TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA MARKETING
-----🙞🙜🕮🙞🙜-----
BÀI THẢO LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
⁎⁎⁎⁎⁎⁎
Đề tài: So sánh ý nghĩa thắng lợi, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm trong
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Ngọc Diệp
Lớp học phần: 232_HCMI0131_05
Nhóm thực hiện: Nhóm 6
1
Hà Nội, 2024
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................4
I. Tình hình hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hoàn thành giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước.........................................................................................................5
1.1. Tình hình hội thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1945-1954)...................................................................................................................5
1.1.1. Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng 1945-1954.......................5
1.1.2. Đường lối kháng chiến toàn quốc và quá trình thực hiện (1946-1950)7
1.2. Tình hình hội đất nước trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc
Mỹ xâm lược (1954-1975)...........................................................................................14
1.2.1. Sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng hai miền Nam - Bắc (1954 -
1965)........................................................................................................................14
1.2.2. Lãnh đạo cách mạng cả nước (1965-1975).........................................16
II. So sánh nguyên nhân................................................................................................24
2.1. Nguyên nhân của cuộc kháng chiến chống Pháp....................................24
2.1.1. Âm mưu mở rộng xâm lược của Pháp...............................................24
2.1.2. Pháp bội ước Hiệp định bộ (6/3/1946) bản Tạm ước
(14/9/1946) 24
2.1.3. Tối hậu thư của Pháp ngày 18/12/1946............................................25
2.2. Nguyên nhân của cuộc kháng chiến chống Mỹ.......................................26
2.2.1. Mỹ can thiệp vào chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương...............26
2.2.2. Mỹ thay chân Pháp thống trị miền nam Việt Nam.............................26
2.3. So sánh nguyên nhân của hai cuộc kháng chiến.....................................27
2.3.1. Giống nhau..........................................................................................27
2.3.2. Khác nhau...........................................................................................28
III. So sánh ý nghĩa thắng lợi........................................................................................30
2
3.1. Ý nghĩa của thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp....................30
3.2. Ý nghĩa của thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975). .31
3.3. So sánh ý nghĩa thắng lợi giữa hai cuộc kháng chiến:...........................32
3.3.1. Điểm giống nhau:................................................................................32
3.3.2. Điểm khác nhau:.................................................................................32
IV. Bài học kinh nghiệm................................................................................................34
4.1. Bài học kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp..........................34
4.2. Bài học kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Mỹ.............................35
4.3. So sánh bài học kinh nghiệm từ hai cuộc kháng chiến...........................37
4.3.1. Bài học chung......................................................................................37
4.3.2. Bài học riêng:......................................................................................38
KẾT LUẬN.....................................................................................................................40
3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hành trình lịch sử của một dân tộc, những cuộc kháng chiến đánh dấu những
bước ngoặt quan trọng, góp phần tạo nên bức tranh về lòng yêu nước, sức mạnh đoàn kết
và tinh thần bất khuất của nhân dân. Trong lịch sử Việt Nam, hai cuộc kháng chiến chống
Pháp (1946-1954) chống Mỹ (1955-1975) những trang sử hào hùng về sự kiên
cường bất khuất của dân tộc Việt Nam. Bằng sự hy sinh của hàng triệu con người
sự lãnh đạo tài tình của Đảng, hai cuộc kháng chiến này là một minh chứng vững chắc về
sức mạnh của một dân tộc đoàn kết, quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do chủ quyền quốc
gia trên toàn cầu.
Việc tìm hiểu về hai cuộc kháng chiến này không chỉ giúp chúng ta hiểu sâu hơn
về những trang sử hào hùng của dân tộc mà còn giúp ta rút ra những bài học kinh nghiệm
xương máu trong chặng đường giữ gìn, phát triển bảo vệ đất nước trong tương lai.
Chính vậy nhóm 6 chúng em quyết định thực hiện đề tài: So sánh ý nghĩa thắng lợi,
nguyên nhân, bài học kinh nghiệm trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp chống Mỹ”.
bài thảo luận này, chúng ta sẽ đi sâuo từng giai đoạn của hai cuộc kháng chiến, từ
việc phân tích các nguyên nhân đằng sau cuộc chiến đến ý nghĩa thắng lợi để từ đó rút ra
được bài học kinh nghiệm.
4
I. TÌNH HÌNH HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGOẠI XÂM, HOÀN
THÀNH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
1.1. Tình hình xã hội thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
1.1.1. Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng 1945-1954
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
vừa mới ra đời đã phải đương đầu với những khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng. Cuối
tháng Tám năm 1945, lấy danh nghĩa quân Đồng minh, gần 20 vạn quân Tưởng, theo gót
lực lượng phản động Việt Nam Quốc dân Đảng Việt Nam Cách mạng đồng minh
Hội ạt kéo vào miền Bắc nước ta. Chúng ráo riết thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền
cách mạng, lập chính quyền phản động. Đằng sau quân Tưởng Mỹ với tâm đặt
Đông Dương dưới chế độ “ủy trị” của họ. miền Nam, cũng với danh nghĩa quân Đồng
minh, quân Anh vào giải giáp quân Nhật, núp sau quân Anh quân Pháp. Ngày 23-9-
1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ
hai. Chưa bao giờ trên đất nước ta cùng một lúc nhiều kẻ thù hung bạo xảo quyệt
như lúc này. Vận mệnh nước Việt Nam mới “như ngàn cân treo sợi tóc”.
Trước tình hình hoạt động ráo riết của các loại kẻ thù, Đảng Nhà nước Việt
Nam mới thực hiện sách lược vừa nguyên tắc, vừa mềm dẻo. Đối với các tổ chức, đảng
phái phản động, Nhà nước ban hành một loạt sắc lệnh: giải tán Đại Việt Quốc gia hội
Đảng Đại Việt Quốc dân Đảng, giải tán “Việt Nam Hưng quốc thanh niên” “Việt
Nam Ái quốc thanh niên”, thiết lập các tòa án quân sự, giải thể các quan thuộc Phủ
Toàn quyền Đông Dương. Đối với Pháp Tưởng, lúc tạm hòa với Tưởng để rảnh tay
đối phó với Pháp, lúc tạm hòa với Pháp để đẩy nhanh Tưởng ra khỏi đất nước. Thực hiện
sách lược trên đã đặt các đảng phái, tổ chức phản động ra ngoài vòng pháp luật, tạo cơ sở
pháp cho việc trấn áp bọn phản cách mạng, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, bảo
vệ chính quyền cách mạng non trẻ, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Để tăng cường thực lực cách mạng, Nhà nước Việt Nam mới rất quan tâm đến
việc phát triển các tổ chức trong Mặt trận Việt Minh, tổ chức thêm các đoàn thể cứu
quốc, gồm các lực lượng yêu nước tiến bộ. Tháng 5-1946, Hội Liên hiệp quốc dân
5
Việt Nam (Liên Việt) được thành lập, thu hút các đảng phái nhân yêu nước. Để
chính quyền cách mạng tiêu biểu cho khối đoàn kết toàn dân, Nhà nước mở rộng thành
phần Chính phủ, đưa các nhân sĩ, trí thức vào tham gia. Đồng thời, ban hành các sắc lệnh
tổ chức HĐND Ủy ban hành chính các cấp; quy định cách tổ chức chính quyền dân
chủ nhân dân; quy định nhiệm vụ quyền hạn của HĐND Ủy ban hành chính các
cấp, v.v… Trong điều kiện mới ra đời, chưa đủ thời gian xây dựng ban nh văn
bản luật, để điều hành đất nước để bảo đảm cho hệ thống chính quyền nhà nước hoạt
động có hiệu quả, Chính phủ ban hành nhiều sắc lệnh với những quy định cụ thể.
Trong những năm 1945 - 1946, Đảng ta đứng đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh
đạo xây dựng củng cố vững chắc chính quyền nhân dân, bầu cử Quốc hội nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (6/1/1946); xây dựng thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên
(9/11/1946); chăm lo xây dựng chế độ mới, đời sống mới của nhân dân, chống giặc đói,
giặc dốt, giặc ngoại xâm; tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp Nam Bộ Nam
Trung Bộ với sự ủng hộ và chi viện của cả nước; kiên quyết trấn áp các thế lực phản cách
mạng, bảo vệ chính quyền và thành quả Cách mạng tháng Tám; đồng thời thực hành sách
lược khôn khéo, đưa cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo. Đảng đã chủ
động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của
thực dân Pháp trên phạm vi cả nước.
Tháng 12/1946, trước tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp,
Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm
“Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm lệ”.
Bằng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng
thời tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của bạn quốc tế, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta
lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp giành thắng lợi mà đỉnh cao
chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ , buộc“lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”
Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp
ở nước ta.
6
Tính từ 02-9-1945 đến 31-12-1946, riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban
hành 181 sắc lệnh nhằm tổ chức, xây dựng, kiện toàn chính quyền nhà nước về mọi mặt.
Một vấn đề không kém phần quan trọng sau khi chính quyền cách mạng các cấp
trong cả nước được thành lập, đa số cán bộ, đảng viên tuân thủ đúng chương trình, kế
hoạch sắc lệnh của Nhà nước. Song, nhiều nơi, nhiều người phạm “những lầm lỗi
rất nặng nề” như: trái phép, vô kỷ luật, cậy thế, tham ô, túng, chia rẽ, kiêu ngạo, v.v…
Để chấn chỉnh những lỗi lầm trên, đồng thời đề cao ý thức phục vụ nhân dân, nâng cao
sức chiến đấu, xây dựng chính quyền nhà nước các cấp trong sạch, vững mạnh, hiệu
lực, Hồ Chí Minh với cách người đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới đã thư gửi
UBND các kỳ, tỉnh, huyện làng, huấn thị: “Các quan của Chính phủ từ toàn quốc
cho đến các làng đều công bộc của dân, nghĩa để gánh vác việc chung chon, chứ
không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì
lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc hại đến dân, ta phải hết sức tránh” . Người(2)
cũng không ngần ngại tỏ thái độ: “Ai đã phạm những lỗi lầm trên này, thì phải hết sức
sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.
Để thiết thực xây dựng, củng cố chính quyền nhà nước, Chính phủ ban hành Sắc
lệnh Tổng tuyển cử trong cả nước để bầu Quốc dân Đại hội ấn định Hiến pháp của
nước Việt Nam mới. Trong hoàn cảnh cùng phức tạp, bọn đế quốc, phản động ra sức
quấy phá, Chính phủ kiên quyết lãnh đạo, tổ chức cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước
Việt Nam mới. Nhân dân cả nước nô nức đi bầu cử.
1.1.2. Đường lối kháng chiến toàn quốc và quá trình thực hiện (1946-1950)
a. Hoàn cảnh lịch sử
Tháng 11 năm 1946 thì Pháp mở cuộc tấn công chiếm đống cả thành phố Hải
Phòng và thị xã Lạng Sơn, đổ bộ lên Đà Nẵng và gây nhiều cuộc khiêu khích ở Hà Nội
Ngay đó Trung ương Đảng đã chỉ đạo tìm cách liên hệ với Pháp để giải quyết
bằng viện pháp đàm phán thương lượng. Vào ngày 19/12/1946 thì Ban thường vụ Trung
ương Đảng họp hội nghị mở rộng tại Vạn Phúc (Hà Đông) dưới s chủ trì chủa Hồ
7
Chí Minh để hoạch định chủ trương đối phó. Hội nghị đã cử phái viên đi gặp đàm
phán với Pháp những không thành.
Sau đó nhận thấy không hòa hoãn với Pháp được nên Hội nghị đã hạ quyết tâm đi
đến phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong cả nước.
Đường lối kháng chiến của Đảng được thể hiên tập trung các văn kiện như
Toàn dân kháng chiến của Trung ương Đảng 12/12/1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến của Hồ Chí Minh 19/12/1946 tác phẩm kháng chiến nhất định thắng lợi của
Trường Chinh 9/1947.
b. Nội dung đường lối kháng chiến chống Pháp năm 1946-1954
Nội dung của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1946 đến năm
1954 được thể hiện như sau:
Về mục đích kháng chiến: Kế tục phát triển sự nghiệp cách mạng tháng tám
"Đánh phản động thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập"
Về tính chất kháng chiến: Trường kì kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Nhiệm vụ kháng chiến: "Cuộc kháng chiến này chính cuộc chiến tranh cách
mạng có tính chất dân tộc độc lập và dân chủ tự do nhằm hoàn thành nhiệm vụ giải phóng
dân tộc và phát triển dân chủ mới"
Phương châm kháng chiến: “Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện
kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính”.
Kháng chiến toànn gì? Kháng chiến toàn dân tức “Bất đàn ông, đàn
không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất người già, người trẻ. Hễ người Việt
Nam phải đứng lên đánh thực dân Pháp”, thực hiện mỗi người dân một chiến sĩ, mỗi
làng xóm là một pháo đài.
Kháng chiến toàn diện: đánh địch về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa,
ngoại giao. Về chính trị thì thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường y dựng Đảng,
chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào các dân tộc yêu chuộng
8
tự do, hòa bình. Còn về quân sự thì ta thực hiện trang toàn dân, xây dựng lực lượng
vũ trang nhân dân, tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến
tiến lên vận động chiến, đánh chính quy, “triệt để dùng du kích, vận động chiến. Bảo
toàn thực lực, kháng chiến lâu dài… vừa đánh vừa trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo
thêm cán bộ”. Về kinh tế thì tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cấp, tập trung phát
triển nền nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp công nghiệp quốc phòng. Về
văn hóa thì phải xóa bỏ văn hóa thực dân phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ theo
ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng. Về ngoại giao thì phải thực hiện thêm bạn,
bớt thù, biểu dương thực lực. “Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân
Pháp”, sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập…
Kháng chiến lâu dài là chúng ta không đủ nhân lực vật lực để tiến hành đánh
nhanh với địch. Bên cạnh đó còn là nhằm chống lại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của
Pháp. Đanh lâu dài để chúng ta có thời gian nghiên cứu và chuẩn bị kỹ càng
Dựa vào sức mình: Muốn đi đến kháng chiến thắng lợi thì chúng ta không còn cách
nào khác dựa vào chính sức lực của bản thân mình, chỉ tranh thủ sự giúp đỡ của các
nước khác khi cảm thấy đủ điều kiện (cần thiết).
c. Quá trình thực hiện
Ở Hà Nội, khoảng 20 giờ ngày 19 - 12 - 1946, nhân dân đã làm những chướng ngại
vật, chiến lũy ngay trên đường để chống giặc. Trung đoàn Thủ đô được thành lập, tiến
đánh những trận quyết liệt ở Bắc Bộ phủ, chợ Đồng Xuân... Ngày 17 - 12 - 1947, quân ta
rút khỏi vòng vây của địch, ra căn cứ an toàn.
các đô thị như Bắc Giang, Bắc Ninh, Huế, Đà Nẵng... quân dân ta bao vây, tiến
công, tiêu diệt nhiều tên địch. - Cuộc chiến đấu các đô thị phía Bắc tuyến 16 đã tạo
điều kiện cho cả nước đi vào cuộc kháng chiến lâu dài. - Sau khi rút khỏi Nội, các
quan Đảng, Chính phủ, Mặt trận... chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc.
9
Về chính trị, các ủy ban hành chính chuyển thành Ủy ban kháng chiến hành chính,
thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc; mở rộng Mặt trận, thành lập Hội Liên hiệp
quốc dân Việt Nam.
Về kinh tế, Chính phủ đề ra các chính sách nhằm duy trì phát triển sản xuất,
trước hết là sản xuất lương thực.
Về quân sự, Chính phủ quy định mọi người dân từ 18 đến 45 tuổi được tuyển chọn
tham gia các lực lượng chiến đấu.
Về văn hóa,phong trào bình dân học vụ được duy trì phát triển. Trường phổ
thông các cấp vẫn tiếp tục giảng dạy, học tập trong chiến tranh.
Tháng 3 - 1947, Chính phủ Pháp cử Bôlae làm Cao ủy Pháp Đông Dương, thực
hiện kế hoạch tiến công căn cứ địa Việt Bắc nhằm nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
Pháp huy động 12000 quân hầu hết máy bay Đông Dương mở cuộc tiến công Việt
Bắc từ ngày 7 - 10 - 1947. Khi đó, Đảng ta đã Chỉ thị "Phải phá tan cuộc tiến công
mùa đông của giặc Pháp". Quân dân ta chủ động bao vây, tiến công địch ở Chợ Mới, Chợ
đồn, Chợ Rã... buộc Pháp phải rút khỏi Chợ Đồn, Chợ Rã cuối tháng 11 – 1947.
mặt trận hướng đông, quân dân ta phục kích đánh địch nhiều trận trên đường số
4, tiêu biểu trận phục kích đèo Bông Lau, đánh trúng đoàn xe giới, thu nhiều
khí của địch.mặt trận hướng tây, quân dân ta phục kích đánh địch nhiều trận trên sông
Lô,nổi bật là trận Đoan Hùng, Khe Lau, đánh chìm nhiều tàu chiến, ca nô của địch.
Cuộc chiến đấu giữa ta với địch đã kết thúc bằng cuộc rút chạy của đại bộ phận
quân Pháp khỏi Việt Bắc ngày 19 - 12 - 1947. - Quân dân ta loại khỏi vong chiến đấu hơn
6 000 địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 tàu chiến, ca nô, phá hủy nhiều phương tiện
chiến tranh. quan đầu não kháng chiến được bảo toàn. Bộ đội chủ lực của ta ngày
càng trưởng thành.
Sau thất bại Việt Bắc, Pháp thay đổi chiến lược từ "đánh nhanh,thắng nhanh" sang
"đánh lâu dài", thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh
10
nuôi chiến tranh". Quân dân ta trên các chiến trường toàn quốc hoạt động mạnh, kiềm
chế, không cho địch tập trung lớn binh lực vào chiến trường chính.
Trên mặt trận chính trị, đầu năm 1949, Chính phủ quyết định tổ chức bầu cử Hội
đồng nhân dân Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp. Tháng 6-1949, Mặt trận Việt
Minh và Hội Liên Việt quyết định tiến tới thông nhất thành Mặt trận Liên Việt.
Trên mặt trận quân sự, trong những năm 1948-1949, bộ đội chủ lực phân tán, đi
sâu vào cùng sau lưng địch, xây dựng sở kháng chiến, phát triển chiến tranh du kích -
Trên mặt trận kinh tế, Chính phủ ra các Sắc lệnh: giảm tô 25% (7-1949), hoãn nợ, xóa nợ
(5-1950), chia lại ruộng đất công và tạm thời cấp ruộng đất vắng chủ...
Trên mặt trận văn hóa, giáo dục, tháng 7 - 1950, Chính phủ đề ra chủ trương cải
cách giáo dục phổ thông,đặt nền móng cho nền giáo dục dân tộc dân chủ Việt Nam. Hệ
thống các trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp bắt đầu được xây dựng.
Ngày 1 - 10 - 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa ra đời - Ngày 14 - 1 - 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng đặt quan
hệ ngoại giao với các nước. Ngày 18 - 1 - 1950, Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa, ngày 30 - 1 - 1950 Chính phủ Liên Xô, trong vòng 1 tháng sau, các nước trong phe
hội chủ nghĩa lần lượt đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 13 - 5 - 1949, với sự đồng ý của Mĩ, Chính phủ Pháp đề ra kế hoạch Rơve. Mĩ từng
bước can thiệp sâu "dính líu" trực tiếp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Từ tháng
6 - 1949, Pháp tăng cường hệ thống phòng ngự trên Đường số 4, thiết lập "Hành lang
Đông - Tây". Tháng 6 - 1950, Đảng Chính phủ quyết định mở chiến dịch biên giới
nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; khai thông đường sang Trung Quốc
thế giới; mở rộng củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo đà thúc đẩy cuộc kháng chiến
tiến lên.
Sáng 16 - 9 - 1950, các đơn vị quân đội ta đánh vào dông Khê, đến sáng 18 - 9, bộ
đội ta đã tiêu diệt hoàn toàn căn cứ điểm Đông Khê. Quân địch Thất Khê bị uy hiếp.
Pháp huy động quân từ Thất Khê tiến lê chiếm lại Đông Khê, đón cánh quân từ Cao Bằng
11
rút về. Quân ta chủ động mai phục, chặn đánh địch nhiều nơi trên đường số 4 khiến
cho hainh quân không gặp được nhau. Thất Khê bị uy hiếp, quân Pháp phải rút về Na
Sầm (8 - 10 - 1950) ngày 13 - 10 - 1950, rút khỏi Na Sầm về Lạng Sơn. Cuộc hành
quân của địch lên Thái Nguyên cũng bị quân ta chặn đánh. Quân Pháp hoảng loạn rút
chạy, Đường số 4 được giải phóng ngày 22 - 10 - 1950
1.1.3. Quá trình đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi (1951-1954)
Từ 11 đến 19-2-1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, họp
Vinh Quang (nay là xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang).
Đây là Đại hội Đảng được tổ chức lần đầu tiên trong nước trong điều kiện mới: Sự
hình thành lớn mạnh của các nước hội chủ nghĩa, nhất sự ra đời của nước Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa (năm 1949) đã làm thay đổi căn bản tương quan lực lượng trên
trường quốc tế lợi cho hòa bình cách mạng. Cuộc kháng chiến của nhân dân ba
nước Đông Dương đã giành được những thắng lợi quan trọng. Lợi dụng tình thế khó khăn
của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông Dương, vừa giúp đỡ Pháp,
vừa tìm cơ hội để hất cẳng Pháp. Thực tiễn của cuộc kháng chiến đang đòi hỏi Đảng phải
ra công khai để lãnh đạo kháng chiến.
Báo cáo Chính trị tại Đại hội đã nêu rằng để hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo sự
nghiệp đánh thắng giặc Pháp xâm lược can thiệp Mỹ, Đảng Cộng sản Đông Dương
phải ra hoạt động công khai và tổ chức lại cho thích hợp với tình hình mỗi nước. Đại hội
đã quyết định xây dựng mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia một Đảng Cách mạng
thích hợp với hoàn cảnh cụ thể để lãnh đạo cuộc kháng chiến từng nước đến thắng lợi
hoàn toàn. Việt Nam, Đại hội quyết định xây dựng Đảng Lao động Việt Nam đưa
Đảng ra công khai. Đại hội đã thông qua Chính cương, Điều lệ mới của Đảng, bầu ra Ban
Chấp hành Trung ương mới. Cụ Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành
Trung ương Đảng ông Trường-Chinh được bầu làm Tổng thư. Đại hội đã chỉ rõ:
Nhiệm vụ bản của Cách mạng Việt Nam đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành
độc lập thống nhất hoàn toàn cho dân tộc, thủ tiêu chế độ thuộc địa trong vùng tạm bị
12
chiếm, xoá bỏ những tàn tích phong kiến nửa phong kiến, thực hiện chủ trương người
cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội.
Đây là Đại hội Đảng được tổ chức lần đầu tiên trong nước trong điều kiện mới: Sự
hình thành lớn mạnh của các nước hội chủ nghĩa, nhất sự ra đời của nước Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa (năm 1949) đã làm thay đổi căn bản tương quan lực lượng trên
trường quốc tế lợi cho hòa bình cách mạng. Cuộc kháng chiến của nhân dân ba
nước Đông Dương đã giành được những thắng lợi quan trọng. Lợi dụng tình thế khó khăn
của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông Dương, vừa giúp đỡ Pháp,
vừa tìm cơ hội để hất cẳng Pháp. Thực tiễn của cuộc kháng chiến đang đòi hỏi Đảng phải
ra công khai để lãnh đạo kháng chiến.
Báo cáo của Tổng thư Trường Chinh đã trình bày toàn bộ đường lối cách mạng
Việt Nam. Đó đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa
hội. Nội dung bản của của báo cáo được phản ánh trong Chính cương của Đảng Lao
động Việt Nam được Đại hội thông qua, gồm các nội dung quan trọng sau đây:
- Xác định tính chất của hội Việt Nam lúc này 3 tính chất: “dân chủ nhân
dân, một phần thuộc địa và nửa phong kiến”.
- Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam được xác định là: “đánh đuổi bọn đế quốc
xâm lược, giành độc lập thống nhất thật sự cho dân tộc; xóa bỏ những tàn tích phong
kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân dân,
gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”.
- Động lực của cách mạng Việt Nam được xác gồm có bốn giai cấp là: giai cấp
công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu sản sản dân tộc, ngoài ra còn
những thân sĩ (thân hào, địa chủ) yêu nước và tiến bộ.
-Triển vọng phát triển của cách mạng Việt Nam nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa
hội.
13
Nội dung của Chính cương còn nêu ra 15 chính sách lớn của Đảng trong giai đoạn
hiện ta nhằm tiếp tục đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi đặt s kiến thiết quốc
gia, thực hiện chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam, làm tiền đề tiến lên chủ nghĩa xã hội.
1.2. Tình hình hội đất nước trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm
lược (1954-1975)
1.2.1. Sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng hai miền Nam - Bắc (1954 - 1965)
a. Hoàn cảnh lịch sử:
Trên trường quốc tế, thuận lợi của cách mạng Việt Nam hệ thống hội chủ
nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoa học - kỹ thuật, nhất sự lớn mạnh
của Liên Xô. Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển. Phong trào hòa bình, dân
chủ lên cao các nước bản. Bất lợi là: xuất hiện đế quốc Mỹ hùng mạnh âm mưu
làm bá chủ thế giới, với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng được các đời tổng thống
nối tiếp nhau xây dựng thực hiện. Thế giới đi vào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua
trang. Xuất hiện sự bất đồng, chia rẽ trong hệ thống hội chủ nghĩa, nhất giữa
Liên Xô và Trung Quốc.
Tại Việt Nam, từ năm 1954 - 1960, Đảng ta thực hiện khôi phục kinh tế, cải tạo
hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế
tiến công. Lúc này, miền Bắc, sau ngày Hiệp định Giơnevơ (7/1954) được kết, cách
mạng những đặc điểm thuận lợi, khó khăn mới. Đất nước bị chia làm hai miền,
chế độ chính trị, hội khác nhau: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng phát triển theo
con đường hội chủ nghĩa, miền Nam do chính quyền đối phương quản lý, trở thành
thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ.
Ở trong nước, thuận lợi là đã có miền Bắc được hoàn toàn 165 giải phóng, làm căn
cứ địa hậu phương cho cả nước. Thế lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn trước sau
chín năm kháng chiến; có ý chí độc lập thống nhất của nhân dân cả nước. Khó khăn là đất
nước chia làm hai miền, chế độ chính trị khác nhau, miền Nam do đế quốc, tay sai
14
kiểm soát, không chịu thực hiện hòa bình thống nhất đất nước. Kinh tế miền Bắc nghèo
nàn, lạc hậu. Đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt Nam.
b. Đường lối chiến lược cách mạng chung của cả nước
Tình hình phức tạp nêu trên đã đặt Đảng ta trước một yêu cầu bức thiết phải
vạch ra đường lối chiến lược đúng đắn để đưa cách mạng Việt Nam tiến lên phù hợp với
tình hình mới của đất nước phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại. Trải qua
nhiều hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Bộ Chính trị, chủ trương chiến lược
cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới của Đảng từng bước hình thành.
Tháng 9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô
Nội. Trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đại hội lần này là Đại hội
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà” 1. Đại
hội đã thông qua Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Nghị quyết về
nhiệm vụ đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, thông qua Báo cáo về xây dựng
Đảng và Báo cáo về Kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất xây dựng chủ nghĩa xã hội
miền Bắc...
Về đường lối chung của cách mạng Việt Nam, trên sở phân tích tình hình
đặc điểm nước ta, Đại hội xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn
mới phải thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau hai miền: Một là,
đẩy mạnh cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc; Hai là, tiến hành cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân
chủ trong cả nước.
Về mục tiêu chiến lược chung, Đại hội cho rằng, cách mạng miền Bắc cách
mạng miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mục tiêu cụ thể riêng, song trước
mắt đều hướng vào mục tiêu chung giải phóng miền Nam, hòa bình, thống nhất đất
nước.
Về vị trí, vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng chiến lược cách mạng mỗi miền, Đại
hội nêu rõ: Cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc nhiệm vụ xây dựng tiềm lực
15
bảo vệ căn cứ địa của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, chuẩn bị cho cả
nước đi lên chủ nghĩa hội về sau, nên giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển
của toàn bộ cách mạng Việt Nam đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Còn cách
mạng dân tộc n chủ nhân dân miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự
nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ tay sai, thực
hiện hòa bình, thống nhất nước nhà.
1.2.2. Lãnh đạo cách mạng cả nước (1965-1975)
a. Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng
Trước nguy thất bại hoàn toàn của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, để cứu
vãn cơ đồ chủ nghĩa thực dân mới, ngăn chặn sự sụp đổ của chính quyềnquân đội Sài
Gòn, chính quyền của Tổng thống Mỹ L. Giônxơn quyết định tiến hành chiến lược
“Chiến tranh cục bộ” (Local War Strategy) miền Nam. “Chiến tranh cục bộ” một
hình thức chiến tranh trong chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ,
mục đích đưa quân chiến đấu Mỹ quân các nước đồng minh của Mỹ vào trực tiếp
tham chiến, đóng vai trò chủ yếu trên chiến trường miền Nam; quân đội Sài Gòn đóng vai
trò hỗ trợ quân Mỹ và thực hiện bình định. Ngày 8/3/1965, quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng
trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam. Đồng thời, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh
phá hoại bằng không quân hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam nhằm làm suy yếu
miền Bắc và ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam.
Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 11 (3/1965) Hội nghị lần thứ 12 (12/1965)
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước trên phạm vi toàn quốc hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên lực lượng của cả
nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình
huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”.
Nội dung đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong giai đoạn mới là sự kế
thừa và phát triển sáng tạo đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam đã được
16
Đảng đề ra tại Đại hội lần thứ III (1960), gồm các nội dung lớn là: Quyết tâm chiến lược:
Mặc đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, nhưng so sánh
lực lượng giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn, cuộc chiến tranh trở nên gay go, ác liệt,
nhưng nhân dân ta đã sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động trên chiến trường;
cuộc “Chiến tranh cục bộ” Mỹ đang tiến hành miền Nam vẫn một cuộc chiến
tranh xâm lược thực dân mới. Cuộc chiến tranh đó được đề ra trong thế thua, thế thất bại
bị động, cho nên chứa đựng đầy mâu thuẫn về chiến lược; Mỹ không thể nào cứu
vãn được tình thế nguy khốn, bế tắc của chúng miền Nam. Từ sự phân tích nhận
định trên, Trung ương khẳng định chúng ta đủ điều kiện sức mạnh để đánh Mỹ
thắng Mỹ. Với tinh thần “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, Đảng quyết định
phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong toàn quốc, coi chống Mỹ, cứu
nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc.
Mục tiêu chiến lược: Kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình,
thống nhất nước nhà.
Phương châm chiến lược: Đánh lâu dài, dựa o sức mình chính, càng đánh
càng mạnh; cần phải cố gắng đến mức độ cao, tập trung lực lượng của cả hai miền để mở
những cuộc tiến công lớn, tranh thủ thời giành thắng lợi quyết định trong thời gian
tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam.
tưởng chỉ đạo đối với miền Nam: Giữ vững phát triển thế tiến công, kiên
quyết tiến công liên tục tiến công. Tiếp tục kiên trì phương châm kết hợp đấu tranh
quân sự với đấu tranh chính trị, triệt để thực hiện ba mũi giáp công, đánh địch trên cả ba
vùng chiến lược. Trong giai đoạn này, đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp
và giữ một vị trí ngày càng quan trọng.
Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc: Chuyển hướng xây dựng kinh tế, bảo đảm tiếp
tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế quốc phòng trong điều kiện chiến
17
tranh, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ để
bảo vệ vững chắc miền Bắc hội chủ nghĩa, động viên sức người, sức của mức cao
nhất để chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, đồng thời tích cực chuẩn bị
đề phòng để đánh bại địch trong trường hợp chúng liều lĩnh mở rộng “Chiến tranh cục
bộ” ra cả nước. Về mối quan hệ nhiệm vụ cách mạng của hai miền: Trong cuộc chiến
tranh chống Mỹ của nhân dân cả nước, miền Nam tiền tuyến lớn, miền Bắc hậu
phương lớn. Phải nắm vững mối quan hệ giữa nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc giải phóng
miền Nam. Bảo vệ miền Bắc nhiệm vụ của cả nước, miền Bắc hội chủ nghĩa
thành quả chung rất to lớn của nhân dân cả nước ta, hậu phương vững chắc trong cuộc
chiến tranh chống Mỹ. Phải đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ miền
Bắc ra sức tăng cường lực lượng miền Bắc về mọi mặt, nhất về kinh tế quốc
phòng, nhằm đảm bảo chi viện đắc lực cho miền Nam, đồng thời, vừa tiếp tục xây dựng
chủ nghĩa hội nhằm phát huy vai trò đắc lực của hậu phương lớn đối với tiền tuyến
lớn. Hai nhiệm vụ trên đây không tách rời nhau gắn mật thiết với nhau. Đế quốc
Mỹ xâm lược Việt Nam, thì bất kỳ chúng đặt chân đâu trên đất nước Việt Nam, mọi
người Việt Nam đều nghĩa vụ tiêu diệt chúng. Khẩu hiệu chung của nhân dân cả nước
lúc này là “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”
b. Lãnh đạo cách mạng ở miền Bắc (1965-1975)
Từ ngày 5/8/1964, Mdựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” nhằm lấy cớ dùng không
quân hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ với ý đồ của Tổng thống Mỹ Giônxơn đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá; phá hoại
công cuộc xây dựng chủ nghĩa hội miền Bắc; ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc
đối với miền Nam; đè bẹp ý chí quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của cả dân tộc Việt Nam,
buộc chúng ta phải kết thúc chiến tranh theo điều kiện do Mỹ đặt ra.
Trước tình hình đó, theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 lần thứ
12, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời xác định chủ trương, nhiệm vụ cụ thể
của miền Bắc cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới trong hoàn cảnh cả nước chiến
tranh: Một là, kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với tình hình có chiến
18
tranh phá hoại; Hai là, tăng cường lực lượng quốc phòng cho kịp với sự phát triển tình
hình cả nước chiến tranh; Ba là, ra sức chi viện cho miền Nam với mức cao nhất để
đánh bại địch chiến trường chính miền Nam; Bốn là, phải kịp thời chuyển hướng
tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới.
Chủ trương chuyển hướng những nhiệm vụ của miền Bắc phản ánh quyết tâm
của Đảng nhân dân ta trong việc kiên trì con đường hội chủ nghĩa, tiếp tục tăng
cường sức mạnh của miền Bắc, làm chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp chống Mỹ xâm
lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Do bị thất bại nặng nề cả hai miền
Nam - Bắc, tháng 3/1968, đế quốc Mỹ tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc, ngày
1/11/1968, Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện đánh phá miền Bắc bằng không quân
và hải quân.
Sau bốn năm thực hiện chuyển hướng xây dựng phát triển kinh tế, hậu phương
lớn miền Bắc đã đạt được những thành tích đáng tự hào trên các mặt chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội, chi viện tiền tuyến lớn miền Nam. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
vẫn tiếp tục, miền Bắc ngày càng thêm vững mạnh. Chế độ hội chủ nghĩa đang được
xây dựng miền Bắc đã vượt qua được nhiều thử thách nghiêm trọng ngày càng phát
huy tính ưu việt trong chiến tranh. Chuyển hướng kinh tế, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa
hội trong hoàn cảnh chiến tranh nét đặc biệt chưa tiền lệ. Sản xuất nông nghiệp
không những không giảm sút mà còn có bước phát triển tiến bộ. Sản xuất công nghiệp
tiểu thủ công nghiệp vẫn được duy trì mặc dù gặp nhiều khó khăn.
Đời sống nhân dân căn bản được ổn định. Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế chẳng
những không ngừng trệ còn phát triển mạnh mẽ trong thời chiến đạt nhiều kết quả
tốt. Công tác nghiên cứu khoa học, điều tra bản, thăm tài nguyên được đẩy mạnh,
vừa phục vụ sự nghiệp xây dựng kinh tế trước mắt, vừa chuẩn bị cho nhiệm vụ lâu dài
xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tranh thủ những thuận lợi mới do Mỹ chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, từ
tháng 11/1968, Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc thực hiện các kế hoạch ngắn hạn
19
nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, tiếp tục công cuộc xây dựng miền Bắc tăng
cường lực lượng cho miền Nam.
Nhân dân miền Bắc đã khẩn trương bắt tay khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương
chiến tranh đẩy mạnh s nghiệp xây dựng chủ nghĩa hội. Những kết quả đạt được
đã làm cho tiềm lực mọi mặt của hậu phương lớn miền Bắc được tăng cường, cải thiện
đời sống nhân dân, hồi sinh một bước cuộc sống bình thường, cho phép miền Bắc chi
viện sức người, sức của cho tiền tuyến ngày càng cao, góp phần quyết định tạo nên chiến
thắng to lớn trên chiến trường miền Nam.
Từ tháng 4/1972, để ngăn chặn cuộc tiến công chiến lược của quân n ta miền
Nam, đế quốc Mỹ đã cho máy bay, tàu chiến tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền
Bắc lần thứ hai hết sức ác liệt. Trước hành động chiến tranh điên cuồng của địch, Trung
ương Đảng đã phát động cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại đến đỉnh
cao, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, tiếp tục chi viện miền Nam, giữ vững lập trường đàm
phán. Trong 9 tháng chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, quân dân
miền Bắc đã bình tĩnh, sáng tạo, vừa sản xuất vừa chiến đấu, nhất trong 12 ngày đêm
cuối năm 1972, lập nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến
tranh phá hoại của Mỹ.
Ngày 15/1/1973, Chính phủ Mỹ phải tuyên bố ngừng mọi hoạt động phá hoại
miền Bắc trở lại bàn đàm phán Pari. Ngày 21/1/1973, Hiệp định Pari được kết,
miền Bắc lập lại hòa bình, Trung ương Đảng đã đề ra kế hoạch hai năm khôi phục và phát
triển kinh tế 1974 - 1975. Đến năm 1975, hầu hết các sở kinh tế đã trở lại hoạt động
bình thường.
Với tiềm lực kinh tế và quốc phòng đã xây dựng được, cùng với việc tiếp thu và sử
dụng hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế, miền Bắc chẳng những đứng vững trong chiến
tranh, còn đánh thắng oanh liệt hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng kỹ thuật
phương tiện hiện đại nhất của đế quốc Mỹ.
20

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING
-----🙞🙜🕮🙞🙜-----
BÀI THẢO LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ⁎⁎⁎⁎⁎⁎
Đề tài: So sánh ý nghĩa thắng lợi, nguyên n
hân, bài học kinh nghiệm trong
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Ngọc Diệp Lớp học phần: 232_HCMI0131_05 Nhóm thực hiện: Nhóm 6 1 Hà Nội, 2024 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................4
I. Tình hình hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hoàn thành giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước.........................................................................................................5

1.1. Tình hình xã hội thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1945-1954)...................................................................................................................5
1.1.1. Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng 1945-1954.......................5
1.1.2. Đường lối kháng chiến toàn quốc và quá trình thực hiện (1946-1950) 7
1.2. Tình hình xã hội ở đất nước trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc
Mỹ xâm lược (1954-1975)...........................................................................................14
1.2.1. Sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng hai miền Nam - Bắc (1954 -
1965)........................................................................................................................14
1.2.2. Lãnh đạo cách mạng cả nước (1965-1975).........................................16
II. So sánh nguyên nhân................................................................................................24
2.1. Nguyên nhân của cuộc kháng chiến chống Pháp....................................24
2.1.1. Âm mưu mở rộng xâm lược của Pháp...............................................24
2.1.2. Pháp bội ước Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và bản Tạm ước (14/9/1946) 24
2.1.3. Tối hậu thư của Pháp ngày 18/12/1946............................................25
2.2. Nguyên nhân của cuộc kháng chiến chống Mỹ.......................................26
2.2.1. Mỹ can thiệp vào chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương...............26
2.2.2. Mỹ thay chân Pháp thống trị miền nam Việt Nam.............................26
2.3. So sánh nguyên nhân của hai cuộc kháng chiến.....................................27
2.3.1. Giống nhau..........................................................................................27
2.3.2. Khác nhau...........................................................................................28
III. So sánh ý nghĩa thắng lợi........................................................................................30 2
3.1. Ý nghĩa của thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp....................30
3.2. Ý nghĩa của thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975). .31
3.3. So sánh ý nghĩa thắng lợi giữa hai cuộc kháng chiến:...........................32
3.3.1. Điểm giống nhau:................................................................................32
3.3.2. Điểm khác nhau:.................................................................................32
IV. Bài học kinh nghiệm................................................................................................34
4.1. Bài học kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp..........................34
4.2. Bài học kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Mỹ.............................35
4.3. So sánh bài học kinh nghiệm từ hai cuộc kháng chiến...........................37
4.3.1. Bài học chung......................................................................................37
4.3.2. Bài học riêng:......................................................................................38
KẾT LUẬN.....................................................................................................................40 3 LỜI MỞ ĐẦU
Trong hành trình lịch sử của một dân tộc, những cuộc kháng chiến đánh dấu những
bước ngoặt quan trọng, góp phần tạo nên bức tranh về lòng yêu nước, sức mạnh đoàn kết
và tinh thần bất khuất của nhân dân. Trong lịch sử Việt Nam, hai cuộc kháng chiến chống
Pháp (1946-1954) và chống Mỹ (1955-1975) là những trang sử hào hùng về sự kiên
cường và bất khuất của dân tộc Việt Nam. Bằng sự hy sinh của hàng triệu con người và
sự lãnh đạo tài tình của Đảng, hai cuộc kháng chiến này là một minh chứng vững chắc về
sức mạnh của một dân tộc đoàn kết, quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do và chủ quyền quốc gia trên toàn cầu.
Việc tìm hiểu về hai cuộc kháng chiến này không chỉ giúp chúng ta hiểu sâu hơn
về những trang sử hào hùng của dân tộc mà còn giúp ta rút ra những bài học kinh nghiệm
xương máu trong chặng đường giữ gìn, phát triển và bảo vệ đất nước trong tương lai.
Chính vì vậy nhóm 6 chúng em quyết định thực hiện đề tài: So sánh ý nghĩa thắng lợi,
nguyên nhân, bài học kinh nghiệm trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ”.
Ở bài thảo luận này, chúng ta sẽ đi sâu vào từng giai đoạn của hai cuộc kháng chiến, từ
việc phân tích các nguyên nhân đằng sau cuộc chiến đến ý nghĩa thắng lợi để từ đó rút ra
được bài học kinh nghiệm. 4
I. TÌNH HÌNH HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGOẠI XÂM, HOÀN
THÀNH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
1.1. Tình hình xã hội thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)

1.1.1. Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng 1945-1954
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
vừa mới ra đời đã phải đương đầu với những khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng. Cuối
tháng Tám năm 1945, lấy danh nghĩa quân Đồng minh, gần 20 vạn quân Tưởng, theo gót
là lực lượng phản động Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh
Hội ồ ạt kéo vào miền Bắc nước ta. Chúng ráo riết thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền
cách mạng, lập chính quyền phản động. Đằng sau quân Tưởng là Mỹ với dã tâm đặt
Đông Dương dưới chế độ “ủy trị” của họ. Ở miền Nam, cũng với danh nghĩa quân Đồng
minh, quân Anh vào giải giáp quân Nhật, núp sau quân Anh là quân Pháp. Ngày 23-9-
1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ
hai. Chưa bao giờ trên đất nước ta cùng một lúc có nhiều kẻ thù hung bạo và xảo quyệt
như lúc này. Vận mệnh nước Việt Nam mới “như ngàn cân treo sợi tóc”.
Trước tình hình hoạt động ráo riết của các loại kẻ thù, Đảng và Nhà nước Việt
Nam mới thực hiện sách lược vừa nguyên tắc, vừa mềm dẻo. Đối với các tổ chức, đảng
phái phản động, Nhà nước ban hành một loạt sắc lệnh: giải tán Đại Việt Quốc gia xã hội
Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng, giải tán “Việt Nam Hưng quốc thanh niên” và “Việt
Nam Ái quốc thanh niên”, thiết lập các tòa án quân sự, giải thể các cơ quan thuộc Phủ
Toàn quyền Đông Dương. Đối với Pháp và Tưởng, lúc tạm hòa với Tưởng để rảnh tay
đối phó với Pháp, lúc tạm hòa với Pháp để đẩy nhanh Tưởng ra khỏi đất nước. Thực hiện
sách lược trên đã đặt các đảng phái, tổ chức phản động ra ngoài vòng pháp luật, tạo cơ sở
pháp lý cho việc trấn áp bọn phản cách mạng, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, bảo
vệ chính quyền cách mạng non trẻ, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Để tăng cường thực lực cách mạng, Nhà nước Việt Nam mới rất quan tâm đến
việc phát triển các tổ chức trong Mặt trận Việt Minh, tổ chức thêm các đoàn thể cứu
quốc, gồm các lực lượng yêu nước và tiến bộ. Tháng 5-1946, Hội Liên hiệp quốc dân 5
Việt Nam (Liên Việt) được thành lập, thu hút các đảng phái và cá nhân yêu nước. Để
chính quyền cách mạng tiêu biểu cho khối đoàn kết toàn dân, Nhà nước mở rộng thành
phần Chính phủ, đưa các nhân sĩ, trí thức vào tham gia. Đồng thời, ban hành các sắc lệnh
tổ chức HĐND và Ủy ban hành chính các cấp; quy định cách tổ chức chính quyền dân
chủ nhân dân; quy định nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND và Ủy ban hành chính các
cấp, v.v… Trong điều kiện mới ra đời, chưa có đủ thời gian xây dựng và ban hành văn
bản luật, để điều hành đất nước và để bảo đảm cho hệ thống chính quyền nhà nước hoạt
động có hiệu quả, Chính phủ ban hành nhiều sắc lệnh với những quy định cụ thể.
Trong những năm 1945 - 1946, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh
đạo xây dựng và củng cố vững chắc chính quyền nhân dân, bầu cử Quốc hội nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (6/1/1946); xây dựng và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên
(9/11/1946); chăm lo xây dựng chế độ mới, đời sống mới của nhân dân, chống giặc đói,
giặc dốt, giặc ngoại xâm; tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ và Nam
Trung Bộ với sự ủng hộ và chi viện của cả nước; kiên quyết trấn áp các thế lực phản cách
mạng, bảo vệ chính quyền và thành quả Cách mạng tháng Tám; đồng thời thực hành sách
lược khôn khéo, đưa cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo. Đảng đã chủ
động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của
thực dân Pháp trên phạm vi cả nước.
Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp,
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm
“Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.
Bằng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng
thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta
lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp giành thắng lợi mà đỉnh cao
là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc
Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta. 6
Tính từ 02-9-1945 đến 31-12-1946, riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban
hành 181 sắc lệnh nhằm tổ chức, xây dựng, kiện toàn chính quyền nhà nước về mọi mặt.
Một vấn đề không kém phần quan trọng là sau khi chính quyền cách mạng ở các cấp
trong cả nước được thành lập, đa số cán bộ, đảng viên tuân thủ đúng chương trình, kế
hoạch và sắc lệnh của Nhà nước. Song, có nhiều nơi, nhiều người phạm “những lầm lỗi
rất nặng nề” như: trái phép, vô kỷ luật, cậy thế, tham ô, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, v.v…
Để chấn chỉnh những lỗi lầm trên, đồng thời đề cao ý thức phục vụ nhân dân, nâng cao
sức chiến đấu, xây dựng chính quyền nhà nước các cấp trong sạch, vững mạnh, có hiệu
lực, Hồ Chí Minh với tư cách người đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới đã có thư gửi
UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng, huấn thị: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc
cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ
không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì
có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(2). Người
cũng không ngần ngại tỏ thái độ: “Ai đã phạm những lỗi lầm trên này, thì phải hết sức
sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.
Để thiết thực xây dựng, củng cố chính quyền nhà nước, Chính phủ ban hành Sắc
lệnh Tổng tuyển cử trong cả nước để bầu Quốc dân Đại hội và ấn định Hiến pháp của
nước Việt Nam mới. Trong hoàn cảnh vô cùng phức tạp, bọn đế quốc, phản động ra sức
quấy phá, Chính phủ kiên quyết lãnh đạo, tổ chức cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước
Việt Nam mới. Nhân dân cả nước nô nức đi bầu cử.
1.1.2. Đường lối kháng chiến toàn quốc và quá trình thực hiện (1946-1950) a. Hoàn cảnh lịch sử
Tháng 11 năm 1946 thì Pháp mở cuộc tấn công chiếm đống cả thành phố Hải
Phòng và thị xã Lạng Sơn, đổ bộ lên Đà Nẵng và gây nhiều cuộc khiêu khích ở Hà Nội
Ngay đó Trung ương Đảng đã chỉ đạo và tìm cách liên hệ với Pháp để giải quyết
bằng viện pháp đàm phán thương lượng. Vào ngày 19/12/1946 thì Ban thường vụ Trung
ương Đảng họp và hội nghị mở rộng tại Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ trì chủa Hồ 7
Chí Minh để hoạch định chủ trương đối phó. Hội nghị đã cử phái viên đi gặp và đàm
phán với Pháp những không thành.
Sau đó nhận thấy không hòa hoãn với Pháp được nên Hội nghị đã hạ quyết tâm đi
đến phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong cả nước.
Đường lối kháng chiến của Đảng được thể hiên tập trung ở các văn kiện như là
Toàn dân kháng chiến của Trung ương Đảng 12/12/1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến của Hồ Chí Minh 19/12/1946 và tác phẩm kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh 9/1947.
b. Nội dung đường lối kháng chiến chống Pháp năm 1946-1954
Nội dung của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1946 đến năm
1954 được thể hiện như sau:
Về mục đích kháng chiến: Kế tục và phát triển sự nghiệp cách mạng tháng tám là
"Đánh phản động thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập"
Về tính chất kháng chiến: Trường kì kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Nhiệm vụ kháng chiến: "Cuộc kháng chiến này chính là cuộc chiến tranh cách
mạng có tính chất dân tộc độc lập và dân chủ tự do nhằm hoàn thành nhiệm vụ giải phóng
dân tộc và phát triển dân chủ mới"
Phương châm kháng chiến: “Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện
kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính”.
Kháng chiến toàn dân là gì? Kháng chiến toàn dân tức là “Bất kì đàn ông, đàn bà
không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kì người già, người trẻ. Hễ là người Việt
Nam phải đứng lên đánh thực dân Pháp”, thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi
làng xóm là một pháo đài.
Kháng chiến toàn diện: đánh địch về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa,
ngoại giao. Về chính trị thì thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng,
chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng 8
tự do, hòa bình. Còn về quân sự thì ta thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng
vũ trang nhân dân, tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến
tiến lên vận động chiến, đánh chính quy, là “triệt để dùng du kích, vận động chiến. Bảo
toàn thực lực, kháng chiến lâu dài… vừa đánh vừa võ trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo
thêm cán bộ”. Về kinh tế thì tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cấp, tập trung phát
triển nền nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng. Về
văn hóa thì phải xóa bỏ văn hóa thực dân phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ theo
ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng. Về ngoại giao thì phải thực hiện thêm bạn,
bớt thù, biểu dương thực lực. “Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân
Pháp”, sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập…
Kháng chiến lâu dài là vì chúng ta không đủ nhân lực và vật lực để tiến hành đánh
nhanh với địch. Bên cạnh đó còn là nhằm chống lại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của
Pháp. Đanh lâu dài để chúng ta có thời gian nghiên cứu và chuẩn bị kỹ càng
Dựa vào sức mình: Muốn đi đến kháng chiến thắng lợi thì chúng ta không còn cách
nào khác là dựa vào chính sức lực của bản thân mình, chỉ tranh thủ sự giúp đỡ của các
nước khác khi cảm thấy đủ điều kiện (cần thiết). c. Quá trình thực hiện
Ở Hà Nội, khoảng 20 giờ ngày 19 - 12 - 1946, nhân dân đã làm những chướng ngại
vật, chiến lũy ngay trên đường để chống giặc. Trung đoàn Thủ đô được thành lập, tiến
đánh những trận quyết liệt ở Bắc Bộ phủ, chợ Đồng Xuân... Ngày 17 - 12 - 1947, quân ta
rút khỏi vòng vây của địch, ra căn cứ an toàn.
Ở các đô thị như Bắc Giang, Bắc Ninh, Huế, Đà Nẵng... quân dân ta bao vây, tiến
công, tiêu diệt nhiều tên địch. - Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16 đã tạo
điều kiện cho cả nước đi vào cuộc kháng chiến lâu dài. - Sau khi rút khỏi Hà Nội, các cư
quan Đảng, Chính phủ, Mặt trận... chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc. 9
Về chính trị, các ủy ban hành chính chuyển thành Ủy ban kháng chiến hành chính,
thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc; mở rộng Mặt trận, thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam.
Về kinh tế, Chính phủ đề ra các chính sách nhằm duy trì và phát triển sản xuất,
trước hết là sản xuất lương thực.
Về quân sự, Chính phủ quy định mọi người dân từ 18 đến 45 tuổi được tuyển chọn
tham gia các lực lượng chiến đấu.
Về văn hóa,phong trào bình dân học vụ được duy trì và phát triển. Trường phổ
thông các cấp vẫn tiếp tục giảng dạy, học tập trong chiến tranh.
Tháng 3 - 1947, Chính phủ Pháp cử Bôlae làm Cao ủy Pháp ở Đông Dương, thực
hiện kế hoạch tiến công căn cứ địa Việt Bắc nhằm nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
Pháp huy động 12000 quân và hầu hết máy bay ở Đông Dương mở cuộc tiến công Việt
Bắc từ ngày 7 - 10 - 1947. Khi đó, Đảng ta đã có Chỉ thị "Phải phá tan cuộc tiến công
mùa đông của giặc Pháp". Quân dân ta chủ động bao vây, tiến công địch ở Chợ Mới, Chợ
đồn, Chợ Rã... buộc Pháp phải rút khỏi Chợ Đồn, Chợ Rã cuối tháng 11 – 1947.
Ở mặt trận hướng đông, quân dân ta phục kích đánh địch nhiều trận trên đường số
4, tiêu biểu là trận phục kích ở đèo Bông Lau, đánh trúng đoàn xe cơ giới, thu nhiều vũ
khí của địch. Ở mặt trận hướng tây, quân dân ta phục kích đánh địch nhiều trận trên sông
Lô,nổi bật là trận Đoan Hùng, Khe Lau, đánh chìm nhiều tàu chiến, ca nô của địch.
Cuộc chiến đấu giữa ta với địch đã kết thúc bằng cuộc rút chạy của đại bộ phận
quân Pháp khỏi Việt Bắc ngày 19 - 12 - 1947. - Quân dân ta loại khỏi vong chiến đấu hơn
6 000 địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 tàu chiến, ca nô, phá hủy nhiều phương tiện
chiến tranh. Cơ quan đầu não kháng chiến được bảo toàn. Bộ đội chủ lực của ta ngày càng trưởng thành.
Sau thất bại Việt Bắc, Pháp thay đổi chiến lược từ "đánh nhanh,thắng nhanh" sang
"đánh lâu dài", thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh 10
nuôi chiến tranh". Quân dân ta trên các chiến trường toàn quốc hoạt động mạnh, kiềm
chế, không cho địch tập trung lớn binh lực vào chiến trường chính.
Trên mặt trận chính trị, đầu năm 1949, Chính phủ quyết định tổ chức bầu cử Hội
đồng nhân dân và Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp. Tháng 6-1949, Mặt trận Việt
Minh và Hội Liên Việt quyết định tiến tới thông nhất thành Mặt trận Liên Việt.
Trên mặt trận quân sự, trong những năm 1948-1949, bộ đội chủ lực phân tán, đi
sâu vào cùng sau lưng địch, xây dựng cơ sở kháng chiến, phát triển chiến tranh du kích -
Trên mặt trận kinh tế, Chính phủ ra các Sắc lệnh: giảm tô 25% (7-1949), hoãn nợ, xóa nợ
(5-1950), chia lại ruộng đất công và tạm thời cấp ruộng đất vắng chủ...
Trên mặt trận văn hóa, giáo dục, tháng 7 - 1950, Chính phủ đề ra chủ trương cải
cách giáo dục phổ thông,đặt nền móng cho nền giáo dục dân tộc dân chủ Việt Nam. Hệ
thống các trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp bắt đầu được xây dựng.
Ngày 1 - 10 - 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa ra đời - Ngày 14 - 1 - 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng đặt quan
hệ ngoại giao với các nước. Ngày 18 - 1 - 1950, Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa, ngày 30 - 1 - 1950 Chính phủ Liên Xô, trong vòng 1 tháng sau, các nước trong phe
xã hội chủ nghĩa lần lượt đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 13 - 5 - 1949, với sự đồng ý của Mĩ, Chính phủ Pháp đề ra kế hoạch Rơve. Mĩ từng
bước can thiệp sâu và "dính líu" trực tiếp vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Từ tháng
6 - 1949, Pháp tăng cường hệ thống phòng ngự trên Đường số 4, thiết lập "Hành lang
Đông - Tây". Tháng 6 - 1950, Đảng và Chính phủ quyết định mở chiến dịch biên giới
nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; khai thông đường sang Trung Quốc
và thế giới; mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo đà thúc đẩy cuộc kháng chiến tiến lên.
Sáng 16 - 9 - 1950, các đơn vị quân đội ta đánh vào dông Khê, đến sáng 18 - 9, bộ
đội ta đã tiêu diệt hoàn toàn căn cứ điểm Đông Khê. Quân địch ở Thất Khê bị uy hiếp.
Pháp huy động quân từ Thất Khê tiến lê chiếm lại Đông Khê, đón cánh quân từ Cao Bằng 11
rút về. Quân ta chủ động mai phục, chặn đánh địch ở nhiều nơi trên đường số 4 khiến
cho hai cánh quân không gặp được nhau. Thất Khê bị uy hiếp, quân Pháp phải rút về Na
Sầm (8 - 10 - 1950) và ngày 13 - 10 - 1950, rút khỏi Na Sầm về Lạng Sơn. Cuộc hành
quân của địch lên Thái Nguyên cũng bị quân ta chặn đánh. Quân Pháp hoảng loạn rút
chạy, Đường số 4 được giải phóng ngày 22 - 10 - 1950
1.1.3. Quá trình đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi (1951-1954)
Từ 11 đến 19-2-1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, họp ở xã
Vinh Quang (nay là xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang).
Đây là Đại hội Đảng được tổ chức lần đầu tiên trong nước trong điều kiện mới: Sự
hình thành và lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là sự ra đời của nước Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa (năm 1949) đã làm thay đổi căn bản tương quan lực lượng trên
trường quốc tế có lợi cho hòa bình và cách mạng. Cuộc kháng chiến của nhân dân ba
nước Đông Dương đã giành được những thắng lợi quan trọng. Lợi dụng tình thế khó khăn
của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông Dương, vừa giúp đỡ Pháp,
vừa tìm cơ hội để hất cẳng Pháp. Thực tiễn của cuộc kháng chiến đang đòi hỏi Đảng phải
ra công khai để lãnh đạo kháng chiến.
Báo cáo Chính trị tại Đại hội đã nêu rõ rằng để hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo sự
nghiệp đánh thắng giặc Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, Đảng Cộng sản Đông Dương
phải ra hoạt động công khai và tổ chức lại cho thích hợp với tình hình mỗi nước. Đại hội
đã quyết định xây dựng ở mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia một Đảng Cách mạng
thích hợp với hoàn cảnh cụ thể để lãnh đạo cuộc kháng chiến ở từng nước đến thắng lợi
hoàn toàn. ở Việt Nam, Đại hội quyết định xây dựng Đảng Lao động Việt Nam và đưa
Đảng ra công khai. Đại hội đã thông qua Chính cương, Điều lệ mới của Đảng, bầu ra Ban
Chấp hành Trung ương mới. Cụ Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành
Trung ương Đảng và ông Trường-Chinh được bầu làm Tổng Bí thư. Đại hội đã chỉ rõ:
Nhiệm vụ cơ bản của Cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành
độc lập và thống nhất hoàn toàn cho dân tộc, thủ tiêu chế độ thuộc địa trong vùng tạm bị 12
chiếm, xoá bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện chủ trương người
cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội.
Đây là Đại hội Đảng được tổ chức lần đầu tiên trong nước trong điều kiện mới: Sự
hình thành và lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là sự ra đời của nước Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa (năm 1949) đã làm thay đổi căn bản tương quan lực lượng trên
trường quốc tế có lợi cho hòa bình và cách mạng. Cuộc kháng chiến của nhân dân ba
nước Đông Dương đã giành được những thắng lợi quan trọng. Lợi dụng tình thế khó khăn
của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông Dương, vừa giúp đỡ Pháp,
vừa tìm cơ hội để hất cẳng Pháp. Thực tiễn của cuộc kháng chiến đang đòi hỏi Đảng phải
ra công khai để lãnh đạo kháng chiến.
Báo cáo của Tổng Bí thư Trường Chinh đã trình bày toàn bộ đường lối cách mạng
Việt Nam. Đó là đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã
hội. Nội dung cơ bản của của báo cáo được phản ánh trong Chính cương của Đảng Lao
động Việt Nam được Đại hội thông qua, gồm các nội dung quan trọng sau đây:
- Xác định tính chất của xã hội Việt Nam lúc này có 3 tính chất: “dân chủ nhân
dân, một phần thuộc địa và nửa phong kiến”.
- Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam được xác định là: “đánh đuổi bọn đế quốc
xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; xóa bỏ những tàn tích phong
kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân dân,
gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”.
- Động lực của cách mạng Việt Nam được xác gồm có bốn giai cấp là: giai cấp
công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản và tư sản dân tộc, ngoài ra còn có
những thân sĩ (thân hào, địa chủ) yêu nước và tiến bộ.
-Triển vọng phát triển của cách mạng Việt Nam nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. 13
Nội dung của Chính cương còn nêu ra 15 chính sách lớn của Đảng trong giai đoạn
hiện ta nhằm tiếp tục đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi và đặt cơ sở kiến thiết quốc
gia, thực hiện chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam, làm tiền đề tiến lên chủ nghĩa xã hội.
1.2. Tình hình xã hội ở đất nước trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975)
1.2.1. Sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng hai miền Nam - Bắc (1954 - 1965) a. Hoàn cảnh lịch sử:
Trên trường quốc tế, thuận lợi của cách mạng Việt Nam là hệ thống xã hội chủ
nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoa học - kỹ thuật, nhất là sự lớn mạnh
của Liên Xô. Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển. Phong trào hòa bình, dân
chủ lên cao ở các nước tư bản. Bất lợi là: xuất hiện đế quốc Mỹ hùng mạnh có âm mưu
làm bá chủ thế giới, với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng được các đời tổng thống
nối tiếp nhau xây dựng và thực hiện. Thế giới đi vào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua
vũ trang. Xuất hiện sự bất đồng, chia rẽ trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc.
Tại Việt Nam, từ năm 1954 - 1960, Đảng ta thực hiện khôi phục kinh tế, cải tạo xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế
tiến công. Lúc này, ở miền Bắc, sau ngày Hiệp định Giơnevơ (7/1954) được ký kết, cách
mạng có những đặc điểm và thuận lợi, khó khăn mới. Đất nước bị chia làm hai miền, có
chế độ chính trị, xã hội khác nhau: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng phát triển theo
con đường xã hội chủ nghĩa, miền Nam do chính quyền đối phương quản lý, trở thành
thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ.
Ở trong nước, thuận lợi là đã có miền Bắc được hoàn toàn 165 giải phóng, làm căn
cứ địa hậu phương cho cả nước. Thế và lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn trước sau
chín năm kháng chiến; có ý chí độc lập thống nhất của nhân dân cả nước. Khó khăn là đất
nước chia làm hai miền, có chế độ chính trị khác nhau, miền Nam do đế quốc, tay sai 14
kiểm soát, không chịu thực hiện hòa bình thống nhất đất nước. Kinh tế miền Bắc nghèo
nàn, lạc hậu. Đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt Nam.
b. Đường lối chiến lược cách mạng chung của cả nước
Tình hình phức tạp nêu trên đã đặt Đảng ta trước một yêu cầu bức thiết là phải
vạch ra đường lối chiến lược đúng đắn để đưa cách mạng Việt Nam tiến lên phù hợp với
tình hình mới của đất nước và phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại. Trải qua
nhiều hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, chủ trương chiến lược
cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới của Đảng từng bước hình thành.
Tháng 9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà
Nội. Trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đại hội lần này là Đại hội
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà” 1. Đại
hội đã thông qua Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Nghị quyết về
nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, thông qua Báo cáo về xây dựng
Đảng và Báo cáo về Kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc...
Về đường lối chung của cách mạng Việt Nam, trên cơ sở phân tích tình hình và
đặc điểm nước ta, Đại hội xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn
mới là phải thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền: Một là,
đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; Hai là, tiến hành cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
Về mục tiêu chiến lược chung, Đại hội cho rằng, cách mạng ở miền Bắc và cách
mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, có mục tiêu cụ thể riêng, song trước
mắt đều hướng vào mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, hòa bình, thống nhất đất nước.
Về vị trí, vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng chiến lược cách mạng ở mỗi miền, Đại
hội nêu rõ: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng tiềm lực và 15
bảo vệ căn cứ địa của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, chuẩn bị cho cả
nước đi lên chủ nghĩa xã hội về sau, nên giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển
của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Còn cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự
nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực
hiện hòa bình, thống nhất nước nhà.
1.2.2. Lãnh đạo cách mạng cả nước (1965-1975)
a. Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng
Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, để cứu
vãn cơ đồ chủ nghĩa thực dân mới, ngăn chặn sự sụp đổ của chính quyền và quân đội Sài
Gòn, chính quyền của Tổng thống Mỹ L. Giônxơn quyết định tiến hành chiến lược
“Chiến tranh cục bộ” (Local War Strategy) ở miền Nam. “Chiến tranh cục bộ” là một
hình thức chiến tranh trong chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ,
mục đích là đưa quân chiến đấu Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ vào trực tiếp
tham chiến, đóng vai trò chủ yếu trên chiến trường miền Nam; quân đội Sài Gòn đóng vai
trò hỗ trợ quân Mỹ và thực hiện bình định. Ngày 8/3/1965, quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng
trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam. Đồng thời, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh
phá hoại bằng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam nhằm làm suy yếu
miền Bắc và ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam.
Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 11 (3/1965) và Hội nghị lần thứ 12 (12/1965)
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước trên phạm vi toàn quốc và hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên lực lượng của cả
nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình
huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”.
Nội dung đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong giai đoạn mới là sự kế
thừa và phát triển sáng tạo đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam đã được 16
Đảng đề ra tại Đại hội lần thứ III (1960), gồm các nội dung lớn là: Quyết tâm chiến lược:
Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, nhưng so sánh
lực lượng giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn, cuộc chiến tranh trở nên gay go, ác liệt,
nhưng nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động trên chiến trường;
cuộc “Chiến tranh cục bộ” mà Mỹ đang tiến hành ở miền Nam vẫn là một cuộc chiến
tranh xâm lược thực dân mới. Cuộc chiến tranh đó được đề ra trong thế thua, thế thất bại
và bị động, cho nên nó chứa đựng đầy mâu thuẫn về chiến lược; Mỹ không thể nào cứu
vãn được tình thế nguy khốn, bế tắc của chúng ở miền Nam. Từ sự phân tích và nhận
định trên, Trung ương khẳng định chúng ta có đủ điều kiện và sức mạnh để đánh Mỹ và
thắng Mỹ. Với tinh thần “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, Đảng quyết định
phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong toàn quốc, coi chống Mỹ, cứu
nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc.
Mục tiêu chiến lược: Kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà.
Phương châm chiến lược: Đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, càng đánh
càng mạnh; cần phải cố gắng đến mức độ cao, tập trung lực lượng của cả hai miền để mở
những cuộc tiến công lớn, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian
tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam.
Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Nam: Giữ vững và phát triển thế tiến công, kiên
quyết tiến công và liên tục tiến công. Tiếp tục kiên trì phương châm kết hợp đấu tranh
quân sự với đấu tranh chính trị, triệt để thực hiện ba mũi giáp công, đánh địch trên cả ba
vùng chiến lược. Trong giai đoạn này, đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp
và giữ một vị trí ngày càng quan trọng.
Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc: Chuyển hướng xây dựng kinh tế, bảo đảm tiếp
tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng trong điều kiện có chiến 17
tranh, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ để
bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, động viên sức người, sức của ở mức cao
nhất để chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, đồng thời tích cực chuẩn bị
đề phòng để đánh bại địch trong trường hợp chúng liều lĩnh mở rộng “Chiến tranh cục
bộ” ra cả nước. Về mối quan hệ và nhiệm vụ cách mạng của hai miền: Trong cuộc chiến
tranh chống Mỹ của nhân dân cả nước, miền Nam là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu
phương lớn. Phải nắm vững mối quan hệ giữa nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và giải phóng
miền Nam. Bảo vệ miền Bắc là nhiệm vụ của cả nước, vì miền Bắc xã hội chủ nghĩa là
thành quả chung rất to lớn của nhân dân cả nước ta, là hậu phương vững chắc trong cuộc
chiến tranh chống Mỹ. Phải đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền
Bắc và ra sức tăng cường lực lượng miền Bắc về mọi mặt, nhất là về kinh tế và quốc
phòng, nhằm đảm bảo chi viện đắc lực cho miền Nam, đồng thời, vừa tiếp tục xây dựng
chủ nghĩa xã hội nhằm phát huy vai trò đắc lực của hậu phương lớn đối với tiền tuyến
lớn. Hai nhiệm vụ trên đây không tách rời nhau mà gắn bó mật thiết với nhau. Đế quốc
Mỹ xâm lược Việt Nam, thì bất kỳ chúng đặt chân ở đâu trên đất nước Việt Nam, mọi
người Việt Nam đều có nghĩa vụ tiêu diệt chúng. Khẩu hiệu chung của nhân dân cả nước
lúc này là “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”
b. Lãnh đạo cách mạng ở miền Bắc (1965-1975)
Từ ngày 5/8/1964, Mỹ dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” nhằm lấy cớ dùng không
quân và hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ với ý đồ của Tổng thống Mỹ Giônxơn đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá; phá hoại
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc
đối với miền Nam; đè bẹp ý chí quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của cả dân tộc Việt Nam,
buộc chúng ta phải kết thúc chiến tranh theo điều kiện do Mỹ đặt ra.
Trước tình hình đó, theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 và lần thứ
12, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời xác định chủ trương, nhiệm vụ cụ thể
của miền Bắc cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới trong hoàn cảnh cả nước có chiến
tranh: Một là, kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với tình hình có chiến 18
tranh phá hoại; Hai là, tăng cường lực lượng quốc phòng cho kịp với sự phát triển tình
hình cả nước có chiến tranh; Ba là, ra sức chi viện cho miền Nam với mức cao nhất để
đánh bại địch ở chiến trường chính miền Nam; Bốn là, phải kịp thời chuyển hướng tư
tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới.
Chủ trương chuyển hướng và những nhiệm vụ của miền Bắc phản ánh quyết tâm
của Đảng và nhân dân ta trong việc kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, tiếp tục tăng
cường sức mạnh của miền Bắc, làm chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp chống Mỹ xâm
lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Do bị thất bại nặng nề ở cả hai miền
Nam - Bắc, tháng 3/1968, đế quốc Mỹ tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc, ngày
1/11/1968, Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân.
Sau bốn năm thực hiện chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế, hậu phương
lớn miền Bắc đã đạt được những thành tích đáng tự hào trên các mặt chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội, chi viện tiền tuyến lớn miền Nam. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
vẫn tiếp tục, miền Bắc ngày càng thêm vững mạnh. Chế độ xã hội chủ nghĩa đang được
xây dựng ở miền Bắc đã vượt qua được nhiều thử thách nghiêm trọng và ngày càng phát
huy tính ưu việt trong chiến tranh. Chuyển hướng kinh tế, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã
hội trong hoàn cảnh có chiến tranh là nét đặc biệt chưa có tiền lệ. Sản xuất nông nghiệp
không những không giảm sút mà còn có bước phát triển tiến bộ. Sản xuất công nghiệp và
tiểu thủ công nghiệp vẫn được duy trì mặc dù gặp nhiều khó khăn.
Đời sống nhân dân căn bản được ổn định. Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế chẳng
những không ngừng trệ mà còn phát triển mạnh mẽ trong thời chiến và đạt nhiều kết quả
tốt. Công tác nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, thăm dò tài nguyên được đẩy mạnh,
vừa phục vụ sự nghiệp xây dựng kinh tế trước mắt, vừa chuẩn bị cho nhiệm vụ lâu dài
xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tranh thủ những thuận lợi mới do Mỹ chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, từ
tháng 11/1968, Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc thực hiện các kế hoạch ngắn hạn 19
nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, tiếp tục công cuộc xây dựng miền Bắc và tăng
cường lực lượng cho miền Nam.
Nhân dân miền Bắc đã khẩn trương bắt tay khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương
chiến tranh và đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những kết quả đạt được
đã làm cho tiềm lực mọi mặt của hậu phương lớn miền Bắc được tăng cường, cải thiện
đời sống nhân dân, hồi sinh một bước cuộc sống bình thường, cho phép miền Bắc chi
viện sức người, sức của cho tiền tuyến ngày càng cao, góp phần quyết định tạo nên chiến
thắng to lớn trên chiến trường miền Nam.
Từ tháng 4/1972, để ngăn chặn cuộc tiến công chiến lược của quân dân ta ở miền
Nam, đế quốc Mỹ đã cho máy bay, tàu chiến tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền
Bắc lần thứ hai hết sức ác liệt. Trước hành động chiến tranh điên cuồng của địch, Trung
ương Đảng đã phát động cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại đến đỉnh
cao, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, tiếp tục chi viện miền Nam, giữ vững lập trường đàm
phán. Trong 9 tháng chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, quân dân
miền Bắc đã bình tĩnh, sáng tạo, vừa sản xuất vừa chiến đấu, nhất là trong 12 ngày đêm
cuối năm 1972, lập nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ.
Ngày 15/1/1973, Chính phủ Mỹ phải tuyên bố ngừng mọi hoạt động phá hoại
miền Bắc và trở lại bàn đàm phán ở Pari. Ngày 21/1/1973, Hiệp định Pari được ký kết,
miền Bắc lập lại hòa bình, Trung ương Đảng đã đề ra kế hoạch hai năm khôi phục và phát
triển kinh tế 1974 - 1975. Đến năm 1975, hầu hết các cơ sở kinh tế đã trở lại hoạt động bình thường.
Với tiềm lực kinh tế và quốc phòng đã xây dựng được, cùng với việc tiếp thu và sử
dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế, miền Bắc chẳng những đứng vững trong chiến
tranh, mà còn đánh thắng oanh liệt hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng kỹ thuật và
phương tiện hiện đại nhất của đế quốc Mỹ. 20