









Preview text:
Nội dung LSĐ
1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp 1.1. Tiểu sử
Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 – 4/10/2013), tên khai sinh là Võ Giáp, còn được gọi
là tướng Giáp hoặc anh Văn sinh ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh
Quảng Bình trong một gia đình nhà nho giàu lòng yêu nước.
- Trải qua bao trận chiến, ông đã trở thành một nhà lãnh đạo quân sự tài ba lỗi lạc, là
một vị anh hùng của dân tộc Việt Nam. Ông là Đại tướng đầu tiên, Tổng tư lệnh tối
cao của quân đội nhân dân Việt Nam, được Chính phủ Việt Nam đánh giá là “người
học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.
- Là người đầu tiên được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và cho tới nay là
người duy nhất được tặng thưởng Huân chương này 2 lần. 1.2.
Quá trình thâm gia hoạt động cách mạng của Đại tướng
- Tháng 6/1940, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và
được cử sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và từ đó đồng chí trở
thành người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Nhận thấy ở Võ Nguyên Giáp có tài năng thiên bẩm về quân sự, cho nên sau
thời gian thử thách, rèn luyện, tháng 12/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã
giao cho Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng
quân - Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Tháng 8/1945, đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và
Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. Tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, đồng chí
được bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam
- Tháng 10/1946, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, được Hồ Chí Minh ủy
quyền làm Tổng chỉ huy Quân đội Nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam.
- Tháng 1/1948, ông được phong quân hàm Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội
Nhân dân Việt Nam. Không qua đào tạo tại bất kỳ trường quân sự nào,
không trải qua cấp bậc quân hàm, Võ Nguyên Giáp thụ phong quân hàm Đại
tướng vào ngày 28/5/1948 theo sắc lệnh được ký vào 20/1/1948. Ông trở
thành Đại tướng đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam khi mới 37 tuổi.
- Với đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng dân tộc, Đại tướng Võ
Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng,
Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân
chương huy hiệu cao quý khác. 1.3.
Những thành tựu to lớn của Đại tướng
- Sáng lập ra Đội Việt Nam giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân VN.
- Đồng chí Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng và
trở thành vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Với 30 năm là Tổng Tư lệnh Quân đội, Bí thư Quân ủy Trung
ương, Đồng chí luôn tỏ rõ là nhà quân sự xuất chúng, nhà lãnh
đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta;
- Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa
cầu” là minh chứng sinh động về sự trưởng thành, lớn mạnh của
Quân đội ta dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Bác
Hồ kính yêu và sự chỉ huy tài tình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
- Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại tướng Võ Nguyên
Giáp tiếp tục giữ cương vị là người đứng đầu Quân đội, cùng với Đảng, Bộ
Chính trị hoạch định những quyết sách chiến lược, đưa nhân dân đi đến
thắng lợi, giành độc lập dân tộc.
- Tên tuổi và sự nghiệp của ông mãi mãi được khắc ghi, góp phần làm phong
phú nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần vào việc hình thành và phát
triển học thuyết quân sự- đường lối chiến tranh nhân dân độc đáo,
- Ông là Tổng tư lệnh đầu tiên và duy nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam,
là Đại tướng đầu tiên cũng là đại tướng đánh bại nhiều đại tướng nhất.
2. Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 2.1.
Hoàn cảnh lịch sử
2.1.1. Về phía thực dân Pháp
- Sau CMT8 1945, thực dân Pháp dã tâm dùng vũ lực hòng đặt lại ách thống
trị trên đất nước ta một lần nữa.
- 1947 đến 1953, quân và dân ta liên tiếp giành nhiều thắng lợi quan trọng
trong các chiến dịch Việt Bắc – thu đông 1947, chiến dịch Biên giới
(1950),... làm cho cục diện chiến tranh ngày càng chuyển biến có lợi cho ta,
tạo ra thế bất lợi cho thực dân Pháp.
- Bước vào năm 1953, quân đội Pháp ở Đông Dương bị mắc kẹt trong những
mâu thuẫn giữa tập trung binh lực và chiếm giữ, giữa tiến công và phòng
ngự, giữa bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ và bảo vệ vùng Tây Bắc, Thượng Lào.
Nước Pháp ngày càng lệ thuộc sâu vào sự viện trợ của Mỹ và đang dốc mọi
cố gắng hòng tìm một lối thoát danh dự.
- Thu – đông năm 1953, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã triển khai Kế
hoạch Nava tăng cường binh lực và phương tiện chiến tranh, mưu toan trong
vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát lãnh thổ
Việt Nam, giành lại thế chủ động trên chiến trường, làm cơ sở cho một giải
pháp chính trị hòng tiếp tục sự chiếm đóng lâu dài.
- Kế hoạch Nava bị đảo lộn Pháp đã cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên
Phủ, xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông
Dương với 16.200 quân và hệ thống phòng thủ 49 căn cứ điểm. Cả Pháp và
Mĩ đều coi đây là “pháo đài bất khả xâm phạm” và biến nó thành trung tâm của kế hoạch Nava.
2.1.2. Về phía Việt Nam ta
- Từ tháng 11-1953 đến tháng 2- 1954, bộ đội ta liên tục mở các cuộc tiến
công ở Tây Bắc, Trung Lào, Bắc Tây Nguyên, Thượng Lào và các chiến
trường phối hợp khác. Chiến thắng đó đã làm cho kế hoạch Na-va của địch
đứng trước nguy cơ bị phá sản.
- Đã giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, vùng giải
phóng đã mở rộng, hậu phương đã lớn mạnh, quân đội ta đã trưởng thành, có
đủ tinh thần và lực lượng đảm bảo cho việc giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.
- Đầu tháng 12-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở chiến dịch Điện Biên
Phủ, nhằm tiêu diệt lực lượng địch ở đây, giải phóng Tây Bắc tạo điều kiện
thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao để kết thúc chiến tranh. 2.2.
Diễn biến của chiến dịch
2.2.1. Chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam
- Với tầm nhìn chiến lược, Trung ương Đảng đã đề ra một loạt chủ trương chỉ
đạo chiến lược nhằm chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược này và phân
tích: Kế hoạch quân sự Navarre chỉ là sản phẩm của thế thua, thế thất bại nên
chứa đựng đầy mâu thuẫn và những hạn chế không thể khắc phục được.
- Ban đầu ta dự định đánh địch trong 3 đêm 2 ngày với phương châm đánh
nhanh thắng nhanh. Tuy nhiên, trên cơ sở so sánh tương quan lực lượng 2
bên và tình hình chiến sự lúc bấy giờ, Bộ chính trị đã phê chuẩn phương
án chuyển từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang"đánh chắc, tiến chắc” dùng
quân chủ lực đánh vào nơi sơ hở của địch là Tây Bắc, Thượng Lào và Tây
Nguyên buộc chúng phải phân tán lực lượng để đối phó với ta.
2.2.2. 3 đợt quyết chiến của chiến dịch ĐBP - Đợt 1: 13/3 -17/3/1954
+ 17 giờ 5 phút ngày 13/3/1954, sau hiệu lệnh của Đại tướng Võ Nguyên
Giáp, 40 khẩu pháo cỡ nòng 75 đến 120 ly đồng loạt nhả đạn vào các vị trí
của quân Pháp trong cứ điểm Him Lam, bộ đội ta xuất kích bắt đầu trận đánh
mở màn của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trận đánh kéo dài đến 20h30 thì kết
thúc. Kết quả: Đại đoàn 312 đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Him
Lam, diệt 300 tên địch, bắt 200 tên, thu toàn bộ vũ khí, trang bị...
+ Sáng ngày 14/3, quân Pháp tổ chức tấn công hòng chiếm lại Him Lam
nhưng đã thất bại và phải chịu tổn thất nặng nề.
+ Chiều ngày 14/3, bộ đội ta nổ súng đánh đồi Độc Lập đến sáng sớm ngày
hôm sau thì giành chiến thắng. Tiểu đoàn Bắc Phi của Pháp bị xóa sổ, 483
tên địch bị tiêu diệt, 200 tên bị bắt. Pháp lại phản công nhưng không thành.
+ Ngày 16/3 2 bên ra sức củng cố trận địa. Tuy nhiên, trái ngược với tinh
thần chiến đấu đang tăng cao của bộ đội ta, quân Pháp lại hoang mang và
nhiều ngụy quân ng Thái đã đầu hàng. Quân ta chuẩn bị tấn công Bản Kéo
vào sáng 17 thì quân Pháp đã bỏ chạy. Ta chiếm được Bản Kéo mà không tốn một viên đạn nào.
- Đợt 2: từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ
điểm phía Đông phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục
tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm.
- Địch hết sức ngoan cố, muốn kéo dài thời gian. Đây là đợt tiến công gay go,
quyết liệt, hai bên giành nhau từng tấc đất, giao thông hào.
+ Đúng 18h ngày 30/3/1954, quân ta đồng loạt nổ súng tiến công các cao
điểm phía Đông phân khu Trung tâm.
+ Tại cao điểm C1, quân ta lần đầu mở rào bằng đạn bộc lôi. Chớp thời cơ
hỏa lực địch còn đang tê liệt, phía ta hạ lệnh xung phong chiếm được lô cốt
nằm trên mỏm đất cao nhất, mỏm Cột Cờ. Trận đánh diễn ra đúng 45p lá cờ
quyết chiến quyết thắng đã được cắm trên nóc sở chỉ huy. Đồi C2 kế tiếp C1,
quân ta nhanh chóng chiếm được 11 lô cốt và ụ súng. Tuy nhiên do lực lượng
bị hỏa lực mạnh của Pháp nhiều lần tấn công cản lại nên ta phải lui về C1
chờ cơ hội tiến công C2.
+ Tại cao điểm E, sau một giờ xung phong áp đảo, bộ đội ta đã chiếm toàn
bộ cứ điểm, tiến công sang D2 và phát triển vào các ngọn đồi phía trong.
+ Đồi A1 là điểm qua trọng nhất nó là điểm cao cuối cùng che chở cho phân
khu trung tâm. Từ 30/3-3/4 quân ta đã tổ chức 3 lần tấn công, trận chiến diễn
ra vô cùng căng thẳng khốc liệt, gây thiệt hại cho 2 bên. Đến ngày 3/4/1954,
mỗi bên chiếm 1 nửa đồi.
+ Ngay từ cuối tháng 3/1954, phong trào thi đua “Săn tây bắn tỉa” được phát
động mạnh mẽ, đánh liên tục góp phần tiêu hao sinh lực địch, làm cho địch
hoang mang, tuyệt vọng. Đối với địch, Điện Biên Phủ đã trở thành địa ngục
trần gian, cái chết đến với chúng bất cứ lúc nào.
+ Pháo phòng không của ta đã chiến đấu giành lại vùng trời khu sân bay
Mường Thanh khiến máy bay địch không thể hạ cánh, phải bay cao thả dù,
nhiều dù hàng bay sang trận địa phòng ngự của ta. - Đợt 3:
Được sự chi viện của hậu phương về cả tinh thần và vật chất, các chiến sĩ
Điện Biên Phủ lạc quan tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của chiến dịch. Bộ
chỉ huy mặt trận quyết định mở đợt tấn công thứ 3: tổng công kích. Đợt tấn
công cuối cùng bắt đầu vào đêm 1/5/1954.
1/5/1954: Quân ta nổ súng mở màn đợt tiến công thứ ba. Hướng chủ yếu tập
trung vào phân khu trung tâm Mường Thanh, nơi còn lại lực lượng lớn và
sở chỉ huy của quân Pháp.
Bộ binh ta phối hợp chặt chẽ với pháo binh, cao xạ. Các trận đánh diễn ra ác
liệt ở các cứ điểm phòng ngự quan trọng: C1, C2, D1, A1.
+ Đêm 1 rạng 2/5: Quân ta tiến công mạnh vào đồi C1 và C2, tiêu diệt
nhiều sinh lực địch, phá vỡ tuyến phòng ngự vòng ngoài phía đông.
+ Đêm 6 rạng 7/5: Quân ta mở đợt tấn công quyết liệt vào đồi A1. Sau hơn
30 ngày chiến đấu liên tục , đến sáng 7/5 quân ta hoàn toàn làm chủ A1.
17h30 ngày 7/5/1954: Ta chiếm được Sở chỉ huy, bắt sống Tướng Christian
de Castries cùng toàn bộ Bộ tham mưu. Toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ hoàn toàn sụp đổ.
+ Ngay trong đêm đó quân ta tiếp tục tấn công quân khu Nam đánh địch tháo
chạy về Thượng Lào. Đến 22h toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.
-Kết quả chiến dịch ĐBP:
+Sau 56 ngày đêm miệt mài chiến đấu quân và dân ta đập tan toàn bộ tập đoàn cứ
điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, bắn rơi 62 máy bay , thu
64 ô tô và toàn bộ vũ khí đạn dược quân trang của địch.
3. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa, bài học 3.1. Nguyên nhân
- Do ĐCS đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối kháng chiến,
đường lối quân sự độc lập, đúng đắn, sáng tạo. Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ
chiến lược chống đế quốc và phong kiến.
- Nhân dân ta từ khắp mọi nơi đoàn kết nghe theo lời kêu gọi của Đảng và Bác
Hồ phát huy tối đa tinh thần yêu nước, ra sức thi đua xây dựng hậu phương
vững chắc, đảm bảo mọi điều kiện cho chiến trường
- Quân đội ta trưởng thành vượt bậc về tư tưởng chính trị, lực lượng, tổ chức
chỉ huy và trình độ tác chiến, trang thiết bị quân sự cũng được đảm bảo đồng
thời còn có mưu trí, sáng tạo, sự dũng cảm hy sinh để hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ ở chiến trường.
- ĐBP còn có sự chi viện, cổ vũ của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu
tranh vì hòa bình của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới,. 3.2. Ý nghĩa
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 kết thúc chín năm kháng chiến trường
kỳ gian khổ của quân và dân ta. Đây là một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc
và thời đại, trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh thời đại.
Cuộc đấu trí của quân và dân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã chứng tỏ sự lãnh
đạo tài tình sáng suốt của đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là nhân tố
quyết định, tạo nên sức mạnh tổng hợp được quân và dân ta giành thắng lợi.
* Đối với cách mạng Việt Nam
+ Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava, giáng đòn quyết
định vào ý chí xâm lược của thực dân pháp làm xoay chuyển cục diện chiến tranh
tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc đấu tranh ngoại giao của ta.
+ Chiến thắng Điện Biên Phủ đã cổ vũ cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực
hiện thắng lợi của Cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, thống nhất đất nước đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
+ Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định
Genève, chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình tại Việt Nam, chấm dứt ách thống trị
của thực dân Pháp kéo dài hàng thế kỷ, mở ra kỷ nguyên mới cho cách mạng ba nước Đông Dương.
+ Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 cho thấy đường lối kháng chiến đúng đắn
sáng tạo của Đảng và sự lớn mạnh của quân đội nhân dân Việt Nam. Từ đây giai
đoạn cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, tiếp tục kháng chiến chống
Mỹ cứu nước giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.
+ Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là niềm tự hào dân tộc niềm tin vào sự lãnh
đạo của Đảng cổ vũ toàn Đảng, toàn dân chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc.
* Đối với phong trào cách mạng trên thế giới
+ Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa đã cầu
giáng một đòn chí mạng vào nền móng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Đánh
dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ trên phạm vi toàn thế giới.
+ Chiến thắng Điện Biên Phủ đồng thời là chiến thắng của các nước trên bán đảo
Đông Dương, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đấu tranh vì hòa bình tiến bộ xã hội.
+ Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã cổ vũ mạnh mẽ cho các dân tộc thuộc địa
đứng lên đấu tranh giành độc lập đặc biệt là các nước ở Châu Á, Phi, Mỹ Latinh.
Đồng thời chứng minh chân lý của chủ nghĩa Mác- Lênin. 3.3. Bài học
- Một là, xác định đường lối kháng chiến đúng đắn, tiến hành chiến tranh
nhân dân, toàn dân, toàn diện, vừa kháng chiến vừa kiến quốc vừa chống
giặc đói, giặc dốt, vừa chống giặc ngoại xâm, tạo nên sức mạnh tổng hợp
chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
- Hai là, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí quyết chiến, quyết thắng của toàn
Đảng, toàn quân và toàn dân ta.
- Ba là, phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, sáng tạo, tìm tòi,
xác định đúng đường lối cách mạng và nghệ thuật quân sự Việt Nam.
- Bốn là, xây dựng sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà nòng cốt là
liên minh công nhân - nông dân - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Năm là, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh
trong nước với sự ủng hộ, giúp đỡ của bè bạn quốc tế.
=> Những bài học từ Điện Biên Phủ không chỉ là kiến thức lịch sử mà còn là
kim chỉ nam cho việc học tập, làm việc và sống. Chúng ta cần kế thừa và
phát huy những giá trị tốt đẹp này để xứng đáng với thế hệ đi trước và tiếp
tục viết nên những trang sử vẻ vang mới của dân tộc.
4. Vai trò của Đảng đặc biệt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
4.1. Vai trò của Đảng trong chiến dịch
-Lãnh đạo chiến lược toàn diện:
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong cách mạng, dựa trên chủ nghĩa Mác–
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, lãnh đạo toàn dân và toàn
quân từ giai đoạn khởi đầu đến chiến thắng cuối cùng .Trong mọi chiến dịch, từ xác
định thời điểm cho đến đường lối, Đảng đều là trung tâm đưa ra các quyết định chiến lược đúng đắn.
-Xác định thời cơ và đường lối
Đảng nắm vững tình hình và chọn đúng thời điểm, hình thức tiến công để phá tan ý
đồ của địch, điển hình như chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, đánh dấu bước ngoặt
lớn trong giải phóng miền Nam
-Tập hợp lực lượng – đại đoàn kết toàn dân
Đảng huy động sức mạnh của toàn dân qua việc xây dựng khối đại đoàn kết rộng
lớn, huy động nhân lực, vật lực cho chiến dịch. Điều này được xem như “nhiệm vụ
hàng đầu” xuyên suốt cách mạng Việt Nam. Sự ủng hộ từ nhân dân được chỉnh
hướng, tổ chức và phát huy hiệu quả trong từng chiến dịch cụ thể.
4.2. Vai trò của Đại tướng (Võ Nguyên Giáp) trong chiến dịch
- Chỉ đạo, tổ chức tác chiến
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, với tài năng quân sự xuất chúng, trực tiếp chỉ huy các
chiến dịch lớn như kháng chiến chống Mỹ (1965–1975) và chiến dịch Hồ Chí Minh,
thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu rộng và năng lực tổ chức – chỉ huy xuất sắc
- Phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam
Ông không chỉ giỏi về chỉ huy, mà còn sáng tạo và phát triển nghệ thuật quân sự
Việt Nam trong khuôn khổ chiến tranh nhân dân. Sự linh hoạt, kết hợp binh chủng,
lợi dụng địa hình – khí hậu – tâm lý địch… đều là điểm nổi bật
- Góp phần quyết định thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ (nếu xét theo chiến
dịch Điện Biên Phủ 1954)
Trong chiến dịch này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhân vật chủ chốt, đảm nhiệm
vai trò tư lệnh, trực tiếp quyết định các phương án bao vây, chia cắt, và tấn công lực
lượng chính của địch để giành thắng lợi chung toàn dân