



















Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA XÃ HỘI HỌC
Tiểu luận cuối kì
Bộ môn: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Chủ đề: Sự chống phá hiệp định Pari của chính quyền Việt
Nam cộng hòa từ sự giúp đỡ của Mỹ và nhân dân Việt Nam
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trong công cuộc giải
phóng miền Nam thống nhất đất nước
(giai đoạn 1973 – 1975 )
Giảng viên: PGS, TS Nguyễn Thị Mai Hoa và TS Đỗ Thị Thanh Loan
Sinh viên: Mai Trường Mạnh Mã sinh viên: 20030491 Hà Nội – 2021 1 Mở đầu
Sau các thất bại liên tiếp từ chiến lược: Chiến tranh đặc biệt ( 1961 – 1965 ), chiến
tranh cục bộ ( 1965 – 1968), cùng với đó là thất bại chiến lược dùng không quân
phá hại miền Bắc Việt Nam. Cuối cùng, ngày 22/1/1973 tại Trung tâm các Hội
nghị quốc tế Clêbe, đúng 12 giờ 30 phút (giờ Pari) Hiệp định chấm dứt chiến tranh,
lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kitxinhgiơ ký
kết. Ngày 27/11/973, Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam
đã được ký chính thức giữa Bộ trưởng Ngoại giao các bên. Nhưng sau khi kí kết
hiệp định Pari chính quyền Việt Nam cộng hòa liên tiếp dùng quân đội dưới sự hỗ
trợ trực tiếp về mọi mặt của Mỹ bắt đầu mở nhiều chiến dịch xâm lấn hòng chiếm
lại các khu do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm chủ, cuộc lật lọng của Mỹ và sự cố
chấp của chính quyền Sài Gòn đã mở ra nhiều cuộc hành quân lớn có quy mô.
Trước tình hình ấy, hội nghị của Bộ Chính trị được mở ra đề xuất các phương án
giải phóng hoàn toàn miền Nam. Những sự gắn cự cuối cùng của Mỹ và chính
quyền Việt Nam cộng hòa đã kết thúc với chiến dịch Tổng tiến công và nổi dạy
mùa xuân năm 1975, đã đánh bại hoàn toàn đế quốc Mỹ và sự sụp đổ của chính
quyền Việt Nam cộng hòa. Lập lại hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đánh đổ hoàn toàn đế quốc Mỹ
và thống nhất toàn vẹn đất nước. Vai trò của Đảng lãnh đạo quần chúng nhân dân
đóng góp một vai trò lớn và là sự quyết định cho thành công của cuộc chiến, cùng
với sự kiện này như một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc và có tiếng vang
trên toàn thế giới. Góp phần đưa đất nước Việt Nam độc lập và tiến tới xã hội chủ nghĩa trong tương lai. 2 Table of Contents
Chương I : CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ GIAI
ĐOẠN NĂM đầu năm 1973 – NĂM 1975............................................................4
1.1. Hiệp định Pari được kí kết năm 1973.........................................................4
1.1.1. Nguyên nhân kí kết hiệp định Pari..........................................................4
1.1.2. Tác động hiệp định Pari đối với tình hình Việt Nam..............................5
1.2. Sự lật lọng của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai ra sức phá hoại hiệp
định.......................................................................................................................5
Chương II: NHÂN DÂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO VÀ CHỈ HỦY CỦA
ĐẢNG ĐÁNH BẠI HOÀN TOÀN MỸ - NGỤY, THỐNG NHẤT TOÀN
VẸN LÃNH THỔ VIỆT NAM...........................................................................8
2.1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ - Ngụy 1973 – 1975 của nhân dân ta dưới
sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp từ Đảng..........................................................8
2.1.1. Nhận định tình hình miền Nam của TW Đảng sau khi hiệp định Pari
được kí kết.........................................................................................................8
2.1.2. Quyết tâm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước............................9
2.2. Vai trò, tầm quan trọng của Đảng lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi
cuối cùng, kết thúc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, mở ra một thời kì độc
lập lâu dài...........................................................................................................12
2.2.1. Vai trò của Đảng trong công tác chuẩn bị lực lượng, hậu cần cho
những năm tháng cuối cùng trong kháng chiến chống Mỹ.............................12
2.2.2. Vai trò lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh kháng chiến Mỹ, kết thúc
chiến tranh, lập lại hòa bình...........................................................................14 3 4
Chương I : CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ
QUỐC MỸ GIAI ĐOẠN NĂM đầu năm 1973 – NĂM 1975
1.1. Hiệp định Pari được kí kết năm 1973
1.1.1. Nguyên nhân kí kết hiệp định Pari
Tháng 1 năm 1969, Hội nghị 4 bên về Việt Nam chính thức họp phiên đầu tiên tại
Pari. Lập trường bốn bên, mà thực chất là của hai bên, Việt Nam và Mỹ, giai đoạn
đầu rất xa nhau, mâu thuẫn nhau, khiến cho các cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt trên
bàn hội nghị, đến mức nhiều lúc phải gián đoạn thương lượng. Trong thời gian
này, trên chiến trường cả hai bên Việt Nam và Mỹ đều tìm mọi cách giành thắng
lợi quyết định về quân sự để thay đổi cục diện chiến trường, lấy đó làm áp lực cho
mọi giải pháp chấm dứt chiến tranh trên thế mạnh mà cả hai phía đang giành giật
trên bàn đàm phán nhưng chưa đạt kết quả. Những thắng lợi quân sự của ta trong
các chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, Đông Bắc và Đông Nam Campuchia trong
năm 1971; các chiến dịch tiến công Bình - Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông
Nam Bộ, Bắc Bình Định, Khu 8 Nam Bộ… trong năm 1972 đã làm quân Mỹ -
Nguỵ bị thiệt hại nặng nề, từng bước làm phá sản chiến lược “Việt Nam hoá chiến
tranh” và tạo thế thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán.
Ngày 8/10/1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo “Hiệp định về chấm
dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam” và đề nghị thảo luận để đi đến ký kết.
Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí nhưng đến ngày 22/10/1972 phía Mỹ
lật lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo. Đêm
18/12/1972, tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh ném bom huỷ diệt Hà Nội và Hải Phòng 5
bằng B52. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm được ví là "Trận Điện Biên
Phủ trên không" kết thúc bằng việc 38 pháo đài bay B52 và 43 máy bay chiến đấu
khác của Mỹ bị bắn rơi ngay trên bầu trời Hà Nội. Thất bại của Mỹ trên chiến
trường miền Nam cùng với thất bại của không quân chiến lược Mỹ trên bầu trời Hà
Nội, đẩy Mỹ vào thế thua không thể gượng nổi, buộc chúng phải chấp nhận thất
bại, nối lại đàm phán tại Pari. Trên tư thế bên chiến thắng, phái đoàn ta tại cuộc
đàm phán đã kiên quyết đấu tranh giữ vững nội dung của dự thảo Hiệp định đã thoả thuận.
1.1.2. Tác động hiệp định Pari đối với tình hình Việt Nam
Với những điều khoản được kí kết trong hiệp định Pari, nhất là điều khoản Hoa Kỳ
và các nước khác cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ của nước Việt Nam. Mỹ sẽ rút toàn bộ quân đội và quân đồng minh của
mình ra khỏi miền Nam Việt Nam, không những thế Mỹ sẽ hứa hàn gán vết thương
chiến tranh cho Việt Nam và toàn cõi Đông Dương
Với những điều khoản có lợi này cho ta đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược
Mỹ trên bờ cõi Việt Nam, đẩy hết quân đội Mỹ cùng các nước đồng minh về nước,
củng cố nền độc lập, dân chủ và là điều kiện lý tưởng để tiến công vào miền Nam
đánh đổ chính quyền Việt Nam cộng hòa thống nhất trọn vẹn đất nước, gắn hai
miền của tổ quốc Bắc – Nam lại làm một.
1.2. Sự lật lọng của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai ra sức phá hoại hiệp định
Có thể nói sau khi kí kết hiệp định Pari, Mỹ và quân đồng minh sẽ rút khỏi Việt
Nam, trong tình hình đó Nam Việt Nam và Bắc Việt Nam sẽ hòa làm một và sẽ có
một cuộc hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, sẽ có một chính quyền chung của hai miền. 6
.Tuy Mỹ đã rút quân nhưng vẫn để lại miền Nam hơn 20 vạn cố vấn quân sự, viện
trợ nhiều khí tải, vật trang quân sự, vật chất thuốc men…và lập ra Bộ chỉ huy quân
sự. Bên phía Việt Nam cộng hòa dưới sự hẫu thuẫn bên phía Mỹ đã mở ra hàng
loạt chiến dịch bình định là tràn ngập lãnh thổ và hàng loạt kế hoạch quân sự để
từng bước một đẩy quân giải phóng miền Nam ra khỏi các vùng đang tạm nắm giữ
từ phía lực lượng này. Chiến dịch này đã được lên dây cót, có bản thảo, một kế
hoạch lấn chiếm từ những năm 1972, hòng đề cập các điều kiện không có lợi cho
chính quyền Ngụy quân và có điều kiện và cơ sở đề phản công khi gặp bất chắc
nhất cho chính quyền. Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống Việt Nam cộng hòa đã ra chỉ
thị 4 không , “không có chính phủ liên minh dưới bất kỳ vỏ bọc nào, không trung
lập hóa những người thân Cộng sản ở miền Nam Việt Nam và không nhượng đất
cho người Cộng sản”. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã chủ trương "tràn ngập
lãnh thổ" bằng cờ Việt Nam Cộng hòa để lấn thêm lãnh thổ và giành thêm dân. Hai
kế hoạch đã được bên phía Việt Nam cộng hòa thực hiện chia làm 2 giai đoạn:
Chiến dịch Lý Thường Kiệt ( 1973 – 1974) và chiến lược tổng lực toàn diện ( 1975
– 1978) với một mục đích cao nhất là phải làm sao lấn chiếm được lãnh thổ quân
đội giải phóng nâng cao khả năng tác chiến của quân đội Việt Nam cộng hòa, hòng
đánh bại quân đội Giải phóng miền Nam làm chủ cục diện, đưa cuộc chiến tranh về
lại quỹ đạo bạn đầu. Cùng với các chiến lược mang tính quân sự của mình, chúng
còn thực hiện các phương thức chiến tranh trên mặt trận chính trị, văn hóa ra sức
tuyên truyền chính sách phá hoại điều khoản của hiệp định Pari bằng những luận
điểm sai trái, bóp méo sự thật hòng có một mặt trận tinh thần làm chỗ dựa để có
thể thúc đẩy được các cuộc tiến công lấn chiếm có hiệu quả và luôn đề cao sẽ luôn
phản kích quân giải phóng để chiếm lại được đất và dân
Chỉ trong quý đầu năm 1973, quân đội Việt Nam cộng hòa thực hiện hàng loạt
chiến dịch phạm vi toàn khu vực miền Nam, 15 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn, 19 7
cuộc hành quân cấp bình trị khu: ở các khu vực Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng
Nam, Quãng Ngãi, Kom Tum. Lực lượng hải quân, không được đốc thút trang bị
và tăng cường củng cố lực lượng hòng có một lực lượng đông đảo chất lượng phục
vụ cho tác chiến nhanh và để đạt hiệu quả cao. Ngụy quyền dưới sự chỉ đạo trực
tiếp từ Nguyễn Văn Thiệu đã ra sức đánh chiếm đất đai ở các khu vực giải phóng
và bước đầu đại được hiệu quả. Ngày 27 – 1 – 1973, quân lực Việt Nam cộng hòa
đã tổ chức một cuộc tiến công bình định lớn và có quy mô lớn tấn công vào phía
Bắc tỉnh Quảng Trị để chiếm Cửa Việt một trong những khu vực có tầm quan
trọng và có tính chiến lược trên chiến trường miền Nam khu vực Bình – Trị - Thiên.
Thực hiện hàng loạt cuộc tiến công quận sự có quy mô dưới sự giúp đỡ đắc lực từ
phía Mỹ, quân đội Việt Nam cộng hòa đã ra sức phá bỏ hiệp định, tiếp tục tấn công
vào khu vực giải phóng, ra sức đàn áp rã man những nơi chúng cho là căn cứ của
quân đội giải phóng, thẳng tay bắn bỏ dân lành, thực hiện hàng loạt tội ác vi phạm
quyền tự do, dân chủ và ý nguyện thống nhất đất nước nguyện vọng của nhân dân hai miền 8
Chương II: NHÂN DÂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO VÀ CHỈ HỦY CỦA
ĐẢNG ĐÁNH BẠI HOÀN TOÀN MỸ - NGỤY, THỐNG NHẤT TOÀN VẸN LÃNH THỔ VIỆT NAM
2.1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ - Ngụy 1973 – 1975 của nhân
dân ta dưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp từ Đảng
2.1.1. Nhận định tình hình miền Nam của TW Đảng sau khi hiệp định Pari được kí kết
Sau khi hiệp định Pari được kí kết và thông qua, thì Mỹ và quân đồng minh sẽ phải
rút quân về nước, nhưng tình hình miền Nam vẫn không có diễn biến nào cho thấy
cuộc chiến tranh này sẽ dừng lại, Ngụy quân được Mỹ hậu thuẫn lại càng tăng
cường lực lượng đánh chiếm các vùng tự do do ta quản lý, tăng cường cướp đất,
dồn dân, vơ vét của cải giữa các vùng hòng không cho dân tiếp cận với lực lượng
quân giải phóng, nên chúng đã gây ra nhiều cuộc càng quét vô cùng đẫm máu.
Từ sau ngày Hiệp định Paris có hiệu lực, Ðảng ta dự kiến có hai khả năng: hoặc là
hòa bình được duy trì, hiệp định được thực hiện từng bước, phong trào cách mạng
miền nam có điều kiện tiếp tục phát triển; hoặc là chiến tranh sẽ vẫn tiếp diễn. Ta
ra sức tranh thủ khả năng thứ nhất, đồng thời ra sức chuẩn bị sẵn sàng đối phó khả
năng thứ hai. Nhận thấy tình hình, miền Nam vô cùng phức tạp, Mỹ không chịu rút
quân mà còn tài trợ tiền của, vũ khí để lại nhiều cố vấn quân sự cho miền Nam
Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng: “ Nhiều khả năng địch sẽ đánh
phá các tuyến đường chi viện chiến lược Trường Sơn, ông chỉ thị phải khắc phục
khó khăn, mở đường Đông Trường Sơn, từ Khe Gát ( Quảng Bình) cho tới Phù Gia
Mập ( Nam Bộ) để đường chiến lược được nhanh chóng và thuận lợi. Càng sau khi 9
kí kết hiệp định Pari, bên phía Việt Nam cộng hòa lại càng tổ chức nhiều cuộc
hành quân diễn biến tình hình trên chiến trường vô cùng phức tạp, nhiều vấn đề
nảy sinh trong công tác tác chiến trên chiến trường từ nhận định của TW Đảng,
nhiều tình huống phải giải quyết nhanh chóng dứt khoát, đại tướng Võ Nguyên
Giáp đã phải vào các chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên… làm việc trực tiếp để
giải quyết tình hình. Thực tế cho ta thấy Mỹ và Ngụy đang ra sức phá hoại hiệp
định Pari, trong thực tế ấy phải cần đề ra những chiến lược cụ thể, cách đánh, đề
làm sau nhanh chóng thu hẹp vùng địch chiếm, tấn công vào sào huyệt cuối cùng
của địch, đập tắt chiến tranh lập lại hòa bình trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
2.1.2. Quyết tâm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Không đề cho tình hình thêm xấu đi, phải nhanh chóng giải phóng miền Nam
thống nhất đất nước. Tháng 7 – năm 1973, Ban chấp hành TW Đảng họp lần thứ
21( Khóa III) và ra Nghị quyết về một phương án chiến tranh thắng lợi vĩ đại của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam
trong giai đoạn mới. Hội nghĩ đã phân tích rõ kết quả của 18 năm kháng chiến
chống Mỹ rút ra các bài học xương máu, chỉ ra một số điểm nhược điểm của ta sau
khi hiệp định Pari được kí kết. Hội nghĩ đã chỉ ra phương hướng chiến lược cho
cách mạng miền Nam Việt Nam là tiếp tục dùng con đường bao lực cách mạng,
Tiếp tục thực hiện chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đoàn kết toàn
dân, đấu tranh chống đế quốc Mỹ, giai cấp tư sản mại bản và bọn địa chủ phong
kiến, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân... đẩy lùi và thắng địch
từng bước, đi tới xóa bỏ chính quyền tay sai của Mỹ, xóa bỏ chế độ thực dân mới,
thiết lập một chính quyền dân tộc, dân chủ thực sự, thực hiện hòa hợp dân tộc,
thoát ly hẳn sự lệ thuộc vào Mỹ, thực hiện một miền nam Việt Nam hòa bình, độc
lập, dân chủ, trung lập, phồn vinh, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà. Đảng
nhấn mạnh rõ: “Con đường cách mạng của miền nam là con đường bạo lực cách 10
mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường
lối chiến lược tiến công, chỉ đạo linh hoạt, đưa cách mạng miền nam tiến lên.” Đấy
là một trong những nhiệm vụ cơ bản nhưng mang tính chiến lược vô cùng cao với
tư tưởng là tích cực tiến công, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.
Cùng với nhiệm vụ được đề ra trực tiếp trước mặt của TW Đảng về nhiệm vụ trực
tiếp của cách mạng miền Nam, thì miền Bắc cũng có nhiệm vụ là hậu phương vững
chắc cho chiến trường miền Nam. Phải tranh thủ những điều kiện thuận lợi hiện có,
ra sức khôi phục và phát triển nền kinh tế quốc dân, phù hợp với nhiệm vụ chính trị
trong giai đoạn mới, làm cho miền Bắc xã hội chủ nghĩa tiến bộ nhanh chóng về
mọi mặt, luôn luôn làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh cách mạng nhằm
hoàn thành độc lập, dân chủ ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ
quốc.Trong những năm cuối của cuộc chiến chống Mỹ Bắc Việt Nam đã có hàng
nghìn người xung phong đi vào chiến trường miền Nam, rất nhiều nhu yếu phẩm,
xăng dầu, khí tải quân sự, thuốc men…được vận chuyển vào miền Nam thông qua
con đường mòn Trường Sơn và nhiều tuyến đường khác. Mặc dù bị phía Mỹ liên
tục phá hại hậu phương nhưng miền Bắc với những nhiệm vụ của TW Đảng đề ra
vẫn xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ là một hậu phương vô cùng vững chắc cho miền
Nam, vừa là chỗ dựa vật chất và tinh thần vừa là động lực cho miền Nam mau
chóng đánh bại Mỹ - Ngụy thống nhất đất nước.
Trước tình hình có đẩy đủ các điều kiện về vật chất và lực lượng cho các cuộc tấn
công, TW Đảng dưới chỉ thị của đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xây dựng các cứ
điểm, căn cứ địa, vận binh một cách hiệu quả, trong giai đoạn đầu của chiến tranh
này thì nhận định của TW Đảng là phải tiến công quân sự bằng cách phản công
trên toàn chiến trường, chủ động tiến công, phản không, không phòng ngự một
cách đơn thuần. Trong một điều kiện hết sức nhạy cảm như này, bất cứ cuộc tiến 11
công nào cũng có thể xoáy chuyển tình hình chiến trường, Bộ tổng tham mưa đã
xây dựng các quân đoàn để ứng phó. Một thời cơ chín muồi cho một cổng tiến
công giải phóng miền Nam sẽ nổ ra, nhưng Bộ tổng tham mưa đã chỉ ra rõ nếu tiến
công mà chưa đánh bại các các quân chủ lực của địch thì điều kiện chiến thắng sẽ
chưa tới, bắt buộc phải thay đổi một phương pháp tác chiến mang chiến lược, tiến
công và đánh từng phần rồi đánh thẳng vào Sài Gòn cùng với các cuộc nổi dạy của
nhân dân kết thúc chiến tranh.
Trong bộ tham mưu một vấn đề được đặt ra là tiến công vào khu vực nào, chiến
trường Nam Tây Nguyên được chọn làm điểm mở đầu đột phá cho chiến trường
miền Nam. Bên phía Việt Nam cộng hòa, chúng bố trí lực lượng mạnh dồn vào các
thành phố Bắc Tây Nguyên: Kom Tum, Play – Ku, ta đánh vào Tây Nguyên lực
lượng quân ở đây mỏng và ít nên ta chiến thắng và làm chủ Nam Tây Nguyên một
cách nhanh chóng, chiến thắng Buôn Ma Thuột làm chủ Nam Tây Nguyên khiến
cho địch bị bất ngờ và toàn bộ chiến thuật trên trường thay đổi hoàn toàn. Huế
cũng giải phóng không lâu ta làm chủ toàn bộ chiến trường Quảng – Thiên – Huế,
địch rút quân tới Đà Nẵng đề chuẩn chuẩn bị lực lượng phòng cho quân đội ta tấn
công bất ngờ. Nhận thấy rõ tình hình, TW Đảng đã chỉ bộ tham mưu mau chóng
cắt đứt đường đi tiếp tế và chuẩn bị lực lượng tiến công vào Đà Nẵng, ngày 29 – 3
– 1975, quân ta chia phân tấn công vào Đà Nẵng, dưới sự giúp đỡ của các lực
lượng du kích cũng như quần chúng nhân dân, ta đã đánh bị hoàn toàn khu căn cứ
của địch trên Đà Nẵng trong vòng 24 giờ, giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng và Hội
An. Các cứ khu phía Bắc của địch được xem là mạnh và có quy mô lần lượt bị
quân ta đánh bại và làm chủ, một vòng vây kìm hãm Sài Gòn, một trong những
thời cơ giải phóng miền Nam thích hợp. Trước tình hình ấy bộ Chính trị đã mở ra
một cuộc họp về vấn đề tổng tiến công giải phóng Sài Gòn, những vòng vây phía
Tây và phía Nam thành phố sẽ là hướng tiến công chủ lực của quân ta với phương 12
châm thần tốc, táo báo, bất ngờ, chắc thắng. Được giao nhiệm vụ giải phóng 2
quần đảo Trường Sa và Hoàng Xa, bộ chỉ huy hải quân đã có những trận đổ bộ bất
ngờ lên các đảo và làm chủ hoàn toàn các đảo ngày 28 – 4 – 1975.
Chuẩn bị hết tất cả các lực lượng, vật chất, vũ khí để giải phóng miền Nam trước
mùa mưa được đề ra, một chiến dịch mang tên Gia Định – Sài Gòn được đặt là
chiến dịch Hồ Chí Minh. Các lực lượng được chỉ thị của Đảng bắt đầu tấn công,
chỉ thị là tấn công vào thành phố, bao vây các tuyến tiêu diệt bên ngoài kết hợp với
các lực lượng bên trong tổ chức thọc sâu các mũi lớn tấn công vào trung tâm Sài
Gòn vào những mục tiêu đã chỉ định cùng với lực lượng biệt kích, đặc công, nhân
dân nổi dậy đánh chiếm toàn bộ mục tiêu quân sự, kinh tế, văn hóa, chính trị của
địch. Các lực lượng phải phối hợp chặt chẽ tiến công thật nhanh để có thể giảm
thiêu thương vong về người và của ở mức thấp nhất có thể. Những sự chống cự
yếu ớt cuối cùng của quân đội Sài Gòn không thể nào xoay chuyển được tình thế.
10 giờ 45 phút quân ta tiến công vào Dinh Độc Lập bắt sống toàn bộ nội các Sài
Gòn, tổng thống Việt Nam công hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không
điều kiện, 11 giờ 30 phút lá cờ cách mạng tung bat trên nóc Dinh Độc Lập, kết
thúc chiến dịch Hồ Chí Minh. Cuộc chiến chống Mỹ và Việt Nam cộng hòa toàn
thắng. Đất nước hòa thành một dài từ đây, là một điều kiện quan trọng đề củng cố
hòa bình và xây dựng đất nước từ chiến tranh cũng bắt đầu với những điều kiện
khó khăn và căm co đang đợi Đảng và nhân dân ở phía trước 13
2.2. Vai trò, tầm quan trọng của Đảng lãnh đạo nhân dân giành
thắng lợi cuối cùng, kết thúc chiến tranh chống Mỹ cứu nước,
mở ra một thời kì độc lập lâu dài
2.2.1. Vai trò của Đảng trong công tác chuẩn bị lực lượng, hậu cần cho
những năm tháng cuối cùng trong kháng chiến chống Mỹ
Trong những năm kháng chiến của chống Mỹ cứu nước nhất là sau hiệp định Pari
nhận định tình hình miền Nam có nhiều diễn biến phức tạp. Cần có một thành lập
một mặt trận riêng ở miền Nam, nhân dân miền Nam sẽ có một chính quyền, một
lực lượng vũ trang vì thế Mặt trận Giải phóng miền Nam ra đời và được xem như
một chính quyền cách mạng tập hợp nhân dân các tầng lớp nhân dân miền Nam
yêu nước đứng lên chống lại chính quyền phản động Việt Nam cộng hòa và phản
động của Mỹ để dòi tự do, dân chủ đây được xem như là một chính quyền vũ
trang, tổ chức các lực lượng, kêu gọi các lực lượng lại về chung một mặt trận, đề ra
sức đồng lòng cùng quân dân miền Bắc đứng lên lật đổ chính quyền Mỹ - Ngụy.
Trong công tác chuẩn bị, tổ chức, lực lượng thì TW Đảng cũng nhân định vai trò
hậu cần cũng rất quan trọng. Tuyến đường Trường Sơn, Hồ Chí Minh trên biển đã
hình thành đưa sức người sức của nhân dân miền Bắc đưa vào miền Nam. Tăng
cường xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa đủ sức là hậu phương lớn đối với tiền
tuyến lớn, Đảng ta xác định rõ sức mạnh của chiến tranh nhân dân là sức mạnh tinh
thần, vật chất của toàn dân, hậu phương vững chắc là nhân tố quyết định thắng lợi
của chiến tranh. Tháng 12-1957, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần
thứ 12 (khóa II) đã xác định đường lối của Đảng về xây dựng hậu phương trong
điều kiện mới. Đảng ta đã nêu phương hướng kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế
với củng cố quốc phòng để vừa có thể nhanh chóng phát triển kinh tế vừa củng cố
quốc phòng ngày càng mạnh mẽ, làm tròn được nhiệm vụ hậu phương đối với cuộc
chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Trong sự vận dụng sáng tạo
ấy Đảng ta đã vận dụng tốt nhiệm vụ của 2 miền là hai nhiệm vụ khác nhau 14
Bên cạnh đó, hậu phương miền Bắc đặc biệt coi trọng tăng cường quan hệ đoàn kết
với nhân dân thế giới, với các tổ chức dân chủ, hòa bình quốc tế, đặc biệt là với các
nước xã hội chủ nghĩa. Chúng ta tranh thủ sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và
các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trong đào tạo cán bộ, xây dựng lực
lượng, cung cấp hậu cần, bảo đảm vận chuyển, tranh thủ các khoản viện trợ không
hoàn lại, cho vay không tính lãi với nhiều chương trình kinh tế, thương mại. Hầu
hết các ngành kinh tế quan trọng của miền Bắc đều có sự giúp đỡ, viện trợ của các
nước xã hội chủ nghĩa.
2.2.2. Vai trò lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh kháng chiến Mỹ, kết thúc
chiến tranh, lập lại hòa bình.
Nhận tố quan trọng nhất trong cuộc kháng chiến chống quân Mỹ là có sự lãnh đạo
của một tổ chức duy nhất là Đảng, với một tổ chức có những sự sáng tạo, đường
lối đúng đắn, với các nghệ thuật quân sự tài tình cũng như ngoại giao trên chính
trường quốc tế. Không những thể Đảng còn là một tổ chức kêu gọi các lực lượng
trong nước đứng lên để đấu tranh đánh đổ đế quốc Mỹ, việc tập hợp tất cả các
lượng với nhau không chỉ mang tính sáng tạo, đấy còn một phương án chiến lược
tập hợp tất cả lại vì một mục tiêu duy nhất là để làm sao giải phóng nhanh nhất
miền Nam thống nhất toàn vẹn đất nước.
Cùng với lời kêu gọi ấy nhân dân cả nước dưới tinh thần yêu nước và lá cờ của
Đảng đã ra sức đồng lòng đứng lên chiến đấu vì lý tưởng và vì mục tiêu chung,
quyết hi sinh sương máu, tính mạng nhưng vẫn phải có được nền độc lập đuổi hết thù trong giặc ngoài.
Thắng lợi ấy không chỉ như là một thắng lợi mang tính Việt Nam mà nó còn mang
tính chất quốc tế và để lại nhiều kinh nghiệm bài học quý giá cho Đảng là :
Một là: gương cao ngọn cờ dân tộc và chủ nghĩa xã hội, huy động toàn bộ nhân
dân đứng lên để đánh đuổi Mỹ. Bước vào giai đoạn cuối cùng của chiến đấu chống 15
Mỹ Dảng ta đã để ra hai nhiệm vụ cách mạng, nhằm mục tiêu chung là giải phóng
miền Nam thống nhất đất nước. Đường lối ấy thể hiện của tha thiết dân tộc Việt
Nam, nên đã kết hợp được một lực lượng lớn hậu phương cùng với tiền tuyến là
sức mạnh tổng hợp để chiến thắng Mỹ
Hai là: tìm ra phương pháp đấu tranh đúng đắn, sáng tạo, thực hiện khởi nghĩa toàn
dân và chiến tranh nhân dân, dùng phương pháp bạo lực cách mạng kết hợp với
cách mạng tổng hợp từ hầu hết các tàng lớp, giai cấp, miền núi, thành thị, kết hợp 3
thứ quân…và cùng lúc tổng tiến công nổi dạy để đánh địch một cách hiệu quả.
Ba là: có sự chỉ đạo chiến lược đúng đắn từ TW Đảng phải có công tác tổ chức
chiến đấu giỏi của các bộ Đảng và các cấp chi ủy quân đội, thực hiện giành thắng
lợi từng bước đến thắng lợi toàn phần. Trong quá trình đấu tranh trong giai đoạn
mới và có nhiều diễn biến phức tạp ấy đảng đã nhận định đúng tình hình và có
những chính sach chiến lược hợp lý và đúng đăn
Bốn là: hết sức coi trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng cách mạng
ở miền Nam và tổ chức lực lượng xây dựng lực lượng chiến đấu trong cả nước,
tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế.
Kết luận: Cuộc kháng chiến chống Mỹ với những khó khăn về đủ mọi mặt và sự
tương quan lực lượng của ta và địch cũng không như nhau, nhưng cùng với sự cố
gắng của toàn dân, tinh thần đoàn kết với sự giúp đỡ của quốc tế, cùng với đó yếu
tố quan trọng nhất là dân ta có Đảng cộng sản lãnh đạo soi đường, chỉ lối với
những chiến lược và tư duy nhạy bén đã lãnh đạo thành công công cuộc kháng
chiến chống Mỹ, mở ra một kỉ nguyên độc lập mới cho dân tộc Việt Nam, đưa dân
tộc cùng hòa thành một dải, cùng nhau xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Dù cho cũng
có những khó khăn, vất vả, trong hiện tại và tương lai nhưng Đảng vẫn luôn cố
gắng phấn đấu, đấu tranh vì mục tiêu chung là độc lập, dân tộc, phát triển đất nước. 16 Tham thảo 1. Tài liệu sách
- Ngô Đăng Tri ( 2012), 82 năm Đảng cộng sản Việt Nam, những chặng đường
lịch sử ( 1930 – 2012), NXB Thông tin và Truyền thông
- Lê Phương Thảo, Doãn Hùng ( chủ biên) và các tác giả ( 2005), Lịch sử Đảng
cộng sản Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
- Nguyễn Trọng Phúc ( 2012), Lịch sử công tác xây dựng Đảng, NXB Chính trị
Quốc gia – Sự thật, Hà Nôi.
- Lê Mẫn Hãn, Trình Mưu ( chủ biên) và các tác giả ( 2005), Giáo trình lịch sử
Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2. Tài liệu wed
- Lê Văn Yên, Vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi trong tiến trình cách mạng Việt Nam,
(https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/202001/vai-tro-lanh-dao-cua-dang-la-
nhan-to-quyet-dinh-moi-thang-loi-trong-tien-trinh-cach-mang-viet-nam-307494/ ), 26/01/2020. 17
- Dương Hồng Anh, Hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,
(https://www.tapchicongsan.org.vn/truyen-thong-hien-tai/-/2018/35427/hau-
phuong-mien-bac-xa-hoi-chu-nghia-trong-khang-chien-chong-my%2C-cuu- nuoc.aspx ), 30-09-2015.
- TTXVN, Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược,
(https://thanhtra.com.vn/chinh-tri/doi-noi/tat-ca-vi-tien-tuyen-tat-ca-de-danh-
thang-giac-my-xam-luoc-164370.html ), 27/04/2020.
- Đinh Phương, Hiệp định Pari năm 1973 - Chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình
ở Việt Nam, (https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ho-so-su-kien-nhan-chung/su-
kien-va-nhan-chung/hiep-dinh-pari-nam-1973-cham-dut-chien-tranh-lap-lai-hoa-
binh-o-viet-nam-3379 ), 26/1/2018.
- Nguyễn Văn Quyền, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 (khóa III) ,(
https://l.facebook.com/l.php?u=https%3A%2F%2Fnhandan.vn%2Ftin-tuc-su-kien
%2FH%25E1%25BB%2599i-ngh%25E1%25BB%258B-Ban-Ch%25E1%25BA
%25A5p-h%25C3%25A0nh-Trung-%25C6%25B0%25C6%25A1ng-l
%25E1%25BA%25A7n-th%25E1%25BB%25A9-21-(kh%25C3%25B3a-III)-v
%25C3%25A0-ch%25E1%25BB%25A7-tr%25C6%25B0%25C6%25A1ng-gi
%25E1%25BA%25A3i-ph%25C3%25B3ng-mi%25E1%25BB%2581n-nam-
521399%3Ffbclid%3DIwAR3Eo5olR-EyGHut-
X0axwVBZPwssY3WHq_gXjM16jdGWtZoYp_E11PNdgI&h=AT1me0jo5yG8G
XIX5kCnneiDtUjdbrQBjYMwXAAGGb6SzXHmHqia9qo7hCUG8srsPKGrGqnH
o5EXZG7pVcgnteJBHkXo8Zx6bAbl1-OW7dRXpPJI-
s_FyrH2vWuNxHgLNmy5M2LwuCkJVw1qbrDAMw ), 11-04-2005. 18 Mục lục
Mở đầu:......................................................................................................................2
Chương I : CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ GIAI
ĐOẠN NĂM đầu năm 1973 – NĂM 1975:.........................................................3
1.1. Hiệp định Pari được kí kết năm 1973:............................................................3
1.1.1. Nguyên nhân kí kết hiệp định Pari:.................................................................3
1.1.2. Tác động hiệp định Pari đối với tình hình Việt Nam:.....................................4
1.2. Sự lật lọng của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai ra sức phá hoại hiệp định
...................................................................................................................................4
Chương II: NHÂN DÂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO VÀ CHỈ HỦY CỦA ĐẢNG
ĐÁNH BẠI HOÀN TOÀN MỸ - NGỤY, THỐNG NHẤT TOÀN VẸN LÃNH
THỔ VIỆT NAM.....................................................................................................7
2.1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ - Ngụy 1973 – 1975 của nhân dân ta dưới sự
lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp từ Đảng...................................................................7
2.1.1. Nhận định tình hình miền Nam của TW Đảng sau khi hiệp định Pari được kí
kết..............................................................................................................................7 19
2.1.2. Quyết tâm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước....................................8
2.2. Vai trò, tầm quan trọng của Đảng lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi cuối
cùng, kết thúc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, mở ra một thời kì độc lập lâu
dài............................................................................................................................11
2.2.1. Vai trò của Đảng trong công tác chuẩn bị lực lượng, hậu cần cho những năm
tháng cuối cùng trong kháng chiến chống Mỹ........................................................11
2.2.2. Vai trò lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh kháng chiến Mỹ, kết thúc chiến
tranh, lập lại hòa bình.............................................................................................13
Kết luận: .................................................................................................................14
Tài liệu tham thảo:...................................................................................................15
Mục lục....................................................................................................................17 20