Lớp: D06 MSSV: 030237210186 QU N Ả TR H Ị C Ọ Bài làm:
Câu 1: Fed là gì? Fed hạ lãi suất ( là loại lãi suất gì? ) từ 1-1,25% đến 0-0,25% tác động như
thế nào đến sức mạnh của đồng đôla, và tác động như thế nào đến các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam?
-Fed hay cục dự trữ liên bang (Federal Reserve System – Fed) là ngân hàng trung ương
Mỹ, là nơi duy nhất được in tiền (đô la Mỹ), đưa ra các chính sách tiền tệ không chỉ ảnh
hưởng tới Hoa Kỳ mà còn rất nhiều quốc gia khác, thành lập từ 23/12/1913, theo đạo luật
mang tên “Federal Reserve Act” được ký bởi tổng thống Woodrow Wilson với mục đích
duy trì 1 chính sách tiền tệ linh hoạt, an toàn và ổn định cho nước Mỹ.
-Lãi suất Fed (federal funds rate) là mức lãi suất mà các ngân hàng cho nhau vay trong
khoảng thời gian một ngày (các khoản vay qua đêm) để có được số tiền bằng đúng yêu cầu
dự trữ bắt buộc của Fed.
-Tại Việt Nam, với việc giảm lãi suất của FED, đã tác động đến 2 mặt tích cực và tiêu cực:
+ Tích cực: Về mặt tích cực, mặt bằng lãi suất, đặc biệt là lãi suất huy động bằng USD sẽ
giảm hơn so với trước đây. Qua đó góp phần giảm chi phí huy động vốn của Chính phủ
cũng như doanh nghiệp Việt Nam khi đi huy động vốn nước ngoài, nhất là trái phiếu quốc
tế. Ngoài ra, việc giảm lãi suất sẽ khiến đồng USD bị yếu đi một chút, như vậy sẽ bớt đi áp
lực tỷ giá đối với VND.
+ Tiêu cực: Việc FED tiếp tục cắt giảm lãi suất đã chứng tỏ nền kinh tế của thế giới nói
chung và Mỹ nói riêng trở nên bất ổn và khó khăn hơn. Điều này sẽ tác động tới nền kinh tế
Việt Nam qua việc giảm nhu cầu về thương mại, hoạt động đầu tư, trong tương lai có thể
Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức lớn hơn, khó khăn nhiều hơn.
Câu 2: Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ (CNY) tác động như thế nào đến các doanh
nghiệp trong nước của Việt Nam?
-Trước sự việc Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ thì Việt Nam cũng có những cơ hội
lẫn thử thách đối với các doanh nghiệp Việt Nam:
+ Việc Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ (CNY) giúp tăng lợi thế cạnh tranh cho hàng
Việt và tăng biên lợi nhuận. Mặt khác, các doanh nghiệp vay nợ bằng NDT sẽ cảm thấy
khoản nợ giảm đi rõ rệt vì tiền đồng Việt lên giá so với NDT.
+ Nhưng nếu CNY giảm giá quá mạnh, nhiều công ty Việt nhìn thấy biên lợi nhuận cao sẽ
chuyển sang mua hàng hóa nhập khẩu từ TQ để bán vào nội địa thay vì tập trung đầu tư
máy móc, công nghệ để tạo ra tỉ lệ nội địa hóa tăng cao. => điều này dẫn đến ở Việt Nam sẽ
xảy ra nhiều cạnh tranh hơn. => T.
Câu 3: Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung tác động như thế nào đối với nền kinh tế Việt Nam?
- Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Mỹ do hàng Trung Quốc bị hạn chế.
-Có cơ hội chiếm lĩnh thị phần. => O.
Câu 4: GDP là gì? GDP tăng lên hay giảm xuống tác động như thế nào đối với doanh nghiệp Việt Nam?
-GDP (Gross Domestic Product) là “ tổng sản phẩm quốc nội”. Hay có thể hiểu GDP là
tổng giá trị của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong ranh giới địa lý của một quốc gia
trong khoảng thời gian xác định có thể là 1 quý, hoặc 6 tháng hoặc 9 tháng hay 1 năm.
-GDP tăng thì GDP/người tăng -> Thu nhập của từng hộ gia đình tăng -> Số lượng sản
phẩm được tiêu thụ tăng lên => O.
-GDP giảm thì GDP/người giảm -> Thu nhập của từng hộ gia đình giảm -> Số lượng sản
phẩm được tiêu thụ giảm xuống=> T.
Câu 5: Lạm phát là gì? CPI? Phân biệt lạm phát và CPI? Lạm phát tăng lên hay giảm xuống
tác động như thế nào đối với doanh nghiệp trong nước.
-Lạm phát là sự mất giá trị của tiền tệ, giá cả leo thang, tăng lên liên tục theo thời gian.
Lạm phát tăng quá mức sẽ dẫn tới việc khủng hoảng kinh tế nhưng bị ngộ nhận là GDP tăng.
-CPI (Chỉ số giá tiêu dùng - Consumer Price Index) là chỉ số mức giá tiêu thụ trung bình
cho giỏ hàng hóa hay dịch vụ của một người. Chỉ số biểu hiện sự thay đổi về giá cả của
hàng hóa, dịch vụ theo thời gian có đơn vị tính là phần trăm.
-Phân biệt lạm phát và CPI: Lạm phát:
phương pháp phổ biến nhất được sử dụng.
+ là sự gia tăng của giá cả hàng hóa và dịch vụ nói chung.
CPI (chỉ số giá tiêu dùng):
+ Lạm phát được sử dụng trong phạm vi
+ là chỉ số mức giá tiêu thụ trung bình rộng.
cho giỏ hàng hóa hay dịch vụ của một người.
+ Lạm phát được đo lường theo nhiều
cách và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là
+ CPI được sử dụng trong phạm vi nhỏ.
+ CPI chỉ là một phần của lạm phát.
-Lạm phát tăng thì giá thành của các sản phẩm hay các dịch vụ tăng => Số tiền chi để mua
sản phẩm hay sử dụng dịch vụ sẽ nhiều hơn => T.
-Lạm phát giảm thì giá thành của các sản phẩm hay các dịch vụ giảm => Số tiền chi để
mua sản phẩm hay sử dụng dịch vụ sẽ ít hơn => O.
Câu 6: Tỉ giá, lãi suất (lãi suất cơ bản của nhà nước Việt Nam) tăng lên hay giảm xuống tác
động như thế nào đối với doanh nghiệp trong nước Việt Nam?
- Việc tăng tỷ giá này có lợi cho doanh nghiệp khi thực hiện xuất khẩu vì doanh nghiệp thu
về tiền USD và thu mua hàng nông sản trong nước để chế biến, xuất khẩu lại mua bằng
VND và bất lợi đối với các doanh nghiệp nhập khẩu để tiêu thụ trong nước, các doanh
nghiệp phải chịu lỗ tỷ giá.
- Những doanh nghiệp có nợ vay bằng USD không tránh khỏi lợi nhuận bị ảnh hưởng khi
tỷ giá USD/VND biến động tăng, dẫn đến phát sinh lỗ chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại dư nợ gốc ngoại tệ.
- Các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng nhà nước, khi lãi uất tăng lên thì có nghĩa tiền lãi
nợ tăng lên cộng dồn vào tiền nợ, doanh nghiệp sẽ phải trả nhiều hơn dự kiến và khi giảm
lãi suát thì ngược lại.
Câu 7: *Viện nghiên cứu xã hội Mỹ đánh giá "10 đặc điểm của người Việt Nam" như sau:
1. Cần cù lao động song dễ thỏa mãn nên tâm lý hưởng thụ còn nặng.
2. Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động.
3. Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm).
4. Vừa thực tế, vừa mơ mộng, song lại không có ý thức nâng lên thành lý luận.
5. Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít khi học "đến đầu đến đuôi" nên kiến
thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không phải là mục tiêu tự thân của mỗi
người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí, đam mê).
6. Xởi lởi, chiều khách, song không bền.
7. Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời).
8. Có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh,
trường hợp khó khăn, bần hàn. Còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất ít xuất hiện.
9. Yêu hòa bình, nhẫn nhịn, song nhiều khi lại hiếu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt, đánh mất đại cục.
10. Thích tụ tập, nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng một việc, một người
làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng).
Bạn có những suy nghĩ gì về những đánh giá trên của Viện nghiên cứu Hoa Kỳ ?
Từ những đánh giá trên của Viện nghiên cứu Hoa Kỳ em có nhưng ý kiến sau:
-Tác phong làm việc kém. Ví dụ như: hay đi làm trễ, làm việc thiếu tính chuyên nghiệp…
-Tính cởi mở, hiếu khách: Người dân Việt Nam ta được nằm trong top 10 người dân hiếu
khách với những người nước ngoài nhất. Nhưng nếu tính về sự bền lâu thì thật sự không bền.
-Bệnh hình thức: Nhiều người hiện nay ra chợ thì chi li từng đồng, nhưng khi ở nhà hàng
hay một shop nào đó thì họ không suy nhiều trả tiền ngay lập tức và thậm còn có tiền
tips.Từ đó ta thấy rằng hiện nay nhiều người đang bị “bệnh hình thức” khá nghiêm trọng.
-Thiếu tầm tư duy lâu dài, chủ động: người dân Việt Nam ta trong lúc học tập, làm việc
đều thiếu tính chủ động phải đợi nhắc nhở thì mới bắt đầu làm, và khi được sếp giao một
công việc nào đó thì chỉ làm cho có, đối phó cho dù có tính sáng tạo nhưng ít quan tâm đến
sự hoàn thiện cuối cùng của thành quả mình làm ra.
-Không biết tiết kiệm: Hiện nay thế giới đang ngày càng phát triển nên các thiết bị điện tử
ngày càng nhiều và từ đó mà nguồn điện ngày nay ngày càng ít thế mà nhiều người sử dụng
một cách lãng phí như: không tắt điện khi không sử dụng,…
-Thiếu trách nhiệm cá nhân, thừa trách nhiệm tập thể: Nói chung trong những người bình
thường, chúng ta thường hay đùn đẩy trách nhiệm, bất kỳ việc gì chuyển được sang cho
người khác cũng đều thấy nhẹ cả người. Khi xảy ra sai phạm đó sẽ là lỗi chung của cả tập
thể chứ không của riêng cá nhân nào.
-Thể lực kém: xuất phát từ nhiều nguyên nhân như chế độ dinh dưỡng, chương trình học
quá tải, học lệch, tâm lí lười vận động… Và hậu quả là khi làm việc với các đồng nghiệp
nước ngoài, mặc dù rất cố gắng nhưng người Việt trẻ vẫn rất hay bị hụt hơi và cảm thấy
khó có thể theo được cường độ làm việc của họ.
-Thiếu thực tế: Hiện nay Bộ Giáo Dục đang cải thiện tính thực tế của các môn học, nhưng
trước đó các sinh viên đều được dạy bởi những lí thuyết mơ hồ mà chẳng có thực hành, cho
nên so với các nước khác khả năng thuyết trình của ta có thể cao nhưng khả năng thực hành
( yếu tố quan trọng) thì ta lại không có.
-Tinh thần hợp tác làm việc theo team work còn hạn chế. Mang danh là làm việc nhóm 10
người nhưng thực ra chỉ có 3 người làm.
Tâm lý sính ngoại (chuộng hàng ngoại) củ *
a người Việt Nam tác động như thế nào đến
sự thành công của Vinfast và Bphone?
-Tâm lý sính ngoại, đố kỵ, a dua theo số đông dường như đã ăn sâu vào máu mỗi người
Việt Nam, đó chính là rào cản lớn nhất cho các mặt hàng “Công nghệ Việt” trên con đường
chinh phục niềm tin của chính người tiêu dùng Việt. Ví dụ điển hình chính là vào năm 2015
sự phát triển của điện thoại Bphone, điện thoại Bphone ( sản phẩm của công ty Bkav )
chính là nạn nhân của việc chuộng hàng ngoại của người Việt hậu quả là Bphone 1 được
đánh giá khá là thấp vì lần đầu tham gia thị trường điện thoại và việc trực tiếp "đối đầu" với
iPhone 6 - chiếc smartphone được đánh giá là số 1 lúc bấy giờ thì quả là một điều mạo
hiểm . Nhưng cũng một phần là Bphone 1 có giá tương đương như 1 chiếc Iphone nên sẽ
làm cho nhiều người băn khoăn,nghi ngờ cộng thêm tâm lý sính ngoại thì Bphone không
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.