1. Đảng Cộng sản Việt nam ra đời là một tất yếu của lịch sử
Từ hoàn cảnh lịch sử thế giới
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn
đế quốc chủ nghĩa. Chính bước chuyển này đã làm cho mâu thuẫn trong thế giới TBCN ngày
càng trở nên gay gắt. Mâu thuẫn này tạo ra tính tất yếu của cách mạng vô sản, phạm trù cách
mạng thế giới chuyển sang phạm trù cách mạng sản, cách mạng XHCN. Cùng với mâu
thuẫn nội tại trong bản thân mỗi nước tư bản thì thời điểm này cũng xuất hiện mâu thuẫn giữa
các nước bản với nhau do tranh giành thuộc địa, phân chia thị trường khu vực ảnh
hưởng. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918).
Đặc biệt sự thống trị tàn bạo của CNĐQ làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với
CNĐQ thực dân ngày càng trở nên gay gắt và trở thành một vấn đề mang tính thời đại.
Các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác- Lênin đã xây dựng nên học thuyết luận cách mạng
không ngừng, với nội dung bản: Giai cấp công nhân, sau khi đã trưởng thành về trình độ
giác ngộ, trình độ tổ chức, đủ khả năng điều kiện lãnh đạo cuộc cách mạng dân chủ tư
sản trên sở liên minh với giai cấp nông dân đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế phong
kiến. Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân trở thành lực lượng chủ yếu đánh đổ chế độ chuyên chế phong kiến, thành lập
nhà nước chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân.
Trong lúc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là khi
được trang bị bởi một học thuyết cách mạng và khoa học, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên nổ
ra giành thắng lợi tại Nga năm 1917. Thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng mười đã cổ vũ
phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân nhân dân lao động trên thế giới, đặc biệt
nhân dân các nước thuộc địa.
Cuộc cách mạng Tháng Mười Nga 1917 cổ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân nhân dân lao động trên thế giới, dẫn tới sự ra đời của hàng loạt các đảng cộng
sản. Tình hình đó đòi hỏi phải một tổ chức quốc tế đứng ra lãnh đạo, tập trung sức mạnh
của phong trào tất cả các quốc gia, dân tộc (Quốc tế II đã không còn vai trò tiên phong kể
từ sau khi Ăngghen qua đời năm 1895). Tháng 3- 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập,
với khẩu hiệu "Vô sản thế giới các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại" đã đánh dấu một giai
đoạn mới của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. "Lần đầu tiên trong lịch sử, quốc tế
Cộng sản đã chỉ sự đoàn kết tất yếu, liên minh chiến đấu giữa giai cấp sản và các dân
tộc thuộc địa đang rên xiết dưới ách thống trị thực dân".
Đến yêu cầu lãnh đạo phong trào đấu tranh trong nước
Trước 1930, phong trào yêu nước Việt Nam nổ ra mạnh mẽ như phong trào Cần Vương,
Yên Thế, các khuynh hướng cứu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,..nhưng đều bị
thất bại, do bị khủng hoảng về đường lối cách mạng. Sự thất bại của các phong trào yêu nước
cuối TK XIX đầu TK XX chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư
tưởng sản đã lâm vào bế tắc. Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải Đảng của giai cấp tiên
tiến nhất để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Từ 1919 -1929, thông qua hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị về tư tưởng, chính trị
tổ chức cho sự thành lập Đảng. Nguyễn Ái Quốc đã ra sức tuyên truyền chủ nghĩa Mác-
Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tưởng chính trị. Thành lập hội Việt Nam cách mạng
thanh niên để thông qua tổ chức này truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.
Những năm 1928 – 1929, chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá sâu rộng vào Việt Nam, làm
cho phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ. Một yêu cầu cấp thiết
đặt ra phải đảng của giai cấp sản lãnh đạo. Đáp ứng yêu cầu đó ở Việt Nam lần lượt
xuất hiện ba tổ chức cộng sản. Sự hoạt động riêng rẽ của ba tổ chức cộng sản gây ảnh hưởng
không tốt đến tiến trình cách mạng Việt Nam.
Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức
được sự cần thiết cấp bách phải thành lập một Đảng cộng sản thống nhất, chấm dứt tình
trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức và chủ trì hội nghị
hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930. Hội nghị đã
quyết định hợp nhất 3 tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng,
Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thông qua các
văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của
Đảng. vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3-2
hàng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy
nhất, theo một đường lối chính trị đúng đắn đã tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và
hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc chủ
nghĩa xã hội.
Sự ra đời của Đảng là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc đấu tranh
giai cấp, sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam hệ tưởng
Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu
một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta.
Sự ra đời của Đảng sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân trọn
vẹn nhất cho sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc
và quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Việc thành lập Đảng bước ngoặt đại trong lịch sử công nhân của cách mạng Việt
Nam, chứng tỏ giai cấp vô sản nước ta trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng, chấm dứt
thời kỳ khủng hoảng về vai trò lãnh đạo và đường lối trong phong trào cách mạng Việt Nam.
Từ đây, cách mạng Việt Nam đã thuộc quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân
đội tiên phong là Đảng cộng sản.
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam việc ngay từ khi ra đời, Đảng đã Cương
lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng giải phóng dân tộc theo phương
hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời đã nắm được
ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình trạng khủng hoảng
về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con
đường phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam. Chính đường lối này là cơ sở
đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư
tưởng hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này.
Đây cũng điều kiện bản quyết định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng
Việt Nam trong suốt 86 năm qua.
Với chủ trương cách mạng Việt Nam một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới,
ĐCSVN đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang. Đồng thời cách mạng Việt
Nam cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới hoà
bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
2. Tính đúng đắn, sáng tạo của chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt
Thứ nhất, Dựa trên nền tảng luận Mác Lênin, cương lĩnh xác định, về đường lối chiến
lược của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh xác định cách mạng Việt Nam nằm trong phạm
trù cách mạng sản, độc lập dân tộc là bước đi đầu tiên, là điều kiện tiên quyết để đi đến xã
hội cộng sản. Chánh cương vắn tắt của Đảng viết: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ
địa cách mạng để đi tới hội cộng sản”[1]. Với việc xác định đường lối chiến lược của
cách mạng Việt Nam làm cách mạng sản dân quyền thổ địa cách mạng để đi tới
hội cộng sản đã cho thấy, ngay từ trong Cương lĩnh đầu tiên, Đảng đã xác định con đường
phát triển của cách mạng Việt Nam gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp giải
phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Thứ hai, về nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng. Cương lĩnh đã xác định những nhiệm vụ cơ
bản, những mục tiêu cấp bách của cách mạng Việt Nam: : Đánh đổ Về phương diện chính trị
đế quốc chủ nghĩa Pháp bọn phong kiến; Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập;
Dựng ra Chính phủ công nông binh; Tổ chức ra quân đội công nông. : Về phương diện xã hội
Dân chúng được tự do tổ chức; Nam nữ bình quyền; Phổ thông giáo dục theo công nông hóa.
Về phương diện kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; Thâu hết sản nghiệp lớn (như công
nghiệp, vận tải, ngân hàng...) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công
nông binh quản lý; Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày
nghèo; Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; Mở mang công nghiệp và nông nghiệp; Thi hành luật
ngày làm 8 giờ.
Thứ ba, về lực lượng cách mạng. Cương lĩnh xác định lực lượng cách mạng gồm toàn bộ
những người Việt Nam yêu nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, bao gồm: Công nhân, Nông
dân, Tiểu sản, Tthức, Trung nông...; tranh thủ, làm trung lập phú nông, trung, tiểu địa
chủ, sản. Điều này thể hiện sự tận dụng hết tất cả lực lượng thể lợi cho cách mạng
Việt Nam, trong đó công nhân lãnh đạo, nông dân là nòng cốt, ngoài ra còn có sự tham gia
giúp sức của các giai cấp, tầng lớp khác, để những người cho không theo cách mạng
nhưng cũng sẽ là trung lập.
Thứ , về vấn đề đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Cương
lĩnh xác định cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới. Nội dung này thể hiện
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp cuộc đấu tranh giải phóng của dân
tộc Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, với phong trào đấu tranh của các dân tộc bị
áp bức với nhân loại tiến bộ một vấn đề khách quan. Quan điểm này đã được hiện thực
hóa trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và là yếu tố quan trọng tạo nên
thành công của cách mạng Việt Nam trong suốt chặng đường qua.
Thứ năm, về phương pháp cách mạng. Cương lĩnh xác định phương pháp thực hiện độc lập
dân tộc, tiến lên xây dựng chủ nghĩa hội phải tiến hành bằng con đường cách mạng, sử
dụng phương pháp cách mạng bạo lực; không đi vào con đường cải lương, thỏa hiệp. Việc
xác định phương pháp cách mạng như vậy thể hiện Đảng đã quán triệt sâu sắc quan điểm của
Chủ nghĩa Mác Lênin về bạo lực cách mạng và cũng xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, thực
dân Pháp luôn dùng bạo lực phản cách mạng để đàn áp Nhân dân, vì vậy muốn thoát khỏi sự
áp bức, bóc lột của thực dân Pháp thì không có con đường nào khác con đường bạo lực cách
mạng, chứ không phải con đường cải lương, thỏa hiệp. Quan điểm dùng bạo lực cách mạng
chống lại bạo lực phản cách mạng của được nêu trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên là cơ sở
cho đường lối quân sự với phương pháp cách mạng đúng đắn của Đảng ta trong lãnh đạo
cách mạng, một trong những yếu tố hết sức quan trọng để đưa tới thắng lợi của cách mạng
Việt Nam trong đấu tranh giành chính quyền trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm,
để đem lại nền hòa bình cho dân tộc.
Thứ sáu, về vai trò lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh xác định lực lượng lãnh đạo cách mạng
Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam, “đội tiên phong của sản giai cấp”. Đảng lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tưởng. Nội dung này vừa khẳng định vai trò và bản chất
giai cấp của Đảng, vừa sự định hướng quan trọng cho công tác xây dựng Đảng. Chính
vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn khẳng định và quan tâm bồi đắp bản
chất giai cấp công nhân của Đảng; khẳng định chủ nghĩa Mác Lênin nền tảng tư tưởng,
kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
4. Khoa học công nghệ
Đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước
Việt Nam, đổi mới sáng tạo được các nhà nghiên cứu coi yếu tố kép khi vừa tạo ra,
ứng dụng các thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, vừa là giải pháp quản lý để nâng cao
năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và hiệu quả phát triển
kinh tế - hội. Quan điểm về phát triển ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật - nội
hàm của đổi mới sáng tạo - hình thành trên cơ sở các quan điểm về đổi mới kinh tế, đẩy mạnh
quá trình công nghiệp hóa hội chủ nghĩa do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng (năm 1986) đề ra từ đó đến nay đã trở thành một tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.
Tại Đại hội VI, Đảng ta xác định: “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm
còn lại của chặng đường đầu tiên ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - hội, tiếp tục xây
dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa hội chủ nghĩa trong
chặng đường tiếp theo”. Đại hội VI cũng đã nêu lên quan điểm cần xúc tiến hoàn thành
việc xác định “chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật, làm luận cứ khoa học cho chiến
lược phát triển kinh tế - hội... phải lựa chọn tổ chức áp dụng rộng rãi các thành tựu
khoa học kỹ thuật thích hợp”. Trong giai đoạn này, các quan điểm phát triển khoa học và
kỹ thuật được đề cập trong văn kiện mới chỉ xác định mô hình khoa học - công nghệ, chưa có
những chỉ đạo quyết liệt về việc áp dụng các mô hình này vào thực tiễn.
Kế thừa các quan điểm trên, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) nhấn mạnh: “Khoa học
giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc, một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ
tiên tiến của thế giới”. Từ việc nhấn mạnh vai trò của khoa học và giáo dục, Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội (năm 1991) khẳng định quan điểm
của Đảng “Khoa học công nghệ,… phải được xem quốc sách hàng đầu”, đồng thời
khẳng định nhiệm vụ trung tâm để từng bước xây dựng sở vật chất - kỹ thuật của chủ
nghĩa hội “phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện
đại”. Cụ thể hóa chỉ đạo này, Hội nghị Trung ương 7 khóa VII nhấn mạnh, phát triển khoa
học công nghệ - nền tảng của phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa - sự nghiệp của toàn hội, của mọi thành phần kinh tế, do đó cần “gắn khoa học -
công nghệ với sản xuất, dịch vụ; gắn các chương trình phát triển khoa học - công nghệ với
các chương trình phát triển kinh tế - hội, khuyến khích sự sáng tạo của các nhà khoa học,
đồng thời coi trọng phát huy sáng kiến của mọi người lao động”. Lúc này, trước yêu cầu của
sự chuyển đổi kinh tế mạnh mẽ theo hướng công nghiệp, hiện đại, yếu tố khoa học, công
nghệ được coi là “nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Quan điểm này của Đảng cho
thấy tầm quan trọng của khoa học công nghệ trong sự phát triển của lực lượng sản xuất,
nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng, tốc độ phát triển của nền kinh tế.
Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII ban hành Nghị quyết số 02-NQ/HNTW, ngày 24-12-1996,
“Về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nhiệm vụ đến năm 2000”, chỉ ra một số hạn chế về công tác phát triển khoa
học công nghệ, đó chưa thường xuyên chỉ đạo kiểm tra thực hiện những mục tiêu,
phương hướng, chủ trương, cũng như chưa chiến lược phát triển khoa học công nghệ
phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong điều kiện mới. Để giải quyết những vấn đề
này, Đảng đã đưa ra các định hướng quan trọng, đó là: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước phải bằng dựa vào khoa học, công nghệ… Khoa học công nghệ là nội dung then
chốt trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, các cấp, nhân tố chủ yếu thúc đẩy tǎng
trưởng kinh tế củng cố quốc phòng - an ninh… Phát triển khoa học, công nghệ gắn liền
với bảo vệ cải thiện môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền
vững”.
Trong giai đoạn này, Đảng đã chủ trương mở rộng phạm vi phát triển khoa học và công nghệ
trong tất cả các ngành, các lĩnh vực: “Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học
tự nhiên công nghệ tiên tiến trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý
quốc phòng - an ninh. Nắm bắt công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh
học, công nghệ vật liệu mới, những công nghệ mới trong chế tạo máy… để thể đi nhanh
vào hiện đại những khâu quyết định” “thúc đẩy các doanh nghiệp, nhất các doanh
nghiệp lớn của Nhà nước đổi mới công nghệ, thu hút lực lượng nghiên cứu - triển khai về các
doanh nghiệp”. Đặc biệt, để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày
17-10-2000, “Về đẩy mạnh ứng dụng phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, tập trung chỉ đạo giải quyết các vấn đề về mở rộng kết cấu hạ
tầng mạng thông tin quốc gia với giá thành rẻ, chất lượng cao, tốc độ ổn định; phát triển
nguồn nhân lực công nghệ thông tin, hình thành ngành kinh tế công nghiệp công nghệ thông
tin, đặc biệt là công nghệ phần mềm.
Đến Đại hội IX của Đảng (năm 2001), Đảng ta xác định hình kinh tế tổng quát của thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội nước ta “nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ
nghĩa”. Quan điểm này đã thể hiện nhận thức ràng về đổi mới ở Việt Nam, gắn cụ thể với
một hình kinh tế nhằm bảo đảm về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất trong tình hình mới. Với hình này, đường lối phát triển kinh
tế - hội giai đoạn 2001 - 2010 là: “Tăng trưởng kinh tế nhanh bền vững... Tạo chuyển
biến mạnh về giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người”. Tuy
nhiên, trước các vấn đề nổi cộm trong nước, như “các hoạt động khoa học và công nghệ chưa
đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; “cơ chế chính sách không
đồng bộ chưa tạo động lực mạnh để phát triển”; “một số quan điểm, chủ trương chưa rõ,
chưa sự nhận thức thống nhất chưa được thông suốt các cấp, các ngành. Trong cán
bộ, đảng viên những cách hiểu cách làm không thống nhất về những vấn đề như: xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế
nhà nước, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước,
chính sách về đất đai, kinh tế trang trại, nội dung bước đi công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, do đó, tại Đại hội
này, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh “tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến,
đặc biệt công nghệ thông tin công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều
hơn, mức cao hơn phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học công nghệ, từng
bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ sức mạnh tinh thần của người
Việt Nam; coi phát triển giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Như vậy, tại Đại hội IX, các yếu tố trụ cột của
đổi mới sáng tạo nhân tố con người, kinh tế tri thức, khoa học công nghệ, giáo dục và
đào tạo đã được nhìn nhận được chỉ đạo thực hiện khá cụ thể. Đặc biệt là vai trò của kinh
tế tri thức, của sự sáng tạo, các phát minh khoa học, nguồn nhân lực lao động chất lượng cao
đã được Đảng ta chỉ ra ràng hơn trong chỉ đạo phát triển kinh tế. Cùng với đó, giáo dục và
đào tạo, khoa học công nghệ được coi nền tảng, đồng thời động lực của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây cũng là những yếu tố quan trọng để rút ngắn thời gian của
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta. Tuy nhiên, nội hàm của đổi mới sáng tạo
vẫn chưa được nêu lên một cách rõ nét.
Đại hội X của Đảng nhận định, mặc đạt được nhiều thành tựu nhưng trình độ khoa học,
công nghệ; năng suất lao động; chất lượng giáo dục đào tạo vẫn còn không ít những hạn
chế. Khoa học công nghệ chưa đáp ứng kịp yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
chưa thật sự trở thành động lực thúc đẩy, gắn kết chặt chẽ với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển
kinh tế - hội… Do đó, Đại hội lần thứ X của Đảng (năm 2006) nhấn mạnh: “Giáo dục và
đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc
đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục khẳng định chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững. Đại hội xác định phải đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục đào tạo, tiếp tục thực hiện quan điểm khoa học công nghệ gắn với kinh tế tri
thức được đề ra từ Đại hội X. Thực hiện đồng bộ ba nhiệm vụ chủ yếu là: “Nâng cao năng
lực khoa học, công nghệ; đổi mới chế quản lý; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng”; đồng
thời, Đại hội cũng chỉ ra: “Phát triển kinh tế tri thức trên sở phát triển giáo dục, đào tạo,
khoa học, công nghệ… Phát huy sử dụng hiệu quả nhất nguồn tri thức của con người
Việt Nam, khai thác nhiều nhất tri thức của nhân loại. Xây dựng triển khai lộ trình phát
triển kinh tế tri thức đến năm 2020. Để đạt được các mục tiêu trên, Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định,
cần “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo
vệ tài nguyên, môi trường”. Như vậy, phát triển ứng dụng khoa học, công nghệ chính
quốc sách hàng đầu, một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế -
hội, bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư, trước hết
trong hoạt động của các cấp, các ngành.
Cùng với sự phát triển trong quan điểm về đổi mới sáng tạo trên thế giới, tại Đại hội lần thứ
XII của Đảng (năm 2016), khoa học và công nghệ tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quốc sách
hàng đầu đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới, động lực quan trọng để phát
triển kinh tế; đồng thời Đại hội đã bổ sung thêm quan điểm lấy khoa học, công nghệ, tri thức
và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu.
Tại Đại hội XIII của Đảng, lần đầu tiên cụm từ “đổi mới sáng tạo” với cách thuật ngữ
riêng đã được đưa vào Văn kiện. Đổi mới sáng tạo được xác định là một nội dung của đột phá
chiến lược thứ nhất trong ba đột phá chiến lược phát triển trong giai đoạn 2021 - 2025, đồng
thời nội hàm của đổi mới sáng tạo cũng phần nào được làm rõ qua các định hướng, mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trên tất cả các lĩnh vực.
Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ và có hiệu quả mô hình tăng trưởng, cơ cấu
lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học và công nghệ,
đổi mới sáng tạo nguồn nhân lực chất lượng cao”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã
khẳng định: “Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học công nghệ quốc sách
hàng đầu, động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại,…”; “Đẩy mạnh
nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là
những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, để khoa học và công nghệ thực
sự động lực chính của tăng trưởng kinh tế” “bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa
học và công nghệ,… thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền
vững đất nước”.
Đại hội XIII của Đảng khẳng định và củng cố vai trò của đổi mới sáng tạo thông qua 3 nhiệm
vụ đột phá chiến lược: (1) “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển”, “thúc đẩy đổi mới sáng
tạo”; (2) “Phát triển nguồn nhân lực, nhất nguồn nhân lực chất lượng cao”; (3) “Xây dựng
hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội”. Cả 3 đột phá chiến lược
này đều tạo chế cho đổi mới sáng tạo, cũng như lấy đổi mới sáng tạo làm cơ sở, động lực
cho sự phát triển.
Đại hội XIII của Đảng còn đề cập đến một số nội dung cụ thể của đổi mới sáng tạo trong giai
đoạn 2021 - 2030.
Trong lĩnh vực kinh tế, đổi mới sáng tạo được thực hiện song song với đổi mới mô hình tăng
trưởng kinh tế, tập trung vào “thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, kinh tế số, phát triển các mô
hình kinh tế mới, khởi nghiệp sáng tạo”; trong lĩnh vực khoa học và công nghệ chú trọng “lấy
doanh nghiệp làm trung tâm; thúc đẩy phát triển hình kinh doanh mới, kinh tế số, xã hội
số”, “thực hiện chuyển đổi số trong quản trị quốc gia, quản nhà nước, sản xuất, kinh
doanh, tổ chức xã hội và quản lý tài nguyên quốc gia”; trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đổi
mới sáng tạo luôn song hành với quá trình “nghiên cứu, triển khai, ứng dụng các thành tựu
khoa học và công nghệ mới; hình thành các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, các nhóm đổi mới
sáng tạo mạnh”; trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, đổi mới sáng tạo tập trung vào “tăng
cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học y học, phát triển các ngành khoa học phục vụ bảo vệ,
chăm sóc sức khỏe con người. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ
thông tin, công nghệ số trong khám, chữa bệnh”; trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đổi mới
sáng tạo là nhiệm vụ quan trọng nhằm “đẩy mạnh đầu tư và ứng dụng khoa học, công nghệ…
phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng, ngày càng hiện đại,
trình độ khoa học - công nghệ cao”.
Từ sự cụ thể hóa của các đột phá chiến lược giai đoạn 2021 - 2030 cho thấy, có sự phát triển
mạnh mẽ trong duy khi làm nội hàm của đổi mới sáng tạo, đó là hệ thống các yếu tố tổ
chức, thể chế, cấu trúc kinh tế tương tác lẫn nhau quy định tốc độ, phương hướng chất
lượng của đổi mới. Những quan điểm này thể hiện quyết tâm cao về đổi mới sáng tạo và ngày
càng hoàn thiện các yếu tố thúc đẩy đổi mới sáng tạo để đạt được sự phát triển.
Như vậy, qua các kỳ đại hội kể từ Đại hội VI, Đảng ta đã thể hiện quyết tâm phát triển và ứng
dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật đối với tiến trình phát triển đất nước. Đặc biệt,
tại Đại hội XIII của Đảng, tinh thần này, nhất là yếu tố đổi mới sáng tạo, được thể hiện xuyên
suốt, thống nhất, cụ thể trong Văn kiện của Đại hội, từ mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể
đến định hướng phát triển của đất nước… Các quan điểm này đã thể hiện sự kế thừa tư duy
đổi mới của Đảng qua các kỳ đại hội tầm nhìn của Đảng trước yêu cầu xây dựng và phát
triển đất nước trong tình hình mới.
5. Ngoại giao văn hóa
Ngoại giao văn hóa một quá trình đưa văn hóa Việt Nam ra thế giới, trên sở lưu giữ
những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hóa của
nhân loại trong ba trụ cột của nền ngoại giao toàn diện Việt Nam thời kỳ hội nhập toàn cầu.
Với tính mềm dẻo linh hoạt, ngoại giao văn hóa đã phát huy vai trò tích cực của mình đối
với sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần tạo nên sức
mạnh tổng hợp quốc gia, phục vụ triển khai các mục tiêu đối ngoại của đất nước.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập quốc tế ngày càng diễn ra sâu rộng, văn hóa được
nhiều quốc gia sử dụng như một công cụ đắc lực của “quyền lực mềm”. Hầu hết các nước,
không chỉ các nước phát triển, cả các nước mới nổi đều chính sách truyền bá văn hóa
ra nước ngoài, qua đó thiết lập, duy trì phát triển quan hệ đối ngoại. Qua ngoại giao văn
hóa, các quốc gia, nhất các nước lớn, mở rộng ảnh hưởng của mình đối với thế giới. Mỹ,
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,... những quốc gia luôn tích cực triển khai mở rộng các
“giá trị” ảnh hưởng của mình thông qua các hoạt động ngoại giao văn hóa. Đối với các
quốc gia đang phát triển như Việt Nam, ngoại giao văn hóa phát huy vai trò như một phương
thức nhằm lan tỏa giá trị văn hóa, con người, quảng hình ảnh, nâng cao vị thế, tiếng nói
của đất nước trên trường quốc tế; đồng thời, tạo thêm nhiều động lực, địa cho sự phát
triển. Trên lĩnh vực kinh tế, ngoại giao văn hóa còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo
“sức hút”, thu hút nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh đó, trong quá trình trao đổi, tương tác văn hóa,
các quốc gia sẽ sự trao đổi, giao thoa, lĩnh hội về văn hóa, bồi đắp thêm cho kho tàng văn
hóa của mỗi nước; đồng thời, tiếp biến, gìn giữ, phát huy điều chỉnh các giá trị văn hóa
riêng của quốc gia phù hợp với dòng chảy chung của thế giới, thời đại.
Ngoại giao văn hóa một bộ phận cấu thành quan trọng của nền ngoại giao Việt Nam toàn
diện, hiện đại. Trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm gìn giữ độc lập, chủ quyền, thống
nhất bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước, ông cha ta đã
vận dụng ngoại giao văn hóa một cách sáng tạo, linh hoạt thông qua chiến lược “ngoại giao
tâm công”, “ngoại giao hòa hiếu”.
Việt Nam đất nước nền văn hóa, văn hiến lâu đời, bề dày lịch sử hàng nghìn năm.
Nền văn hóa đó hệ giá trị bản sắc riêng, tạo nên “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt
Nam. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tiến trình hội nhập sâu rộng, toàn diện với thế giới
khu vực, việc nâng cao sự hiểu biết của các đối tác, bạn quốc tế về đất nước, văn hóa,
con người Việt Nam cũng như những định hướng, chủ trương, chính sách của Đảng Nhà
nước Việt Nam ý nghĩa cùng quan trọng. Điều này có tác động tạo nền tảng nhận thức
tình cảm của người dân các nước, qua đó góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác, phát triển,
nâng cao vị thế, hình ảnh sức mạnh tổng hợp quốc gia. Chính vậy, ngoại giao văn hóa
được xác định một trụ cột, cùng với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, tạo nên nền
ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại. Trong đó, ngoại giao chính trị vai trò xác định
mục tiêu, định hướng cho công tác ngoại giao văn hóa. Ngoại giao kinh tế nền tảng vật
chất, tạo nguồn lực để thúc đẩy ngoại giao văn hóa. Ở mối quan hệ ngược lại, ngoại giao văn
hóa chuyển tải các giá trị văn hóa, bản sắc, hòa hiếu, nhân văn vào ngoại giao chính trị, từ đó
góp phần thúc đẩy làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, quảng hình ảnh quốc gia,
thương hiệu địa phương, phục vụ phát triển đất nước, khơi dậy tình cảm gắn bó, hướng về
quê hương đất nước của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Ngoại giao văn hóa phát huy vai trò là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao toàn diện
Việt Nam
Trong những năm qua, về bản, hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là
xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế. Các quốc gia ngày càng coi trọng việc gìn giữ và phát
huy bản sắc, sức mạnh mềm văn hóa trong quan hệ đối ngoại. Sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học - công nghệ tạo ra những công cụ đắc lực phục vụ việc truyền tải nhanh, rộng rãi
các nội dung về văn hóa. Đây nền tảng thuận lợi để các quốc gia tăng cường quan hệ hữu
nghị, hợp tác thúc đẩy các hoạt động trao đổi, giao lưu văn hóa. Bên cạnh những mặt
thuận, sự gia tăng cạnh tranh, xung đột giữa các nước lớn trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn
hóa; những mâu thuẫn văn hóa, tôn giáo, sắc tộc vẫn tồn tại và là một phần nguyên nhân sâu
xa của những xung đột trang, chiến tranh cục bộ; sự bùng phát của những trào lưu
tưởng, văn hóa độc hại, những xu hướng chính trị cực đoan, dân tộc hẹp hòi,... đã gây ra
nhiều tác động không thuận, phần làm suy giảm, kìm hãm sự phát triển và ảnh hưởng của
các hoạt động hợp tác, giao lưu quốc tế về văn hóa.
Đại hội XI của Đảng (tháng 1- 2011) xác định chủ trương “chủ động, tích cực hội nhập quốc
tế”, cụm từ “ngoại giao văn hóa” lần đầu tiên được sử dụng, được đặt vị trí ngang hàng với
ngoại giao chính trị ngoại giao kinh tế. Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2020 do
Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 208/2011/QĐ-TTg, ngày 14-2-2011, nhấn
mạnh quan điểm: “Ngoại giao văn hóa cùng với ngoại giao kinh tế và ngoại giao chính trị là
ba trụ cột của nền ngoại giao toàn diện, hiện đại Việt Nam. Ba trụ cột này gắn bó, tác động
lẫn nhau, góp phần thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Ngoại
giao chính trị vai trò định hướng, ngoại giao kinh tế là nền tảng vật chất và ngoại giao văn
hóa nền tảng tinh thần của hoạt động đối ngoại”. Cùng với đó, các điều ước và thỏa thuận
quốc tế về văn hóa được ký kết mới hoặc gia hạn đã tạo cơ sở pháp lý, nâng cao nhận thức về
ngoại giao văn hóa từng bước thể chế hóa vai trò của ngoại giao văn hóa trong các hoạt
động đối ngoại của đất nước.
Công tác ngoại giao văn hóa đã được triển khai ngày càng bài bản và chuyên nghiệp, gắn kết
thúc đẩy thực hiện ngoại giao chính trị ngoại giao kinh tế, góp phần tạo nên sức mạnh
tổng hợp quốc gia, phục vụ triển khai các mục tiêu đối ngoại của đất nước.
Ngoại giao văn hóa đã trở thành một trong những hoạt động chính trong nội dung các đề án,
chương trình, kế hoạch hoạt động đối ngoại lớn của các cấp, các ngành địa phương. Các
hoạt động ngoại giao văn hóa được triển khai trên diện rộng, cả trong và ngoài nước, tại tất cả
các châu lục; đa dạng về đối tượng, phong phú về nội dung hình thức, bài bản trong các
chuyến thăm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cũng như việc tiếp đón nguyên thủ nhiều nước
thăm Việt Nam; các hội nghị, sự kiện quốc tế lớn do Việt Nam đăng cai tổ chức; các dịp kỷ
niệm năm tròn, năm chẵn thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam các quốc gia. Qua
các hoạt động này, tinh thần, bản sắc văn hóa Việt Nam được khéo léo truyền tải, khẳng định
đường lối đối ngoại nhất quán độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển,
đa phương hóa, đa dạng hóa hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện; đồng thời, làm nổi bật
nét đẹp của truyền thống nhân nghĩa, thủy chung, hòa bình, hòa hiếu, hữu nghị của Việt Nam.
Ngoại giao văn hóa kết hợp chặt chẽ với ngoại giao kinh tế trong các hoạt động xúc tiến đầu
tư, thương mại, du lịch nhằm xây dựng hình ảnh Việt Nam là điểm đến hấp dẫn trên thế giới
với thể chế chính trị ổn định, con người hòa hiếu, nền văn hóa đặc sắc, đa dạng. Tổ chức
Giáo dục, khoa học văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận nhiều danh hiệu di
sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của Việt Nam. Việc ghi danh vào các danh sách di sản văn
hóa thiên nhiên thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới công viên địa chất toàn cầu
không chỉ đơn thuần cam kết quốc gia, còn là mô hình khai thác phục vụ nhu cầu phát
triển xanh bền vững. Tính đến tháng 12-2020, Việt Nam đã xây dựng hồ sơ, vận động
thành công UNESCO công nhận 44 di sản, danh hiệu các loại. Nhiều địa phương đã thành
công trong việc đưa du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn dựa trên khai
thác thế mạnh về danh lam thắng cảnh và các di sản văn hóa, qua đó tô đậm hơn hình ảnh đất
nước Việt Nam trên bản đồ di sản, văn hóa thế giới; đồng thời, góp phần quảng bá sự đa dạng
về sinh học, văn hóa, truyền thống, con người Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Thông qua các hoạt động ngoại giao văn hóa, hình ảnh đất nước, con người, nét đẹp của văn
hóa Việt Nam được quảng được biết tới nhiều quốc gia, nhiều khu vực trên thế giới.
Các hoạt động quảng được tích cực triển khai tại những sự kiện đối ngoại, lễ hội, hội chợ,
festival văn hóa, du lịch, chương trình tuần/ngày Việt Nam nước ngoài tại các nước là đối
tác chiến lược, đối tác toàn diện của Việt Nam, các đề án vinh danh các anh hùng dân tộc,
danh nhân văn hóa, nhất là Đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân
tộc Việt Nam, Nhà văn hóa kiệt xuất, nước ngoài” đã được triển khai hiệu quả tại hơn
100 quốc gia vùng lãnh thổ trên thế giới... Việc gắn kết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hóa, du lịch và công tác cộng đồng được đặc biệt chú trọng, đã góp phần giới thiệu với bạn bè
quốc tế về hình ảnh đất nước Việt Nam lịch sử hào hùng, một đất nước tươi đẹp giàu
tiềm năng phát triển; con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân ái, khoan dung, trọng
tình nghĩa, cần cù, sáng tạo, thân thiện, mến khách; nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc. Các hoạt động này cũng góp phần truyền tải tới bạn quốc tế, cộng đồng
người Việt Nam nước ngoài thông điệp về các chủ trương, định hướng phát triển hội
nhập quốc tế của Việt Nam.
Trong khuôn khổ các diễn đàn đa phương, ngoại giao văn hóa đã góp phần tích cực đưa đất
nước từng bước hội nhập sâu rộng về văn hóa, nâng cao năng lực chủ động, tham gia xây
dựng “luật chơi” tại các diễn đàn, nhiều đóng góp tích cực cho các mục tiêu hòa bình, an
ninh, phát triển tăng cường vị thế của đất nước. Tại các phiên họp của UNESCO, Việt
Nam đã tích cực chia sẻ kinh nghiệm, thể hiện thành viên trách nhiệm của tổ chức này
trong nhiều năm qua. Mới đây, hai bên cũng đã kết Bản ghi nhớ hợp tác giữa Chính phủ
Việt Nam UNESCO giai đoạn 2021 - 2025 nhân chuyến thăm UNESCO của Thủ tướng
Chính phủ Phạm Minh Chính. Thúc đẩy các lợi ích của Việt Nam tại diễn đàn UNESCO,
ngoại giao văn hóa đã góp phần tiếp cận hiệu quả các nguồn lực, vận dụng các ý tưởng,
kinh nghiệm của tổ chức này để phục vụ lợi ích, nhu cầu phát triển đất nước trên các lĩnh vực
văn hóa, giáo dục khoa học. Việt Nam đã trở thành thành viên của hầu hết các định chế,
diễn đàn đa phương then chốt trên mọi tầng nấc tại các diễn đàn, tổ chức khu vực, liên khu
vực quốc tế về văn hóa, như: Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu (ASEM), Hội nghị cấp cao
Đông Á (EAS), Diễn đàn Hợp tác Đông Á - Mỹ Latinh (FEALAC), Tổ chức Pháp ngữ, các tổ
chức phi chính phủ (NGOs) về văn hóa... Tại khu vực, qua các hoạt động ngoại giao văn hóa,
Việt Nam đã phát huy vai trò tích cực trong hợp tác, xây dựng Cộng đồng Văn hóa - Xã hội
ASEAN hợp tác văn hóa ASEAN, góp phần tăng cường hiểu biết của người dân Việt Nam
về ASEAN; đồng thời, quảng bá hình ảnh của Việt Nam tới các nước trong và ngoài khu vực,
xây dựng bản sắc chung của ASEAN.
Các hoạt động ngoại giao văn hóa đối với cộng đồng người Việt Nam nước ngoài cũng
được triển khai tích cực, hình thức ngày càng đa dạng, góp phần thực hiện Nghị quyết số
36-NQ/TW, ngày 26-3-2004, của Bộ Chính trị khóa IX, “Về công tác đối với người Việt Nam
nước ngoài trong tình hình mới”; Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 19-5-2015, của Bộ Chính trị
“Về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX,
“về công tác đối với người Việt Nam nước ngoài trong tình hình mới”; Kết luận số
12-KL/TW, ngày 12-8-2021, của Bộ Chính trị, “Về công tác người Việt Nam nước ngoài
trong tình hình mới”. Điển hình như, chương trình Ngày Việt Nam nước ngoài được tổ
chức tại nhiều nước, như Thụy Sĩ, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Nga,... đã tạo được hiệu
ứng tích cực, góp phần tạo đà phát triển quan hệ của Việt Nam với nhiều đối tác. Đây
chương trình tổng hợp các hoạt động về chính trị, kinh tế, văn hóa được thực hiện tại một số
quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, trọng tâm là giới thiệu các cơ hội hợp tác đầu
tư, thương mại, du lịch, dịch vụ, giới thiệu về văn hóa Việt Nam, giao lưu nhân dân,... Các
hoạt động văn hóa phong phú hướng tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã thúc đẩy
gắn kết cộng đồng người Việt Nam trên thế giới hướng về Tổ quốc, có những đóng góp thiết
thực trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, có tác động sâu sắc trong việc
khơi gợi lòng tự hào dân tộc, tình cảm gắn bó với quê hương, thúc đẩy việc lan tỏa các giá trị
Việt Nam ra thế giới, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân
tộc.
Ngoại giao văn hóa cũng đóng góp tích cực trong việc hỗ trợ các ngành, các địa phương
thực hiện thành công các kế hoạch phát triển kinh tế - hội, từng bước xây dựng thương
hiệu địa phương. Ngoại giao văn hóa đã từng bước được đưa vào nội dung của các chiến
lược, đề án, quy hoạch phát triển văn hóa, du lịch, kinh tế - hội của địa phương. Nhiều lễ
hội, sự kiện văn hóa định kỳ thường niên đã dần trở thành “thương hiệu” của địa phương,
tạo sức hút đối với ngoại giao đoàn, với bạn khách quốc tế, qua đó, đưa hình ảnh các
địa phương của Việt Nam ngày càng trở nên gần gũi, thân thiện, cởi mở, góp phần thu hút
đầu trong ngoài nước, thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương nói riêng cả nước
nói chung.
Tựu trung, trong những năm qua, nhất trong 10 năm triển khai Chiến lược Ngoại giao văn
hóa đến năm 2020, việc triển khai ngoại giao văn hóa đã được gắn kết chặt chẽ, ngày càng
bài bản, hiệu quả đối với ngoại giao chính trị ngoại giao kinh tế, tạo hiệu ứng quan
trọng, góp phần nâng cao hiệu quả triển khai công tác đối ngoại nói chung. Tuy nhiên, bên
cạnh những kết quả tích cực, việc phát huy vai trò của ngoại giao văn hóa, truyền tải và gắn
kết, tối đa hóa các giá trị của văn hóa vào các hoạt động ngoại giao kinh tế, ngoại giao chính
trị vẫn còn không ít hạn chế, bất cập. Nhận thức về vai trò, ý nghĩa của ngoại giao văn hóa
vẫn chưa thực sự đồng đều. Nội dung, hình thức, chất lượng hiệu quả của các hoạt động
ngoại giao văn hóa cũng còn tồn tại một số bất cập. Nguồn nhân lực của ngoại giao văn hóa
chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng; ngân sách dành cho ngoại giao văn
hóa còn hạn chế...
Để tiếp tục góp phần nâng tầm và lan tỏa các giá trị Việt Nam đến cộng đồng quốc tế
Tình hình thế giới, khu vực được dự báo sẽ tiếp tục có những vận động và biến chuyển không
ngừng, tính phức tạp, khó lường sẽ ngày càng gia tăng. Những biến động về tình hình chính
trị, kinh tế, văn hóa, hội, nhất những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công
nghệ hiện đại sẽ tạo ra những tác động mạnh mẽ, nhiều chiều, nhiều mức độ đến từng quốc
gia, trên nhiều lĩnh vực, trong đó văn hóa. Nhu cầu giao lưu văn hóa, hợp tác nhân dân
giữa các quốc gia ngày càng được chú trọng. Với tính chất yếu tố quan trọng làm nên sức
mạnh mềm của quốc gia, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được thúc
đẩy, các nước đều xu hướng nhìn nhận văn hóa một thành tố quan trọng trong quan hệ
quốc tế, thúc đẩy lòng tin, quảng bá các sản phẩm văn hóa nhằm lan tỏa bản sắc dân tộc, nâng
cao hình ảnh vị thế đất nước, đồng thời bảo tồn và tiếp thu, làm giàu kho tàng văn hóa của
quốc gia. Chính văn hóa yếu tố dẫn đường, điều kiện cần thiết không thể thiếu cho
việc thực hiện các mục tiêu ngoại giao kinh tế, ngoại giao chính trị, tăng cường sự hiểu biết,
củng cố làm sâu sắc hơn quan hệ giữa các quốc gia, đóng góp trực tiếp cho hòa bình, an
ninh, hợp tác và phát triển.
một đất nước bề dày lịch sử dựng nước giữ nước hào hùng cùng nền văn hóa đa
dạng, đậm đà bản sắc dân tộc, Việt Nam có tiềm năng to lớn để xây dựng và triển khai chính
sách ngoại giao văn hóa xứng tầm với vị thế của đất nước, cũng như đóng góp quan trọng,
hiệu quả vào quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong những năm tới. Chiến lược
Ngoại giao văn hóa đến năm 2030 đã đặt mục tiêu “sử dụng công cụ văn hóa trong ngoại giao
nhằm đưa quan hệ Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bảo đảm lợi ích quốc
gia - dân tộc, tạo lập giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động nguồn lực bên
ngoài, biến điều kiện thuận lợi, vị thế đất nước thành nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội,
đồng thời dùng các biện pháp ngoại giao để tôn vinh các giá trị, vẻ đẹp của văn hóa Việt
Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, qua đó khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, tăng
cường sức mạnh mềm, nâng cao vị thế đất nước”(1). Mục tiêu này một lần nữa nhấn mạnh
vai trò của ngoại giao văn hóa trong nền ngoại giao Việt Nam toàn diện hiện đại. Ngoại
giao văn hóa sẽ cùng với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế phục vụ các mục tiêu, lợi ích
của quốc gia, dân tộc, cụ thể là mục tiêu về hòa bình, an ninh, phát triển và vị thế, ảnh hưởng;
gắn kết chặt chẽ văn hóa với các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược tổng thể về
hội nhập quốc tế và những định hướng chính sách đối ngoại đến năm 2030 của Đảng, của đất
nước. Ngoại giao văn hóa của Việt Nam trong thời gian tới sẽ được triển khai với năm nhiệm
vụ cụ thể: 1- Thúc đẩy làm sâu sắc hơn quan hệ, lòng tin giữa Việt Nam với các quốc gia,
khu vực, các tổ chức quốc tế; 2- Hội nhập chủ động, sâu rộng trong các lĩnh vực về văn hóa
tại các tổ chức, diễn đàn khu vực quốc tế; 3- Quảng lan tỏa hình ảnh về đất nước,
con người, văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế; 4- Vận động, bảo vệ và phát huy các di sản
Việt Nam được quốc tế công nhận; 5- Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để làm
giàu bản sắc văn hóa dân tộc.
Trong một thế giới toàn cầu hóa liên kết quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, văn hóa ngày
càng được các quốc gia nhìn nhận là nhân tố đóng vai trò quan trọng, là nguồn lực nội sinh và
động lực phát triển, bảo vệ quốc gia trong tình hình mới. Theo đó, cần phát huy và chuyển
tải tối đa những giá trị mang ý nghĩa sâu sắc, nhân văn, nhân bản của nét đẹp, truyền thống
văn hóa dân tộc thời đại vào các hoạt động đối ngoại, để văn hóa thực sự có những đóng
góp toàn diện, hiệu quả, thực chất hơn đối với việc triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ đối
ngoại trong thời gian tới.
Để thực hiện được mục tiêu đó, ngoại giao văn hóa cần bám sát nhiệm vụ phục vụ bảo
đảm tối đa mục tiêu bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc, cụ thể là hòa bình, an ninh,
ảnh hưởng nâng cao vị thế đất nước. Quá trình triển khai cần gắn kết chặt chẽ với các định
hướng chính sách đối ngoại lớn của Đảng, của đất nước, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội của Trung ương, các bộ, ngành, địa phương. Bên cạnh đó, cần xác định hoạt động văn
hóa được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ gói gọn trong các hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc
thù, còn bao gồm các lĩnh vực, như khoa học, giáo dục, giao lưu nhân dân... các lĩnh
vực khác của đời sống xã hội.
Việc gắn kết công tác ngoại giao văn hóa với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và công
tác người Việt Nam ở nước ngoài cần tiếp tục được thúc đẩy. Những thành tố này luôn có mối
quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Nếu ngoại giao chính trị vai
trò định hướng, ngoại giao kinh tế tạo nền tảng vật chất thì ngoại giao văn hóa tạo nền tảng
tinh thần cho các hoạt động đối ngoại, đưa bản sắc, nghệ thuật ngoại giao mềm mỏng, linh
hoạt, yêu chuộng hòa bình, hòa hiếu, giàu tính nhân văn cho ngoại giao chính trị, đẩy mạnh
hội nhập quốc tế, xây dựng quảng bá hình ảnh quốc gia, thương hiệu địa phương,... hỗ trợ
ngoại giao kinh tế.
Việc triển khai toàn diện, có hiệu quả công tác ngoại giao văn hóa cần được nhận thức sâu sắc
nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị, của các tổ chức đảng, quan nhà nước, các
đoàn thể, địa phương, doanh nghiệp, người dân và người Việt Nam ở nước ngoài dưới sự lãnh
đạo của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước. Tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền,
tạo môi trường thuận lợi về cơ chế, chính sách để triển khai công tác ngoại giao văn hóa.
Tiếp tục kế thừa, tiếp thu, vận dụng sáng tạo để hoàn thiện việc định hình nội hàm, thông
điệp chủ đạo, bản sắc của ngoại giao văn hóa Việt Nam; tăng tính gắn kết giữa ngoại giao văn
hóa và ngoại giao công chúng. Bên cạnh đó, việc triển khai công tác ngoại giao văn hóa trong
bối cảnh hiện nay cần coi trọng bám sát xu hướng và sự phát triển của cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư, nhất sự tiến bộ về công nghệ số, kỹ thuật số nhằm thích ứng đưa
ngoại giao văn hóa Việt Nam hội nhập nhanh, sâu rộng vào khu vực và thế giới.
Cùng với tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045, Đại hội XIII của Đảng đã
đề ra chủ trương: “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột đối ngoại
đảng, ngoại giao nhà nước đối ngoại nhân dân”(2). Đây một chủ trương lớn, phản ánh
sự trưởng thành của nền ngoại giao Việt Nam, đồng thời cũng yêu cầu vừa cấp bách, vừa
mang tính chiến lược, lâu dài đối với công tác đối ngoại nói chung, trong đó ngoại giao
văn hóa. Bám sát các mục tiêu nhiệm vụ đã đặt ra, đồng thời linh hoạt, sáng tạo trong ý
tưởng biện pháp triển khai, ngoại giao văn hóa sẽ tiếp tục phát huy vai trò một trụ cột
đối ngoại quan trọng và có những đóng góp lớn, góp phần nâng tầm và lan tỏa các giá trị Việt
Nam đến cộng đồng quốc tế.
6. Vì sao nói sau CMT8/1945, VN rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”?
Thắng lợi của CMT8/1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử của dân tộc, chấm dứt ách đô hộ
hơn 80 năm của thực dân Pháp, mở ra kỷ nguyên độc lập, dân chủ của dân tộc VN dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Thế nhưng, ngay khi vừa giành lại độc lập, đất nước phải đối diện với
tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" bởi "thù trong, giặc ngoài". Với dã tâm xâm lược nước ta một
lần nữa, thực dân Pháp cùng với quân Tưởng Giới Thạch bọn tay sai đã tiến hành nhiều
hoạt động chống phá trắng trợn nhằm thực hiện mưu đồ tiêu diệt lực lượng, Chính phủ cách
mạng Đảng ta để thành lập chính quyền phản động, tay sai. Trong khi đó, tình hình kinh
tế, chính trị, hội trong nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng: sản xuất trì trệ, ngân khố
quốc gia trống rỗng, nạn đói năm 1945 làm gần 2 triệu người chết chưa khắc phục xong, hơn
90% dân số chữ, tệ nạn hội còn rất phổ biến, các thế lực phản động ra sức hoạt động
chống phá... Vận mệnh dân tộc nguy nan như "ngàn cân treo sợi tóc".
Trong tình thế hiểm nghèo ấy, Đảng ta Chính phủ nước VN Dân chủ Cộng hòa do Chủ
tịch HCM đứng đầu đã đề ra những quyết sách đúng đắn, sáng tạo như: Tổ chức Tổng tuyển
cử bầu Quốc hội, Hội đồng nhân dân nhằm củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng nền
móng cho chế độ mới; phát động phong trào tăng gia sản xuất, xóa bỏ mọi thứ thuế lý,
thực hiện giảm tô, chia lại ruộng công, tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian chia cho
nông dân nghèo; mở lớp Bình dân học vụ, kêu gọi toàn dân tham gia phong trào xóa nạn mù
chữ; xây dựng "Quỹ độc lập" và phong trào "Tuần lễ vàng" huy động đóng góp tự nguyện của
nhân dân; phát triển lực lượng trang cách mạng theo nguyên tắc toàn diện cả về chính trị
quân sự, chú trọng cả số lượng chất lượng... Nhờ đó, chỉ một thời gian ngắn, ta đã căn
bản diệt được "giặc đói", "giặc dốt", giải quyết khó khăn về tài chính, từng bước tăng cường
sức mạnh quốc phòng, an ninh, tạo tiền đề quan trọng để diệt "giặc ngoại xâm".
Để tranh thủ được thời gian hòa bình nhằm củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng lực
lượng trang khắc phục những khó khăn về kinh tế, hội, đời sống của nhân dân
đẩy quân Tưởng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, ta đã phải với thực dân Pháp các hiệp định,
nhượng bộ cho Pháp một số quyền Việt Nam. Tuy nhiên, đây chỉ biện pháp đấu tranh
mềm dẻo tạm thời nhằm củng cố và chuẩn bị tập trung nguồn lực để kháng chiến chống Pháp
lâu dài.Nhờ vậy, VN có thể tạm thời tránh được cả thù trong lẫn giặc ngoài.
thể nói, tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” sau CMT8/1945 cùng khó khăn và đầy thách
thức với một Chính phủ mới, còn non trẻ của chúng ta. Thế nhưng, bằng đường lối lãnh đạo
khéo léo, đúng đắn cùng sự đoàn kết toàn dân tộc, chúng ta đã vượt qua được tất cả tiếp
tục giữ vững nền độc lập, tự do dân tộc.
7. Trong Nghị quyết Trung ương 9 khoá 11 (năm 2014), ĐCSVN đã đề ra quan điểm:
“Văn hoá là nền tảng tinh thần cho xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất
nước”. Nêu ý kiến về quan điểm trên.
P1
Về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững, Đảng ta xác định: “Văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước.” Quan điểm ấy được
thể hiện qua những nội dung cơ bản:
Một là, văn hóa nền tảng tinh thần của xã hội. Quan điểm này một lần nữa khẳng định vai
trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng của Đảng dân tộc, xây dựng và phát triển nền
văn hóa dân tộc chăm lo nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và
lành mạnh thì không sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Các giá trị văn hóa tạo thành
nền tảng tinh thần của hội nó được thấm nhuần trong mỗi con người và cả dân tộc. Các
giá trị văn hóa được nối tiếp, trao truyền phát huy qua các thế hệ người VN, đó là tất yếu
của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại hướng đến tương lai, tương lai của những
giá trị phổ quát chân - thiện - mỹ. vậy, chúng ta làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh
vực của đời sống hội để các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã
hội.
Để phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, chúng ta cần
phải mở rộng giao lưu quốc tế khu vực, tiếp thu có chọn lọc cái hay, cái tiến bộ trong tinh
hoa văn hóa các dân tộc khác để làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc, tạo nên bản sắc văn
hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, làm cho
văn hóa VN bắt kịp sự phát triển của văn hóa nhân loại trong thời đại ngày nay và chống lại
cái đã trở nên lạc hậu, lỗi thời, xa lạ với văn hóa. Đảng ta coi văn hóa nền tảng tinh thần
của hội, nghĩa đề cao, coi trọng nguồn lực văn hóa của sự phát triển bền vững đất nước.
Hệ thống di sản văn hóa, các giá trị văn hóa là “tài sản” vô giá, vô tận cho sự phát triển kinh
tế - xã hội, đó còn là cơ sở tinh thần cho sự ổn định xã hội và sự bền vững của chế độ ta.
Hai là, văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước. Mục tiêu tổng quát của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa hội nước ta xây dựng một hội “Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. Đây cũng chính mục tiêu của văn hóa, nếu hiểu theo nghĩa
rộng nhất của văn hóa. Chiến lược phát triển kinh tế - hội đến năm 2020 xác định: Mục
tiêu động lực chính của sự phát triển con người, do con người. Đồng thời nêu rõ yêu
cầu “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ công bằng hội, phát triển văn hóa,
bảo vệ môi trường”, ngày nay không thể phát triển bằng mọi giá, nhất là chạy theo lợi nhuận
tối đa, vì lợi ích hôm nay mà làm tổn hại đến tương lai.
Từ đổi mới đến nay, Đảng ta nhất quán tạo lập nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, đó phải nền kinh tế giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa nhân
hội, giữa kinh tế với tiến bộ, công bằng hội, đảm bảo bền vững về môi trường sinh thoái,
tạo sở nền tảng vật chất cho chủ nghĩa hội. Để đạt được điều đó phải cần đến văn hóa,
sự tham gia của văn hóa vào trong tổ chức và hoạt động của nền kinh tế vì mục tiêu phát triển
hội, phát triển con người, đó chính vai trò của văn hóa trong kinh tế, kinh tế trong văn
hóa. Văn hóa với tư cách là đời sống tinh thần xã hội, một mục tiêu đặc biệt quan trọng, vì nó
nhu cầu phong phú, cùng, tận, tinh tế của con người, nhu cầu tinh thần còn nhu
cầu nhân văn cứu cánh của con người, văn hóa ấy vừa đáp ứng nhu cầu của con người,
xã hội tiến bộ, vừa thúc đẩy con người đạt được niềm tin, khát vọng hạnh phúc.
Ba là, văn hóa động lực của sự phát triển bền vững đất nước. Thực tế cho thấy, không ít
những quốc gia, dân tộc không giàu về tài nguyên thiên nhiên, thậm chí còn nghèo nàn
hạn hẹp nhưng lại giàu về kinh tế, kinh tế phát triển, xã hội tiến bộ chính là nhờ coi trọng yếu
tố văn hóa, con người thông qua việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
mở đường cho sự phát triển. Như vậy, nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một đất nước
thấm sâu trong văn hóa, con người. Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới, cái
tốt, cái tiến bộ nhưng không thể tách rời, bỏ qua cội nguồn, phát triển phải dựa trên cội
nguồn, cội nguồn đó của mỗi dân tộc văn hóa. Văn hóa cũng góp phần tạo nên “sức mạnh
mềm” cho quốc gia, dân tộc vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Kinh nghiệm qua hơn 30 năm sự nghiệp đổi mới nước ta đã chứng minh rằng, ngay bản
thân sự phát triển kinh tế cũng không chỉ do các nhân tố thuần túy kinh tế tạo ra, mà động lực
của sự đổi mới kinh tế đó một phần quan trọng nằm trong văn hóa. Trong điều kiện của cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác động và làm thay đổi quan niệm về phát triển kinh tế, phát
triển bền vững, phát triển không đơn thuần chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên, mặc yếu tố này phong phú, đa dạng nhưng đều hạn thể bị khai thác cạn
kiệt, dần dần chuyển sang yếu tố quyết định cho sự phát triển chính trí tuệ, tri thức,
thông tin, sáng tạo đổi mới không ngừng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày
càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhân hội, đó tức là văn hóa, vai trò của văn
hóa trong phát triển, chỉ có sự tham gia của văn hóa mới đưa đến sự phát triển bền vững.
Ngày nay, nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của con người. Tiềm năng sáng tạo này
nằm trong văn hóa, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức, nhân cách của mỗi nhân và cộng đồng. Chỉ
nguồn lực này hạn, khả năng tái sinh tự sinh, không bao giờ cạn kiệt, các
nguồn lực khác sẽ không được sử dụng có hiệu quả nếu không có những con người đủ trí tuệ
năng lực khai thác chúng, thì các nguồn lực đó dù có phong phú, đa dạng, thì cũng không
thể tham gia và phát huy tác dụng vào trong phát triển.
P2
“Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” (HCM)
Văn hóa một khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến
mọi mặt đời sống vật chất tinh thần của con người; được con người tạo ra phát triển
trong mối quan hệ qua lại giữa con người hội. Văn hóa là một nguồn lực to lớn, có vai
trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của mỗi con người, tổ chức, rộng hơn là
của quốc gia - dân tộc. vậy, Đảng Nhà nước rất coi trọng vai trò của văn hóa trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Trước đây, nhiều người cho rằng, chỉ cần tăng trưởng kinh tế sự phát triển hy sinh
các giá trị văn hóa cũng như bỏ qua các mục tiêu xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nhiều
quốc gia đi theo xu thế này đạt được một số thành tựu về kinh tế nhưng đã phải hứng chịu
những hậu quả hội, sự xuống cấp về đạo đức và văn hóa. Từ đó, lại ảnh hưởng tiêu cực tới
sự tăng trưởng, mất ổn định hội tăng lên và cuối cùng là sự phá sản của các kế hoạch phát
triển kinh tế, đất nước rơi vào tình trạng suy thoái.
Từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 đã xác định nguyên tắc phát triển nền văn hóa mới
là “dân tộc, khoa học, đại chúng”.
Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa hội nhập
quốc tế toàn diện, sâu rộng như hiện nay, thì những luận điểm nêu trên là rất đúng đắn và kịp
thời; nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa trong mối quan hệ với phát triển kinh tế - xã hội;
sở để khắc phục những quan điểm sai lầm đã từng tồn tại trong duy của không ít
người khi cho rằng, phát triển kinh tế quan trọng nhất, phát triển văn hóa chỉ phụ, “ăn
theo” kinh tế. Đặc biệt, các luận điểm đó mang ý nghĩa thực tiễn rất cao khi coi văn hóa
động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - hội. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế,
chính trị, hội. Bởi, lịch sử cho thấy, sự phát triển của đất nước về mọi mặt, kể cả kinh tế,
chính trị con người, xét đến cùng, nếu muốn đi thật xa, nếu muốn ngày càng trở nên bền
vững hơn thì đều phải nằm trong quỹ đạo của văn hóa phải văn hóa dẫn đường, như
luận điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra năm
1946.
8. Phân tích sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong 1939 - 1945.
Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ (1/9/1939) tác động sâu sắc đến tình hình chính trị thế
giới. Để phục vụ cho chiến tranh, thực dân Pháp thực hiện nhiều chính sách cực kỳ phản
động, giải tán Đảng Cộng sản Pháp, Đông Dương, chúng thực thi chính sách cai trị tàn
bạo, điên cuồng tấn công nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản các đoàn thể do Đảng lãnh đạo,
thực hiện chính sách khủng bố, ban bố lệnh tổng động viên, ra sức bắt người, cướp của tại
chỗ phục vụ cuộc chiến tranh đế quốc của chúng. Chính sách phát xít hóa bộ máy chính
quyền thực dân đế quốc Đông Dương không làm Đảng ta bất ngờ, vì Đảng đã sớm dự báo
vấn đề này.
Khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, Đảng cho rằng nếu cuộc chiến tranh thế giới lần
thứ nhất (1914-1918) làm xuất hiện tình thế cách mạng Nga, dẫn tới cuộc Cách mạng
Tháng Mười năm 1917 nổ ra, thì cuộc chiến tranh thế giới lần này sẽ làm xuất hiện tình thế
cách mạng. Nắm vững vận dụng sáng tạo tưởng cách mạng của V.I.Lênin: giai cấp
sản nắm lấy ngọn cờ dân tộc, tự mình trở thành dân tộc, dựa trên sở phân tích diễn biến
tình hình Đông Dương lúc này, Đảng kịp thời đề ra chủ trương cách mạng mới. Chiến lược
cách mạng đã được Đảng xác định trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (1930), đó là
đường lối cách mạng sản VN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong ba Hội nghị
Trung ương 6, 7, 8, Đảng không có sự thay đổi chiến lược cách mạng, mà dựa trên cơ sở nắm
vững sự biến đổi của tình hình thế giới và Đông Dương, nhu cầu đòi hỏi khách quan của thực
tiễn cách mạng, bổ sung phát triển chiến lược cách mạng phù hợp nhằm thúc đẩy phong trào
đấu tranh cách mạng của quần chúng phát triển, mau chóng thắng lợi. Chủ trương của Đảng
trong ba Hội nghị Trung ương 6, 7, 8 sự nối tiếp, phát triển chiến lược cách mạng của
Đảng thời kỳ mới, thể hiện tư duy mới về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, tập
trung trong mấy vấn đề cơ bản:
Một là, chuyển hướng mục tiêu đấu tranh từ đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ hằng ngày lên
mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc.
Đảng khẳng định vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương lúc này là phải tập trung lực
lượng đánh đổ đế quốc tay sai phản động, giải phóng dân tộc. Trong các Hội nghị Trung
ương, Đảng chỉ tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. Cách nêu lên như vậy không
đồng nghĩa với việc Đảng từ bỏ cách mạng ruộng đất, vẫn thực hiện đồng thời. Sự sáng
tạo của Đảng trong chuyển hướng chỉ đạo là thực hiện nhiệm vụ chống phong kiến và nhiệm
vụ dân chủ khác rải ra làm từng bước, phục tùng và phục vụ cho nhiệm vụ hàng đầu là chống
đế quốc giải phóng dân tộc. Đây bước phát triển duy luận của Đảng so với thời kỳ
trước. Sự chuyển hướng nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng là nội dung quan trọng nhất trong chủ
trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng thời kỳ 1939-1945. Xét về thực chất, chủ
trương này của Đảng nhằm giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp,
dân tộc dân chủ trên lập trường giai cấp công nhân. Chủ trương ra đời không chỉ có giá trị
trong phân hóa lập kẻ thù, tập trung lực lượng chống kẻ thù chính, còn trực tiếp định
hướng thống nhất mọi hoạt động của các lực lượng cách mạng tập trung vào thực hiện thắng
lợi mục tiêu hàng đầu của cách mạng: giải phóng dân tộc.
Hai là, thành lập mặt trận dân tộc thống nhất riêng trong từng nước, lấy liên minh công -
nông làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trước khi diễn ra Hội nghị Trung ương 6, 7, 8, vấn đề thành lập, xây dựng phát triển lực
lượng cách mạng luôn được Đảng coi trọng, bởi không có lực lượng cách mạng thì không thể
làm cách mạng. Theo đó, Đảng từng bước lãnh đạo, chỉ đạo xúc tiến thành lập Mặt trận dân
chủ Đông Dương - mặt trận chung cho cả 3 dân tộc.
Từ khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, xuất hiện tình thế cách mạng, Đảng phân tích
kỹ lưỡng cho rằng tuy dân tộc VN, Lào, Campuchia cùng trên bán đảo Đông Dương, song
mỗi dân tộc lại những đặc điểm, yêu cầu riêng trong tập hợp lực lượng cách mạng. Vận
dụng luận Mác - Lênin về “quyền dân tộc tự quyết”, Đảng chủ trương mỗi nước thành lập
một mặt trận dân tộc thống nhất riêng. Tháng 5-1941, Mặt trận Việt Minh chính thức thành
lập ở VN. Chủ trương này của Đảng vừa tạo điều kiện để các lực lượng cách mạng trong từng
nước tận dụng những thế mạnh trong xây dựng phát huy kịp thời sức mạnh toàn dân tộc,
đồng thời khắc phục những biểu hiện thiếu tính chủ động, ỷ lại. Đảng cũng chỉ rõ việc thành
lập mặt trận dân tộc thống nhất riêng ở mỗi nước không có nghĩa tách biệt giữa các mặt trận,
các mặt trận phải liên minh chặt chẽ với nhau, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của
Đảng Cộng sản Đông Dương. Phải tích cực xây dựng, phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất
mỗi nước trở thành tổ chức tập hợp đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, trên nền tảng lấy liên
minh công - nông làm nòng cốt.
Ba là, chuyển hướng phương pháp đấu tranh cách mạng.Chủ trương phương pháp đấu
tranh cách mạng luôn được Đảng coi là vấn đề mấu chốt của chiến lược cách mạng.
Thắng lợi của cách mạng chỉ thể giành được trên sở chủ trương phương pháp cách
mạng đúng đắn. Thiếu phương pháp cách mạng đúng đắn thì dù chủ trương có đúng đến bao
nhiêu cũng không đem lại thắng lợi cho cách mạng. Trong thời kỳ 1936-1939, chủ trương của
Đảng tranh thủ điều kiện thuận lợi, sử dụng nhiều phương pháp đấu tranh công khai đòi
dân sinh, dân chủ, chống nguy chiến tranh phát xít. Đến khi chiến tranh thế giới lần thứ 2
nổ ra, bộ máy chính quyền thực dân đế quốc Đông Dương chuyển mạnh sang “phát xít
hóa”: chúng tăng cường đưa quân đội khủng bố, đàn áp, giết hại đồng bào, tìm phá các tổ
chức, đoàn thể cách mạng. Các Hội nghị Trung ương 6, 7, 8 của Đảng đều phân tích, thống
nhất rằng phương pháp cách mạng thời kỳ trước cần sự điều chỉnh cho phù hợp với đòi
hỏi của thực tiễn cách mạng. Theo tinh thần đó, Trung ương Đảng quyết định chuyển phương
pháp đấu tranh cách mạng sang thời kỳ mới: kết hợp đấu tranh bí mật, bất hợp pháp với tranh
thủ triệt để mọi điều kiện để xây dựng phát triển lực lượng; sử dụng kết hợp lực lượng, hình
thức đấu tranh chính trị với lực lượng, hình thức đấu tranh quân sự làm phương pháp đấu
tranh chủ yếu để giành chính quyền.
Đến Hội nghị Trung ương 8, Đảng chỉ phương thức (hình thái) đấu tranh giành chính
quyền đi từ khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Sự khẳng định như vậy của Đảng
thể hiện tính sáng tạo, xuất phát từ sự phân tích khoa học của Đảng về tính chất mâu thuẫn và
sự chín muồi không đều về thời khởi nghĩa. Việc xác lập hình thái đấu tranh mang tính
“giai đoạn” - khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa cho phép lực lượng cách mạng
trong từng nước, từng địa phương chủ động tận dụng tối đa mọi điều kiện, khả năng trong
xây dựng, phát huy sức mạnh lực lượng cách mạng khi thời cơ khởi nghĩa vũ trang xuất hiện.
Chủ trương này phản ánh duy sắc sảo của Đảng trong vận dụng sáng tạo tưởng của
V.I.Lênin về quy luật “thắng từng bước” vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở VN.
Bốn là, chuyển hướng công tác xây dựng Đảng.
Kể từ khi ra đời, công tác xây dựng Đảng luôn được Đảng coi nhiệm vụ chiến lược của
cách mạng sản VN. Trong thời kỳ 1939-1945, Đảng nhận định sẽ xuất hiện thời cơ cho
cuộc “cách mạng chính quyền”, do đó cần chuẩn bị đầy đủ các yếu tố, trong đó công tác xây
dựng Đảng đóng vai trò then chốt. Xét về nội hàm, cả ba Hội nghị Trung ương của Đảng đều
phân tích, chỉ rõ vấn đề gay cấn đang đặt ra đối với Đảng và cách mạng là thực trạng: đội ngũ
cán bộ, đảng viên còn thiếu nhiều, thành phần công nhân trong đảng còn ít; hệ thống tổ chức
của Đảng tuy đã phát triển nhưng chưa vững chắc, hoạt động thiếu tính thống nhất, mật,
trong khi chính quyền đế quốc phát xít và tay sai tìm mọi cách tìm diệt cán bộ, đảng viên, phá
tan tổ chức của Đảng, Nếu không kịp thời chỉ đạo chuyển hướng công tác xây dựng Đảng
theo đòi hỏi của tình hình thì chẳng những sức mạnh, năng lực lãnh đạo của Đảng bị ngưng
trệ, phong trào cách mạng khó thể phát triển giành thắng lợi. Chiến lược nhất quán
trong công tác xây dựng Đảng từ khi Đảng ra đời xây dựng vững mạnh, trong sạch cả 3
mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức.
Do yêu cầu cấp bách trong thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, các Hội nghị Trung ương
6, 7, 8 của Đảng đều nhấn mạnh là: gấp rút đào tạo cán bộ, tăng thành phần công nhân trong
Đảng, kiện toàn, củng cố vững chắc hệ thống tổ chức của Đảng, nhất là ở Lào và Campuchia.
Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng thời kỳ 1939-1945 xuất
phát từ đòi hỏi khách quan của thực tiễn cách mạng Đông Dương đặt ra. Đó chủ trương
đúng đắn, khoa học của Đảng trong giải quyết mối quan hệ giữa chiến lược và chỉ đạo chiến
lược trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Trên thực tế, chủ trương đó đã được Đảng
và HCM hiện thực hóa trong thực tiễn.
Dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương, chủ trương chuyển hướng chỉ
đạo chiến lược của Đảng được lực lượng cách mạng 3 nước quán triệt, thực hiện khẩn
trương: thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất trong từng nước; chủ động xây dựng phát triển
lực lượng chính trị quần chúng, lực lượng trang; củng cố, phát triển tổ chức đoàn thể
cách mạng; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng phát triển lực lượng với tổ chức quần chúng tranh
đấu giành độc lập dân tộc.
Đầu năm 1945, thực hiện mưu đồ nắm quyền thống trị Đông Dương, phát xít Nhật đảo
chính Pháp (9-3-1945), Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp Hội nghị mở rộng ở Đình
Bảng (Bắc Ninh), do đồng chí Trường Chinh (Tổng thư) chủ trì. Hội nghị đưa ra quyết
định lịch sử: Đánh đuổi phát xít nhật, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm
tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa khi thời chín muồi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiều
nhiệm vụ khẩn kíp được triển khai nhanh: thành lập căn cứ địa mới, thống nhất các chiến
khu, thống nhất lực lượng trang; tổ chức ủy ban dân tộc giải phóng các cấp, chuẩn bị
thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng VN (tức Chính phủ cách mạng lâm thời) v.v.. Ngay sau
Đại hội quốc dân họp Tân Trào (16-8-1945), HCM đã gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sĩ
cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy
đem sức ta tự giải phóng cho ta”[4]. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân ta
đã nhất tề vùng dậy, kết thành sức mạnh đại đoàn kết xuống đường tranh đấu, đánh sụp, xóa
bỏ bộ máy thống trị tàn bạo của phát xít Nhật tay sai, giành lại nền độc lập dân tộc.
Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch HCM thay mặt Chính phủ lâm thời
khảng khái đọc Tuyên Ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới về nền độc lập dân
tộc và sự ra đời của nước VN Dân chủ Cộng hòa.
Thắng lợi của CMT8/1945 mốc lịch sử mở đầu cho sự phát triển mới của cách mạng VN.
Chủ tịch HCM đã viết: “Đó một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”[5].
Đã 70 năm trôi qua (1945-2015), song thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta trong CMT8/1945 vẫn
bản anh hùng ca bất hủ, thực tiễn sinh động chứng minh duy chính trị sắc sảo, nghệ
thuật lãnh đạo xuất sắc của một Đảng mácxít chân chính mới 15 tuổi. Đó cũng là một trong
những bằng chứng thực tiễn đập tan luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò to lớn của Đảng
đối với cách mạng VN của các thế lực thù địch. Những kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ
đạo CMT8/1945 tiếp tục được Đảng ta kế thừa, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng ở
giai đoạn mới, với việc đề ra nhiều quyết sách chiến lược mới hết sức đúng đắn, đem lại
những thành tựu to lớn, bền vững trong suốt mấy thập kỷ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc VN xã
hội chủ nghĩa.
9. Hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia/vùng lãnh thổ với nhau
thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu
phát triển của bản thân mỗi quốc gia/vùng lãnh thổ đó nhằm tạo thành sức mạnh tập thể
giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm. Hội nhập quốc tế theo đúng nghĩa
đầy đủ hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Về bản chất, hội nhập
quốc tế chính một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được một mục
tiêu hoặc lợi ích chung nào đó.
Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước ta đã chủ trương tham
gia các thể chế kinh tế. Lời kêu gọi trong thư gửi Liên hợp quốc tháng 12/1946 của Chủ tịch
Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính
sách mở cửa hợp tác trong mọi lĩnh vực: (a). Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi
cho đầu của các nhà bản, nha kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của
mình; (b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay đường giao thông cho
việc buôn bán quá cảnh quốc tế; (c) Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác
kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc”.
Từ những năm 1980 đến nay, Đảng Nhà nước ta đã sớm nhận thức được tính cần thiết và
tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế. Đường lối, chủ trương hội nhập kinh tế của Đảng đã
được đề ra nhất quán, không ngừng được hoàn thiện triển khai tích cực, phù hợp với tình
hình cụ thể của đất nước. Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã đề ra đường lối Đổi mới toàn
diện sâu sắc mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Nếu như tại Đại hội V (1982), Đảng chỉ xác
định “Ưu tiên mở rộng sự hợp tác toàn diện giữa nước ta với Liên Xô và các nước trong Hội
đồng tương trợ kinh tế” thì đến Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Đảng đã đưa ra chủ trương
tranh thủ những điều kiện thuận lợi về hợp tác kinh tế khoa học kỹ thuật, tham gia ngày
càng rộng rãi vào việc phân công và hợp tác quốc tế trong “Hội đồng tương trợ kinh tế và mở
rộng với các nước khác”; xác định quan hệ kinh tế quốc tế giai đoạn này không chỉ tập trung
vào Liên các nước trong cùng hệ thống xã hội chủ nghĩa mà phải mở rộng quan hệ với
các nước thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài
trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.
Tới Đại hội VII (1991), Đảng ta định hướng: “Độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa
quan hệ đối ngoại” với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng
đồng quốc tế, phấn đấu hòa bình, độc lập phát triển”. Đây một cột mốc quan trọng
đánh dấu bước khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ mới.
Nhờ chủ trương này, Việt Nam đã đẩy lùi được chính sách bao vây cô lập, không ngừng mở
rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại song phương và đa phương.
Taị Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996), thuật ngữ “hội nhập” mới bắt đầu được đề cập trong
văn kiện của Đảng: “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới”. Đây là
lần đầu tiên Nghị quyết của Đảng đề cập đến việc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế nhằm mục tiêu phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước. Điều này đánh dấu một bước
chuyển biến bản trong nhận thức về nhu cầu cần tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế. Đại hội IX (2001) nhấn mạnh việc “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế khu vực theo
tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ
định hướng hội chủ nghĩa”. Đại hội đã khẳng định tính tất yếu, đánh giá bản chất của
toàn cầu hóa và cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam khi tham gia quá trình này.
Giai đoạn sau này (Đại hội IX, X, XI, XII), Đảng đã nhấn mạnh tới việc chủ động, tích cực

Preview text:


1. Đảng Cộng sản Việt nam ra đời là một tất yếu của lịch sử
Từ hoàn cảnh lịch sử thế giới
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn
đế quốc chủ nghĩa. Chính bước chuyển này đã làm cho mâu thuẫn trong thế giới TBCN ngày
càng trở nên gay gắt. Mâu thuẫn này tạo ra tính tất yếu của cách mạng vô sản, phạm trù cách
mạng thế giới chuyển sang phạm trù cách mạng vô sản, cách mạng XHCN. Cùng với mâu
thuẫn nội tại trong bản thân mỗi nước tư bản thì thời điểm này cũng xuất hiện mâu thuẫn giữa
các nước tư bản với nhau do tranh giành thuộc địa, phân chia thị trường và khu vực ảnh
hưởng. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918).
Đặc biệt là sự thống trị tàn bạo của CNĐQ làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với
CNĐQ thực dân ngày càng trở nên gay gắt và trở thành một vấn đề mang tính thời đại.
Các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác- Lênin đã xây dựng nên học thuyết lý luận cách mạng
không ngừng, với nội dung cơ bản: Giai cấp công nhân, sau khi đã trưởng thành về trình độ
giác ngộ, trình độ tổ chức, có đủ khả năng và điều kiện lãnh đạo cuộc cách mạng dân chủ tư
sản trên cơ sở liên minh với giai cấp nông dân đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế phong
kiến. Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân trở thành lực lượng chủ yếu đánh đổ chế độ chuyên chế phong kiến, thành lập
nhà nước chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân.
Trong lúc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là khi
được trang bị bởi một học thuyết cách mạng và khoa học, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên nổ
ra và giành thắng lợi tại Nga năm 1917. Thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng mười đã cổ vũ
phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, đặc biệt là
nhân dân các nước thuộc địa.
Cuộc cách mạng Tháng Mười Nga 1917 cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, dẫn tới sự ra đời của hàng loạt các đảng cộng
sản. Tình hình đó đòi hỏi phải có một tổ chức quốc tế đứng ra lãnh đạo, tập trung sức mạnh
của phong trào ở tất cả các quốc gia, dân tộc (Quốc tế II đã không còn vai trò tiên phong kể
từ sau khi Ăngghen qua đời năm 1895). Tháng 3- 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập,
với khẩu hiệu "Vô sản thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại" đã đánh dấu một giai
đoạn mới của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. "Lần đầu tiên trong lịch sử, quốc tế
Cộng sản đã chỉ rõ sự đoàn kết tất yếu, liên minh chiến đấu giữa giai cấp vô sản và các dân
tộc thuộc địa đang rên xiết dưới ách thống trị thực dân".
Đến yêu cầu lãnh đạo phong trào đấu tranh trong nước
Trước 1930, phong trào yêu nước ở Việt Nam nổ ra mạnh mẽ như phong trào Cần Vương,
Yên Thế, các khuynh hướng cứu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,..nhưng đều bị
thất bại, do bị khủng hoảng về đường lối cách mạng. Sự thất bại của các phong trào yêu nước
cuối TK XIX đầu TK XX chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư
tưởng tư sản đã lâm vào bế tắc. Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải có Đảng của giai cấp tiên
tiến nhất để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Từ 1919 -1929, thông qua hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị về tư tưởng, chính trị
và tổ chức cho sự thành lập Đảng. Nguyễn Ái Quốc đã ra sức tuyên truyền chủ nghĩa Mác-
Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng chính trị. Thành lập hội Việt Nam cách mạng
thanh niên để thông qua tổ chức này truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.
Những năm 1928 – 1929, chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá sâu rộng vào Việt Nam, làm
cho phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ. Một yêu cầu cấp thiết
đặt ra là phải có đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo. Đáp ứng yêu cầu đó ở Việt Nam lần lượt
xuất hiện ba tổ chức cộng sản. Sự hoạt động riêng rẽ của ba tổ chức cộng sản gây ảnh hưởng
không tốt đến tiến trình cách mạng Việt Nam.
Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức
được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng cộng sản thống nhất, chấm dứt tình
trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức và chủ trì hội nghị
hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930. Hội nghị đã
quyết định hợp nhất 3 tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng,
Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thông qua các
văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của
Đảng. Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3-2
hàng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy
nhất, theo một đường lối chính trị đúng đắn đã tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và
hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Sự ra đời của Đảng là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh
giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng
Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu
một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta.
Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân trọn
vẹn nhất cho sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc
và quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Việc thành lập Đảng là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử công nhân và của cách mạng Việt
Nam, chứng tỏ giai cấp vô sản nước ta trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng, chấm dứt
thời kỳ khủng hoảng về vai trò lãnh đạo và đường lối trong phong trào cách mạng Việt Nam.
Từ đây, cách mạng Việt Nam đã thuộc quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân mà
đội tiên phong là Đảng cộng sản.
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và việc ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương
lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương
hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời đã nắm được
ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình trạng khủng hoảng
về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con
đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam. Chính đường lối này là cơ sở
đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư
tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này.
Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng
Việt Nam trong suốt 86 năm qua.
Với chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới,
ĐCSVN đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang. Đồng thời cách mạng Việt
Nam cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà
bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
2. Tính đúng đắn, sáng tạo của chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt
Thứ nhất, Dựa trên nền tảng lý luận Mác Lênin, cương lĩnh xác định, về đường lối chiến
lược của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh xác định cách mạng Việt Nam nằm trong phạm
trù cách mạng vô sản, độc lập dân tộc là bước đi đầu tiên, là điều kiện tiên quyết để đi đến xã
hội cộng sản. Chánh cương vắn tắt của Đảng viết: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ
địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[1]. Với việc xác định đường lối chiến lược của
cách mạng Việt Nam là làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã
hội cộng sản đã cho thấy, ngay từ trong Cương lĩnh đầu tiên, Đảng đã xác định con đường
phát triển của cách mạng Việt Nam là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp giải
phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Thứ hai, về nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng. Cương lĩnh đã xác định những nhiệm vụ cơ
bản, những mục tiêu cấp bách của cách mạng Việt Nam: Về phương diện chính trị: Đánh đổ
đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập;
Dựng ra Chính phủ công nông binh; Tổ chức ra quân đội công nông. Về phương diện xã hội:
Dân chúng được tự do tổ chức; Nam nữ bình quyền; Phổ thông giáo dục theo công nông hóa.
Về phương diện kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; Thâu hết sản nghiệp lớn (như công
nghiệp, vận tải, ngân hàng...) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công
nông binh quản lý; Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày
nghèo; Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; Mở mang công nghiệp và nông nghiệp; Thi hành luật ngày làm 8 giờ.
Thứ ba, về lực lượng cách mạng. Cương lĩnh xác định lực lượng cách mạng gồm toàn bộ
những người Việt Nam yêu nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, bao gồm: Công nhân, Nông
dân, Tiểu tư sản, Trí thức, Trung nông...; tranh thủ, làm trung lập phú nông, trung, tiểu địa
chủ, tư sản. Điều này thể hiện sự tận dụng hết tất cả lực lượng có thể có lợi cho cách mạng
Việt Nam, trong đó công nhân là lãnh đạo, nông dân là nòng cốt, ngoài ra còn có sự tham gia giúp
sức của các giai cấp, tầng lớp khác, để những người cho dù không theo cách mạng
nhưng cũng sẽ là trung lập.
Thứ tư, về vấn đề đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Cương
lĩnh xác định cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới. Nội dung này thể hiện
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp cuộc đấu tranh giải phóng của dân
tộc Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, với phong trào đấu tranh của các dân tộc bị
áp bức và với nhân loại tiến bộ là một vấn đề khách quan. Quan điểm này đã được hiện thực
hóa trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và là yếu tố quan trọng tạo nên
thành công của cách mạng Việt Nam trong suốt chặng đường qua.
Thứ năm, về phương pháp cách mạng. Cương lĩnh xác định phương pháp thực hiện độc lập
dân tộc, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội phải tiến hành bằng con đường cách mạng, sử
dụng phương pháp cách mạng bạo lực; không đi vào con đường cải lương, thỏa hiệp. Việc
xác định phương pháp cách mạng như vậy thể hiện Đảng đã quán triệt sâu sắc quan điểm của
Chủ nghĩa Mác – Lênin về bạo lực cách mạng và cũng xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, thực
dân Pháp luôn dùng bạo lực phản cách mạng để đàn áp Nhân dân, vì vậy muốn thoát khỏi sự
áp bức, bóc lột của thực dân Pháp thì không có con đường nào khác con đường bạo lực cách
mạng, chứ không phải con đường cải lương, thỏa hiệp. Quan điểm dùng bạo lực cách mạng
chống lại bạo lực phản cách mạng của được nêu trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên là cơ sở
cho đường lối quân sự với phương pháp cách mạng đúng đắn của Đảng ta trong lãnh đạo
cách mạng, là một trong những yếu tố hết sức quan trọng để đưa tới thắng lợi của cách mạng
Việt Nam trong đấu tranh giành chính quyền và trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm,
để đem lại nền hòa bình cho dân tộc.
Thứ sáu, về vai trò lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh xác định lực lượng lãnh đạo cách mạng
Việt Nam là Đảng Cộng sản Việt Nam, “đội tiên phong của vô sản giai cấp”. Đảng lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng. Nội dung này vừa khẳng định vai trò và bản chất
giai cấp của Đảng, vừa là sự định hướng quan trọng cho công tác xây dựng Đảng. Chính vì
vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn khẳng định và quan tâm bồi đắp bản
chất giai cấp công nhân của Đảng; khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng,
kim chỉ nam cho hành động của Đảng. 4. Khoa học công nghệ
Đổi mới sáng tạo, khoa học và công nghệ là động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ở Việt Nam, đổi mới sáng tạo được các nhà nghiên cứu coi là yếu tố kép khi nó vừa tạo ra,
ứng dụng các thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, vừa là giải pháp quản lý để nâng cao
năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và hiệu quả phát triển
kinh tế - xã hội. Quan điểm về phát triển và ứng dụng thành tựu khoa học và kỹ thuật - nội
hàm của đổi mới sáng tạo - hình thành trên cơ sở các quan điểm về đổi mới kinh tế, đẩy mạnh
quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng (năm 1986) đề ra và từ đó đến nay đã trở thành một tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.
Tại Đại hội VI, Đảng ta xác định: “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm
còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây
dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong
chặng đường tiếp theo”. Đại hội VI cũng đã nêu lên quan điểm cần xúc tiến và hoàn thành
việc xác định “chiến lược phát triển khoa học và kỹ thuật, làm luận cứ khoa học cho chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội... phải lựa chọn và tổ chức áp dụng rộng rãi các thành tựu
khoa học và kỹ thuật thích hợp”. Trong giai đoạn này, các quan điểm phát triển khoa học và
kỹ thuật được đề cập trong văn kiện mới chỉ xác định mô hình khoa học - công nghệ, chưa có
những chỉ đạo quyết liệt về việc áp dụng các mô hình này vào thực tiễn.
Kế thừa các quan điểm trên, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) nhấn mạnh: “Khoa học và
giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ
tiên tiến của thế giới”. Từ việc nhấn mạnh vai trò của khoa học và giáo dục, Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) khẳng định quan điểm
của Đảng là “Khoa học và công nghệ,… phải được xem là quốc sách hàng đầu”, đồng thời
khẳng định nhiệm vụ trung tâm để từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội là “phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện
đại”. Cụ thể hóa chỉ đạo này, Hội nghị Trung ương 7 khóa VII nhấn mạnh, phát triển khoa
học và công nghệ - nền tảng của phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa - là sự nghiệp của toàn xã hội, của mọi thành phần kinh tế, do đó cần “gắn khoa học -
công nghệ với sản xuất, dịch vụ; gắn các chương trình phát triển khoa học - công nghệ với
các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, khuyến khích sự sáng tạo của các nhà khoa học,
đồng thời coi trọng phát huy sáng kiến của mọi người lao động”. Lúc này, trước yêu cầu của
sự chuyển đổi kinh tế mạnh mẽ theo hướng công nghiệp, hiện đại, yếu tố khoa học, công
nghệ được coi là “nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Quan điểm này của Đảng cho
thấy tầm quan trọng của khoa học và công nghệ trong sự phát triển của lực lượng sản xuất,
nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng, tốc độ phát triển của nền kinh tế.
Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII ban hành Nghị quyết số 02-NQ/HNTW, ngày 24-12-1996,
“Về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”, chỉ ra một số hạn chế về công tác phát triển khoa
học và công nghệ, đó là chưa thường xuyên chỉ đạo và kiểm tra thực hiện những mục tiêu,
phương hướng, chủ trương, cũng như chưa có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ
phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong điều kiện mới. Để giải quyết những vấn đề
này, Đảng đã đưa ra các định hướng quan trọng, đó là: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước phải bằng và dựa vào khoa học, công nghệ… Khoa học và công nghệ là nội dung then
chốt trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, các cấp, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tǎng
trưởng kinh tế và củng cố quốc phòng - an ninh… Phát triển khoa học, công nghệ gắn liền
với bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững”.
Trong giai đoạn này, Đảng đã chủ trương mở rộng phạm vi phát triển khoa học và công nghệ
trong tất cả các ngành, các lĩnh vực: “Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học
tự nhiên và công nghệ tiên tiến trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý
và quốc phòng - an ninh. Nắm bắt công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh
học, công nghệ vật liệu mới, những công nghệ mới trong chế tạo máy… để có thể đi nhanh
vào hiện đại ở những khâu quyết định” và “thúc đẩy các doanh nghiệp, nhất là các doanh
nghiệp lớn của Nhà nước đổi mới công nghệ, thu hút lực lượng nghiên cứu - triển khai về các
doanh nghiệp”. Đặc biệt, để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày
17-10-2000, “Về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, tập trung chỉ đạo giải quyết các vấn đề về mở rộng kết cấu hạ
tầng mạng thông tin quốc gia với giá thành rẻ, chất lượng cao, tốc độ ổn định; phát triển
nguồn nhân lực công nghệ thông tin, hình thành ngành kinh tế công nghiệp công nghệ thông
tin, đặc biệt là công nghệ phần mềm.
Đến Đại hội IX của Đảng (năm 2001), Đảng ta xác định mô hình kinh tế tổng quát của thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa”. Quan điểm này đã thể hiện nhận thức rõ ràng về đổi mới ở Việt Nam, gắn cụ thể với
một mô hình kinh tế nhằm bảo đảm về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất trong tình hình mới. Với mô hình này, đường lối phát triển kinh
tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 là: “Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững... Tạo chuyển
biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người”. Tuy
nhiên, trước các vấn đề nổi cộm trong nước, như “các hoạt động khoa học và công nghệ chưa
đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; “cơ chế chính sách không
đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển”; “một số quan điểm, chủ trương chưa rõ,
chưa có sự nhận thức thống nhất và chưa được thông suốt ở các cấp, các ngành. Trong cán
bộ, đảng viên có những cách hiểu và cách làm không thống nhất về những vấn đề như: xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế
nhà nước, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước,
chính sách về đất đai, kinh tế trang trại, nội dung và bước đi công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, do đó, tại Đại hội
này, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh “tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến,
đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều
hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng
bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người
Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Như vậy, tại Đại hội IX, các yếu tố trụ cột của
đổi mới sáng tạo là nhân tố con người, kinh tế tri thức, khoa học và công nghệ, giáo dục và
đào tạo đã được nhìn nhận và được chỉ đạo thực hiện khá cụ thể. Đặc biệt là vai trò của kinh
tế tri thức, của sự sáng tạo, các phát minh khoa học, nguồn nhân lực lao động chất lượng cao
đã được Đảng ta chỉ ra rõ ràng hơn trong chỉ đạo phát triển kinh tế. Cùng với đó, giáo dục và
đào tạo, khoa học và công nghệ được coi là nền tảng, đồng thời là động lực của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây cũng là những yếu tố quan trọng để rút ngắn thời gian của
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta. Tuy nhiên, nội hàm của đổi mới sáng tạo
vẫn chưa được nêu lên một cách rõ nét.
Đại hội X của Đảng nhận định, mặc dù đạt được nhiều thành tựu nhưng trình độ khoa học,
công nghệ; năng suất lao động; chất lượng giáo dục và đào tạo vẫn còn không ít những hạn
chế. Khoa học và công nghệ chưa đáp ứng kịp yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
chưa thật sự trở thành động lực thúc đẩy, gắn kết chặt chẽ với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội… Do đó, Đại hội lần thứ X của Đảng (năm 2006) nhấn mạnh: “Giáo dục và
đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc
đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục khẳng định chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững. Đại hội xác định phải đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, tiếp tục thực hiện quan điểm khoa học và công nghệ gắn với kinh tế tri
thức được đề ra từ Đại hội X. Thực hiện đồng bộ ba nhiệm vụ chủ yếu là: “Nâng cao năng
lực khoa học, công nghệ; đổi mới cơ chế quản lý; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng”; đồng
thời, Đại hội cũng chỉ ra: “Phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo,
khoa học, công nghệ… Phát huy và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn tri thức của con người
Việt Nam, khai thác nhiều nhất tri thức của nhân loại. Xây dựng và triển khai lộ trình phát
triển kinh tế tri thức đến năm 2020. Để đạt được các mục tiêu trên, Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định,
cần “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo
vệ tài nguyên, môi trường”. Như vậy, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ chính là
quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã
hội, bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư, trước hết
trong hoạt động của các cấp, các ngành.
Cùng với sự phát triển trong quan điểm về đổi mới sáng tạo trên thế giới, tại Đại hội lần thứ
XII của Đảng (năm 2016), khoa học và công nghệ tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quốc sách
hàng đầu đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới, là động lực quan trọng để phát
triển kinh tế; đồng thời Đại hội đã bổ sung thêm quan điểm lấy khoa học, công nghệ, tri thức
và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu.
Tại Đại hội XIII của Đảng, lần đầu tiên cụm từ “đổi mới sáng tạo” với tư cách là thuật ngữ
riêng đã được đưa vào Văn kiện. Đổi mới sáng tạo được xác định là một nội dung của đột phá
chiến lược thứ nhất trong ba đột phá chiến lược phát triển trong giai đoạn 2021 - 2025, đồng
thời nội hàm của đổi mới sáng tạo cũng phần nào được làm rõ qua các định hướng, mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trên tất cả các lĩnh vực.
Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ và có hiệu quả mô hình tăng trưởng, cơ cấu
lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học và công nghệ,
đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã
khẳng định: “Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách
hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại,…”; “Đẩy mạnh
nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là
những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, để khoa học và công nghệ thực
sự là động lực chính của tăng trưởng kinh tế” và “bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa
học và công nghệ,… thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.
Đại hội XIII của Đảng khẳng định và củng cố vai trò của đổi mới sáng tạo thông qua 3 nhiệm
vụ đột phá chiến lược: (1) “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển”, “thúc đẩy đổi mới sáng
tạo”; (2) “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”; (3) “Xây dựng
hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội”. Cả 3 đột phá chiến lược
này đều tạo cơ chế cho đổi mới sáng tạo, cũng như lấy đổi mới sáng tạo làm cơ sở, động lực cho sự phát triển.
Đại hội XIII của Đảng còn đề cập đến một số nội dung cụ thể của đổi mới sáng tạo trong giai đoạn 2021 - 2030.
Trong lĩnh vực kinh tế, đổi mới sáng tạo được thực hiện song song với đổi mới mô hình tăng
trưởng kinh tế, tập trung vào “thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, kinh tế số, phát triển các mô
hình kinh tế mới, khởi nghiệp sáng tạo”; trong lĩnh vực khoa học và công nghệ chú trọng “lấy
doanh nghiệp làm trung tâm; thúc đẩy phát triển mô hình kinh doanh mới, kinh tế số, xã hội
số”, “thực hiện chuyển đổi số trong quản trị quốc gia, quản lý nhà nước, sản xuất, kinh
doanh, tổ chức xã hội và quản lý tài nguyên quốc gia”; trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đổi
mới sáng tạo luôn song hành với quá trình “nghiên cứu, triển khai, ứng dụng các thành tựu
khoa học và công nghệ mới; hình thành các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, các nhóm đổi mới
sáng tạo mạnh”; trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, đổi mới sáng tạo tập trung vào “tăng
cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học y học, phát triển các ngành khoa học phục vụ bảo vệ,
chăm sóc sức khỏe con người. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ
thông tin, công nghệ số trong khám, chữa bệnh”; trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đổi mới
sáng tạo là nhiệm vụ quan trọng nhằm “đẩy mạnh đầu tư và ứng dụng khoa học, công nghệ…
phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng, ngày càng hiện đại, có
trình độ khoa học - công nghệ cao”.
Từ sự cụ thể hóa của các đột phá chiến lược giai đoạn 2021 - 2030 cho thấy, có sự phát triển
mạnh mẽ trong tư duy khi làm rõ nội hàm của đổi mới sáng tạo, đó là hệ thống các yếu tố tổ
chức, thể chế, cấu trúc kinh tế tương tác lẫn nhau quy định tốc độ, phương hướng và chất
lượng của đổi mới. Những quan điểm này thể hiện quyết tâm cao về đổi mới sáng tạo và ngày
càng hoàn thiện các yếu tố thúc đẩy đổi mới sáng tạo để đạt được sự phát triển.
Như vậy, qua các kỳ đại hội kể từ Đại hội VI, Đảng ta đã thể hiện quyết tâm phát triển và ứng
dụng các thành tựu của khoa học và kỹ thuật đối với tiến trình phát triển đất nước. Đặc biệt,
tại Đại hội XIII của Đảng, tinh thần này, nhất là yếu tố đổi mới sáng tạo, được thể hiện xuyên
suốt, thống nhất, cụ thể trong Văn kiện của Đại hội, từ mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể
đến định hướng phát triển của đất nước… Các quan điểm này đã thể hiện sự kế thừa tư duy
đổi mới của Đảng qua các kỳ đại hội và tầm nhìn của Đảng trước yêu cầu xây dựng và phát
triển đất nước trong tình hình mới. 5. Ngoại giao văn hóa
Ngoại giao văn hóa là một quá trình đưa văn hóa Việt Nam ra thế giới, trên cơ sở lưu giữ
những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hóa của
nhân loại trong ba trụ cột của nền ngoại giao toàn diện Việt Nam thời kỳ hội nhập toàn cầu.
Với tính mềm dẻo và linh hoạt, ngoại giao văn hóa đã phát huy vai trò tích cực của mình đối
với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần tạo nên sức
mạnh tổng hợp quốc gia, phục vụ triển khai các mục tiêu đối ngoại của đất nước.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng diễn ra sâu rộng, văn hóa được
nhiều quốc gia sử dụng như một công cụ đắc lực của “quyền lực mềm”. Hầu hết các nước,
không chỉ các nước phát triển, mà cả các nước mới nổi đều có chính sách truyền bá văn hóa
ra nước ngoài, qua đó thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại. Qua ngoại giao văn
hóa, các quốc gia, nhất là các nước lớn, mở rộng ảnh hưởng của mình đối với thế giới. Mỹ,
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,... là những quốc gia luôn tích cực triển khai mở rộng các
“giá trị” và ảnh hưởng của mình thông qua các hoạt động ngoại giao văn hóa. Đối với các
quốc gia đang phát triển như Việt Nam, ngoại giao văn hóa phát huy vai trò như một phương
thức nhằm lan tỏa giá trị văn hóa, con người, quảng bá hình ảnh, nâng cao vị thế, tiếng nói
của đất nước trên trường quốc tế; đồng thời, tạo thêm nhiều động lực, dư địa cho sự phát
triển. Trên lĩnh vực kinh tế, ngoại giao văn hóa còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo
“sức hút”, thu hút nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh đó, trong quá trình trao đổi, tương tác văn hóa,
các quốc gia sẽ có sự trao đổi, giao thoa, lĩnh hội về văn hóa, bồi đắp thêm cho kho tàng văn
hóa của mỗi nước; đồng thời, tiếp biến, gìn giữ, phát huy và điều chỉnh các giá trị văn hóa
riêng của quốc gia phù hợp với dòng chảy chung của thế giới, thời đại.
Ngoại giao văn hóa là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền ngoại giao Việt Nam toàn
diện, hiện đại. Trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm gìn giữ độc lập, chủ quyền, thống
nhất và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước, ông cha ta đã
vận dụng ngoại giao văn hóa một cách sáng tạo, linh hoạt thông qua chiến lược “ngoại giao
tâm công”, “ngoại giao hòa hiếu”.
Việt Nam là đất nước có nền văn hóa, văn hiến lâu đời, có bề dày lịch sử hàng nghìn năm.
Nền văn hóa đó có hệ giá trị và bản sắc riêng, tạo nên “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt
Nam. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tiến trình hội nhập sâu rộng, toàn diện với thế giới
và khu vực, việc nâng cao sự hiểu biết của các đối tác, bạn bè quốc tế về đất nước, văn hóa,
con người Việt Nam cũng như những định hướng, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Điều này có tác động tạo nền tảng nhận thức
và tình cảm của người dân các nước, qua đó góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác, phát triển,
nâng cao vị thế, hình ảnh và sức mạnh tổng hợp quốc gia. Chính vì vậy, ngoại giao văn hóa
được xác định là một trụ cột, cùng với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, tạo nên nền
ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại. Trong đó, ngoại giao chính trị có vai trò xác định
mục tiêu, định hướng cho công tác ngoại giao văn hóa. Ngoại giao kinh tế là nền tảng vật
chất, tạo nguồn lực để thúc đẩy ngoại giao văn hóa. Ở mối quan hệ ngược lại, ngoại giao văn
hóa chuyển tải các giá trị văn hóa, bản sắc, hòa hiếu, nhân văn vào ngoại giao chính trị, từ đó
góp phần thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, quảng bá hình ảnh quốc gia,
thương hiệu địa phương, phục vụ phát triển đất nước, khơi dậy tình cảm gắn bó, hướng về
quê hương đất nước của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Ngoại giao văn hóa phát huy vai trò là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao toàn diện Việt Nam
Trong những năm qua, về cơ bản, hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là
xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế. Các quốc gia ngày càng coi trọng việc gìn giữ và phát
huy bản sắc, sức mạnh mềm văn hóa trong quan hệ đối ngoại. Sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học - công nghệ tạo ra những công cụ đắc lực phục vụ việc truyền tải nhanh, rộng rãi
các nội dung về văn hóa. Đây là nền tảng thuận lợi để các quốc gia tăng cường quan hệ hữu
nghị, hợp tác và thúc đẩy các hoạt động trao đổi, giao lưu văn hóa. Bên cạnh những mặt
thuận, sự gia tăng cạnh tranh, xung đột giữa các nước lớn trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn
hóa; những mâu thuẫn văn hóa, tôn giáo, sắc tộc vẫn tồn tại và là một phần nguyên nhân sâu
xa của những xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ; sự bùng phát của những trào lưu tư
tưởng, văn hóa độc hại, những xu hướng chính trị cực đoan, dân tộc hẹp hòi,... đã gây ra
nhiều tác động không thuận, có phần làm suy giảm, kìm hãm sự phát triển và ảnh hưởng của
các hoạt động hợp tác, giao lưu quốc tế về văn hóa.
Đại hội XI của Đảng (tháng 1- 2011) xác định chủ trương “chủ động, tích cực hội nhập quốc
tế”, cụm từ “ngoại giao văn hóa” lần đầu tiên được sử dụng, được đặt vị trí ngang hàng với
ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế. Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2020 do
Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 208/2011/QĐ-TTg, ngày 14-2-2011, nhấn
mạnh quan điểm: “Ngoại giao văn hóa cùng với ngoại giao kinh tế và ngoại giao chính trị là
ba trụ cột của nền ngoại giao toàn diện, hiện đại Việt Nam. Ba trụ cột này gắn bó, tác động
lẫn nhau, góp phần thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Ngoại
giao chính trị có vai trò định hướng, ngoại giao kinh tế là nền tảng vật chất và ngoại giao văn
hóa là nền tảng tinh thần của hoạt động đối ngoại”. Cùng với đó, các điều ước và thỏa thuận
quốc tế về văn hóa được ký kết mới hoặc gia hạn đã tạo cơ sở pháp lý, nâng cao nhận thức về
ngoại giao văn hóa và từng bước thể chế hóa vai trò của ngoại giao văn hóa trong các hoạt
động đối ngoại của đất nước.
Công tác ngoại giao văn hóa đã được triển khai ngày càng bài bản và chuyên nghiệp, gắn kết
và thúc đẩy thực hiện ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế, góp phần tạo nên sức mạnh
tổng hợp quốc gia, phục vụ triển khai các mục tiêu đối ngoại của đất nước.
Ngoại giao văn hóa đã trở thành một trong những hoạt động chính trong nội dung các đề án,
chương trình, kế hoạch hoạt động đối ngoại lớn của các cấp, các ngành và địa phương. Các
hoạt động ngoại giao văn hóa được triển khai trên diện rộng, cả trong và ngoài nước, tại tất cả
các châu lục; đa dạng về đối tượng, phong phú về nội dung và hình thức, bài bản trong các
chuyến thăm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cũng như việc tiếp đón nguyên thủ nhiều nước
thăm Việt Nam; các hội nghị, sự kiện quốc tế lớn do Việt Nam đăng cai tổ chức; các dịp kỷ
niệm năm tròn, năm chẵn thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các quốc gia. Qua
các hoạt động này, tinh thần, bản sắc văn hóa Việt Nam được khéo léo truyền tải, khẳng định
đường lối đối ngoại nhất quán là độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển,
đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện; đồng thời, làm nổi bật
nét đẹp của truyền thống nhân nghĩa, thủy chung, hòa bình, hòa hiếu, hữu nghị của Việt Nam.
Ngoại giao văn hóa kết hợp chặt chẽ với ngoại giao kinh tế trong các hoạt động xúc tiến đầu
tư, thương mại, du lịch nhằm xây dựng hình ảnh Việt Nam là điểm đến hấp dẫn trên thế giới
với thể chế chính trị ổn định, con người hòa hiếu, nền văn hóa đặc sắc, đa dạng. Tổ chức
Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận nhiều danh hiệu di
sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của Việt Nam. Việc ghi danh vào các danh sách di sản văn
hóa và thiên nhiên thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới và công viên địa chất toàn cầu
không chỉ đơn thuần là cam kết quốc gia, mà còn là mô hình khai thác phục vụ nhu cầu phát
triển xanh và bền vững. Tính đến tháng 12-2020, Việt Nam đã xây dựng hồ sơ, vận động
thành công UNESCO công nhận 44 di sản, danh hiệu các loại. Nhiều địa phương đã thành
công trong việc đưa du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn dựa trên khai
thác thế mạnh về danh lam thắng cảnh và các di sản văn hóa, qua đó tô đậm hơn hình ảnh đất
nước Việt Nam trên bản đồ di sản, văn hóa thế giới; đồng thời, góp phần quảng bá sự đa dạng
về sinh học, văn hóa, truyền thống, con người Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Thông qua các hoạt động ngoại giao văn hóa, hình ảnh đất nước, con người, nét đẹp của văn
hóa Việt Nam được quảng bá và được biết tới ở nhiều quốc gia, nhiều khu vực trên thế giới.
Các hoạt động quảng bá được tích cực triển khai tại những sự kiện đối ngoại, lễ hội, hội chợ,
festival văn hóa, du lịch, chương trình tuần/ngày Việt Nam ở nước ngoài tại các nước là đối
tác chiến lược, đối tác toàn diện của Việt Nam, các đề án vinh danh các anh hùng dân tộc,
danh nhân văn hóa, nhất là Đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân
tộc Việt Nam, Nhà văn hóa kiệt xuất, ở nước ngoài” đã được triển khai có hiệu quả tại hơn
100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới... Việc gắn kết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hóa, du lịch và công tác cộng đồng được đặc biệt chú trọng, đã góp phần giới thiệu với bạn bè
quốc tế về hình ảnh đất nước Việt Nam có lịch sử hào hùng, một đất nước tươi đẹp và giàu
tiềm năng phát triển; con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân ái, khoan dung, trọng
tình nghĩa, cần cù, sáng tạo, thân thiện, mến khách; nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc. Các hoạt động này cũng góp phần truyền tải tới bạn bè quốc tế, cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài thông điệp về các chủ trương, định hướng phát triển và hội
nhập quốc tế của Việt Nam.
Trong khuôn khổ các diễn đàn đa phương, ngoại giao văn hóa đã góp phần tích cực đưa đất
nước từng bước hội nhập sâu rộng về văn hóa, nâng cao năng lực chủ động, tham gia xây
dựng “luật chơi” tại các diễn đàn, có nhiều đóng góp tích cực cho các mục tiêu hòa bình, an
ninh, phát triển và tăng cường vị thế của đất nước. Tại các phiên họp của UNESCO, Việt
Nam đã tích cực chia sẻ kinh nghiệm, thể hiện là thành viên có trách nhiệm của tổ chức này
trong nhiều năm qua. Mới đây, hai bên cũng đã ký kết Bản ghi nhớ hợp tác giữa Chính phủ
Việt Nam và UNESCO giai đoạn 2021 - 2025 nhân chuyến thăm UNESCO của Thủ tướng
Chính phủ Phạm Minh Chính. Thúc đẩy các lợi ích của Việt Nam tại diễn đàn UNESCO,
ngoại giao văn hóa đã góp phần tiếp cận có hiệu quả các nguồn lực, vận dụng các ý tưởng,
kinh nghiệm của tổ chức này để phục vụ lợi ích, nhu cầu phát triển đất nước trên các lĩnh vực
văn hóa, giáo dục và khoa học. Việt Nam đã trở thành thành viên của hầu hết các định chế,
diễn đàn đa phương then chốt trên mọi tầng nấc tại các diễn đàn, tổ chức khu vực, liên khu
vực và quốc tế về văn hóa, như: Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu (ASEM), Hội nghị cấp cao
Đông Á (EAS), Diễn đàn Hợp tác Đông Á - Mỹ Latinh (FEALAC), Tổ chức Pháp ngữ, các tổ
chức phi chính phủ (NGOs) về văn hóa... Tại khu vực, qua các hoạt động ngoại giao văn hóa,
Việt Nam đã phát huy vai trò tích cực trong hợp tác, xây dựng Cộng đồng Văn hóa - Xã hội
ASEAN và hợp tác văn hóa ASEAN, góp phần tăng cường hiểu biết của người dân Việt Nam
về ASEAN; đồng thời, quảng bá hình ảnh của Việt Nam tới các nước trong và ngoài khu vực,
xây dựng bản sắc chung của ASEAN.
Các hoạt động ngoại giao văn hóa đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng
được triển khai tích cực, hình thức ngày càng đa dạng, góp phần thực hiện Nghị quyết số
36-NQ/TW, ngày 26-3-2004, của Bộ Chính trị khóa IX, “Về công tác đối với người Việt Nam
ở nước ngoài trong tình hình mới”; Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 19-5-2015, của Bộ Chính trị
“Về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX,
“về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới”; Kết luận số
12-KL/TW, ngày 12-8-2021, của Bộ Chính trị, “Về công tác người Việt Nam ở nước ngoài
trong tình hình mới”. Điển hình như, chương trình Ngày Việt Nam ở nước ngoài được tổ
chức tại nhiều nước, như Thụy Sĩ, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Nga,... đã tạo được hiệu
ứng tích cực, góp phần tạo đà phát triển quan hệ của Việt Nam với nhiều đối tác. Đây là
chương trình tổng hợp các hoạt động về chính trị, kinh tế, văn hóa được thực hiện tại một số
quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, trọng tâm là giới thiệu các cơ hội hợp tác đầu
tư, thương mại, du lịch, dịch vụ, giới thiệu về văn hóa Việt Nam, giao lưu nhân dân,... Các
hoạt động văn hóa phong phú hướng tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã thúc đẩy
gắn kết cộng đồng người Việt Nam trên thế giới hướng về Tổ quốc, có những đóng góp thiết
thực trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, có tác động sâu sắc trong việc
khơi gợi lòng tự hào dân tộc, tình cảm gắn bó với quê hương, thúc đẩy việc lan tỏa các giá trị
Việt Nam ra thế giới, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Ngoại giao văn hóa cũng đóng góp tích cực trong việc hỗ trợ các ngành, các địa phương
thực hiện thành công các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, từng bước xây dựng thương
hiệu địa phương. Ngoại giao văn hóa đã từng bước được đưa vào nội dung của các chiến
lược, đề án, quy hoạch phát triển văn hóa, du lịch, kinh tế - xã hội của địa phương. Nhiều lễ
hội, sự kiện văn hóa định kỳ và thường niên đã dần trở thành “thương hiệu” của địa phương,
tạo sức hút đối với ngoại giao đoàn, với bạn bè và khách quốc tế, qua đó, đưa hình ảnh các
địa phương của Việt Nam ngày càng trở nên gần gũi, thân thiện, cởi mở, góp phần thu hút
đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương nói riêng và cả nước nói chung.
Tựu trung, trong những năm qua, nhất là trong 10 năm triển khai Chiến lược Ngoại giao văn
hóa đến năm 2020, việc triển khai ngoại giao văn hóa đã được gắn kết chặt chẽ, ngày càng
bài bản, có hiệu quả đối với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế, tạo hiệu ứng quan
trọng, góp phần nâng cao hiệu quả triển khai công tác đối ngoại nói chung. Tuy nhiên, bên
cạnh những kết quả tích cực, việc phát huy vai trò của ngoại giao văn hóa, truyền tải và gắn
kết, tối đa hóa các giá trị của văn hóa vào các hoạt động ngoại giao kinh tế, ngoại giao chính
trị vẫn còn không ít hạn chế, bất cập. Nhận thức về vai trò, ý nghĩa của ngoại giao văn hóa
vẫn chưa thực sự đồng đều. Nội dung, hình thức, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động
ngoại giao văn hóa cũng còn tồn tại một số bất cập. Nguồn nhân lực của ngoại giao văn hóa
chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng; ngân sách dành cho ngoại giao văn hóa còn hạn chế...
Để tiếp tục góp phần nâng tầm và lan tỏa các giá trị Việt Nam đến cộng đồng quốc tế
Tình hình thế giới, khu vực được dự báo sẽ tiếp tục có những vận động và biến chuyển không
ngừng, tính phức tạp, khó lường sẽ ngày càng gia tăng. Những biến động về tình hình chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công
nghệ hiện đại sẽ tạo ra những tác động mạnh mẽ, nhiều chiều, nhiều mức độ đến từng quốc
gia, trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa. Nhu cầu giao lưu văn hóa, hợp tác nhân dân
giữa các quốc gia ngày càng được chú trọng. Với tính chất là yếu tố quan trọng làm nên sức
mạnh mềm của quốc gia, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được thúc
đẩy, các nước đều có xu hướng nhìn nhận văn hóa là một thành tố quan trọng trong quan hệ
quốc tế, thúc đẩy lòng tin, quảng bá các sản phẩm văn hóa nhằm lan tỏa bản sắc dân tộc, nâng
cao hình ảnh và vị thế đất nước, đồng thời bảo tồn và tiếp thu, làm giàu kho tàng văn hóa của
quốc gia. Chính văn hóa là yếu tố dẫn đường, là điều kiện cần thiết và không thể thiếu cho
việc thực hiện các mục tiêu ngoại giao kinh tế, ngoại giao chính trị, tăng cường sự hiểu biết,
củng cố và làm sâu sắc hơn quan hệ giữa các quốc gia, đóng góp trực tiếp cho hòa bình, an
ninh, hợp tác và phát triển.
Là một đất nước có bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng cùng nền văn hóa đa
dạng, đậm đà bản sắc dân tộc, Việt Nam có tiềm năng to lớn để xây dựng và triển khai chính
sách ngoại giao văn hóa xứng tầm với vị thế của đất nước, cũng như đóng góp quan trọng,
hiệu quả vào quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong những năm tới. Chiến lược
Ngoại giao văn hóa đến năm 2030 đã đặt mục tiêu “sử dụng công cụ văn hóa trong ngoại giao
nhằm đưa quan hệ Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bảo đảm lợi ích quốc
gia - dân tộc, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động nguồn lực bên
ngoài, biến điều kiện thuận lợi, vị thế đất nước thành nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội,
đồng thời dùng các biện pháp ngoại giao để tôn vinh các giá trị, vẻ đẹp của văn hóa Việt
Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, qua đó khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, tăng
cường sức mạnh mềm, nâng cao vị thế đất nước”(1). Mục tiêu này một lần nữa nhấn mạnh
vai trò của ngoại giao văn hóa trong nền ngoại giao Việt Nam toàn diện và hiện đại. Ngoại
giao văn hóa sẽ cùng với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế phục vụ các mục tiêu, lợi ích
của quốc gia, dân tộc, cụ thể là mục tiêu về hòa bình, an ninh, phát triển và vị thế, ảnh hưởng;
gắn kết chặt chẽ văn hóa với các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược tổng thể về
hội nhập quốc tế và những định hướng chính sách đối ngoại đến năm 2030 của Đảng, của đất
nước. Ngoại giao văn hóa của Việt Nam trong thời gian tới sẽ được triển khai với năm nhiệm
vụ cụ thể: 1- Thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quan hệ, lòng tin giữa Việt Nam với các quốc gia,
khu vực, các tổ chức quốc tế; 2- Hội nhập chủ động, sâu rộng trong các lĩnh vực về văn hóa
tại các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế; 3- Quảng bá và lan tỏa hình ảnh về đất nước,
con người, văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế; 4- Vận động, bảo vệ và phát huy các di sản
Việt Nam được quốc tế công nhận; 5- Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để làm
giàu bản sắc văn hóa dân tộc.
Trong một thế giới toàn cầu hóa và liên kết quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, văn hóa ngày
càng được các quốc gia nhìn nhận là nhân tố đóng vai trò quan trọng, là nguồn lực nội sinh và
là động lực phát triển, bảo vệ quốc gia trong tình hình mới. Theo đó, cần phát huy và chuyển
tải tối đa những giá trị mang ý nghĩa sâu sắc, nhân văn, nhân bản của nét đẹp, truyền thống
văn hóa dân tộc và thời đại vào các hoạt động đối ngoại, để văn hóa thực sự có những đóng
góp toàn diện, hiệu quả, thực chất hơn đối với việc triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ đối
ngoại trong thời gian tới.
Để thực hiện được mục tiêu đó, ngoại giao văn hóa cần bám sát nhiệm vụ phục vụ và bảo
đảm tối đa mục tiêu bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc, cụ thể là hòa bình, an ninh,
ảnh hưởng và nâng cao vị thế đất nước. Quá trình triển khai cần gắn kết chặt chẽ với các định
hướng chính sách đối ngoại lớn của Đảng, của đất nước, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội của Trung ương, các bộ, ngành, địa phương. Bên cạnh đó, cần xác định hoạt động văn
hóa được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ gói gọn trong các hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc
thù, mà còn bao gồm các lĩnh vực, như khoa học, giáo dục, giao lưu nhân dân... và các lĩnh
vực khác của đời sống xã hội.
Việc gắn kết công tác ngoại giao văn hóa với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và công
tác người Việt Nam ở nước ngoài cần tiếp tục được thúc đẩy. Những thành tố này luôn có mối
quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Nếu ngoại giao chính trị có vai
trò định hướng, ngoại giao kinh tế tạo nền tảng vật chất thì ngoại giao văn hóa tạo nền tảng
tinh thần cho các hoạt động đối ngoại, đưa bản sắc, nghệ thuật ngoại giao mềm mỏng, linh
hoạt, yêu chuộng hòa bình, hòa hiếu, giàu tính nhân văn cho ngoại giao chính trị, đẩy mạnh
hội nhập quốc tế, xây dựng và quảng bá hình ảnh quốc gia, thương hiệu địa phương,... hỗ trợ ngoại giao kinh tế.
Việc triển khai toàn diện, có hiệu quả công tác ngoại giao văn hóa cần được nhận thức sâu sắc
là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị, của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, các
đoàn thể, địa phương, doanh nghiệp, người dân và người Việt Nam ở nước ngoài dưới sự lãnh
đạo của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước. Tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền,
tạo môi trường thuận lợi về cơ chế, chính sách để triển khai công tác ngoại giao văn hóa.
Tiếp tục kế thừa, tiếp thu, vận dụng sáng tạo để hoàn thiện việc định hình nội hàm, thông
điệp chủ đạo, bản sắc của ngoại giao văn hóa Việt Nam; tăng tính gắn kết giữa ngoại giao văn
hóa và ngoại giao công chúng. Bên cạnh đó, việc triển khai công tác ngoại giao văn hóa trong
bối cảnh hiện nay cần coi trọng bám sát xu hướng và sự phát triển của cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư, nhất là sự tiến bộ về công nghệ số, kỹ thuật số nhằm thích ứng và đưa
ngoại giao văn hóa Việt Nam hội nhập nhanh, sâu rộng vào khu vực và thế giới.
Cùng với tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045, Đại hội XIII của Đảng đã
đề ra chủ trương: “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại
đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”(2). Đây là một chủ trương lớn, phản ánh
sự trưởng thành của nền ngoại giao Việt Nam, đồng thời cũng là yêu cầu vừa cấp bách, vừa
mang tính chiến lược, lâu dài đối với công tác đối ngoại nói chung, trong đó có ngoại giao
văn hóa. Bám sát các mục tiêu và nhiệm vụ đã đặt ra, đồng thời linh hoạt, sáng tạo trong ý
tưởng và biện pháp triển khai, ngoại giao văn hóa sẽ tiếp tục phát huy vai trò là một trụ cột
đối ngoại quan trọng và có những đóng góp lớn, góp phần nâng tầm và lan tỏa các giá trị Việt
Nam đến cộng đồng quốc tế.
6. Vì sao nói sau CMT8/1945, VN rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”?
Thắng lợi của CMT8/1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử của dân tộc, chấm dứt ách đô hộ
hơn 80 năm của thực dân Pháp, mở ra kỷ nguyên độc lập, dân chủ của dân tộc VN dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Thế nhưng, ngay khi vừa giành lại độc lập, đất nước phải đối diện với
tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" bởi "thù trong, giặc ngoài". Với dã tâm xâm lược nước ta một
lần nữa, thực dân Pháp cùng với quân Tưởng Giới Thạch và bọn tay sai đã tiến hành nhiều
hoạt động chống phá trắng trợn nhằm thực hiện mưu đồ tiêu diệt lực lượng, Chính phủ cách
mạng và Đảng ta để thành lập chính quyền phản động, tay sai. Trong khi đó, tình hình kinh
tế, chính trị, xã hội trong nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng: sản xuất trì trệ, ngân khố
quốc gia trống rỗng, nạn đói năm 1945 làm gần 2 triệu người chết chưa khắc phục xong, hơn
90% dân số mù chữ, tệ nạn xã hội còn rất phổ biến, các thế lực phản động ra sức hoạt động
chống phá... Vận mệnh dân tộc nguy nan như "ngàn cân treo sợi tóc".
Trong tình thế hiểm nghèo ấy, Đảng ta và Chính phủ nước VN Dân chủ Cộng hòa do Chủ
tịch HCM đứng đầu đã đề ra những quyết sách đúng đắn, sáng tạo như: Tổ chức Tổng tuyển
cử bầu Quốc hội, Hội đồng nhân dân nhằm củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng nền
móng cho chế độ mới; phát động phong trào tăng gia sản xuất, xóa bỏ mọi thứ thuế vô lý,
thực hiện giảm tô, chia lại ruộng công, tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian chia cho
nông dân nghèo; mở lớp Bình dân học vụ, kêu gọi toàn dân tham gia phong trào xóa nạn mù
chữ; xây dựng "Quỹ độc lập" và phong trào "Tuần lễ vàng" huy động đóng góp tự nguyện của
nhân dân; phát triển lực lượng vũ trang cách mạng theo nguyên tắc toàn diện cả về chính trị
và quân sự, chú trọng cả số lượng và chất lượng... Nhờ đó, chỉ một thời gian ngắn, ta đã căn
bản diệt được "giặc đói", "giặc dốt", giải quyết khó khăn về tài chính, từng bước tăng cường
sức mạnh quốc phòng, an ninh, tạo tiền đề quan trọng để diệt "giặc ngoại xâm".
Để tranh thủ được thời gian hòa bình nhằm củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng lực
lượng vũ trang và khắc phục những khó khăn về kinh tế, xã hội, đời sống của nhân dân và
đẩy quân Tưởng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, ta đã phải ký với thực dân Pháp các hiệp định,
nhượng bộ cho Pháp một số quyền ở Việt Nam. Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp đấu tranh
mềm dẻo tạm thời nhằm củng cố và chuẩn bị tập trung nguồn lực để kháng chiến chống Pháp
lâu dài.Nhờ vậy, VN có thể tạm thời tránh được cả thù trong lẫn giặc ngoài.
Có thể nói, tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” sau CMT8/1945 vô cùng khó khăn và đầy thách
thức với một Chính phủ mới, còn non trẻ của chúng ta. Thế nhưng, bằng đường lối lãnh đạo
khéo léo, đúng đắn cùng sự đoàn kết toàn dân tộc, chúng ta đã vượt qua được tất cả và tiếp
tục giữ vững nền độc lập, tự do dân tộc.
7. Trong Nghị quyết Trung ương
9 khoá 11 (năm 2014), ĐCSVN đã đề ra quan điểm:
“Văn hoá là nền tảng tinh thần cho xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất
nước”. Nêu ý kiến về quan điểm trên. P1
Về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững, Đảng ta xác định: “Văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước.” Quan điểm ấy được
thể hiện qua những nội dung cơ bản:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Quan điểm này một lần nữa khẳng định vai
trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, xây dựng và phát triển nền
văn hóa dân tộc là chăm lo nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và
lành mạnh thì không có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Các giá trị văn hóa tạo thành
nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong mỗi con người và cả dân tộc. Các
giá trị văn hóa được nối tiếp, trao truyền và phát huy qua các thế hệ người VN, đó là tất yếu
của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và hướng đến tương lai, tương lai của những
giá trị phổ quát chân - thiện - mỹ. Vì vậy, chúng ta làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội để các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội.
Để phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, chúng ta cần
phải mở rộng giao lưu quốc tế và khu vực, tiếp thu có chọn lọc cái hay, cái tiến bộ trong tinh
hoa văn hóa các dân tộc khác để làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc, tạo nên bản sắc văn
hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, làm cho
văn hóa VN bắt kịp sự phát triển của văn hóa nhân loại trong thời đại ngày nay và chống lại
cái đã trở nên lạc hậu, lỗi thời, xa lạ với văn hóa. Đảng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần
của xã hội, nghĩa là đề cao, coi trọng nguồn lực văn hóa của sự phát triển bền vững đất nước.
Hệ thống di sản văn hóa, các giá trị văn hóa là “tài sản” vô giá, vô tận cho sự phát triển kinh
tế - xã hội, đó còn là cơ sở tinh thần cho sự ổn định xã hội và sự bền vững của chế độ ta.
Hai là, văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước. Mục tiêu tổng quát của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. Đây cũng chính là mục tiêu của văn hóa, nếu hiểu theo nghĩa
rộng nhất của văn hóa. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 xác định: Mục
tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người. Đồng thời nêu rõ yêu
cầu “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa,
bảo vệ môi trường”, ngày nay không thể phát triển bằng mọi giá, nhất là chạy theo lợi nhuận
tối đa, vì lợi ích hôm nay mà làm tổn hại đến tương lai.
Từ đổi mới đến nay, Đảng ta nhất quán tạo lập nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, đó phải là nền kinh tế giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã
hội, giữa kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo bền vững về môi trường sinh thoái,
tạo cơ sở nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Để đạt được điều đó phải cần đến văn hóa,
sự tham gia của văn hóa vào trong tổ chức và hoạt động của nền kinh tế vì mục tiêu phát triển
xã hội, phát triển con người, đó chính là vai trò của văn hóa trong kinh tế, kinh tế trong văn
hóa. Văn hóa với tư cách là đời sống tinh thần xã hội, một mục tiêu đặc biệt quan trọng, vì nó
là nhu cầu phong phú, vô cùng, vô tận, tinh tế của con người, nhu cầu tinh thần còn là nhu
cầu nhân văn và là cứu cánh của con người, văn hóa ấy vừa đáp ứng nhu cầu của con người,
xã hội tiến bộ, vừa thúc đẩy con người đạt được niềm tin, khát vọng hạnh phúc.
Ba là, văn hóa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước. Thực tế cho thấy, không ít
những quốc gia, dân tộc không giàu về tài nguyên thiên nhiên, thậm chí còn nghèo nàn và
hạn hẹp nhưng lại giàu về kinh tế, kinh tế phát triển, xã hội tiến bộ chính là nhờ coi trọng yếu
tố văn hóa, con người thông qua việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
mở đường cho sự phát triển. Như vậy, nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một đất nước
thấm sâu trong văn hóa, con người. Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới, cái
tốt, cái tiến bộ nhưng
không thể tách rời, bỏ qua cội nguồn, phát triển phải dựa trên cội
nguồn, cội nguồn đó của mỗi dân tộc là văn hóa. Văn hóa cũng góp phần tạo nên “sức mạnh
mềm” cho quốc gia, dân tộc vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Kinh nghiệm qua hơn 30 năm sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã chứng minh rằng, ngay bản
thân sự phát triển kinh tế cũng không chỉ do các nhân tố thuần túy kinh tế tạo ra, mà động lực
của sự đổi mới kinh tế đó một phần quan trọng nằm trong văn hóa. Trong điều kiện của cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác động và làm thay đổi quan niệm về phát triển kinh tế, phát
triển bền vững, phát triển không đơn thuần chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên, mặc dù yếu tố này phong phú, đa dạng nhưng đều có hạn và có thể bị khai thác cạn
kiệt, mà dần dần chuyển sang yếu tố quyết định cho sự phát triển chính là trí tuệ, tri thức,
thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày
càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng của cá nhân và xã hội, đó tức là văn hóa, vai trò của văn
hóa trong phát triển, chỉ có sự tham gia của văn hóa mới đưa đến sự phát triển bền vững.
Ngày nay, nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của con người. Tiềm năng sáng tạo này
nằm trong văn hóa, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức, nhân cách của mỗi cá nhân và cộng đồng. Chỉ có
nguồn lực này là vô hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh, không bao giờ cạn kiệt, các
nguồn lực khác sẽ không được sử dụng có hiệu quả nếu không có những con người đủ trí tuệ
và năng lực khai thác chúng, thì các nguồn lực đó dù có phong phú, đa dạng, thì cũng không
thể tham gia và phát huy tác dụng vào trong phát triển. P2
“Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” (HCM)
Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến
mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người; được con người tạo ra và phát triển
trong mối quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Văn hóa là một nguồn lực to lớn, có vai
trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của mỗi con người, tổ chức, rộng hơn là
của quốc gia - dân tộc. Vì vậy, Đảng và Nhà nước rất coi trọng vai trò của văn hóa trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Trước đây, nhiều người cho rằng, chỉ cần tăng trưởng kinh tế là có sự phát triển và hy sinh
các giá trị văn hóa cũng như bỏ qua các mục tiêu xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nhiều
quốc gia đi theo xu thế này đạt được một số thành tựu về kinh tế nhưng đã phải hứng chịu
những hậu quả xã hội, sự xuống cấp về đạo đức và văn hóa. Từ đó, lại ảnh hưởng tiêu cực tới
sự tăng trưởng, mất ổn định xã hội tăng lên và cuối cùng là sự phá sản của các kế hoạch phát
triển kinh tế, đất nước rơi vào tình trạng suy thoái.
Từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 đã xác định nguyên tắc phát triển nền văn hóa mới
là “dân tộc, khoa học, đại chúng”.
Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế toàn diện, sâu rộng như hiện nay, thì những luận điểm nêu trên là rất đúng đắn và kịp
thời; nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa trong mối quan hệ với phát triển kinh tế - xã hội;
là cơ sở để khắc phục những quan điểm sai lầm đã từng tồn tại trong tư duy của không ít
người khi cho rằng, phát triển kinh tế là quan trọng nhất, phát triển văn hóa chỉ là phụ, “ăn
theo” kinh tế. Đặc biệt, các luận điểm đó mang ý nghĩa thực tiễn rất cao khi coi văn hóa là
động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế,
chính trị, xã hội. Bởi, lịch sử cho thấy, sự phát triển của đất nước về mọi mặt, kể cả kinh tế,
chính trị và con người, xét đến cùng, nếu muốn đi thật xa, nếu muốn ngày càng trở nên bền
vững hơn thì đều phải nằm trong quỹ đạo của văn hóa và phải có văn hóa dẫn đường, như
luận điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra năm 1946.
8. Phân tích sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong 1939 - 1945.
Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ (1/9/1939) tác động sâu sắc đến tình hình chính trị thế
giới. Để phục vụ cho chiến tranh, thực dân Pháp thực hiện nhiều chính sách cực kỳ phản
động, giải tán Đảng Cộng sản ở Pháp, ở Đông Dương, chúng thực thi chính sách cai trị tàn
bạo, điên cuồng tấn công nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản và các đoàn thể do Đảng lãnh đạo,
thực hiện chính sách khủng bố, ban bố lệnh tổng động viên, ra sức bắt người, cướp của tại chỗ phục vụ cuộc chiến
tranh đế quốc của chúng. Chính sách phát xít hóa bộ máy chính
quyền thực dân đế quốc ở Đông Dương không làm Đảng ta bất ngờ, vì Đảng đã sớm dự báo vấn đề này.
Khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, Đảng cho rằng nếu cuộc chiến tranh thế giới lần
thứ nhất (1914-1918) làm xuất hiện tình thế cách mạng ở Nga, dẫn tới cuộc Cách mạng
Tháng Mười năm 1917 nổ ra, thì cuộc chiến tranh thế giới lần này sẽ làm xuất hiện tình thế
cách mạng. Nắm vững và vận dụng sáng tạo tư tưởng cách mạng của V.I.Lênin: giai cấp vô
sản nắm lấy ngọn cờ dân tộc, tự mình trở thành dân tộc, dựa trên cơ sở phân tích diễn biến
tình hình ở Đông Dương lúc này, Đảng kịp thời đề ra chủ trương cách mạng mới. Chiến lược
cách mạng đã được Đảng xác định trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (1930), đó là
đường lối cách mạng vô sản ở VN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong ba Hội nghị
Trung ương 6, 7, 8, Đảng không có sự thay đổi chiến lược cách mạng, mà dựa trên cơ sở nắm
vững sự biến đổi của tình hình thế giới và Đông Dương, nhu cầu đòi hỏi khách quan của thực
tiễn cách mạng, bổ sung phát triển chiến lược cách mạng phù hợp nhằm thúc đẩy phong trào
đấu tranh cách mạng của quần chúng phát triển, mau chóng thắng lợi. Chủ trương của Đảng
trong ba Hội nghị Trung ương 6, 7, 8 là sự nối tiếp, phát triển chiến lược cách mạng của
Đảng ở thời kỳ mới, thể hiện tư duy mới về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, tập
trung trong mấy vấn đề cơ bản:
Một là, chuyển hướng mục tiêu đấu tranh từ đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ hằng ngày lên
mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc.
Đảng khẳng định vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương lúc này là phải tập trung lực
lượng đánh đổ đế quốc và tay sai phản động, giải phóng dân tộc. Trong các Hội nghị Trung
ương, Đảng chỉ rõ tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. Cách nêu lên như vậy không
đồng nghĩa với việc Đảng từ bỏ cách mạng ruộng đất, mà vẫn thực hiện đồng thời. Sự sáng
tạo của Đảng trong chuyển hướng chỉ đạo là thực hiện nhiệm vụ chống phong kiến và nhiệm
vụ dân chủ khác rải ra làm từng bước, phục tùng và phục vụ cho nhiệm vụ hàng đầu là chống
đế quốc giải phóng dân tộc. Đây là bước phát triển tư duy lý luận của Đảng so với thời kỳ
trước. Sự chuyển hướng nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng là nội dung quan trọng nhất trong chủ
trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng thời kỳ 1939-1945. Xét về thực chất, chủ
trương này của Đảng nhằm giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp,
dân tộc và dân chủ trên lập trường giai cấp công nhân. Chủ trương ra đời không chỉ có giá trị
trong phân hóa cô lập kẻ thù, tập trung lực lượng chống kẻ thù chính, mà còn trực tiếp định
hướng thống nhất mọi hoạt động của các lực lượng cách mạng tập trung vào thực hiện thắng
lợi mục tiêu hàng đầu của cách mạng: giải phóng dân tộc.
Hai là, thành lập mặt trận dân tộc thống nhất riêng trong từng nước, lấy liên minh công -
nông làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trước khi diễn ra Hội nghị Trung ương 6, 7, 8, vấn đề thành lập, xây dựng phát triển lực
lượng cách mạng luôn được Đảng coi trọng, bởi không có lực lượng cách mạng thì không thể
làm cách mạng. Theo đó, Đảng từng bước lãnh đạo, chỉ đạo xúc tiến thành lập Mặt trận dân
chủ Đông Dương - mặt trận chung cho cả 3 dân tộc.
Từ khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, xuất hiện tình thế cách mạng, Đảng phân tích
kỹ lưỡng và cho rằng tuy dân tộc VN, Lào, Campuchia cùng trên bán đảo Đông Dương, song
mỗi dân tộc lại có những đặc điểm, yêu cầu riêng trong tập hợp lực lượng cách mạng. Vận
dụng lý luận Mác - Lênin về “quyền dân tộc tự quyết”, Đảng chủ trương mỗi nước thành lập
một mặt trận dân tộc thống nhất riêng. Tháng 5-1941, Mặt trận Việt Minh chính thức thành
lập ở VN. Chủ trương này của Đảng vừa tạo điều kiện để các lực lượng cách mạng trong từng
nước tận dụng những thế mạnh trong xây dựng phát huy kịp thời sức mạnh toàn dân tộc,
đồng thời khắc phục những biểu hiện thiếu tính chủ động, ỷ lại. Đảng cũng chỉ rõ việc thành
lập mặt trận dân tộc thống nhất riêng ở mỗi nước không có nghĩa tách biệt giữa các mặt trận,
mà các mặt trận phải liên minh chặt chẽ với nhau, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của
Đảng Cộng sản Đông Dương. Phải tích cực xây dựng, phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất
mỗi nước trở thành tổ chức tập hợp đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, trên nền tảng lấy liên
minh công - nông làm nòng cốt.
Ba là, chuyển hướng phương pháp đấu tranh cách mạng.Chủ trương và phương pháp đấu
tranh cách mạng luôn được Đảng coi là vấn đề mấu chốt của chiến lược cách mạng.
Thắng lợi của cách mạng chỉ có thể giành được trên cơ sở chủ trương và phương pháp cách
mạng đúng đắn. Thiếu phương pháp cách mạng đúng đắn thì dù chủ trương có đúng đến bao
nhiêu cũng không đem lại thắng lợi cho cách mạng. Trong thời kỳ 1936-1939, chủ trương của
Đảng là tranh thủ điều kiện thuận lợi, sử dụng nhiều phương pháp đấu tranh công khai đòi
dân sinh, dân chủ, chống nguy cơ chiến tranh phát xít. Đến khi chiến tranh thế giới lần thứ 2
nổ ra, bộ máy chính quyền thực dân đế quốc ở Đông Dương chuyển mạnh sang “phát xít
hóa”: chúng tăng cường đưa quân đội khủng bố, đàn áp, giết hại đồng bào, tìm phá các tổ
chức, đoàn thể cách mạng. Các Hội nghị Trung ương 6, 7, 8 của Đảng đều phân tích, thống
nhất rằng phương pháp cách mạng ở thời kỳ trước cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với đòi
hỏi của thực tiễn cách mạng. Theo tinh thần đó, Trung ương Đảng quyết định chuyển phương
pháp đấu tranh cách mạng sang thời kỳ mới: kết hợp đấu tranh bí mật, bất hợp pháp với tranh
thủ triệt để mọi điều kiện để xây dựng phát triển lực lượng; sử dụng kết hợp lực lượng, hình
thức đấu tranh chính trị với lực lượng, hình thức đấu tranh quân sự làm phương pháp đấu
tranh chủ yếu để giành chính quyền. Đến Hội nghị Trung ương
8, Đảng chỉ rõ phương thức (hình thái) đấu tranh giành chính
quyền đi từ khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Sự khẳng định như vậy của Đảng
thể hiện tính sáng tạo, xuất phát từ sự phân tích khoa học của Đảng về tính chất mâu thuẫn và
sự chín muồi không đều về thời cơ khởi nghĩa. Việc xác lập hình thái đấu tranh mang tính
“giai đoạn” - khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa cho phép lực lượng cách mạng
trong từng nước, từng địa phương chủ động tận dụng tối đa mọi điều kiện, khả năng trong
xây dựng, phát huy sức mạnh lực lượng cách mạng khi thời cơ khởi nghĩa vũ trang xuất hiện.
Chủ trương này phản ánh tư duy sắc sảo của Đảng trong vận dụng sáng tạo tư tưởng của
V.I.Lênin về quy luật “thắng từng bước” vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở VN.
Bốn là, chuyển hướng công tác xây dựng Đảng.
Kể từ khi ra đời, công tác xây dựng Đảng luôn được Đảng coi là nhiệm vụ chiến lược của
cách mạng vô sản ở VN. Trong thời kỳ 1939-1945, Đảng nhận định sẽ xuất hiện thời cơ cho
cuộc “cách mạng chính quyền”, do đó cần chuẩn bị đầy đủ các yếu tố, trong đó công tác xây
dựng Đảng đóng vai trò then chốt. Xét về nội hàm, cả ba Hội nghị Trung ương của Đảng đều
phân tích, chỉ rõ vấn đề gay cấn đang đặt ra đối với Đảng và cách mạng là thực trạng: đội ngũ
cán bộ, đảng viên còn thiếu nhiều, thành phần công nhân trong đảng còn ít; hệ thống tổ chức
của Đảng tuy đã phát triển nhưng chưa vững chắc, hoạt động thiếu tính thống nhất, bí mật,
trong khi chính quyền đế quốc phát xít và tay sai tìm mọi cách tìm diệt cán bộ, đảng viên, phá
tan tổ chức của Đảng, Nếu không kịp thời chỉ đạo chuyển hướng công tác xây dựng Đảng
theo đòi hỏi của tình hình thì chẳng những sức mạnh, năng lực lãnh đạo của Đảng bị ngưng
trệ, mà phong trào cách mạng khó có thể phát triển giành thắng lợi. Chiến lược nhất quán
trong công tác xây dựng Đảng từ khi Đảng ra đời là xây dựng vững mạnh, trong sạch cả 3
mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức.
Do yêu cầu cấp bách trong thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, các Hội nghị Trung ương
6, 7, 8 của Đảng đều nhấn mạnh là: gấp rút đào tạo cán bộ, tăng thành phần công nhân trong
Đảng, kiện toàn, củng cố vững chắc hệ thống tổ chức của Đảng, nhất là ở Lào và Campuchia.
Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng thời kỳ 1939-1945 xuất
phát từ đòi hỏi khách quan của thực tiễn cách mạng Đông Dương đặt ra. Đó là chủ trương
đúng đắn, khoa học của Đảng trong giải quyết mối quan hệ giữa chiến lược và chỉ đạo chiến
lược trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Trên thực tế, chủ trương đó đã được Đảng
và HCM hiện thực hóa trong thực tiễn.
Dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương, chủ trương chuyển hướng chỉ
đạo chiến lược của Đảng được lực lượng cách mạng ở 3 nước quán triệt, thực hiện khẩn
trương: thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất trong từng nước; chủ động xây dựng phát triển
lực lượng chính trị quần chúng, lực lượng vũ trang; củng cố, phát triển tổ chức và đoàn thể
cách mạng; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng phát triển lực lượng với tổ chức quần chúng tranh
đấu giành độc lập dân tộc.
Đầu năm 1945, thực hiện mưu đồ nắm quyền thống trị ở Đông Dương, phát xít Nhật đảo
chính Pháp (9-3-1945), Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp Hội nghị mở rộng ở Đình
Bảng (Bắc Ninh), do đồng chí Trường Chinh (Tổng Bí thư) chủ trì. Hội nghị đưa ra quyết
định lịch sử: Đánh đuổi phát xít nhật, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm
tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa khi thời cơ chín muồi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiều
nhiệm vụ khẩn kíp được triển khai nhanh: thành lập căn cứ địa mới, thống nhất các chiến
khu, thống nhất lực lượng vũ trang; tổ chức ủy ban dân tộc giải phóng các cấp, chuẩn bị
thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng VN (tức Chính phủ cách mạng lâm thời) v.v.. Ngay sau
Đại hội quốc dân họp ở Tân Trào (16-8-1945), HCM đã gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sĩ
cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy
đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”[4]. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân ta
đã nhất tề vùng dậy, kết thành sức mạnh đại đoàn kết xuống đường tranh đấu, đánh sụp, xóa
bỏ bộ máy thống trị tàn bạo của phát xít Nhật và bè lũ tay sai, giành lại nền độc lập dân tộc.
Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba
Đình, Chủ tịch HCM thay mặt Chính phủ lâm thời
khảng khái đọc Tuyên Ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới về nền độc lập dân
tộc và sự ra đời của nước VN Dân chủ Cộng hòa.
Thắng lợi của CMT8/1945 là mốc lịch sử mở đầu cho sự phát triển mới của cách mạng VN.
Chủ tịch HCM đã viết: “Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”[5].
Đã 70 năm trôi qua (1945-2015), song thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta trong CMT8/1945 vẫn
là bản anh hùng ca bất hủ, là thực tiễn sinh động chứng minh tư duy chính trị sắc sảo, nghệ
thuật lãnh đạo xuất sắc của một Đảng mácxít chân chính mới 15 tuổi. Đó cũng là một trong
những bằng chứng thực tiễn đập tan luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò to lớn của Đảng
đối với cách mạng VN của các thế lực thù địch. Những kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ
đạo CMT8/1945 tiếp tục được Đảng ta kế thừa, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng ở
giai đoạn mới, với việc đề ra nhiều quyết sách chiến lược mới hết sức đúng đắn, đem lại
những thành tựu to lớn, bền vững trong suốt mấy thập kỷ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc VN xã hội chủ nghĩa. 9. Hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia/vùng lãnh thổ với nhau
thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu
phát triển của bản thân mỗi quốc gia/vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tập thể
giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm. Hội nhập quốc tế theo đúng nghĩa
đầy đủ là hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Về bản chất, hội nhập
quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được một mục
tiêu hoặc lợi ích chung nào đó.
Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước ta đã chủ trương tham
gia các thể chế kinh tế. Lời kêu gọi trong thư gửi Liên hợp quốc tháng 12/1946 của Chủ tịch
Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính
sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: (a). Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi
cho đầu tư của các nhà tư bản, nha kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của
mình; (b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho
việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; (c) Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác
kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc”.
Từ những năm 1980 đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thức được tính cần thiết và
tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế. Đường lối, chủ trương hội nhập kinh tế của Đảng đã
được đề ra nhất quán, không ngừng được hoàn thiện và triển khai tích cực, phù hợp với tình
hình cụ thể của đất nước. Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã đề ra đường lối Đổi mới toàn
diện và sâu sắc mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Nếu như tại Đại hội V (1982), Đảng chỉ xác
định “Ưu tiên mở rộng sự hợp tác toàn diện giữa nước ta với Liên Xô và các nước trong Hội
đồng tương trợ kinh tế” thì đến Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Đảng đã đưa ra chủ trương
tranh thủ những điều kiện thuận lợi về hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật, tham gia ngày
càng rộng rãi vào việc phân công và hợp tác quốc tế trong “Hội đồng tương trợ kinh tế và mở
rộng với các nước khác”; xác định quan hệ kinh tế quốc tế giai đoạn này không chỉ tập trung
vào Liên xô và các nước trong cùng hệ thống xã hội chủ nghĩa mà phải mở rộng quan hệ với
các nước thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài
trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.
Tới Đại hội VII (1991), Đảng ta định hướng: “Độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa
quan hệ đối ngoại” với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng
đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Đây là một cột mốc quan trọng
đánh dấu bước khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ mới.
Nhờ chủ trương này, Việt Nam đã đẩy lùi được chính sách bao vây cô lập, không ngừng mở
rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại song phương và đa phương.
Taị Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996), thuật ngữ “hội nhập” mới bắt đầu được đề cập trong
văn kiện của Đảng: “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới”. Đây là
lần đầu tiên Nghị quyết của Đảng đề cập đến việc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế nhằm mục tiêu phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước. Điều này đánh dấu một bước
chuyển biến cơ bản trong nhận thức về nhu cầu cần tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế. Đại hội IX (2001) nhấn mạnh việc “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo
tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ
và định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội đã khẳng định tính tất yếu, đánh giá bản chất của
toàn cầu hóa và cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam khi tham gia quá trình này.
Giai đoạn sau này (Đại hội IX, X, XI, XII), Đảng đã nhấn mạnh tới việc chủ động, tích cực