Bứt dây động rừng” thuộc phạm trù triết học nào ?
Chương 1:
* Phân tích câu tục ngữ “Một người lo = một kho người làm” đang nói về ý thức
hay vật chất ?
Dùng duy vật biện chứng để giải thích ( vai trò của ý thức )
-> Ý thức: “lo” có trách nhiệm giải quyết
* Đk cần và đk đủ để ý thức phát triển ?
- Điều kiện cần: tự nhiên
. Sách vở
. Được ăn
- Điều kiện đủ
. Làm bài tập
. Ngôn ngữ : giao tiếp giỏi -> mở rộng mối quan hệ “Học thầy không tày
học bạn “ * Vai trò vật chất vs ý thức ?
* Sự lựa chọn: 5 hình thức vận động: cơ học, vật lí học, hoá học , sinh học , xã
hội học -> hộihọc quan trọng nhất: đầy đủ 5 vận động, 4 vận động còn lại
tri vô giác không tự khởi động
* Chương 2:
* Quy luật lượng - chất: chỉ cách thức vận động để thành công -> nhuần nhuyễn
quy luật ( độ [241], bước nhảy [242] ) —> Kiên nhẫn: không kiên nhẫn = không
thành công ( liên hệ bản thân - học 12 năm học )
- Phân tích tục ngữ “cần cù bù thông minh” - “có công mài sắt có ngày nên kim”:
quy luật lượng - chất ( lượng,chất ? )-> để thành công phải vượt khó, không phải
1 sớm một chiều —> phải kiên nhẫn
- Phân tích câu tục ngữ chỉ ra phương thức, cách thức vận động phát triển
- Vi phạm lượng chất mắc phải sai lầm ? -> tất cả hoạt động thất bại dục tốc
bất đạt “ ( liên hệ bản thân: kiên nhẫn, chịu khó, lên kế hoạch để có lộ trình )
* Quy luật mâu thuẫn: vừa thống nhất vừa đấu tranh ( ngày - đêm, chủ quan - khách
quan: suy nghĩ của mình - ý kiến người khác, quy luật cạnh tranh: động lực để cải
tiến phương pháp kinh doanh, đổi mới kĩ thuật nhằm phục vụ khách hàng -> kinh
tế phát triển sôi động )
- sao quy luật u thuẫn nguồn gốc động lực của vận động phát triển ?:
Mâu thuẫn trong nội tại mang tích khách quan -> sự vật mới xuất hiện - là nguồn
gốc sự phát triển —> phải có dũng khí để đối diện thách thức
* Nguyên lí mối liên hệ phổ biến
- Vd: Con người vs thiên nhiên - Lấy bông làm ra vải/ Con người biết ăn ->
Động vật được cho ăn
- Vi phạm nguyên mối liên hệ phổ biến mắc lỗi gì ? Hậu quả ra sao ? Liên
hệ bản thân * Nguyên lí vận động phát triển -> phát triển / tụt hậu Chương 3:
* Phân tích các yếu tố bản của lực lượng sản xuất và yếu tố o quan trọng nhất
? Vì sao ? Nêu liên hệ thực tiễn
- Con người ( trình độ nghề )
- Nguyên vật liệu
- Công cụ lao động
—> Con người quan trọng nhất: con người tạo ra nguyên vật liệu, đối tượng lao
động và tác động vào công cụ lao động + sáng tạo đổi mới không ngừng -> chiếm
lĩnh thị trường
* Nguyên nhân - kết quả
* dụ cho “Việc học quyết định stồn tại của con người”: học để có/giữ việc làm
-> lương để tồn tại, học để giỏi nghề = lương cao -> giàu (quyết định sự
phát triển)
* Lực lượng sản xuất yếu tố vật chất, quan hệ sản xuất biểu hiện yếu tố tâm lí,
tinh thần
* Phân tích mối quan hệ biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Câu 1: Phân tích:
Định nghĩa vật chất của Lê-nin.
* Định nghĩa ( vật chất Lênin [128], triết học của Lênin [22] ) -> rút ra bài học
( vật chất tồn tại khách quan, não chủ quan —> muốn nhiều phải học
quan sát - “ Đi một ngày đàng học một sàng khôn ”). Muốn tiền nhiều phải đi
ra ngoài làm -> biến cái của người khác thành tài sản của mình.
Trả lời:
- Vật chất phạm trù triết học” do vậy vừa tính trừa tượng, vừa nh cụ thể.
+ “Vật chất” đây không thhiểu theo nghĩa hẹp như vật chất trong các lĩnh
vực khoa học (sắt, nhôm …), cũng không thể hiểu như vật chất trong cuộc sống
hàng ngày (tiền bạc, cơm ăn áo mặc, …).
+ “Vật chất” trong định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học, tức là phạm trù
rộng nhất, khái quát nhất, rộng đến cùng cực, không thể khác rộng hơn. Và
đến nay, nhận thức vẫn chưa hình dung được cái gì rộng hơn phạm trù vật chất.
+ Tính trừu tượng của vật chất dùng để chỉ đặc tính chung, bản chất nhất của vật
chất - đó đặc tính tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người cũng
tiêu chí duy nhất để phân biệt vật chất với khoa học vật chất cụ thể khác.
.
+ Tính cụ thể của vật chất thể hiện ở chỗ chỉ có thể nhận biết được vật chất thông
qua nghiên cứu các sự vật hiện tượng vật chất cụ thể
- Vật chất “thực tại khách quan”: có đặc tính cơ bản (cũng là đặc trưng cơ bản)
là tồn tại không phụ thuộc vào ý thức. Dù con người có nhận thức được hay chưa
nhận thức được thì nó vẫn tồn tại.
- Vật chất tính khách thể: con người thể nhn biết vật chất bằng các giác quan
như thị giác, xúc giác,…
í- Ý thức là sự chép lại, chụp lại, phản ánh lại thực tại khách quan. Nói rộng ra, tư
duy, ý thức, tư tưởng, tình cảm… của con người chẳng qua chỉ sự phản ánh, là
hình ảnh của vật chất trong bộ óc con người
+ Có ý thức của con người trước hết là do có vật chất tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp lên giác quan (mắt, mũti, tai, lưỡi…) của con người. Đây dụ cho thấy ý
thức lệ thuộc vào vật chất + Giác quan của con người, với những năng lực vốn có,
thể chép lại, chụp lại, phản ánh sự tồn tại của vt cht, tc là nhn thức được
vật chất. Sự chép lại, chụp lại, phản ánh của giác quan đối với vật chất càng
ràng, sắc nét thì nhận thức của con người về vật chất càng sâu sắc, toàn diện
- Vật chất i trước, tồn tại độc lập với ý thức và quy định ý thức. Ý thức
cái sau vật chất, phthuộc vào vật chất. Như vậy vật chất nội dung, nguồn
gốc khách quan của ý thức, là nguyên nhân làm cho ý thức phát sinh.
=> Do tính trước sau như vậy, vật chất không lệ thuộc vào ý thức, nhưng ý
thức lệ thuộc vào vật chất.
Hoặc (** Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin)
- Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin được trình bày trong tác phẩm
Chủ nghĩa duy vật chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán như sau: “Vật chất là một
phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người
trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”.
- Phân tích nội dung định nghĩa:
Thứ nhất, cần phải phân biệt “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học với
những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất.Vật chất với tư cách là phạm trù triết học
kết quả của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên
hệ vốn của các sự vật, hiện tượng nên phản ánh cái chung, hạn, tận,
không sinh ra, không mất đi; còn tất cả những sự vật, hiện tượng chỉ những dạng
biểu hiện cụ thể của vật chất nên quá trình phát sinh, phát triển chuyển
hóa.
Thứ hai, thuộc tính bản, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất tồn tại
khách quan với ý thức, tức là tồn tại bên ngoài ý thức, có trước ý thức, độc lập với
ý thức, không phụ thuộc vào ý thức con người, dù con người nhận thức được
hay không (giải quyết mặt thứ nhất trong nội dung vấn đề cơ bản của triết học).
Thứ ba, vật chất, dưới những dạng tồn tại cụ thể của nó là cái thể gây nên
cảm giác ở con người khi trực tiếp hay giántiếp tác động đến giác quan của con
người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, vật chất là cái được ý
thức phản ánh. Hay nói cách khác, nhờ thuộc tính phản ánh thông qua c
giác quan của mình, con người có thể nhận thức được thế giới vật chất (giải quyết
mặt thứ hai trong nội dung vấn đề cơ bản của triết học).
Định nghĩa triết học của Lê-nin.
Trả lời:
Triết học Mác - Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên,
hội duy - thế giới quan phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức
và cải tạo thế giới.
Triết học Mác - Lênin là triết học duy vật bin chứng theo nghĩa rộng. Đó là
hệ thống quan điểm duy vật biện chứng cả về tự nhiên hội. Trong triết học
Mác- Lênin, chủ nghĩa duy vật phép biện chứng thống nhất hữu với nhau.
Với tư cách là chủ nghĩa duy vật, triết học Mác - Lênin là hình thức phát triển cao
nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học - chủ nghĩa duy vt biện chứng.
Với cách phép biện chứng, triết học Mác - Lênin hình thức cao nhất của
phép biện chứng trong lịch sử triết học - phép biện chứng duy vật.
Triết học Mác - Lênin trở thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học của
lực lượng vật chất - hội năng động và cách mạng nhất tiêu biểu cho thời đi
ngày nay là giai cấp công nhân để nhận thức và cải tạo xã hội. Đồng thời triết học
Mác - Lênin cũng thế giới quan phương pháp luận của nhân lao đông, ch
mạng và các lực lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức và cải tạo xã hội.
Trong thời đại ngày nay, triết học Mác - Lênin đang đứng đỉnh cao của
duy triết học nhân loại, là hình thức phát triển cao nhất của các hình thức triết học
trong lịch sử. Triết học Mác - Lênin học thuyết về sự phát triển thế giới, đã
đang phát triển giữa dòng văn 33 minh nhân loại.
Câu 2: Phân tích câu châm ngôn/tục ngữ: “Một người lo bằng một kho người
làm”.
Câu châm ngôn “Một người lo bằng một kho người làm” thì câu châm ngôn
trên thể hiện vai trò của ý thức. Bởi vì ‘lo’ nó biểu hiện yếu tố tinh thần, ý thức cho
nên ‘bằng một kho người làm’ thì ‘một kho người làm’ nó là yêu tố vật chất. ‘Một
người lo bằng một kho người làm’đây lẻ ra vật chất nó quyết định ý thức nhưng
đây mối quan hệ biện chứng cho nên ý thức tác động ngược trở lại để giải
quyết mọi công việc của tất cả nhân viên bên dưới. Cho nên là mình đưa ra là đây
thể hiện mối quan hệ giữa cái chung cái riêng. Giữa cái riêng của người điều
hành và giữa cái chung của một tập thể làm việc chung. Cái thứ hai cái mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức bởi vì ‘lo’ là yếu tố tinh thần, ‘làm’ nó là yếu tố vật
chất nó hành động. Nhưng ở đây nói lên cái tác động của ý thức đối với vật chất
nó cũng khá là quan trọng bởi vì đó là người ‘lo’người quyết định cái hiệu quả
kinh tế có hay không của một đám đông người ‘làm’. Cho nên người i và người
trách nhiệm là quyết định cái hiệu quả kinh tế có hay không. Nếu một đám đông
không ai trách nhiệm hết thì của chùa không ai lo nó nát hết cho nên phải
có người lo và người quản là như vậy.
VD: Người giám đốc rất quan trọng bởi một đơn vịphát triển hay không
do cái người đi đầu, người quản đầu tàu cho nên ông chủ chỉ cần một người
giám đốc giỏi thôi còn nhân viên như thế nào ổng không quan tâm. Ổng chỉ quan
tâm một người giám đốc giỏi thôi vì tôi giao một cục tiền đầu cho anh rồi anh
đi tìm các cộng sự, anh muốn làm anh làm cho nên ông chủ không bao giờ quan
tâm đến nhân viên như thế nào đâu. Chỉ có giám đốc với một khối lượng công việc
bao nhiêu phòng ban bao nhiêu bộ phận ra một chiến lược hoạt động 5 năm, kế
hoạch hoạt động như thế nào vào hằng năm.
Câu 3: Điều kiện cần đủ để con người ý thức phát triển cái ý thức của
mình.
- Điều kiện cần là điều kiện tự nhiên (gồm não người và môi trường).
- Điều kiện đủ là điều kiện xã hội ( gồm lao động và ngôn ngữ).
Như Triết học của chnghĩa Mac-Lenin khẳng định: ý thức một phạm trù
triết học dùng để chỉ toàn bộ hoạt động tinh thần phản ánh thế giới vật chất diễn ra
trong não người, hình thành trong quá trình được diễn đạt nhờ ngôn ngữ. Bản
chất của ý thức thể hiện sự phản ánh năng động, sáng to thế giới khách quan
vào bộ óc con người, hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thc gồm
các yếu tố cấu thành như: tình cảm, ý chí, tri thức.
Trong đó, tri thức là yếu tố quan trọng nhất.
Như chúng ta đã biết, tri thức (sự hiểu biết về các lĩnh vực của đời sống
hội) kết quả của quá trình nhn thức của con người về thế giới hiện thực, tái hiện
trong duy nhng thuộc tính, những quy lut của thế giới ấy diễn đạt chúng
bằng ngôn ngữ.
Từ đó ta có thể nhận thấy được :
+ Tri thức phương thức tồn tại cơ bản của ý thức và là điều kiện để ý thức phát
triển.
+ Mọi biểu hiện của ý thức đều chứa đựng nội dung tri thức
+ Nếu ý thức không bao hàm tri thức , không dựa vào tri thức thì s trừu
tượng trống rỗng, không giúp ích thực tiễn gì cho con người
+ Tri thc định hướng sự phát triển và quy định mức độ biểu hiện của các yếu
tố khác cấu thành ý thức
+ Mọi hoạt động của con người đều có tri thức , được tri thức định hướng
Bên cạnh đó, tri thức có nhiều loại (về tự nhiên, xã hội, con người), nhiều cấp độ
(Cảm tính, kinh nghiệm tiền khoa học), tri thức khoa học (lý tính, luận, khoa
học),.. Nên ngày nay, vai trò của tri thức đối với sphát triển kinh tế xã hội là điều
không thể chối cãi được. Tuy nhiên nếu tri thức không có sự đồng hành và hỗ trợ
của niềm tin ý chí thì vai t đối với đời sống hiện thực cũng hạn chế hơn rất
nhiều nên chúng ta cũng không thể phủ nhận tầm quan trọng các yếu tố còn lại cấu
thành ý thức.
Câu 4: Kể ra vật chất có mấy vận động và trong các vận động đó vật động nào
quan trọng nhất, tại sao? Liên hệ và minh chứng.
Trả lời:
- Vận động có nhiều hình thức khác nhau tùy theo cách phân loại. Trong các sách
giáo khoa triết học, vận động được phân loại thành 5 hình thức gồm: vận động cơ
học, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học, vận động xã hội.
Vận động cơ học:Sự di chuyển các vị trí vật thể trong không gian.
VD: Chim bay, tàu chạy, sự di chuyển của con lắc, trái đất quay quanh mặt
trời,….
Vận động vật lý: Sự vận động của các phần tử, các hạt cơ bản, nhiệt, điện,…
VD: Các e chuyển động xung quanh ht nhân, s bay hơi, sự đông đặc, ma sát
sinh ra nhiệt,…
Vận động hóa học: Quá trình hóa hợp và phân loại các chất.
VD: C + O2 CO2
Vận động sinh học: Sự trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường.
VD: Hạt nảy mầm, sự quang hợp cây xanh, hp con
người,… Vận động hội: Những biến đổi diễn ra trong đời
sống xã hội.
VD: Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của Việt Nam, sự biến đổi các công cụ
lao động từ đồ đá đến kim loại, sự thay đổi xã hội loài người,…
- Trong 5 loại vận động thì vận động hội quan trọng nhất. Bởi vận động
hội nó là vận động của con người mà vận động của con người nó vừa có vận động
về thể lực t lực. Còn bốn vận động còn lại vận động tri giác,
không tự khởi động được không tự điều chỉnh được phải do con người
điều chỉnh nó. vận động của con người mang tính sáng tạo làm cho
các hoạt động khác thường xuyên đổi mới, thay đổi.
Câu 5: Ba quy luật cơ bản của triết học.
Trả lời:
Chủ nghĩa duy vt biện chứng bao gồm hai nguyên lý cơ bản là nguyên lý về mối
liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
thể hiện qua u cặp phạm trù được sử dụng là Cái chung và cái riêng, Bản chất
hiện tượng, Nội dung và hình thức, Tất nhiên và ngẫu nhiên, Nguyên nhân và kết
quả, Khả năng và hiện thực.
Nguyên lý về sự phát triển bao gồm: Quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng - chất
quy luật phủ định. Trong đó:
– Quy luật lượng – chất: Chỉ ra cách thức của sự vận động và phát triển.
Lượng là cái thường xuyên biến đổi, còn chất là cái tương đối ổn định, lượng biến
đổi đến một mức độ nhất định sẽ chuyển hóa thành chất mới thay thế chất cũ.
Trong quy luật này dùng một số từ như “độ”, “bước nhảy”, “điểm nút”. Cụ thể:
Độ là khoảng giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất
của sự vật, điểm nút thời điểm tại đó, sự thay đổi về lượng đủ để làm thay
đổi về chất của sự vật và bước nhảy là chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật.
Lấy một ví dụ cụ thể cho các bạn về quy luật này như sau:
VD: Sinh viên tích y một lượng kiến thức đủ mới trở thành cử nhân. Trong đó:
lượng là lượng kiến thức phải đạt được, chất là sinh viên. Độ là từ năm 1 đến năm
4, còn điểm nút chính là năm 1 năm 4, bước nhảy chính tsinh viên lên c
nhân. Lúc này, chất là cử nhân.
Rút ra bài học thực tế: Cần phải tích lũy đủ về lượng thì mới có thể thay đổi về
chất, tránh tư tưởng nóng vội chưa tích lũy đủ về lượng đã muốn thay đổi về chất
(chưa học xong đã muốn đi làm công việc mình đang học) hoặc bảo thủ, trì trệ khi
đã tích lũy đủ vlượng nhưng lại không mun thay đổi về chất (học xong rồi
nhưng lại không muốn đi làm) Quy luật mâu thuẫn: Chỉ ra nguồn gốc của sự
vận động và phát triển.
Trong mỗi sự vật, hiện tượng hay quá trình nào đó luôn cha đựng những mặt,
khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn bên trong bản thân sự vật,
hiện tượng đó. Và sự thống nhất, đấu tranh giữa các mặt đối lập này là nguồn gốc
tạo nên sự vận động và phát triển, dẫn đến cái mới ra đời thay thế cái cũ.
Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển, nên cần phải phân tích, sự
vật, hiện tượng để tìm ra những mâu thuẫn trong các mặt, khuynh hướng mối
liên hệ giữa chúng mà giải quyết, tránh việc điều hòa các mâu thuẫn đó.
Đơn cử là câu chuyện không biết thì phải học.
– Quy luật phủ định của phủ định:
Cái mới ra đời thay thế cái nhưng trên nền tảng kế thừa cái . Cái mới này
trong q trình phát triển tiếp theo li dần trở nên cũ, lỗi thời nên lại bị phủ định
bởi một cái mới cao hơn. Cứ như thế thông qua số ln phủ định kế tiếp nhau
mà sự vật, hiện tượng sẽ phát triển không ngừng theo đường xoắn ốc.
Điển hình văn bản pháp luật mới ra đời luôn dựa trên nền tảng của văn bản pháp
luật cũ, giữ lại những điểm hay của văn bản pháp luật cũ, đồng thời bãi bỏ những
điểm chưa hay, chưa tốt để thay thế bằng điểm mới hay hơn, tốt hơn ti văn bản
pháp luật mới.
Rút ra được bài học thực tế: Cái mới ra đời tất yếu, cái mới thay thế cái cũ,
nhưng dựa trên nền tảng cái cũ, tránh phủ định sạch trơn cái cũ hoặc là không đón
nhận sự ra đời của cái mới.
Câu 6: Quy luật mâu thuẫn. Tại sao thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lặp nó là nguồn gốc và động lực của sự vận động và phát triển’? Bài học rút
ra từ quy luật này là gì?
Giữa cái đấu tranh đđi đến thống nhất chứ không phải đấu tranh để triệt tiêu.
Kinh tế thị trường là cạnh trạnh để phát triển một nền kinh tế, người tiêu dùng được
hưởng lợi, cạnh trạnh thì hàng hóa ngày càng đẹp và ngày càng có chất lượng mà
giá thành lại giảm xuống người tiêu dùng thuận lợi. Nó phải làm nên một nền kinh
tế từ người tiêu dùng và người được hưởng. Một nền kinh tế phát triển ai được
hưởng? Người tiêu dùng được hưởng cho nên mục đích phát trin kinh tế để
phục vụ cho người tiêu dùng vậy cạnh tranh không triệt tiêu các doanh
nghiệp ngược trở lại buộc các doanh nghiệp phải thay đổi cách quản lý, cách
sản xuất để phục vụ cho người dân. Nó không triệt tiêu mà là động lực để c
doanh nghiệp phải đổi mới thường xuyên nếu không sẽ mất khách hàng đó người
tiêu dùng cho nên không triệt tiêu các doanh nghiệp còn giúp các doanh
nghiệp càng ngày ng nâng cao, phát triển hơn bởi vì họ càng chú ý đến đổi
mới và cải tiến. Nếu không có cạnh tranh thì các doanh nghiệp sẽ trì trệ, hàng hóa
khan hiếm còn cạnh tranh thì thị trường sôi động, hàng hóa càng ngày càng
nhiều mẫu càng ngày càng đa dạng, giá thành hạ xuống người tiêu dùng
đưucọ lợi cho n động lực. Vì thúc đẩy nền kinh tế phát triển người
tiêu dùng một khi nền kinh tế phát triển thì họ sẽ được hưởng.
Bài học rút ra t quy luật phủ định phải dũng khí để đối diện với cạnh
trạnh, đối diện với thách thức để khẳng định nh và biến cái áp lực trở thành động
lực. Ví như chúng ta biến cái áp lực của việc học trở thành động lực để mình học
tốt hơn và mình hiểu là học để mình thành công, người thành công người không
thể nào ít kiến thức được, không thể nào thiếu sự nổ lực chăm học được cho nên
chúng ta động lực học để thành công là như vậy mục đích học của mình sẽ rõ
ràng hơn.
VD: Trong hội công nguyên thủy, con người phải đấu tranh vi tự nhiên,
trình độ lao động rất khai. Để tồn tại, loài người phát minh ra nhiều công cụ: rìu
đá, lao, chăn nuôi..tức là giải quyết mâu thuẫn giữa sống hoặc chết đói. Nhờ công
cụ cải tiến, của cải làm ra nhiều hơn mức tu thụ, dẫn đến của cải còn thừa tập
trung vào một số người, hình thành mâu thuẫn mới giữa người có của và không
của. Loài người bước sang xã hội phân biệt giai cấp (chiếm hữu nô lệ, phong kiến,
bản). Khi giai cấp bị áp bức tiêu diệt giai cấp áp bức (những người không của
tiêu diệt những người có của) loài người sẽ bước sang xã hội mới, xã hội
XHCN
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~//////////////~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
~~~~~~~~~~
1. Để nắm vững được nội dung quy luật thống nhất đấu tranh của các mặt
đối lập, chúng ta cần nắm vững một số quy luật cơ bản sau:
+ Mặt đối lập là những mặt, những thuộc tính những quá trình khuynh hướng
biến đổi trái ngược nhau tạo nên sự tồn tại của SVHT.
+ Mâu thuẫn ki niệm chỉ s liên hệ tác động lẫn nhau của các mặt đối lập,
mỗi mâu thuẫn một cặp đối lập trong cùng một sự vật vừa thống nhất với
nhau vừa thường xuyên đấu tranh với nhau.
+Sự thống nhất của các mặt đối lập sự ràng buộc lẫn nhau nương tựa vào nhau
của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại cho mình.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập sự tác động qua lại theo xu hướng i trừ
và phủ định lẫ nhau sự chuỷển hoá lẫn nhau của các mặt đối lập.
2. Nội dung quy luật:
- Mỗi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều là thể thống nht của các
mặt đối lập của sự vật hiện tượng thống nhất với nhau tạo nên một mâu thuẫn khi
mới xuất hiện mâu thuẫn biếu hiện ở sự khác nhau của hai mặt trong sự vật khác
nhau do dần dần chuyển thành sự đối lập khi đó mâu thuẫn nét 2 mặt đối lập
đấu tranh với nhau sự đấu tranh phát triển đến gay gắt lên đến đỉnh cao thì xẩy ra
xung đột giữa hai mặt của mâu thuẫn hai mặt đó chuyển hoá vi nhau trong những
điều kiện nhất đnh tức mâu thuẫn được giải quyết kết thúc sự thống nhất
của các mặt đối lập, một sự thống nhất mới xuất hiện, mâu thuẫn cũ mất đi, mâu
thuẫn mới ra đời, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thay thế cho nó trong sự vật
mới sự thống nhất mới các mặt đi lập lại đấu tranh với nhau mâu thuẫn lại
phát triển và lên đến đỉnh cao thì được giải quyết đó lại chuyển hoá lẫn nhau của
các mặt đối lập diễn ra thường xuyên làm cho sự vt vận động, phát triển không
ngừng đó là quy luật vốn có của sự vật hiện tượng, sự chuyển hoá của các mặt đối
lập cũng khác nhau có 2 hình thức cơ bản:
- Mặt đối lập này trực tiếp chuyển thành mặt đối lập kia, sang cái đối lập với mình.
- Cả hai mặt đối lập đều chuyển hoá thành cái khác lên hình thức cao hơn.
3. Ý nghĩa của việc nắm vững quy luật này:
- Mâu thuẫn là khách quan và phổ biến, chúng là phân tích các mặt đối lập tìm ra
mâu thuẫn của như vậy mới nắm được bản chất của sự vật hiện tượng mới
tìm ra khuynh hướng vận động và phát triển của chúng để có biện pháp cải tạo
sự vật.
- Phương pháp phân tích mâu thuẫn.
+ Mâu thuẫn có quá trình phát triển cho nên được giải quyết khi đã có đủ
điều kiện để giải quyết. Việc giải quuyết mâu thuẫn phải luôn theo quy luật
khách quan. + Mâu thuẫn phải được giải quyết bằng con đường đấu tranh, các
hình thức đấu tranh cũng phải khác nhau để phù hợp với từng loại mâu thuẫn,
mâu thuẫn phải được giải quyết một cách cụ thể có nhiều hình thức đấu tranh
giữa các mặt đối lập nên chúng ta phải căn cứ vào tình hình cụ thể lựa chọn
hình thức đấu tranh phù hợp nhất.
~~~~~~~~~*****~~~~~~~~~~~~~~~~~~~//////////////~~~~~~~~~~~~~~~*****~
~~~~~~~~~
1) Vị trí, vai trò của quy luật trong phép biện chứng duy vật. một trong ba
quy luật bản của phép biện chứng duy vật, quy luật thống nhất đấu tranh
giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn) chỉ ra nguồn gốc, động lực bên trong
của sự vận động, phát triển. Nắm vững được nội dung của quy luật này tạo cơ sở
cho việc nhận thức các phạm trù và quy luật khác của phép biện chứng duy vật;
đồng thời giúp hình thành phương pháp duy khoa học, biết khám phá bản chất
của sự vật, hiện tượng và giải quyết mâu thuẫn nảy sinh.
2) Nội dung quy luật.
a) Các khái niệm của quy luật. Mặt đối lập dùng đchỉ những mặt, những yếu
tố, những thuộc tính khác nhau khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau cùng
tồn tại khách quan trong các sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy. Sự
tác động lẫn nhau giữa các mặt đi lập tạo nên mâu thuẫn biện chứngu
thuẫn biện chứng quy định sự biến đổi của các mặt đối lập nói riêng và của sự vật,
hiện tượng nói chung. Thống nhất giữa các mặt đối lập sự không tách rời
nhau, cùng tồn tại đồng thời và mặt đối lập này phải lấy mặt đối lập kia làm cơ sở
cho sự tồn tại của mình. Sự thống nhất giữa các mặt đối lập còn gọi sđồng nhất
giữa chúng do trong các mặt đối lập còn tồn tại những yếu tố giống nhau. Do sự
đồng nhất giữa các mặt đối lp, nên trong nhiều trường hợp, khi mâu thuẫn xuất
hiện và hoạt động, trong những điều kiện nào đó, tạo sự chuyển hoá lẫn nhau giữa
các mặt đối lập. Đồng nhất không tách rời với sự khác nhau, với sự đối lập, bi
mỗi sự vật vừa là bản thân nó, va một cái khác với chính bản thân nó; trong
đồng nhất đã bao hàm sự khác nhau, đối lập. Các mặt đối lập luôn tác động qua lại
với nhau theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau; người ta gọi đó
đấu tranh giữa các mặt đối lập sự đấu tranh đó không tách rời với sự khác
nhau, thống nhất, đồng nhất giữa chúng trong một mâu thuẫn.
b) Vai trò của mâu thuẫn biện chứng đối với svận động phát triển. Theo Ph.
Ăngghen, nguyên nhân chính cũng nguyên nhân cuối cùng tạo nên nguồn gốc
của sự vận động, phát triển của mọi s vật, hin tượng sự tác động lẫn nhau giữa
chúng và giữa các mặt đối lập trong chúng. Có hai loại tác động lẫn nhau dẫn đến
vận động. Đó sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng sự tác động
lẫn nhau giữa các mặt đối lập trong một sự vật, hiện tượng. Cả hai loại tác động
này tạo nên sự vận động; nhưng chỉ loại tác động thứ hai- loại tác động lẫn nhau
giữa các mặt đối lập do mâu thuẫn giữa chúng tạo nên mới làm cho s vật, hiện
tượng phát triển.
c) Một số loại mâu thuẫn. +) Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lp đối với
một sự vật, hiện tượng, người ta phân mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong- là sự
tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập, là mâu thuẫn nằm ngay
trong bản thân sự vật, hiện tượng, đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với quá
trình vận động phát triển của sự vật, hiện tượng. Mâu thuẫn bên ngoài mâu
thuẫn diễn ra trong mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng khác nhau ảnh hưởng
đến sự tồn tại phát triển của sự vật, hiện tượng, nhưng phải thông qua mâu thuẫn
bên trong mới phát huy tác dụng.
+) Căn cứ vào sự tồn tại phát triển của toàn bộ sự vật, hiện tượng, người ta phân
mâu thuẫn thành mâu thuẫn bản- mâu thuẫn quy định bản chất của sự vt,
hiện tượng, quy định sự phát triển của sự vật, hiện tượng trong tất cả các giai đoạn,
từ lúc hình thành cho đến lúc kết thúc và mâu thuẫn này tồn tại trong suốt quá trình
tồn tại của sự vật, hiện tượng. Mâu thuẫn không cơ bản chỉ là mâu thuẫn đặc trưng
cho một phương diện nào đó của sự vật, hiện tượng, chịu sự chi phối của mâu thuẫn
bản; mâu thuẫn chỉ quy định sự vận động, phát triển của một hoặc vài mặt
nào đó của sự vật, hiện tượng.
+) Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại phát triển của sự vật, hiện
tượng trong một giai đoạn nhất định,người ta phân mâu thuẫn thành mâu thuẫn ch
yếu- mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật,
hiện tượng; có tác dụng quy định những mâu thuẫn khác trong cùng một giai đoạn
của quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng. Giải quyết mâu thuẫn chủ yếu sẽ
tạo điều kiện để giải quyết những mâu thuẫn khác ở cùng giai đoạn. Sự phát triển,
chuyển hoá của sự vật, hiện tượng sang hình thức khác phụ thuộc vào việc giải
quyết mâu thuẫn chủ yếu. Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn không đóng vai
trò quyết định trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Tuy vậy, ranh
giới giữa mâu thuẫn chủ yếu, thứ yếu chỉ là tương đối, tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ
thể; những mâu thuẫn trong điều kiện này chủ yếu, song trong điều kiện khác
lại là thứ yếu và ngược lại.
+) Căn cứ vào tính chất của các lợi ích bnlà đối lập nhau của các giai cấp,
một giai đoạn nhất định, người ta phân mâu thuẫn hội thành mâu thuẫn đối
kháng- là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tp đoàn người, giữa những xu
hướng hội lợi ích bn đối lập nhau và không thể điều hoà được. Đó mâu
thuẫn giữa các giai cấp bóc lột và bị bóc lột; giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị
trị. Mâu thuẫn không đối kháng mâu thuẫn giữa những khuynh hướng, những
giai cấp, những tập đoàn người, những xu hướng hội lợi ích bn không
đối lập nhau. Các mâu thuẫn đó là cục bộ, tạm thời.
c) Kết luận. Nội dung quy luật nói lên rằng, mâu thuẫn giữa các mặt đối lập trong
sự vật, hiện tượng là nguyên nhân; giải quyết mâu thuẫn đó động lực của sự vận
động, phát triển; sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng là tự thân. Quá
trình từ khác nhau, thống nhất qua mâu thuẫn đến đấu tranh giữa các mặt đối lập
mà kết quả là mâu thuẫn giữa chúng được giải quyết; xuất hiện sự thống nhất mới
cùng với sự hình thành mâu thuẫn mới trong một sự vật, hiện tượng ở dạng thống
nhất thường trải qua ba giai đoạn chính, mỗi giai đoạn những đặc điểm riêng
của mình.
+) Giai đoan một (giai đoạn khác nhau)- khi sự vật, hiện tượng mới xuất hiện, u
thuẫn thường được biểu hiện ở sự khác nhaugiữa các mặt đối lập.
+) Giai đoạn hai (giai đoạn từ khác nhau chuyển thành mâu thuẫn)- trong quá trình
vận động, phát triển của các mặt khuynh hướng phát triển trái ngược nhau
bài trừ, phủ định lẫn nhau ở giai đoạn một; sự khác nhau chuyển thành mâu thuẫn.
+) Giai đoạn ba (giai đoạn giải quyết mâu thuẫn)- khi hai mặt đối lập xung đột gay
gắt với nhau, nếu điều kiện thì hai mặt đó sẽ hoặc chuyển hoá lẫn nhau; hoặc
triệt tiêu nhau; hoặc cả hai mặt đó đều bị triệt tiêu; sự vật, hiện tượng chuyển sang
chất mới. Mâu thuẫn được giải quyết với kết quả là hai mặt đối lập cũ bị phá huỷ,
sự thống nhất giữa hai mặt mới được hình thành cùng với sự hình thành của mâu
thuẫn mới. Mâu thuẫn này lại được giải quyết làm cho sự vật, hiện tượng mới luôn
xuất hiện thay thế sự vật, hiện tượng cũ. Sự đấu tranh giữa hai mặt đối lp làm cho
sự vật, hiện tượng không tồn tại vĩnh viễn trong một chất. Đó là quan hệ giữa mâu
thuẫn biện chứng với sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, trong đó mâu
thuẫn giữa các mặt đối lập nguồn gốc, đấu tranh giữa các mặt đối lập động
lực bên trong của sự vận động và phát triển.
+) Sự thống nhất giữa các mặt đối lập có tính tạm thời, tương đối, là có điều kiện,
thoáng qua, nghĩa là sự thống nhất đó tồn tại trong trạng thái đứng yên tương đối
của sự vật, hiện tượng. +) Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập tính tuyệt đối,
nghĩa là sự đấu tranh đó phá vỡ sự ổn định tương đối của sự vật, hin tượng dẫn
đến sự chuyển hoá về chất của chúng. Tính tuyệt đối của sự đu tranh gắn liền với
sự tự thân vận động, phát triển diễn ra không ngừng của các sự vật, hiện tượng
trong thế giới vật chất. Suy ra, sự vận động, phát triển là tuyệt đối.
3) Từ nội dung quy luật mâu thuẫn của phép biện chứng duy vật, rút ra một
số nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động nhận thức hoạt động thực
tiễn.
a) Quy luật thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối lp giúp chúng ta nhận thức
đúng bản chất của sự vật tìm ra phương hướng, giải pháp đúng cho hoạt động
thực tiễn bằng con đường đi sâu nghiên cứu, phát hin ra mâu thun của s vật,
hiện tượng. Muốn phát hiện ra mâu thuẫn cần phải tìm ra thể thống nhất của những
mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập
những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó trong sự vật,
hiện tượng.
b) Quy luật mâu tbuẫn giúp khi phân ch mâu thuẫn phải xem xét quá trình phát
sinh, phát triểncủa từng mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau
của các mặt mâu thuẫn; phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển vị trí của
từng mặt đối lp, mối quan hệ tác động qua lại, điều kiện chuyển hoá ln nhau giữa
chúng. Chỉ có như thế mới hiểu đúng sự vật, hiểu đúng xu hướng vận động để giải
quyết mâu thuẫn.
c) Quy luật mâu thuẫn giúp nhận thức được rằng, để thúc đẩy s vật, hiện tượng
phát triển phải tìm cách giải quyết mâu thuẫn, không được điều hoà mâu thuẫn.
Mọi mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đđiều kiện chín muồi; không nóng vội
hay bảo thủ, trì trệ khi giải quyết mâu thuẫn.
Câu 7: Quy luật phủ định của phủ định khuynh hướng/ phương hướng của
sự vận động phát triển’. Bài học rút ra.
Con đường phát triển của quy luật phủ định cùa phủ định con đường
xoáy c. Nói đến con đường xoáy ốc thì con đường quanh co việc làm để
thành công không bao giờ dễ cả và để thành công thì người ta nổ lực liên tục.
Bởi ngày hôm nay tnh công ngày mai người khác đã giữ vị trí đó nếu như bản
thân mình không nổ lực để giữ vị trí cho nên đường xoáy ốc không điểm
dừng. không đường cùng đường cực khác với đường thẳng như
vậy. Bài học rút ra từ quy luật phủ định cảu phủ định là sự nổ lực liên tục là bởi vì
thứ nhất xoáy ốc không điểm dừng. Thứ hai, phức tạp cho nên phải nổ lực
mới vượt qua nổi nó không phải là việc làm đơn giản việc làm phc tạp và
công việc phức tạp có thu nhập bằng bội số của công việc giản đơn. Nó sẽ chứng
minh tại sao việc phức tạp thu nhập bằng bội số của việc giản đơn. Ví dụ một
giờ làm việc của một tiến đưuọc trả 250.000đ trong khi đó một ngày làm việc
của nhân viên nh thường được trả là 200.000đ cho một ngày làm việc. Chính vì
vậy người ta mới có động lực học tiến sĩ bởi vì học nó sẽ có luơng cao.
VD:
+ Một quả trứng sự khẳng định ban đầu (trong điều kiện được ấp) => Phủ
định lần 1 tạo ra mái con => Phủ định lần 2 (gà mái con lớn lên) sinh ra
nhiều quả trứng.
+ Một hạt thóc sự khẳng định ban đầu (được gieo trồng) => Phủ định lần 1
tạo ra cây lúa => Phủ định lần 2, cây lúa sinh ra nhiều hạt thóc.
2 dụ trên ta một chu kỳ phát triển: Từ một quả trứng ban đầu đến nhiều quả
trứng mới. Từ một hạt thóc ban đầu đến nhiều hạt thóc mới. Từ một đến nhiều tức
là có sự phát triển lên nấc thang cao hơn. Đó là kết quả phủ định của phủ định.
Câu 8: Quy luật nguyên nhân kết quả cặp phạm trù nhân quả.
cặp phạm trù nhân quả. Tất cả mọi kết quả đều xuất phát t nguyên
nhân cho nên nguyên nhân và kết quả nó quy luật không cơ bản có thể giao
hoán lẫn nhau. Một nguyên nhân cho ra nhiều kết quả. ngược lại, nhiều kết quả
nhưng chỉ đạt được một nguyên nhân.
VD: để bước vào tờng đại học học nghề thì các sinh viên phải trải qua nhiều
nguyên nhân. Một là cha mẹ phải chăm sóc, hai là các bạn phải được đi học và ba
phải được thầy dạy dỗ và mối quan hệ bạn môi trường học đường. Nhiều
nguyên nhân để vào đại học và nó giao hoán và kết quả o được trường đại học.
Nhưng giao hoán một cái nguyên nhân học đại học thì sẽ ra 3,5 năm sau đầu
ra kiếm việc làm thuận lợi tiền lương cao, đời sống của mình thay đổi, bạn bè
của mình mở rộng ra cơ hội đào sâu vào chuyên ngành học cao học, học tiến sĩ.
VD: Chặt phá rừng cũng chính là nguyên nhân dẫn đến nhiều kết quả như là có g
đất để canh tác nhưng cũng các kết quả xấu như xói mòn đất mất đa
dạng sinh học biến đổi khí hậu của khu vực đó ti chặt phá rừng đã dẫn đến i
nhiều kết quả.
VD: Ô nhiễm môi trường đô thị hiện nay do một số nguyên nhân bản sau đây
từ một nguyên nhân ô nhiễm i trường cũng sinh ra nhiều kết quả. Trong
những năm gần đây do quá trình đô thị hoá do tác động của chế thị trường
giá đất tăng cao nên nhiều ao hồ bị lấp dần để xây nhà công tnh thậm chí có
nơi không n ao và đất trống nữa dẫn đến tình trạng thiếu rãnh thoát nước, nước
thải t các hộ gia đình tràn chảy ra đường không hệ thống thoát nước điều
này đã gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng nhiều chỗ bị ngập ngay cả lúc trời
không mưa có thể nói là "thiếu nước sạch thừa nước bẩn".
Câu 10: Phân tích câu châm ngôn và nó thuộc quy luật nào?
“Cần cù bù thông minh”
“Có công mài sắt ngày nên kim”
Trả lời:
“Cần cù bù thông minh” quy luật lượng – chất
“Có công mài sắt có ngày nên kim” nó là quy luật lượng – chất.
Từ một cục sắt trở thành cái kim đó là một quá tnh mài dũa của người
lao động. Đây quy luật lượng cht. Lượng chât chỉ cho mình cách thức,
phương thức để mình vận động mình thành công. Từ cục sắt mà trở thành cây kim
để mình thành công như vậy khi nó thành kim mình thành công. bài
học rút ra từ nó là sự kiên nhẫn bởi vi để thành công bao giờ việc làm cũng làm là
khó cho nên không kiên nhẫn chúng ta sẽ không vượt qua được hết. Thứ hai, để
thành công bao giờ cũng một quá trình mình phải rèn luyện nếu như mình
không kiên nhẫn là mình sẽ bỏ cuộc.
Lượng gì? Lượng một phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan
của sự vật, hiện tượng nào đó, biểu thị số lượng, quy hay trình độ, nhịp điệu
của sự vn động và phát triển của hiện tượng, sự vật cũng như thuộc tính của nó.
Hay nói một cách dễ hiểu hơn thì lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan, vốn
của sự vật (tạo thành sở khách quan cho sự tồn tại của chất của sự vật) về
các phương diện: slượng các yếu tố cấu thành, quy của sự tồn tại, tốc độ, nhịp
điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật.
Chất gì? Chất phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của
một sự vt, hiện tượng nào đó; sthống nhất hu giữa các thuộc tính, các yếu
tố cấu tạo thành sự vật, hiện tượng, làm cho sự vật, hiện tượng không phải
là cái nào khác.
Câu 11: Hãy chỉ ra cái quy luật của phép biện chứng duy vật nêu phương thức,
cách thức vận động phát triển. Bài học rút ra từ nó. (Quy luật lượng
chất) Sự kiên nhẫn
Đây là quy luật lượng – cht. Lượng – chât chỉ cho mình cách thức, phương thức
để mình vận động mình thành công. Từ cục sắt trở thành cây kim để mình thành
công là như vậy khi mà nó thành kim là mình thành công. Và bài học rút ra từ
sự kiên nhẫn bởi vi để thành công bao giờ việc làm cũng làm khó cho nên
không kiên nhẫn chúng ta sẽ không vượt qua được hết. Thứ hai, để thành công bao
giờ cũng là một quá trình mình phải rèn luyện nếu như mình không kiên nhẫn
thì mình sẽ bỏ cuộc.
Câu 12: Nếu như chúng ta mắc phải những sai lầm về nguyên lý về mối quan
hệ phổ biến thì chúng ta bị hậu quả gì? (Nếu như vi phạm về mối liên hệ phổ
biến chúng ta mắc phải sai lầm gì, tại sao?)
Nếu như chúng ta vi phạm về mối liên hệ phổ biến chúng ta mắc phải sai lầm
nhìn sự vật và hiện tượng không chính xác là bi vì chúng ta nhìn có một mặt
thôi. Ví dụ như một ngày 24 tiếng đồng hphải có vừa ngày vừa đêm bởi một
ngày của mình phải một nửa ngày một nữa đêm thì một ngày bình thường.
nhìn con người thì ai cũng điểm mạnh cũng điểm yếu ai cũng
mặt tốt và mặt xấu, mình cũng nhìn thấy mình có đim tốt và có điểm chưa tốt để
mình rèn luyện. Điểm tt mình phát huy điểm chưa tốt thì mình phải rèn
luyện.
Câu 14: Để nhìn sự vật và hiện tượng một cách chính xác ta dựa vào cơ sở lý
luận nào?
Để nhìn sự vt hiện tượng một cách chính xác ta dựa vào sở hai cái
nguyên lý đó là nguyên lý về sự vận động, phát triển và nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến. Bởi hai nguyên này thì nguyên về sự vận động và phát triển để
chúng ta nhìn sự vật hiện tượng luôn luôn vận động luôn luôn thay đổi.
Chính xác là nó luôn luôn thay đổi ngày hôm nay khác với ngày hôm qua,
có sự thay đổi mà nếu như mình nhìn nó không vận động là không thay đổi thì coi
như mình tuột hậu. Cho nên lưu ý nguyên lý thứ nhất để nhìn sự vật và hiện tượng
luôn chính xác thì phải đòi hỏi nhìn nó trong một trạng thái vận động mang tính
lịch sử bởi lịch sử quá khứ, hiện tại tương lai. Cái thứ hai, cái nguyên về
mối quan hệ phổ biến để nhìn trong một i mối quan hệ tổng thể nghĩa là
nhìn sự vật hiện tượng một cách toàn diện chứ không có phiến diện. Cơ sở lý luận
là hai nguyên lý để nhìn mọi thứ và con người một cách chính xác, nhìn thị trường
một cách chính xác để biết đầu tư cái gì và chọn nghề cũng phải biết chính xác kh
năng nh, sở trường của mình. Nhiều người chọn nghề mà không hiểu được mình
cho nên không giữ được nghề đó như vy còn mình hiểu được mình mình
chọn nghề rất chính xác. Bản thân mình không nhìn ra mình huống hồ chi mình
nhìn người khác được cho nên tại sao mình bỏ nghề mình nhìn không được mình.
bởi nghề nào người ta cũng sống được nghề nào chúng ta cũng làm giàu được
vậy tại sao mình lại không phù hp với nghề xem lại coi mình nhìn được
mình chính xác chưa.
Câu 15: Phân tích mối quan hệ biện chứng của lực lượng sản xuất quan hệ
sản xuất, liên hệ thực tiễn.
Lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,,
chúng tồn tại không tách rời nhau tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy
luật phổ biến của tn bộ lịch sử loài người, quy luật về sự phù hợp quan hệ sản
xuất vi tính chất trình độ của lực lượng sản xuất. Quy luật này vạch tính
chất phụ thuộc khác quan của quan hsản xuất phát triển của lực lượng sản
xuất.
Thực tiễn cũng đã làm rõ mối quan hệ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất từ đó khẳng định sự tồn tại của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất tạo động lực cho nền kinh tế phát triển. Lực
lượng sản xuất phát triển đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp. Ví dụ như chủ
nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và chính
sản xuất hàng hóa với quy lơn quan hthị trường đã phá vỡ quan hệ sản
xuất phong kiến hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, Trong tuyên
ngôn của đảng cộng sản (2 - 1948), C. Mác và PH. Ănggghen nêu rõ: "Giai cấp
sản, trong quá trình thống trị giai cấp chứ đầy một thế kỷ, đã to ra những lực lượng
sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại".
- Lực lượng sản xuất tác động đến quan hệ sản xuất, cụ thể như sau:
Quan hệ sản xuất được hình tnh, biến đổi và phát triển đều do lực lượng sản
xuất quyết định;
Sự vận động và phát triển của lc lượng sản xuất đã quyết định, làm thay đổi các
quan hệ sản xuất sao cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra
đời thì quan hệ sản xuất sẽ phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất đó;
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định sẽ làm cho quan
hệ sản xuất từ phù hợp trở thành không phù hvới s phát triển này. Yêu cầu
khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu này dẫn đến sự thay thế
quan hệ sản xuất cũ bằng một quan hệ sản xuất mới sao cho phù hợp với trình độ
phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát
triển. Thay thế quan hệ sản xuất bằng quan hệ sản xuất mới thì phương thức
sản xuất mới ra đời thay thế cho cái cũ.
- Quan hệ sản xuất tác động đến lực lượng sản xuất, cụ thể như sau:
Sự hình thành, biến đổi, phát triển của quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất;
Lực lượng sản xuất sẽ quyết định quan hệ sản xuất. Nhưng quan hệ sản xuất
cũng tính độc lập tương đối tác động ngược trở lại sự phát triển của lực
lượng sản xuất;
Quan hệ sn xuất quy định mục đích, ch thức của sản xuất và phân phố. Do đó
sự trực tiếp gây ảnh hưởng đến thái độ của người lao động, chất lượng và hiệu
quả của quá trình sn xuất, cải tiến ng cụ lao động. Sự tác động của quan hệ sản
xuất lên lực lượng sản xuất diễn ra theo hai hướng là tích cực hoặc tiêu cực. Tích
cực là thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nếu nó phù hợp, còn tiêu cực là kìm
hãm lực lượng sản xuất khi nó không còn phù hợp.
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó
trở thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.
Ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi thời không còn phù hợp với tính chất và trình đ
của lực lượng sản xuất, bộc lộ mâu thuẫn gay dắt với lực lượng sản xuất thì trở
thành chướng ngại kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Song sự tác
dụng kìm hãm đó chỉ là tạm thời, theo tính cht tất yếu khách quan thì nó srx bị
thay thế bằng kiểu quan hệ sản xuất mới phù hp với tính chất trình độ của
lực lượng sản xuất.;
Quan hệ sản xuất có tác động mạnh mẽ đối với lực lượng sản xuất vì nó quy định
mục đích của sản xuất, quy đnh hệ thống của tổ chức, quản hội, quy định
phương thức phân phối của cải ít hay nhiu mà người lao động được hưởng. Do
đó nó ảnh hưởng đến thái độ của lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội, tạo ra
những điều kiện hoặc kích thúc hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, áp
dụng những tnh tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân công lao
động. Mỗi kiểu quan hệ sản xuất một h thống, một chỉnh thể hữu gồm ba
mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Chtrong chỉnh thể
đó quan hệ sản xuất mới trở thành động lực thúc đy hành động nhằm phát triển
sản xuất.
- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất qua sự tác động
lẫn nhau, cụ thể như sau:
Sự thống nhất và tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã
hội hợp thành phương thức sản xuất. Trong sự thống nhất biện chứng này, sự phát
triển của lực lượng sản xuất đóng vai trò quýêt định đối với quan hsản xuất.
Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất. Lực lượng sản xuất thường xuyên vận động, phát triển nên qun hệ sn
xuất cũng luôn luôn thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của lc lượng sản
xuất. Từ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất m
hình hành quy luật quan hệ sản xuất phải phfu hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất;
Đây là quy luật kinh tế chung của mọi phương thức sản xuất, Quy luật về s phù
hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và tnh độ của lực lượng sn xuất là quy
luật cơ bản của sự phát triển loài người. Sự tác động của nó trong lịch sử làm cho
xã hội chuyển từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái xã hội cao hơn.
+Ví dụ: Khi xét trong các mối quan hệ công việc tại công ty, thì quan hgiữa ch
tịch với giám đốc, hoặc quan hệ giữa giám đốc với các trưởng phòng… là những
quan hệ trong tổ chứcquản lý sản xuất. Rõ ràng, nếu những quan hệ này được
tổ chức khoa học thì doanh thu của công ty sẽ phát triển. Ngược lại, nếu những
quan hệ này có vấn đề, hoạt động kinh doanh của công ty sẽ gặp rắc rối.
Câu 15*: Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất quan
hệ sản xuất. Từ đó làm sự vận dụng quy luật y trong tiến trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
1. Khái niệm lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất:
- Lực lượng sản xut biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong
quá trình sản xuất.
Lực lượng sản xuất năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên
của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình
- Trong s phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng
to lớn. Ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Quan hệ sản
xuất:
- Quan h sn xuất hình thức hội của phương thức sản xuất tính ổn định
tương đối so với sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất
2. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
+ Trình độ lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục t nhiên của con người:
biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm kỹ năng lao
động của con người, trình độ tổ chức và phân ng lao động xã hội, tnh độ ứng
dụng khoa học vào sản xuất.
+ Tính chất của lực lượng sản xuất: khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân
công lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân.
Khi sản xuất đạt tới trình độ cơ khí, hiện đại phân công lao động xã hội phát triển
thì lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá.
- Mối quan hệ giữa LLSX QHSX mối quan hệ thống nhất biện chứng,
trong đó LLSX quyết định QHSX và QHSX tác động trở lại LLSX.
+ Lực lượng sản xuất luôn luôn vận động phát triển, bắt đầu từ công cụ lao động,
từ khoa học công nghệ; quan hệ sản xuất có tính ổn định tương đối. Sự phát triển
của lực lượng sn xuất đến một trình độ nhất định mâu thuẫn với quan hệ sản xuất
hiện đòi hỏi phải thay đổi bng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với một
trình độ mới của lực lượng sản xuất.
+ Mối quan hệ thống nhất giữa LLSX và QHSX tuân theo nguyên tắc kch quan:
QHSX phụ thuộc vào thực trạng phát triển của LLSX
- Mối quan hệ giữa LLSX QHSX mối quan hệ thống nhất bao hàm khả
năng chuyển háo thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn
+ Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có c
động thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại quan hệ sản xuất không
phù hợp với lực lượng sản xuất (lạc hậu hoặc vượt trước) sẽ kìm hãm sự phát triển
của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sphát triển của lực lượng
sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan
hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
+ Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình đpt triển của lực lượng sản xuất
là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại.
Dụ: - Trước 1986 VN chưa sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng
sản xuất, QHSX tiên tiến giả tạo đi trước một bước so với LLSX...
- Sau 1986 VN tiến hành đổi mới, bước đầu xây dựng QHSX phù hợp với
LLSX, thể hiện việc thực hiện nhiều thành phần kinh tế, duy trì nhiều kiu
QHSX tương ứng với nhiêu trình độ khác nhau của LLSX...
dụ: Trình độ con người thấp, công cụ lao động thô sơ. Quan hệ sản xuất
Công Hữu, về liệu sản xuất làm bao nhiêu ăn hết bấy nhiêu, chia đều cho
mọi người sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xut. Tạo ra
phương thức Cộng Sản Nguyên Thủy ,dần dần lực lượng sản xuất phát triển hơn,
con người chế tạo được đồ đồng, đồ sắt. tạo được nhiều của cải hơn. Từ đó tạo
nên sự bất bình đẳng về quản lý, phân chia sản phẩm lao động dẫn đến sự phân
chia giai cấp. Từ sự bất bình đẳng phân chia giai cấp đó dẫn đến Công xã nguyên
thủy tan rã và phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ ra đời.
Câu 9: Độ là gì, bước nhảy là gì? Liên hệ bản thân.
3 quy luật: Quy luật lượng – chất, quy luật mâu thuẫn và quy luật phủ định của
phủ định
- Quy luật lượng chất: Chỉ ra cách thức của sự vận động và phát triển
Lượng là cái thường xuyên biến đổi, còn chất là cái tương đối ổn định, lượng biến
đổi đến một mức độ nhất định sẽ chuyển hóa thành chất mới thay thế chất cũ.
Trong quy luật này có dùng một số từ như “độ”, “bước nhảy”, “điểm nút”. Cụ thể:
Độ là khoảng giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất
của sự vật, điểm nút thời điểm tại đó, sự thay đổi về lượng đủ để làm thay
đổi về chất của sự vật và bước nhảy là chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật.
Lấy một ví dụ cụ thể cho các bạn về quy luật này như sau:
Sinh viên tích lũy một lượng kiến thức đủ mới trở thành cử nhân. Trong đó: lượng
là lượng kiến thức phải đạt được, chất là sinh viên. Độ là từ năm 1 đến năm 4, còn
điểm nút chính năm 1 và năm 4, bước nhảy chính từ sinh viên lên cử nhân.
Lúc này, chất là cử nhân.
Rút ra bài học thực tế: Cần phải tích lũy đủ về lượng thì mới có thể thay đổi về
chất, tránh tư tưởng nóng vội chưa ch lũy đủ về lượng đã muốn thay đổi về
chất (chưa học xong đã muốn đi làm công việc mình đang học) hoặc bảo thủ,
trì trệ khi đã tích lũy đủ vlượng nhưng lại không muốn thay đổi về chất (học
xong rồi nhưng lại không muốn đi làm)
- Quy luật mâu thuẫn: Chỉ ra nguồn gốc của sự vận động và phát triển
Trong mỗi sự vật, hiện tượng hay qtrình nào đó luôn chứa đựng những mặt,
khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn bên trong bản thân sự vật,
hiện tượng đó. Và sự thống nhất, đấu tranh giữa các mặt đối lập này là nguồn gốc
tạo nên sự vận động và phát triển, dẫn đến cái mới ra đời thay thế cái cũ.
Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển, n cần phải phân tích, sự
vật, hiện tượng để tìm ra nhng mâu thuẫn trong các mặt, khuynh hướng và mối
liên hệ giữa chúng mà giải quyết, tránh việc điều hòa các mâu thuẫn đó.
Đơn cử là câu chuyện không biết thì phải học.
- Quy luật phủ định của phủ đnh:
Cái mới ra đời thay thế cái nhưng trên nền tảng kế thừa cái cũ. Cái mới này
trong quá trình phát triển tiếp theo li dần trở nên cũ, lỗi thời nên lại bị phủ định
bởi một cái mới cao hơn. Cứ như thế thông qua số lần phủ định kế tiếp nhau
mà sự vật, hiện tượng sẽ phát triển không ngừng theo đường xoắn ốc.
Điển hình văn bản pháp luật mới ra đời luôn dựa trên nền tảng của văn bản pháp
luật cũ, giữ lại những điểm hay của văn bn pháp luật cũ, đồng thời bãi bỏ những
điểm chưa hay, chưa tốt để thay thế bằng đim mới hay hơn, tốt hơn tại văn bản
pháp luật mới.
Rút ra được bài học thực tế: Cái mới ra đời tất yếu, cái mới thay thế cái cũ, nhưng
dựa trên nền tảng cái cũ, tránh phđịnh sạch trơn cái hoặc là không đón nhận
sự ra đời của cái mới.
PHẦN VÍ DỤ
Quy luật chuyển hóa từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất
ngược lại
Câu hỏi: Quá trình học tập rèn luyện của học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 phải
là sự thay đổi đổi về chất lượng đến sự thay đổi về chất không?
Gợi ý:
Trong 12 năm ngồi trên ghế nhà trường, mỗi học sinh đều được trang bị những kiến
thức bản của các môn học thuộc hai lĩnh vực bn khoa học tự nhiên
khoa học hội. Bên cạnh đó, mỗi học sinh lại tự trang bị cho mình những năng,
những hiểu biết riêng về cuộc sống, về tự nhiên, hội. Quá trình tích lũy về lượng
(tri thức) của mỗi học sinh là một quá trình dài, đòi hỏi nỗ lực không chỉ t phía
gia đình, nhà tờng còn chính từ sự nỗ lực khả năng của bn thân người
học. Quy luật lượng chất thể hiện chỗ, mỗi học sinh dần tích lũy cho mình một
khối lượng kiến thức nhất định qua từng bài học trên lớp cũng như trong việc giải
bài tập ở nhà. Việc tích lũy kiến thức sẽ được đánh giá qua c kì, trước hết là c
thi học sau đó là thi tốt nghiệp. Việc tích lũy đủ lượng kiến thức cần thiết
sẽ giúp học sinh vượt qua các thi chuyển sang một giai đoạn học mới. Như

Preview text:

Bứt dây động rừng” thuộc phạm trù triết học nào ? Chương 1:
* Phân tích câu tục ngữ “Một người lo = một kho người làm” đang nói về ý thức hay vật chất ?
Dùng duy vật biện chứng để giải thích ( vai trò của ý thức )
-> Ý thức: “lo” có trách nhiệm giải quyết
* Đk cần và đk đủ để ý thức phát triển ?
- Điều kiện cần: tự nhiên . Sách vở . Được ăn - Điều kiện đủ . Làm bài tập
. Ngôn ngữ : giao tiếp giỏi -> mở rộng mối quan hệ “Học thầy không tày
học bạn “ * Vai trò vật chất vs ý thức ? *
Sự lựa chọn: 5 hình thức vận động: cơ học, vật lí học, hoá học , sinh học , xã
hội học -> xã hộihọc quan trọng nhất: có đầy đủ 5 vận động, 4 vận động còn lại vô
tri vô giác không tự khởi động * Chương 2: *
Quy luật lượng - chất: chỉ cách thức vận động để thành công -> nhuần nhuyễn
quy luật ( độ [241], bước nhảy [242] ) —> Kiên nhẫn: không kiên nhẫn = không
thành công ( liên hệ bản thân - học 12 năm học )
- Phân tích tục ngữ “cần cù bù thông minh” - “có công mài sắt có ngày nên kim”:
quy luật lượng - chất ( lượng,chất ? )-> để thành công phải vượt khó, không phải
1 sớm một chiều —> phải kiên nhẫn
- Phân tích câu tục ngữ chỉ ra phương thức, cách thức vận động phát triển
- Vi phạm lượng chất mắc phải sai lầm gì ? -> tất cả hoạt động thất bại “ dục tốc
bất đạt “ ( liên hệ bản thân: kiên nhẫn, chịu khó, lên kế hoạch để có lộ trình )
* Quy luật mâu thuẫn: vừa thống nhất vừa đấu tranh ( ngày - đêm, chủ quan - khách
quan: suy nghĩ của mình - ý kiến người khác, quy luật cạnh tranh: động lực để cải
tiến phương pháp kinh doanh, đổi mới kĩ thuật nhằm phục vụ khách hàng -> kinh
tế phát triển sôi động )
- Vì sao quy luật mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của vận động phát triển ?:
Mâu thuẫn trong nội tại mang tích khách quan -> sự vật mới xuất hiện - là nguồn
gốc sự phát triển —> phải có dũng khí để đối diện thách thức
* Nguyên lí mối liên hệ phổ biến -
Vd: Con người vs thiên nhiên - Lấy bông làm ra vải/ Con người biết ăn ->
Động vật được cho ăn -
Vi phạm nguyên lí mối liên hệ phổ biến mắc lỗi gì ? Hậu quả ra sao ? Liên
hệ bản thân * Nguyên lí vận động phát triển -> phát triển / tụt hậu Chương 3:
* Phân tích các yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất và yếu tố nào quan trọng nhất
? Vì sao ? Nêu liên hệ thực tiễn
- Con người ( trình độ nghề ) - Nguyên vật liệu - Công cụ lao động
—> Con người quan trọng nhất: con người tạo ra nguyên vật liệu, đối tượng lao
động và tác động vào công cụ lao động + sáng tạo đổi mới không ngừng -> chiếm lĩnh thị trường * Nguyên nhân - kết quả
* Ví dụ cho “Việc học quyết định sự tồn tại của con người”: học để có/giữ việc làm
-> có lương để tồn tại, học để giỏi nghề = lương cao -> giàu có (quyết định sự phát triển)
* Lực lượng sản xuất là yếu tố vật chất, quan hệ sản xuất biểu hiện yếu tố tâm lí, tinh thần
* Phân tích mối quan hệ biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Câu 1: Phân tích:
Định nghĩa vật chất của Lê-nin.
* Định nghĩa ( vật chất Lênin [128], triết học của Lênin [22] ) -> rút ra bài học
gì ( vật chất tồn tại khách quan, não chủ quan —> muốn có nhiều phải học
quan sát - “ Đi một ngày đàng học một sàng khôn ”). Muốn tiền nhiều phải đi
ra ngoài làm -> biến cái của người khác thành tài sản của mình.
Trả lời:
- Vật chất là “phạm trù triết học” do vậy vừa có tính trừa tượng, vừa có tính cụ thể.
+ “Vật chất” ở đây không thể hiểu theo nghĩa hẹp như là vật chất trong các lĩnh
vực khoa học (sắt, nhôm …), cũng không thể hiểu như vật chất trong cuộc sống
hàng ngày (tiền bạc, cơm ăn áo mặc, …).
+ “Vật chất” trong định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học, tức là phạm trù
rộng nhất, khái quát nhất, rộng đến cùng cực, không thể có gì khác rộng hơn. Và
đến nay, nhận thức vẫn chưa hình dung được cái gì rộng hơn phạm trù vật chất.
+ Tính trừu tượng của vật chất dùng để chỉ đặc tính chung, bản chất nhất của vật
chất - đó là đặc tính tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người và cũng là
tiêu chí duy nhất để phân biệt vật chất với khoa học vật chất cụ thể khác. .
+ Tính cụ thể của vật chất thể hiện ở chỗ chỉ có thể nhận biết được vật chất thông
qua nghiên cứu các sự vật hiện tượng vật chất cụ thể
- Vật chất là “thực tại khách quan”: có đặc tính cơ bản (cũng là đặc trưng cơ bản)
là tồn tại không phụ thuộc vào ý thức. Dù con người có nhận thức được hay chưa
nhận thức được thì nó vẫn tồn tại.
- Vật chất có tính khách thể: con người có thể nhận biết vật chất bằng các giác quan
như thị giác, xúc giác,…
í- Ý thức là sự chép lại, chụp lại, phản ánh lại thực tại khách quan. Nói rộng ra, tư
duy, ý thức, tư tưởng, tình cảm… của con người chẳng qua chỉ là sự phản ánh, là
hình ảnh của vật chất trong bộ óc con người
+ Có ý thức của con người trước hết là do có vật chất tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp lên giác quan (mắt, mũti, tai, lưỡi…) của con người. Đây là ví dụ cho thấy ý
thức lệ thuộc vào vật chất + Giác quan của con người, với những năng lực vốn có,
có thể chép lại, chụp lại, phản ánh sự tồn tại của vật chất, tức là nhận thức được
vật chất. Sự chép lại, chụp lại, phản ánh của giác quan đối với vật chất càng rõ
ràng, sắc nét thì nhận thức của con người về vật chất càng sâu sắc, toàn diện
- Vật chất là cái có trước, tồn tại độc lập với ý thức và quy định ý thức. Ý thức là
cái có sau vật chất, phụ thuộc vào vật chất. Như vậy vật chất là nội dung, là nguồn
gốc khách quan của ý thức, là nguyên nhân làm cho ý thức phát sinh.
=> Do tính trước – sau như vậy, vật chất không lệ thuộc vào ý thức, nhưng ý
thức lệ thuộc vào vật chất.
Hoặc (** Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin)
- Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin được trình bày trong tác phẩm
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán như sau: “Vật chất là một
phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người
trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”.
- Phân tích nội dung định nghĩa:
Thứ nhất, cần phải phân biệt “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học với
những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất.Vật chất với tư cách là phạm trù triết học
là kết quả của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên
hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận,
không sinh ra, không mất đi; còn tất cả những sự vật, hiện tượng chỉ là những dạng
biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó có quá trình phát sinh, phát triển và chuyển hóa.
Thứ hai, thuộc tính cơ bản, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất là tồn tại
khách quan với ý thức, tức là tồn tại bên ngoài ý thức, có trước ý thức, độc lập với
ý thức, không phụ thuộc vào ý thức con người, dù con người có nhận thức được nó
hay không (giải quyết mặt thứ nhất trong nội dung vấn đề cơ bản của triết học).
Thứ ba, vật chất, dưới những dạng tồn tại cụ thể của nó là cái có thể gây nên
cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay giántiếp tác động đến giác quan của con
người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, vật chất là cái được ý
thức phản ánh. Hay nói cách khác, nhờ có thuộc tính phản ánh mà thông qua các
giác quan của mình, con người có thể nhận thức được thế giới vật chất (giải quyết
mặt thứ hai trong nội dung vấn đề cơ bản của triết học).
Định nghĩa triết học của Lê-nin. Trả lời:
Triết học Mác - Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên,
xã hội và tư duy - thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức và cải tạo thế giới.
Triết học Mác - Lênin là triết học duy vật biện chứng theo nghĩa rộng. Đó là
hệ thống quan điểm duy vật biện chứng cả về tự nhiên và xã hội. Trong triết học
Mác- Lênin, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất hữu cơ với nhau.
Với tư cách là chủ nghĩa duy vật, triết học Mác - Lênin là hình thức phát triển cao
nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học - chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Với tư cách là phép biện chứng, triết học Mác - Lênin là hình thức cao nhất của
phép biện chứng trong lịch sử triết học - phép biện chứng duy vật.
Triết học Mác - Lênin trở thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học của
lực lượng vật chất - xã hội năng động và cách mạng nhất tiêu biểu cho thời đại
ngày nay là giai cấp công nhân để nhận thức và cải tạo xã hội. Đồng thời triết học
Mác - Lênin cũng là thế giới quan và phương pháp luận của nhân lao đông, cách
mạng và các lực lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức và cải tạo xã hội.
Trong thời đại ngày nay, triết học Mác - Lênin đang đứng ở đỉnh cao của tư
duy triết học nhân loại, là hình thức phát triển cao nhất của các hình thức triết học
trong lịch sử. Triết học Mác - Lênin là học thuyết về sự phát triển thế giới, đã và
đang phát triển giữa dòng văn 33 minh nhân loại.
Câu 2: Phân tích câu châm ngôn/tục ngữ: “Một người lo bằng một kho người làm”.
Câu châm ngôn “Một người lo bằng một kho người làm” thì câu châm ngôn
trên thể hiện vai trò của ý thức. Bởi vì ‘lo’ nó biểu hiện yếu tố tinh thần, ý thức cho
nên ‘bằng một kho người làm’ thì ‘một kho người làm’ nó là yêu tố vật chất. ‘Một
người lo bằng một kho người làm’ ở đây lẻ ra vật chất nó quyết định ý thức nhưng
đây là mối quan hệ biện chứng cho nên ý thức nó tác động ngược trở lại để giải
quyết mọi công việc của tất cả nhân viên bên dưới. Cho nên là mình đưa ra là đây
thể hiện mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Giữa cái riêng của người điều
hành và giữa cái chung của một tập thể làm việc chung. Cái thứ hai cái mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức bởi vì ‘lo’ nó là yếu tố tinh thần, ‘làm’ nó là yếu tố vật
chất nó là hành động. Nhưng ở đây nói lên cái tác động của ý thức đối với vật chất
nó cũng khá là quan trọng bởi vì đó là người ‘lo’ là người quyết định cái hiệu quả
kinh tế có hay không của một đám đông người ‘làm’. Cho nên người tài và người
có trách nhiệm là quyết định cái hiệu quả kinh tế có hay không. Nếu một đám đông
mà không có ai có trách nhiệm hết thì của chùa không ai lo nó nát hết cho nên phải
có người lo và người quản là như vậy.
VD: Người giám đốc rất quan trọng bởi vì một đơn vị có phát triển hay không là
do cái người đi đầu, người quản lý đầu tàu cho nên ông chủ chỉ cần một người
giám đốc giỏi thôi còn nhân viên như thế nào ổng không quan tâm. Ổng chỉ quan
tâm một người giám đốc giỏi thôi vì tôi giao một cục tiền đầu tư cho anh rồi anh
đi tìm các cộng sự, anh muốn làm gì anh làm cho nên ông chủ không bao giờ quan
tâm đến nhân viên như thế nào đâu. Chỉ có giám đốc với một khối lượng công việc
bao nhiêu phòng ban bao nhiêu bộ phận ra một chiến lược hoạt động 5 năm, kế
hoạch hoạt động như thế nào vào hằng năm.
Câu 3: Điều kiện cần và đủ để con người có ý thức và phát triển cái ý thức của mình.
- Điều kiện cần là điều kiện tự nhiên (gồm não người và môi trường).
- Điều kiện đủ là điều kiện xã hội ( gồm lao động và ngôn ngữ).
Như Triết học của chủ nghĩa Mac-Lenin khẳng định: ý thức là một phạm trù
triết học dùng để chỉ toàn bộ hoạt động tinh thần phản ánh thế giới vật chất diễn ra
trong não người, hình thành trong quá trình lđ và được diễn đạt nhờ ngôn ngữ. Bản
chất của ý thức thể hiện ở sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan
vào bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thức gồm
các yếu tố cấu thành như: tình cảm, ý chí, tri thức.
Trong đó, tri thức là yếu tố quan trọng nhất.
Như chúng ta đã biết, tri thức (sự hiểu biết về các lĩnh vực của đời sống xã
hội) là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, tái hiện
trong tư duy những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng bằng ngôn ngữ.
Từ đó ta có thể nhận thấy được :
+ Tri thức phương thức tồn tại cơ bản của ý thức và là điều kiện để ý thức phát triển.
+ Mọi biểu hiện của ý thức đều chứa đựng nội dung tri thức
+ Nếu ý thức mà không bao hàm tri thức , không dựa vào tri thức thì sự trừu
tượng trống rỗng, không giúp ích thực tiễn gì cho con người
+ Tri thức định hướng sự phát triển và quy định mức độ biểu hiện của các yếu
tố khác cấu thành ý thức
+ Mọi hoạt động của con người đều có tri thức , được tri thức định hướng
Bên cạnh đó, tri thức có nhiều loại (về tự nhiên, xã hội, con người), nhiều cấp độ
(Cảm tính, kinh nghiệm tiền khoa học), tri thức khoa học (lý tính, lý luận, khoa
học),.. Nên ngày nay, vai trò của tri thức đối với sự phát triển kinh tế xã hội là điều
không thể chối cãi được. Tuy nhiên nếu tri thức không có sự đồng hành và hỗ trợ
của niềm tin và ý chí thì vai trò đối với đời sống hiện thực cũng hạn chế hơn rất
nhiều nên chúng ta cũng không thể phủ nhận tầm quan trọng các yếu tố còn lại cấu thành ý thức.
Câu 4: Kể ra vật chất có mấy vận động và trong các vận động đó vật động nào
quan trọng nhất, tại sao? Liên hệ và minh chứng. Trả lời:
- Vận động có nhiều hình thức khác nhau tùy theo cách phân loại. Trong các sách
giáo khoa triết học, vận động được phân loại thành 5 hình thức gồm: vận động cơ
học, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học, vận động xã hội.
 Vận động cơ học:Sự di chuyển các vị trí vật thể trong không gian.
VD: Chim bay, tàu chạy, sự di chuyển của con lắc, trái đất quay quanh mặt trời,….
 Vận động vật lý: Sự vận động của các phần tử, các hạt cơ bản, nhiệt, điện,…
VD: Các e chuyển động xung quanh hạt nhân, sự bay hơi, sự đông đặc, ma sát sinh ra nhiệt,…
 Vận động hóa học: Quá trình hóa hợp và phân loại các chất. VD: C + O2  CO2
 Vận động sinh học: Sự trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường.
VD: Hạt nảy mầm, sự quang hợp ở cây xanh, hô hấp ở con
người,…  Vận động xã hội: Những biến đổi diễn ra trong đời sống xã hội.
VD: Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của Việt Nam, sự biến đổi các công cụ
lao động từ đồ đá đến kim loại, sự thay đổi xã hội loài người,…
- Trong 5 loại vận động thì vận động xã hội quan trọng nhất. Bởi vì vận động xã
hội nó là vận động của con người mà vận động của con người nó vừa có vận động
về thể lực và trí lực. Còn bốn vận động còn lại nó là vận động vô tri vô giác, nó
không tự khởi động được và nó không tự điều chỉnh được mà nó phải do con người
điều chỉnh nó. Và vận động của con người nó mang tính sáng tạo và nó làm cho
các hoạt động khác thường xuyên đổi mới, thay đổi.
Câu 5: Ba quy luật cơ bản của triết học. Trả lời:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng bao gồm hai nguyên lý cơ bản là nguyên lý về mối
liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
thể hiện qua sáu cặp phạm trù được sử dụng là Cái chung và cái riêng, Bản chất và
hiện tượng, Nội dung và hình thức, Tất nhiên và ngẫu nhiên, Nguyên nhân và kết
quả, Khả năng và hiện thực.
Nguyên lý về sự phát triển bao gồm: Quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng - chất và
quy luật phủ định. Trong đó:
– Quy luật lượng – chất: Chỉ ra cách thức của sự vận động và phát triển.
Lượng là cái thường xuyên biến đổi, còn chất là cái tương đối ổn định, lượng biến
đổi đến một mức độ nhất định sẽ chuyển hóa thành chất mới thay thế chất cũ.
Trong quy luật này có dùng một số từ như “độ”, “bước nhảy”, “điểm nút”. Cụ thể:
Độ là khoảng giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất
của sự vật, điểm nút là thời điểm mà tại đó, sự thay đổi về lượng đủ để làm thay
đổi về chất của sự vật và bước nhảy là chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật.
Lấy một ví dụ cụ thể cho các bạn về quy luật này như sau:
VD: Sinh viên tích lũy một lượng kiến thức đủ mới trở thành cử nhân. Trong đó:
lượng là lượng kiến thức phải đạt được, chất là sinh viên. Độ là từ năm 1 đến năm
4, còn điểm nút chính là năm 1 và năm 4, bước nhảy chính là từ sinh viên lên cử
nhân. Lúc này, chất là cử nhân.
Rút ra bài học thực tế: Cần phải tích lũy đủ về lượng thì mới có thể thay đổi về
chất, tránh tư tưởng nóng vội chưa tích lũy đủ về lượng đã muốn thay đổi về chất
(chưa học xong đã muốn đi làm công việc mình đang học) hoặc bảo thủ, trì trệ khi
đã tích lũy đủ về lượng nhưng lại không muốn thay đổi về chất (học xong rồi
nhưng lại không muốn đi làm) – Quy luật mâu thuẫn: Chỉ ra nguồn gốc của sự
vận động và phát triển.

Trong mỗi sự vật, hiện tượng hay quá trình nào đó luôn chứa đựng những mặt,
khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn bên trong bản thân sự vật,
hiện tượng đó. Và sự thống nhất, đấu tranh giữa các mặt đối lập này là nguồn gốc
tạo nên sự vận động và phát triển, dẫn đến cái mới ra đời thay thế cái cũ.
Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển, nên cần phải phân tích, sự
vật, hiện tượng để tìm ra những mâu thuẫn trong các mặt, khuynh hướng và mối
liên hệ giữa chúng mà giải quyết, tránh việc điều hòa các mâu thuẫn đó.
Đơn cử là câu chuyện không biết thì phải học.
– Quy luật phủ định của phủ định:
Cái mới ra đời thay thế cái cũ nhưng trên nền tảng kế thừa cái cũ. Cái mới này
trong quá trình phát triển tiếp theo lại dần trở nên cũ, lỗi thời nên nó lại bị phủ định
bởi một cái mới cao hơn. Cứ như thế mà thông qua số lần phủ định kế tiếp nhau
mà sự vật, hiện tượng sẽ phát triển không ngừng theo đường xoắn ốc.
Điển hình là văn bản pháp luật mới ra đời luôn dựa trên nền tảng của văn bản pháp
luật cũ, giữ lại những điểm hay của văn bản pháp luật cũ, đồng thời bãi bỏ những
điểm chưa hay, chưa tốt để thay thế bằng điểm mới hay hơn, tốt hơn tại văn bản pháp luật mới.
Rút ra được bài học thực tế: Cái mới ra đời là tất yếu, cái mới thay thế cái cũ,
nhưng dựa trên nền tảng cái cũ, tránh phủ định sạch trơn cái cũ hoặc là không đón
nhận sự ra đời của cái mới.
Câu 6: Quy luật mâu thuẫn. Tại sao thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lặp nó là ‘nguồn gốc và động lực của sự vận động và phát triển’? Bài học rút
ra từ quy luật này là gì?

Giữa cái đấu tranh để đi đến thống nhất chứ không phải đấu tranh để triệt tiêu.
Kinh tế thị trường là cạnh trạnh để phát triển một nền kinh tế, người tiêu dùng được
hưởng lợi, cạnh trạnh thì hàng hóa ngày càng đẹp và ngày càng có chất lượng mà
giá thành lại giảm xuống người tiêu dùng thuận lợi. Nó phải làm nên một nền kinh
tế từ người tiêu dùng và là người được hưởng. Một nền kinh tế phát triển ai được
hưởng? Người tiêu dùng được hưởng cho nên là mục đích phát triển kinh tế để
phục vụ cho người tiêu dùng vì vậy mà cạnh tranh nó không triệt tiêu các doanh
nghiệp mà ngược trở lại nó buộc các doanh nghiệp phải thay đổi cách quản lý, cách
sản xuất để phục vụ cho người dân. Nó không triệt tiêu mà nó là động lực để các
doanh nghiệp phải đổi mới thường xuyên nếu không sẽ mất khách hàng đó là người
tiêu dùng cho nên nó không triệt tiêu các doanh nghiệp mà còn giúp các doanh
nghiệp càng ngày càng nâng cao, phát triển hơn là bởi vì họ càng chú ý đến đổi
mới và cải tiến. Nếu không có cạnh tranh thì các doanh nghiệp sẽ trì trệ, hàng hóa
khan hiếm còn có cạnh tranh thì thị trường sôi động, hàng hóa càng ngày càng
nhiều và mẫu mã càng ngày càng đa dạng, giá thành hạ xuống người tiêu dùng
đưucọ lợi cho nên nó là động lực. Vì nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển và người
tiêu dùng một khi nền kinh tế phát triển thì họ sẽ được hưởng.
Bài học rút ra từ quy luật phủ định là phải có dũng khí để đối diện với cạnh
trạnh, đối diện với thách thức để khẳng định mình và biến cái áp lực trở thành động
lực. Ví như chúng ta biến cái áp lực của việc học trở thành động lực để mình học
tốt hơn và mình hiểu là học để mình thành công, người thành công là người không
thể nào ít kiến thức được, không thể nào thiếu sự nổ lực chăm học được cho nên
chúng ta có động lực học để thành công là như vậy mục đích học của mình sẽ rõ ràng hơn.
VD: Trong xã hội công xã nguyên thủy, con người phải đấu tranh với tự nhiên,
trình độ lao động rất sơ khai. Để tồn tại, loài người phát minh ra nhiều công cụ: rìu
đá, lao, chăn nuôi..tức là giải quyết mâu thuẫn giữa sống hoặc chết đói. Nhờ công
cụ cải tiến, của cải làm ra nhiều hơn mức tiêu thụ, dẫn đến của cải còn thừa tập
trung vào một số người, hình thành mâu thuẫn mới giữa người có của và không có
của. Loài người bước sang xã hội phân biệt giai cấp (chiếm hữu nô lệ, phong kiến,
tư bản). Khi giai cấp bị áp bức tiêu diệt giai cấp áp bức (những người không có của
tiêu diệt những người có của) loài người sẽ bước sang xã hội mới, xã hội XHCN
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~//////////////~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~ ~~~~~~~~~~
1. Để nắm vững được nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập, chúng ta cần nắm vững một số quy luật cơ bản sau:
+ Mặt đối lập là những mặt, những thuộc tính những quá trình có khuynh hướng
biến đổi trái ngược nhau tạo nên sự tồn tại của SVHT.
+ Mâu thuẫn là khái niệm chỉ sự liên hệ tác động lẫn nhau của các mặt đối lập,
mỗi mâu thuẫn là một cặp đối lập trong cùng một sự vật vừa thống nhất với
nhau vừa thường xuyên đấu tranh với nhau.
+Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự ràng buộc lẫn nhau nương tựa vào nhau
của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại cho mình.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ
và phủ định lẫ nhau sự chuỷển hoá lẫn nhau của các mặt đối lập.
2. Nội dung quy luật:
- Mỗi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều là thể thống nhất của các
mặt đối lập của sự vật hiện tượng thống nhất với nhau tạo nên một mâu thuẫn khi
mới xuất hiện mâu thuẫn biếu hiện ở sự khác nhau của hai mặt trong sự vật khác
nhau do dần dần chuyển thành sự đối lập khi đó mâu thuẫn rõ nét 2 mặt đối lập
đấu tranh với nhau sự đấu tranh phát triển đến gay gắt lên đến đỉnh cao thì xẩy ra
xung đột giữa hai mặt của mâu thuẫn hai mặt đó chuyển hoá với nhau trong những
điều kiện nhất định tức là mâu thuẫn được giải quyết kết thúc sự thống nhất cũ
của các mặt đối lập, một sự thống nhất mới xuất hiện, mâu thuẫn cũ mất đi, mâu
thuẫn mới ra đời, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thay thế cho nó trong sự vật
mới có sự thống nhất mới các mặt đối lập lại đấu tranh với nhau mâu thuẫn lại
phát triển và lên đến đỉnh cao thì được giải quyết đó lại chuyển hoá lẫn nhau của
các mặt đối lập diễn ra thường xuyên làm cho sự vật vận động, phát triển không
ngừng đó là quy luật vốn có của sự vật hiện tượng, sự chuyển hoá của các mặt đối
lập cũng khác nhau có 2 hình thức cơ bản:
- Mặt đối lập này trực tiếp chuyển thành mặt đối lập kia, sang cái đối lập với mình.
- Cả hai mặt đối lập đều chuyển hoá thành cái khác lên hình thức cao hơn.
3. Ý nghĩa của việc nắm vững quy luật này:
- Mâu thuẫn là khách quan và phổ biến, chúng là phân tích các mặt đối lập tìm ra
mâu thuẫn của nó có như vậy mới nắm được bản chất của sự vật hiện tượng mới
tìm ra khuynh hướng vận động và phát triển của chúng để có biện pháp cải tạo sự vật.
- Phương pháp phân tích mâu thuẫn.
+ Mâu thuẫn có quá trình phát triển cho nên nó được giải quyết khi đã có đủ
điều kiện để giải quyết. Việc giải quuyết mâu thuẫn phải luôn theo quy luật
khách quan. + Mâu thuẫn phải được giải quyết bằng con đường đấu tranh, các
hình thức đấu tranh cũng phải khác nhau để phù hợp với từng loại mâu thuẫn,
mâu thuẫn phải được giải quyết một cách cụ thể có nhiều hình thức đấu tranh
giữa các mặt đối lập nên chúng ta phải căn cứ vào tình hình cụ thể lựa chọn
hình thức đấu tranh phù hợp nhất.
~~~~~~~~~*****~~~~~~~~~~~~~~~~~~~//////////////~~~~~~~~~~~~~~~*****~ ~~~~~~~~~
1) Vị trí, vai trò của quy luật trong phép biện chứng duy vật. Là một trong ba
quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, quy luật thống nhất và đấu tranh
giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn) chỉ ra nguồn gốc, động lực bên trong
của sự vận động, phát triển. Nắm vững được nội dung của quy luật này tạo cơ sở
cho việc nhận thức các phạm trù và quy luật khác của phép biện chứng duy vật;
đồng thời giúp hình thành phương pháp tư duy khoa học, biết khám phá bản chất
của sự vật, hiện tượng và giải quyết mâu thuẫn nảy sinh.
2) Nội dung quy luật. a)
Các khái niệm của quy luật. Mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những yếu
tố, những thuộc tính khác nhau có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau cùng
tồn tại khách quan trong các sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy. Sự
tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn biện chứng và mâu
thuẫn biện chứng quy định sự biến đổi của các mặt đối lập nói riêng và của sự vật,
hiện tượng nói chung. Thống nhất giữa các mặt đối lập là sự không tách rời
nhau, cùng tồn tại đồng thời và mặt đối lập này phải lấy mặt đối lập kia làm cơ sở
cho sự tồn tại của mình. Sự thống nhất giữa các mặt đối lập còn gọi là sựđồng nhất
giữa chúng do trong các mặt đối lập còn tồn tại những yếu tố giống nhau. Do sự
đồng nhất giữa các mặt đối lập, nên trong nhiều trường hợp, khi mâu thuẫn xuất
hiện và hoạt động, trong những điều kiện nào đó, tạo sự chuyển hoá lẫn nhau giữa
các mặt đối lập. Đồng nhất không tách rời với sự khác nhau, với sự đối lập, bởi
mỗi sự vật vừa là bản thân nó, vừa là một cái khác với chính bản thân nó; trong
đồng nhất đã bao hàm sự khác nhau, đối lập. Các mặt đối lập luôn tác động qua lại
với nhau theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau; người ta gọi đó là
đấu tranh giữa các mặt đối lập và sự đấu tranh đó không tách rời với sự khác
nhau, thống nhất, đồng nhất giữa chúng trong một mâu thuẫn. b)
Vai trò của mâu thuẫn biện chứng đối với sự vận động và phát triển. Theo Ph.
Ăngghen, nguyên nhân chính và cũng là nguyên nhân cuối cùng tạo nên nguồn gốc
của sự vận động, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng là sự tác động lẫn nhau giữa
chúng và giữa các mặt đối lập trong chúng. Có hai loại tác động lẫn nhau dẫn đến
vận động. Đó là sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và sự tác động
lẫn nhau giữa các mặt đối lập trong một sự vật, hiện tượng. Cả hai loại tác động
này tạo nên sự vận động; nhưng chỉ loại tác động thứ hai- loại tác động lẫn nhau
giữa các mặt đối lập do mâu thuẫn giữa chúng tạo nên mới làm cho sự vật, hiện tượng phát triển. c)
Một số loại mâu thuẫn. +) Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập đối với
một sự vật, hiện tượng, người ta phân mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong- là sự
tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập, là mâu thuẫn nằm ngay
trong bản thân sự vật, hiện tượng, đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với quá
trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Mâu thuẫn bên ngoài là mâu
thuẫn diễn ra trong mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng khác nhau có ảnh hưởng
đến sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng, nhưng phải thông qua mâu thuẫn
bên trong mới phát huy tác dụng.
+) Căn cứ vào sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, hiện tượng, người ta phân
mâu thuẫn thành mâu thuẫn cơ bản- là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật,
hiện tượng, quy định sự phát triển của sự vật, hiện tượng trong tất cả các giai đoạn,
từ lúc hình thành cho đến lúc kết thúc và mâu thuẫn này tồn tại trong suốt quá trình
tồn tại của sự vật, hiện tượng. Mâu thuẫn không cơ bản chỉ là mâu thuẫn đặc trưng
cho một phương diện nào đó của sự vật, hiện tượng, chịu sự chi phối của mâu thuẫn
cơ bản; là mâu thuẫn chỉ quy định sự vận động, phát triển của một hoặc vài mặt
nào đó của sự vật, hiện tượng.
+) Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện
tượng trong một giai đoạn nhất định,người ta phân mâu thuẫn thành mâu thuẫn chủ
yếu- là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật,
hiện tượng; có tác dụng quy định những mâu thuẫn khác trong cùng một giai đoạn
của quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng. Giải quyết mâu thuẫn chủ yếu sẽ
tạo điều kiện để giải quyết những mâu thuẫn khác ở cùng giai đoạn. Sự phát triển,
chuyển hoá của sự vật, hiện tượng sang hình thức khác phụ thuộc vào việc giải
quyết mâu thuẫn chủ yếu. Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn không đóng vai
trò quyết định trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Tuy vậy, ranh
giới giữa mâu thuẫn chủ yếu, thứ yếu chỉ là tương đối, tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ
thể; có những mâu thuẫn trong điều kiện này là chủ yếu, song trong điều kiện khác
lại là thứ yếu và ngược lại.
+) Căn cứ vào tính chất của các lợi ích cơ bảnlà đối lập nhau của các giai cấp, ở
một giai đoạn nhất định, người ta phân mâu thuẫn xã hội thành mâu thuẫn đối
kháng- là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người, giữa những xu
hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau và không thể điều hoà được. Đó là mâu
thuẫn giữa các giai cấp bóc lột và bị bóc lột; giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị
trị. Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những khuynh hướng, những
giai cấp, những tập đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản không
đối lập nhau. Các mâu thuẫn đó là cục bộ, tạm thời.
c) Kết luận. Nội dung quy luật nói lên rằng, mâu thuẫn giữa các mặt đối lập trong
sự vật, hiện tượng là nguyên nhân; giải quyết mâu thuẫn đó là động lực của sự vận
động, phát triển; sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng là tự thân. Quá
trình từ khác nhau, thống nhất qua mâu thuẫn đến đấu tranh giữa các mặt đối lập
mà kết quả là mâu thuẫn giữa chúng được giải quyết; xuất hiện sự thống nhất mới
cùng với sự hình thành mâu thuẫn mới trong một sự vật, hiện tượng ở dạng thống
nhất thường trải qua ba giai đoạn chính, mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng của mình.
+) Giai đoan một (giai đoạn khác nhau)- khi sự vật, hiện tượng mới xuất hiện, mâu
thuẫn thường được biểu hiện ở sự khác nhaugiữa các mặt đối lập.
+) Giai đoạn hai (giai đoạn từ khác nhau chuyển thành mâu thuẫn)- trong quá trình
vận động, phát triển của các mặt có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau và
bài trừ, phủ định lẫn nhau ở giai đoạn một; sự khác nhau chuyển thành mâu thuẫn.
+) Giai đoạn ba (giai đoạn giải quyết mâu thuẫn)- khi hai mặt đối lập xung đột gay
gắt với nhau, nếu có điều kiện thì hai mặt đó sẽ hoặc chuyển hoá lẫn nhau; hoặc
triệt tiêu nhau; hoặc cả hai mặt đó đều bị triệt tiêu; sự vật, hiện tượng chuyển sang
chất mới. Mâu thuẫn được giải quyết với kết quả là hai mặt đối lập cũ bị phá huỷ,
sự thống nhất giữa hai mặt mới được hình thành cùng với sự hình thành của mâu
thuẫn mới. Mâu thuẫn này lại được giải quyết làm cho sự vật, hiện tượng mới luôn
xuất hiện thay thế sự vật, hiện tượng cũ. Sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập làm cho
sự vật, hiện tượng không tồn tại vĩnh viễn trong một chất. Đó là quan hệ giữa mâu
thuẫn biện chứng với sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, trong đó mâu
thuẫn giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, đấu tranh giữa các mặt đối lập là động
lực bên trong của sự vận động và phát triển.
+) Sự thống nhất giữa các mặt đối lập có tính tạm thời, tương đối, là có điều kiện,
thoáng qua, nghĩa là sự thống nhất đó tồn tại trong trạng thái đứng yên tương đối
của sự vật, hiện tượng. +) Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập có tính tuyệt đối,
nghĩa là sự đấu tranh đó phá vỡ sự ổn định tương đối của sự vật, hiện tượng dẫn
đến sự chuyển hoá về chất của chúng. Tính tuyệt đối của sự đấu tranh gắn liền với
sự tự thân vận động, phát triển diễn ra không ngừng của các sự vật, hiện tượng
trong thế giới vật chất. Suy ra, sự vận động, phát triển là tuyệt đối.
3) Từ nội dung quy luật mâu thuẫn của phép biện chứng duy vật, rút ra một
số nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. a)
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập giúp chúng ta nhận thức
đúng bản chất của sự vật và tìm ra phương hướng, giải pháp đúng cho hoạt động
thực tiễn bằng con đường đi sâu nghiên cứu, phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật,
hiện tượng. Muốn phát hiện ra mâu thuẫn cần phải tìm ra thể thống nhất của những
mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức là tìm ra những mặt đối lập và
những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó trong sự vật, hiện tượng. b)
Quy luật mâu tbuẫn giúp khi phân tích mâu thuẫn phải xem xét quá trình phát
sinh, phát triểncủa từng mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau
của các mặt mâu thuẫn; phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển và vị trí của
từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động qua lại, điều kiện chuyển hoá lẫn nhau giữa
chúng. Chỉ có như thế mới hiểu đúng sự vật, hiểu đúng xu hướng vận động để giải quyết mâu thuẫn. c)
Quy luật mâu thuẫn giúp nhận thức được rằng, để thúc đẩy sự vật, hiện tượng
phát triển phải tìm cách giải quyết mâu thuẫn, không được điều hoà mâu thuẫn.
Mọi mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi; không nóng vội
hay bảo thủ, trì trệ khi giải quyết mâu thuẫn.
Câu 7: Quy luật phủ định của phủ định ‘khuynh hướng/ phương hướng của
sự vận động phát triển’. Bài học rút ra.
Con đường phát triển của quy luật phủ định cùa phủ định nó là con đường
xoáy ốc. Nói đến con đường xoáy ốc thì nó là con đường quanh co việc làm để
thành công không bao giờ là dễ cả và để thành công thì người ta nổ lực liên tục.
Bởi vì ngày hôm nay thành công ngày mai người khác đã giữ vị trí đó nếu như bản
thân mình không nổ lực để giữ vị trí cho nên đường xoáy ốc là không có điểm
dừng. không có đường cùng vì nó là đường vô cực khác với đường thẳng là như
vậy. Bài học rút ra từ quy luật phủ định cảu phủ định là sự nổ lực liên tục là bởi vì
thứ nhất xoáy ốc không có điểm dừng. Thứ hai, là phức tạp cho nên phải nổ lực
mới vượt qua nổi nó không phải là việc làm đơn giản mà là việc làm phức tạp và
công việc phức tạp có thu nhập bằng bội số của công việc giản đơn. Nó sẽ chứng
minh tại sao việc phức tạp có thu nhập bằng bội số của việc giản đơn. Ví dụ một
giờ làm việc của một tiến sĩ đưuọc trả 250.000đ trong khi đó một ngày làm việc
của nhân viên bình thường được trả là 200.000đ cho một ngày làm việc. Chính vì
vậy người ta mới có động lực học tiến sĩ bởi vì học nó sẽ có luơng cao. VD:
+ Một quả trứng là sự khẳng định ban đầu (trong điều kiện được ấp) => Phủ
định lần 1 tạo ra gà mái con => Phủ định lần 2 (gà mái con lớn lên) sinh ra
nhiều quả trứng.
+ Một hạt thóc là sự khẳng định ban đầu (được gieo trồng) => Phủ định lần 1
tạo ra cây lúa => Phủ định lần 2, cây lúa sinh ra nhiều hạt thóc.
Ở 2 ví dụ trên ta có một chu kỳ phát triển: Từ một quả trứng ban đầu đến nhiều quả
trứng mới. Từ một hạt thóc ban đầu đến nhiều hạt thóc mới. Từ một đến nhiều tức
là có sự phát triển lên nấc thang cao hơn. Đó là kết quả phủ định của phủ định.
Câu 8: Quy luật nguyên nhân kết quả cặp phạm trù nhân quả.
Nó là cặp phạm trù nhân – quả. Tất cả mọi kết quả đều xuất phát từ nguyên
nhân cho nên nguyên nhân và kết quả nó là quy luật không cơ bản và có thể giao
hoán lẫn nhau. Một nguyên nhân cho ra nhiều kết quả. Và ngược lại, nhiều kết quả
nhưng chỉ đạt được một nguyên nhân.
VD: để bước vào trường đại học học nghề thì các sinh viên phải trải qua nhiều
nguyên nhân. Một là cha mẹ phải chăm sóc, hai là các bạn phải được đi học và ba
là phải được thầy cô dạy dỗ và mối quan hệ bạn bè ở môi trường học đường. Nhiều
nguyên nhân để vào đại học và nó giao hoán và kết quả vào được trường đại học.
Nhưng nó giao hoán một cái nguyên nhân học đại học thì nó sẽ ra 3,5 năm sau đầu
ra là kiếm việc làm thuận lợi và tiền lương cao, đời sống của mình thay đổi, bạn bè
của mình mở rộng ra cơ hội đào sâu vào chuyên ngành học cao học, học tiến sĩ.
VD: Chặt phá rừng cũng chính là nguyên nhân dẫn đến nhiều kết quả như là có gỗ
có đất để canh tác nhưng mà cũng có các kết quả xấu như là xói mòn đất mất đa
dạng sinh học biến đổi khí hậu của khu vực đó thì cái chặt phá rừng đã dẫn đến cái nhiều kết quả.
VD: Ô nhiễm môi trường đô thị hiện nay do một số nguyên nhân cơ bản sau đây
và từ một nguyên nhân ô nhiễm môi trường cũng sinh ra nhiều kết quả. Trong
những năm gần đây do quá trình đô thị hoá và do tác động của cơ chế thị trường
giá đất tăng cao nên nhiều ao hồ bị lấp dần để xây nhà và công trình thậm chí có
nơi không còn ao và đất trống nữa dẫn đến tình trạng thiếu rãnh thoát nước, nước
thải từ các hộ gia đình tràn chảy ra đường vì không có hệ thống thoát nước điều
này đã gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng nhiều chỗ bị ngập ngay cả lúc trời
không mưa có thể nói là "thiếu nước sạch thừa nước bẩn".
Câu 10: Phân tích câu châm ngôn và nó thuộc quy luật nào?
“Cần cù bù thông minh”
“Có công mài sắt có ngày nên kim” Trả lời:
“Cần cù bù thông minh” quy luật lượng – chất
“Có công mài sắt có ngày nên kim” nó là quy luật lượng – chất.
Từ một cục sắt mà nó trở thành cái kim đó là một quá trình mài dũa của người
lao động. Đây là quy luật lượng – chất. Lượng – chât chỉ cho mình cách thức,
phương thức để mình vận động mình thành công. Từ cục sắt mà trở thành cây kim
để mình thành công là như vậy khi mà nó thành kim là mình thành công. Và bài
học rút ra từ nó là sự kiên nhẫn bởi vi để thành công bao giờ việc làm cũng làm là
khó cho nên không kiên nhẫn chúng ta sẽ không vượt qua được hết. Thứ hai, để
thành công bao giờ nó cũng là một quá trình mình phải rèn luyện nếu như mình
không kiên nhẫn là mình sẽ bỏ cuộc.
Lượng là gì? Lượng là một phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan
của sự vật, hiện tượng nào đó, biểu thị số lượng, quy mô hay trình độ, nhịp điệu
của sự vận động và phát triển của hiện tượng, sự vật cũng như thuộc tính của nó.
Hay nói một cách dễ hiểu hơn thì lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan, vốn
có của sự vật (tạo thành cơ sở khách quan cho sự tồn tại của chất của sự vật) về
các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp
điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật.
Chất là gì? Chất là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của
một sự vật, hiện tượng nào đó; là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính, các yếu
tố cấu tạo thành sự vật, hiện tượng, làm cho sự vật, hiện tượng là nó mà không phải là cái nào khác.
Câu 11: Hãy chỉ ra cái quy luật của phép biện chứng duy vật nêu phương thức,
cách thức vận động và phát triển. Bài học rút ra từ nó. (Quy luật lượng –
 chất)
 Sự kiên nhẫn
Đây là quy luật lượng – chất. Lượng – chât chỉ cho mình cách thức, phương thức
để mình vận động mình thành công. Từ cục sắt mà trở thành cây kim để mình thành
công là như vậy khi mà nó thành kim là mình thành công. Và bài học rút ra từ nó
là sự kiên nhẫn bởi vi để thành công bao giờ việc làm cũng làm là khó cho nên
không kiên nhẫn chúng ta sẽ không vượt qua được hết. Thứ hai, để thành công bao
giờ nó cũng là một quá trình mình phải rèn luyện nếu như mình không kiên nhẫn thì mình sẽ bỏ cuộc.
Câu 12: Nếu như chúng ta mắc phải những sai lầm về nguyên lý về mối quan
hệ phổ biến thì chúng ta bị hậu quả gì? (Nếu như vi phạm về mối liên hệ phổ
biến chúng ta mắc phải sai lầm gì, tại sao?)

Nếu như chúng ta vi phạm về mối liên hệ phổ biến chúng ta mắc phải sai lầm là
nhìn sự vật và hiện tượng không chính xác là bởi vì chúng ta nhìn nó có một mặt
thôi. Ví dụ như một ngày 24 tiếng đồng hồ phải có vừa ngày vừa đêm bởi vì một
ngày của mình phải có một nửa ngày một nữa đêm thì nó là một ngày bình thường.
Và nhìn con người thì ai cũng có điểm mạnh và cũng có điểm yếu và ai cũng có
mặt tốt và mặt xấu, mình cũng nhìn thấy mình có điểm tốt và có điểm chưa tốt để
mà mình rèn luyện. Điểm tốt mình phát huy và điểm chưa tốt thì mình phải rèn luyện.
Câu 14: Để nhìn sự vật và hiện tượng một cách chính xác ta dựa vào cơ sở lý luận nào?
Để nhìn sự vật và hiện tượng một cách chính xác ta dựa vào cơ sở hai cái
nguyên lý đó là nguyên lý về sự vận động, phát triển và nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến. Bởi vì hai nguyên lí này thì nguyên lí về sự vận động và phát triển để
chúng ta nhìn sự vật và hiện tượng luôn luôn vận động và nó luôn luôn thay đổi.
Chính xác là nó luôn luôn thay đổi vì ngày hôm nay nó khác với ngày hôm qua, nó
có sự thay đổi mà nếu như mình nhìn nó không vận động là không thay đổi thì coi
như mình tuột hậu. Cho nên lưu ý nguyên lý thứ nhất để nhìn sự vật và hiện tượng
luôn chính xác thì phải đòi hỏi nhìn nó trong một trạng thái vận động và mang tính
lịch sử bởi lịch sử có quá khứ, hiện tại và tương lai. Cái thứ hai, cái nguyên lí về
mối quan hệ phổ biến để nhìn nó trong một cái mối quan hệ tổng thể có nghĩa là
nhìn sự vật hiện tượng một cách toàn diện chứ không có phiến diện. Cơ sở lý luận
là hai nguyên lý để nhìn mọi thứ và con người một cách chính xác, nhìn thị trường
một cách chính xác để biết đầu tư cái gì và chọn nghề cũng phải biết chính xác khả
năng mình, sở trường của mình. Nhiều người chọn nghề mà không hiểu được mình
cho nên không giữ được nghề đó là như vậy còn mình hiểu được mình là mình
chọn nghề rất chính xác. Bản thân mình không nhìn ra mình huống hồ chi mình
nhìn người khác được cho nên tại sao mình bỏ nghề vì mình nhìn không được mình.
bởi vì nghề nào người ta cũng sống được nghề nào chúng ta cũng làm giàu được
mà vậy tại sao mình lại không phù hợp với nghề xem lại coi mình có nhìn được mình chính xác chưa.
Câu 15: Phân tích mối quan hệ biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất, liên hệ thực tiễn.

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,,
chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy
luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người, quy luật về sự phù hợp quan hệ sản
xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Quy luật này vạch rõ tính
chất phụ thuộc khác quan của quan hệ sản xuất và phát triển của lực lượng sản xuất.
Thực tiễn cũng đã làm rõ mối quan hệ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất từ đó khẳng định sự tồn tại của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất tạo động lực cho nền kinh tế phát triển. Lực
lượng sản xuất phát triển đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp. Ví dụ như chủ
nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và chính
sản xuất hàng hóa với quy mô lơn và quan hệ thị trường đã phá vỡ quan hệ sản
xuất phong kiến và hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, Trong tuyên
ngôn của đảng cộng sản (2 - 1948), C. Mác và PH. Ănggghen nêu rõ: "Giai cấp tư
sản, trong quá trình thống trị giai cấp chứ đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng
sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại".
- Lực lượng sản xuất tác động đến quan hệ sản xuất, cụ thể như sau:
 Quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi và phát triển đều do lực lượng sản xuất quyết định;
 Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất đã quyết định, làm thay đổi các
quan hệ sản xuất sao cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra
đời thì quan hệ sản xuất sẽ phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đó;
 Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định sẽ làm cho quan
hệ sản xuất từ phù hợp trở thành không phù hợ với sự phát triển này. Yêu cầu
khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu này dẫn đến sự thay thế
quan hệ sản xuất cũ bằng một quan hệ sản xuất mới sao cho phù hợp với trình độ
phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát
triển. Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới thì phương thức
sản xuất mới ra đời thay thế cho cái cũ.
- Quan hệ sản xuất tác động đến lực lượng sản xuất, cụ thể như sau:
 Sự hình thành, biến đổi, phát triển của quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất;
 Lực lượng sản xuất sẽ có quyết định quan hệ sản xuất. Nhưng quan hệ sản xuất
cũng có tính độc lập tương đối và tác động ngược trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất;
 Quan hệ sản xuất quy định mục đích, cách thức của sản xuất và phân phố. Do đó
sự trực tiếp gây ảnh hưởng đến thái độ của người lao động, chất lượng và hiệu
quả của quá trình sản xuất, cải tiến công cụ lao động. Sự tác động của quan hệ sản
xuất lên lực lượng sản xuất diễn ra theo hai hướng là tích cực hoặc tiêu cực. Tích
cực là thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nếu nó phù hợp, còn tiêu cực là kìm
hãm lực lượng sản xuất khi nó không còn phù hợp.
 Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó
trở thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.
Ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi thời không còn phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất, bộc lộ mâu thuẫn gay dắt với lực lượng sản xuất thì trở
thành chướng ngại kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Song sự tác
dụng kìm hãm đó chỉ là tạm thời, theo tính chất tất yếu khách quan thì nó srx bị
thay thế bằng kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.;
 Quan hệ sản xuất có tác động mạnh mẽ đối với lực lượng sản xuất vì nó quy định
mục đích của sản xuất, quy định hệ thống của tổ chức, quản lý xã hội, quy định
phương thức phân phối của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do
đó nó ảnh hưởng đến thái độ của lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội, nó tạo ra
những điều kiện hoặc kích thúc hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, áp
dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân công lao
động. Mỗi kiểu quan hệ sản xuất là một hệ thống, một chỉnh thể hữu cơ gồm ba
mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể
đó quan hệ sản xuất mới trở thành động lực thúc đẩy hành động nhằm phát triển sản xuất.
- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất qua sự tác động
lẫn nhau, cụ thể như sau:
 Sự thống nhất và tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã
hội hợp thành phương thức sản xuất. Trong sự thống nhất biện chứng này, sự phát
triển của lực lượng sản xuất đóng vai trò quýêt định đối với quan hệ sản xuất.
Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất. Lực lượng sản xuất thường xuyên vận động, phát triển nên qun hệ sản
xuất cũng luôn luôn thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của lực lượng sản
xuất. Từ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất làm
hình hành quy luật quan hệ sản xuất phải phfu hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất;
 Đây là quy luật kinh tế chung của mọi phương thức sản xuất, Quy luật về sự phù
hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy
luật cơ bản của sự phát triển loài người. Sự tác động của nó trong lịch sử làm cho
xã hội chuyển từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái xã hội cao hơn.
+Ví dụ: Khi xét trong các mối quan hệ công việc tại công ty, thì quan hệ giữa chủ
tịch với giám đốc, hoặc quan hệ giữa giám đốc với các trưởng phòng… là những
quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất. Rõ ràng, nếu những quan hệ này được
tổ chức khoa học thì doanh thu của công ty sẽ phát triển. Ngược lại, nếu những
quan hệ này có vấn đề, hoạt động kinh doanh của công ty sẽ gặp rắc rối.
Câu 15*: Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất. Từ đó làm rõ sự vận dụng quy luật này trong tiến trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

1. Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất: -
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất.
Lực lượng sản xuất là năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên
 của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình -
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng
to lớn. Ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Quan hệ sản xuất: -
Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của phương thức sản xuất có tính ổn định
tương đối so với sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất
2. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
+ Trình độ lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người:
biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng lao
động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng
dụng khoa học vào sản xuất.
+ Tính chất của lực lượng sản xuất: khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân
công lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân.
Khi sản xuất đạt tới trình độ cơ khí, hiện đại phân công lao động xã hội phát triển
thì lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá. -
Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ thống nhất biện chứng,
trong đó LLSX quyết định QHSX và QHSX tác động trở lại LLSX.
+ Lực lượng sản xuất luôn luôn vận động phát triển, bắt đầu từ công cụ lao động,
từ khoa học công nghệ; quan hệ sản xuất có tính ổn định tương đối. Sự phát triển
của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định mâu thuẫn với quan hệ sản xuất
hiện có đòi hỏi phải thay đổi bằng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với một
trình độ mới của lực lượng sản xuất.
+ Mối quan hệ thống nhất giữa LLSX và QHSX tuân theo nguyên tắc khách quan:
QHSX phụ thuộc vào thực trạng phát triển của LLSX -
Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ thống nhất bao hàm khả
năng chuyển háo thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn
+ Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có tác
động thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại quan hệ sản xuất không
phù hợp với lực lượng sản xuất (lạc hậu hoặc vượt trước) sẽ kìm hãm sự phát triển
của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng
sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan
hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
+ Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại.
Ví Dụ: - Trước 1986 VN chưa có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng
sản xuất, QHSX tiên tiến giả tạo đi trước một bước so với LLSX... -
Sau 1986 VN tiến hành đổi mới, bước đầu xây dựng QHSX phù hợp với
LLSX, thể hiện ở việc thực hiện nhiều thành phần kinh tế, duy trì nhiều kiểu
QHSX tương ứng với nhiêu trình độ khác nhau của LLSX...
Ví dụ: Trình độ con người thấp, công cụ lao động thô sơ. Quan hệ sản xuất là
Công Hữu, về tư liệu sản xuất làm có bao nhiêu ăn hết bấy nhiêu, chia đều cho
mọi người là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Tạo ra
phương thức Cộng Sản Nguyên Thủy ,dần dần lực lượng sản xuất phát triển hơn,
con người chế tạo được đồ đồng, đồ sắt. Và tạo được nhiều của cải hơn. Từ đó tạo
nên sự bất bình đẳng về quản lý, phân chia sản phẩm lao động dẫn đến sự phân
chia giai cấp. Từ sự bất bình đẳng phân chia giai cấp đó dẫn đến Công xã nguyên
thủy tan rã và phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ ra đời.
Câu 9: Độ là gì, bước nhảy là gì? Liên hệ bản thân.
3 quy luật: Quy luật lượng – chất, quy luật mâu thuẫn và quy luật phủ định của phủ định
- Quy luật lượng – chất: Chỉ ra cách thức của sự vận động và phát triển
Lượng là cái thường xuyên biến đổi, còn chất là cái tương đối ổn định, lượng biến
đổi đến một mức độ nhất định sẽ chuyển hóa thành chất mới thay thế chất cũ.
Trong quy luật này có dùng một số từ như “độ”, “bước nhảy”, “điểm nút”. Cụ thể:
Độ là khoảng giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất
của sự vật, điểm nút là thời điểm mà tại đó, sự thay đổi về lượng đủ để làm thay
đổi về chất của sự vật và bước nhảy là chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật.
Lấy một ví dụ cụ thể cho các bạn về quy luật này như sau:
Sinh viên tích lũy một lượng kiến thức đủ mới trở thành cử nhân. Trong đó: lượng
là lượng kiến thức phải đạt được, chất là sinh viên. Độ là từ năm 1 đến năm 4, còn
điểm nút chính là năm 1 và năm 4, bước nhảy chính là từ sinh viên lên cử nhân.
Lúc này, chất là cử nhân.
Rút ra bài học thực tế: Cần phải tích lũy đủ về lượng thì mới có thể thay đổi về
chất, tránh tư tưởng nóng vội chưa tích lũy đủ về lượng đã muốn thay đổi về
chất (chưa học xong đã muốn đi làm công việc mình đang học) hoặc bảo thủ,
trì trệ khi đã tích lũy đủ về lượng nhưng lại không muốn thay đổi về chất (học
xong rồi nhưng lại không muốn đi làm)

- Quy luật mâu thuẫn: Chỉ ra nguồn gốc của sự vận động và phát triển
Trong mỗi sự vật, hiện tượng hay quá trình nào đó luôn chứa đựng những mặt,
khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn bên trong bản thân sự vật,
hiện tượng đó. Và sự thống nhất, đấu tranh giữa các mặt đối lập này là nguồn gốc
tạo nên sự vận động và phát triển, dẫn đến cái mới ra đời thay thế cái cũ.
Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển, nên cần phải phân tích, sự
vật, hiện tượng để tìm ra những mâu thuẫn trong các mặt, khuynh hướng và mối
liên hệ giữa chúng mà giải quyết, tránh việc điều hòa các mâu thuẫn đó.
Đơn cử là câu chuyện không biết thì phải học.
- Quy luật phủ định của phủ định:
Cái mới ra đời thay thế cái cũ nhưng trên nền tảng kế thừa cái cũ. Cái mới này
trong quá trình phát triển tiếp theo lại dần trở nên cũ, lỗi thời nên nó lại bị phủ định
bởi một cái mới cao hơn. Cứ như thế mà thông qua số lần phủ định kế tiếp nhau
mà sự vật, hiện tượng sẽ phát triển không ngừng theo đường xoắn ốc.
Điển hình là văn bản pháp luật mới ra đời luôn dựa trên nền tảng của văn bản pháp
luật cũ, giữ lại những điểm hay của văn bản pháp luật cũ, đồng thời bãi bỏ những
điểm chưa hay, chưa tốt để thay thế bằng điểm mới hay hơn, tốt hơn tại văn bản pháp luật mới.
Rút ra được bài học thực tế: Cái mới ra đời là tất yếu, cái mới thay thế cái cũ, nhưng
dựa trên nền tảng cái cũ, tránh phủ định sạch trơn cái cũ hoặc là không đón nhận
sự ra đời của cái mới. PHẦN VÍ DỤ
Quy luật chuyển hóa từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại
Câu hỏi: Quá trình học tập và rèn luyện của học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 có phải
là sự thay đổi đổi về chất lượng đến sự thay đổi về chất không? Gợi ý:
Trong 12 năm ngồi trên ghế nhà trường, mỗi học sinh đều được trang bị những kiến
thức cơ bản của các môn học thuộc hai lĩnh vực cơ bản là khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội. Bên cạnh đó, mỗi học sinh lại tự trang bị cho mình những kĩ năng,
những hiểu biết riêng về cuộc sống, về tự nhiên, xã hội. Quá trình tích lũy về lượng
(tri thức) của mỗi học sinh là một quá trình dài, đòi hỏi nỗ lực không chỉ từ phía
gia đình, nhà trường mà còn chính từ sự nỗ lực và khả năng của bản thân người
học. Quy luật lượng chất thể hiện ở chỗ, mỗi học sinh dần tích lũy cho mình một
khối lượng kiến thức nhất định qua từng bài học trên lớp cũng như trong việc giải
bài tập ở nhà. Việc tích lũy kiến thức sẽ được đánh giá qua các kì, trước hết là các
kì thi học kì và sau đó là kì thi tốt nghiệp. Việc tích lũy đủ lượng kiến thức cần thiết
sẽ giúp học sinh vượt qua các kì thi và chuyển sang một giai đoạn học mới. Như