
tuổi lao động, tương đương hơn 52,4 triệu người tính đến năm 2023. Điều này tạo ra
một lợi thế nhân khẩu học đặc biệt – một "cửa sổ cơ hội" để đẩy mạnh đào tạo nguồn
nhân lực phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và công nghệ cao của Cách mạng công
nghiệp 4.0. Nếu được đầu tư đào tạo đúng hướng, lực lượng lao động trẻ này có thể
nhanh chóng thích nghi với công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điều khiển 9
tự động và các hệ thống số hóa – giúp Việt Nam cạnh tranh tốt hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Hơn nữa, nhu cầu về nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghệ số
cũng đang gia tăng mạnh mẽ. Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra nhiều ngành
nghề mới như khoa học dữ liệu, phân tích dữ liệu, kỹ sư AI, quản trị hệ thống số, an
ninh mạng, và phát triển phần mềm. Theo báo cáo của ManpowerGroup Việt Nam
(2024), 70% doanh nghiệp FDI đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực có kỹ
năng công nghệ và kỹ năng số. Đối với tình hình này sẽ mở ra cơ hội việc làm lớn cho
những lao động trẻ, nếu được đào tạo đúng và nhanh chóng chuyển đổi kỹ năng. Việt
Nam có thể trở thành trung tâm cung ứng nguồn nhân lực công nghệ cho khu vực nếu
khai thác được lợi thế này.
Đồng thời, sự gia tăng đầu tư vào giáo dục và chuyển đổi số từ phía Chính phủ
cũng đang góp phần tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nguồn nhân lực. Chính phủ
Việt Nam đang tích cực đẩy mạnh đầu tư vào giáo dục và chuyển đổi số như một chiến
lược trọng tâm để phát triển nguồn nhân lực trong thời đại Cách mạng công nghiệp
4.0. Các chương trình tiêu biểu như “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm
2025, định hướng đến 2030” và “Đề án phát triển nguồn nhân lực trí tuệ nhân tạo (AI)
đến năm 2030” không chỉ nhấn mạnh việc ứng dụng công nghệ vào giáo dục mà còn
mở rộng cơ hội tiếp cận học tập suốt đời cho toàn dân. Những chính sách này tập trung
vào việc phát triển kỹ năng số, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt như STEM (Khoa
học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học), nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khả
năng thích nghi của người lao động trong nền kinh tế số, chủ động cập nhật kiến thức,
kỹ năng phù hợp với xu hướng công nghệ hiện đại. Thách thức
Theo Tổng cục Thống kê, trên 60% lao động Việt Nam chưa qua đào tạo chính
quy, tương đương khoảng 38 triệu người – phần lớn là lao động phổ thông, kỹ năng
thấp. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, các hệ thống tự động hóa, robot, và
phần mềm quản lý thông minh sẽ thay thế lao động tay chân, khiến nhóm lao động
chưa qua đào tạo có nguy cơ bị đào thải cao. Khoảng cách kỹ năng giữa yêu cầu công
nghệ mới và khả năng thực tế của lực lượng lao động ngày càng lớn, dẫn đến rủi ro
thất nghiệp diện rộng hoặc mất cân đối lao động. 10
Không những vậy, năng suất lao động thấp và sự thiếu hụt kỹ năng số tiếp tục
là một trở ngại lớn. Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, người lao động cần
khả năng học nhanh, làm việc đa nhiệm và tư duy công nghệ. Tuy nhiên, theo WEF
2023, Việt Nam xếp thứ 70/100 về chỉ số nguồn nhân lực và năng suất lao động. Trong
khi đó, CIEM đánh giá kỹ năng lao động của Việt Nam chỉ đạt 46/100 điểm, xếp thứ
103 thế giới – phản ánh rõ sự thiếu hụt về kỹ năng công nghệ, kỹ năng số và ngoại
ngữ, những hạn chế này khiến Việt Nam tụt hậu trong cạnh tranh nhân lực với các
nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia.
Thêm vào đó, Việt Nam cũng đang đối mặt với thách thức lớn từ quá trình già
hóa dân số. Mặc dù hiện tại vẫn đang trong giai đoạn dân số vàng, nhưng Việt Nam đã
bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2017 và dự kiến sẽ chính thức là quốc gia có dân số
già vào khoảng năm 2036 (UNFPA). Điều này đồng nghĩa với việc số lượng người
trong độ tuổi lao động sẽ bắt đầu giảm sau giai đoạn đỉnh, gây thiếu hụt lao động nếu
không kịp nâng cao chất lượng và tái đào tạo lực lượng hiện tại. Nếu không tận dụng
tốt "thời gian vàng" còn lại để đào tạo, thì khi bước vào dân số già, Việt Nam sẽ rơi
vào tình trạng "già hóa trước khi giàu", không có đủ lực lượng trình độ cao để duy trì
tăng trưởng kinh tế số.
1.3.2. Các chủ trương, chính sách của đảng về đào tạo và phát triển nhân lực
Nhận thức rõ vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển
đất nước, Đảng ta sớm có chủ trương đúng đắn về phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao, nhất là từ Đại hội XI trở lại đây.
Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá: “Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân
lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực
hành, chưa quan tâm đúng mức đến kỹ năng xã hội, kỹ năng sống và khả năng tự học, kỹ năng sáng tạo”.
Chính vì vậy, trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Đại
hội XIII của Đảng đã đề ra định hướng tạo đột phá “phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”. Để thực hiện được điều này, theo tinh thần
Đại hội XIII của Đảng, trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ các chính sách cụ thể sau:
Thứ nhất, xây dựng con người Việt Nam toàn diện về sức khỏe, trí tuệ, ý thức
và trách nhiệm; đồng thời phát triển đội ngũ chuyên gia, nhân lực kỹ thuật, số, quản 11
trị, quản lý xã hội và chăm sóc con người. Bởi chỉ trên cơ sở xây dựng được con người
Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức trách nhiệm
cao đối với bản thân, gia đình và Tổ quốc, chúng ta mới từng bước phát triển được
nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Để thực hiện được
giải pháp này, Đại hội XIII của Đảng yêu cầu:
Một là, đổi mới chế độ tuyển dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị
nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Hai là, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở,
linh hoạt; bảo đảm thống nhất với chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo.
Ba là, chú trọng đào tạo lại, đào tạo thường xuyên lực lượng lao động, kết hợp
chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là ở nông thôn; giảm tỷ lệ lao động ở khu
vực phi chính thức; hình thành đội ngũ lao động lành nghề, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng.
Bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đưa người lao động Việt Nam đi
lao động ở nước ngoài theo hợp đồng, ưu tiên đưa lao động kỹ thuật có tay nghề đi làm
việc ở những thị trường có thu nhập cao, an toàn và tiếp tục phát huy nguồn lực này
sau khi về nước trên cơ sở bảo đảm cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực trong nước.
Năm là, xây dựng và thực thi có hiệu quả chính sách dân số và phát triển, tận
dụng, phát huy lợi thế thời kỳ dân số vàng gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực. Chú trọng nâng cao phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, bảo đảm những nhu cầu thiết
yếu của nhân dân về nhà ở, giáo dục, y tế, việc làm,... Nâng cao chất lượng các chính
sách về dinh dưỡng, bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe và tầm vóc người Việt Nam.
Thực hiện tốt “Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030”.
Thứ hai, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục,
đào tạo. Bởi lẽ, chỉ trên cơ sở chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả
giáo dục, đào tạo thì chúng ta mới đào tạo được nguồn nhân lực có sức khỏe, có trình
độ chuyên môn, nghề nghiệp cao, có phẩm chất xã hội phù hợp. Đại hội XIII của Đảng
yêu cầu thực hiện các biện pháp cụ thể như sau:
Một là, nghiên cứu hoàn thiện hệ thống sách giáo khoa và chế độ thi cử ở các
cấp học cho phù hợp yêu cầu thực tiễn. 12
Hai là, chú trọng đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo.
Ba là, chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát
triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; đa dạng hóa các hình thức học tập,
như học trực tuyến, qua internet, truyền hình, các hoạt động xã hội, nghiên cứu khoa
học; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Bốn là, phổ cập giáo dục mầm non và giáo dục tiểu học bắt buộc. Đưa nội dung
kỹ năng số, ngoại ngữ tối thiểu vào chương trình giáo dục phổ thông; chú trọng giáo
dục kỹ năng nhận thức và hành vi cho học sinh phổ thông. Đẩy mạnh phân luồng sau
trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông. Giảm tỷ lệ mù chữ ở
vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Năm là, sắp xếp lại hệ thống trường học; phát triển hài hòa giữa giáo dục công
lập và giáo dục ngoài công lập, giữa các vùng, miền, ưu tiên các vùng đặc biệt khó
khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo và các đối tượng chính sách.
Sáu là, tăng cường đầu tư cho giáo dục, đào tạo bằng nhiều nguồn khác nhau,
trong đó đầu tư từ ngân sách nhà nước cần tăng lên, đồng thời huy động nhiều hơn, tốt
hơn sức dân thông qua đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, xây dựng xã hội học tập.
Bảy là, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, hoàn thiện chính sách phát triển các
cơ sở đào tạo ngoài công lập, thực hiện cơ chế tự chủ đối với đào tạo bậc đại học phù
hợp với xu thế chung của thế giới; hình thành mô hình hợp tác công - tư trong đào tạo
đại học. Sắp xếp, quy hoạch lại các trường đại học, cao đẳng.
Thứ ba, Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Để thực hiện tốt giải pháp này, Đại hội XIII của
Đảng yêu cầu thực hiện tốt bốn biện pháp như sau:
Một là, chú trọng phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và
công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị; đồng thời, “Tiếp
tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là
động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng
trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”.
Hai là, cùng với rà soát, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ
gắn với đổi mới toàn diện chính sách nhân lực khoa học và công nghệ, thực hiện tốt
chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ cán 13
bộ khoa học và công nghệ, nhất là chuyên gia đầu ngành, nhân tài trong lĩnh vực khoa
học và công nghệ. Tăng cường đầu tư phát triển khoa học và công nghệ theo cơ chế thị
trường trên cơ sở huy động hợp lý nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp và các cá
nhân. Hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát
triển, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ.
Ba là, đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, nhất là cơ chế tài chính,
nhằm giải phóng năng lực sáng tạo của nhà khoa học, đưa nhanh tiến bộ khoa học và
công nghệ vào sản xuất, đời sống. Tăng cường liên kết giữa các tổ chức khoa học và
công nghệ với doanh nghiệp.
Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, nhất là khoa học
và công nghệ cao trong điều kiện hội nhập quốc tế. Đa dạng hóa đối tác, lựa chọn đối
tác chiến lược là các quốc gia có nền khoa học và công nghệ tiên tiến; gắn hợp tác
quốc tế về khoa học và công nghệ với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Đồng
thời, phát triển mạng lưới kết nối nhân tài người Việt Nam, thu hút sự tham gia đóng
góp của cộng đồng các nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài.
Thứ tư, xác lập các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động phù hợp với sự
phát triển của thị trường, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ.
Cải cách chính sách tiền lương theo hướng gắn với sự thay đổi của giá cả sức lao động
trên thị trường, tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng năng suất lao
động, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao động. Có chính sách lương, thưởng phù
hợp, đặc biệt là đối với nhân tài, các chuyên gia đầu ngành, các kỹ thuật viên có tay
nghề cao... Nghiên cứu thành lập và sử dụng có hiệu quả các quỹ để khuyến khích
nhân tài, chuyên gia đầu ngành, các kỹ thuật viên có tay nghề cao... phát triển, cống
hiến, sáng tạo, gắn bó, đồng hành cùng Tổ quốc.
Với giai cấp công nhân, cần xây dựng giai cấp này ngày càng lớn mạnh, hiện
đại, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp,
tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Với giai cấp nông dân, gắn xây dựng giai cấp nông dân với phát triển nông
nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn. Có chính sách hợp lý để
chuyển lao động nông thôn sang các ngành phi nông nghiệp. Thực hiện mô hình nông
nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh. 14
Với trí thức, xây dựng đội ngũ này ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao. Có
cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên
cứu khoa học. Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và
công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài. Đồng
thời, nâng cao ý thức trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của nhân tài, đội ngũ
trí thức vì sự nghiệp chung. Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đòi hỏi phải
đổi mới trên nhiều phương diện, phải hình thành môi trường trọng công bằng, kỷ
cương, đạo đức, thượng tôn pháp luật có văn hóa để dẫn dắt sự phát triển nguồn nhân lực.
Với tầng lớp doanh nhân, phát triển đội ngũ này lớn mạnh về số lượng và chất
lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và
trình độ quản trị, kinh doanh giỏi. Tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho doanh nhân
khởi nghiệp sáng tạo, kinh doanh lành mạnh, cống hiến tài năng.
Thứ năm, đẩy mạnh quy hoạch tổng thể mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hệ thống các cơ sở giáo dục có vai trò quan
trọng. Những năm qua, mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp được sắp xếp, quy
hoạch, phân bổ theo hướng hoàn thiện, hợp lý hơn. Đã hình thành mạng lưới trường
cao đẳng chất lượng cao, các ngành, nghề trọng điểm tiếp cận trình độ khu vực và
quốc tế, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động.
Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn chậm, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực
tiễn. Do đó, cần phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp lại một cách tổng thể mạng lưới cơ
sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, dễ tiếp cận, đa dạng về loại hình,
phân bổ hợp lý về cơ cấu ngành nghề, trình độ, vùng miền; gia tăng các ngành thuộc
lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, gắn với nhu cầu của xã hội; thống nhất quản lý Nhà nước
đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; nâng cao năng lực hoạt động đáp ứng nhu cầu
nhân lực qua đào tạo nghề nghiệp nhất là nhân lực chất lượng cao.
Thứ sáu, tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục, đảm
bảo sinh viên có cơ hội thực tập và trải nghiệm thực tế. Một nghiên cứu của Viện
Nghiên cứu và Phát triển Giáo dục Việt Nam (2021) cho thấy, những sinh viên có cơ
hội thực tập thường có khả năng tìm việc làm cao hơn 20% so với những sinh viên
không có kinh nghiệm thực tế. Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, Nhà nước cần 15
xây dựng các chương trình quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài để bồi dưỡng, phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn nhân lực đã được đào tạo ở nước ngoài.
Thực hiện tốt chính sách phân bổ nguồn lực chất lượng cao cho các thành phần
kinh tế, các vùng, miền, địa phương có điều kiện khó khăn để thu hẹp khoảng cách
phát triển giữa các vùng, miền; quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ, tay nghề cho lao
động nông thôn. Trên cơ sở các chương trình, chính sách quốc gia các cấp, ngành, địa
phương cần căn cứ vào nhu cầu, điều kiện thực tiễn để có chính sách đào tạo, thu hút,
trọng dụng nhân tài hợp lý.
Việc kết nối giữa doanh nghiệp và nhà trường giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận
thực tiễn ngành nghề, được đào tạo theo yêu cầu thực tế của doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp cũng cần tham gia vào việc xây dựng chương trình đào tạo, giúp cải thiện tính
thực tiễn và khả năng thích ứng của sinh viên sau khi ra trường. Doanh nghiệp có thể
mở rộng các chương trình thực tập và học việc, giúp sinh viên có cơ hội tiếp xúc với
thực tiễn công việc và phát triển các kỹ năng cần thiết. Điều này cũng giúp doanh
nghiệp dễ dàng phát hiện và thu hút nhân tài.
Thứ bảy, nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng, lãnh đạo các cấp về vị trí, vai
trò, tầm quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp xây dựng và
phát triển đất nước.
Thời gian tới, cấp ủy, lãnh đạo các cấp cần tiếp tục rà soát các quy định, quy
chế, tìm ra những điểm bất hợp lý, không còn phù hợp trong thực tiễn để bổ sung,
hoàn thiện, giúp cho việc phát hiện, thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng
cao được thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ. Cần chú trọng việc mở rộng nhiều hình thức
thu hút nhân tài, lựa chọn, tuyển dụng người tài qua nhiều kênh khác nhau, không nhất
thiết qua con đường thi cử.
Để thực hiện thắng lợi giải pháp này cần nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán
bộ lãnh đạo quản lý các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị từ Trung ương xuống
đến địa phương, nhất là những người trực tiếp làm công tác lãnh đạo, quản lý hoạt
động khoa học, hoạt động giáo dục - đào tạo, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao…
Đội ngũ này không chỉ cần nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về tầm quan trọng
của khoa học, của đào tạo bồi dưỡng đội ngũ trí thức để từ đó có những chủ trương,
chính sách và tổ chức thực hiện một cách đúng đắn, phù hợp nhằm khai thác tối đa
tiềm lực khoa học trong xây dựng và phát triển đất nước. 16
Đi liền với nhiệm vụ đó, cần quan tâm, xây dựng chính sách đãi ngộ đặc thù đối
với đối tượng là nguồn nhân lực chất lượng cao; đãi ngộ phải dựa trên hiệu quả công
việc và thường xuyên điều chỉnh, bảo đảm tính cạnh tranh.
1.3.3. Định hướng phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
Trong bối cảnh Việt Nam đang trên đà hội nhập sâu rộng và đặt mục tiêu trở
thành quốc gia phát triển, việc xây dựng một nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành
yếu tố then chốt, quyết định sự thành công của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng này để đưa ra các
định hướng sáng suốt. Các định hướng chủ yếu tập trung vào đổi mới căn bản hệ thống
giáo dục và đào tạo; phát
triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hoàn thiện cơ
chế, chính sách về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực; nâng cao chất lượng chăm
sóc sức khỏe và phát triển toàn diện con người, cũng như đẩy mạnh hợp tác quốc tế.
Tất cả những nỗ lực này tạo thành một chiến lược toàn diện, liên kết chặt chẽ, hướng
đến mục tiêu chung là xây dựng một đội ngũ nhân lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao
của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã
hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, Chính phủ đã
ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP, ngày 09/5/2024 về Chương trình hành động của
Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW; trong đó giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư
chủ trì phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xây dựng Đề án Chiến lược phát triển
nguồn nhân lực đến năm 2030, tầm nhìn 2050. Dựa trên Đề án, có thể chỉ ra một số
định hướng của Viện và Đảng về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong tương lai.
Một trong những định hướng nổi bật của Đề án là tập trung phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao, có kỹ năng chuyên môn sâu, kỹ năng mềm và khả năng sáng
tạo, đáp ứng yêu cầu của các ngành kinh tế mũi nhọn và công nghệ mới. Theo Tạp chí
Kinh tế và Dự báo, Đề án nhấn mạnh việc "ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho các
ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh và có vai trò quan trọng trong quá
trình tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu dựa trên
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo". Định hướng này đặc biệt chú trọng vào việc
phát triển đội ngũ trí thức về số lượng và chất lượng, nhất là đội ngũ chuyên gia, nhà 17