II. Yếu tố thị trường tài chính:
1. Chi phí sản xuất
Chi phí nhân công giữa các năm sự thay đổi, tuy nhiên thường
rơi vào tình trạng thiếu nhân công thu hái phê:
Giá nhân công hái phê qua các năm:
Đơn vị: người/đồng/ngày
Năm Giá nhân công
2015 170.000-180.000
2017 240.000 đồng
thể thấy giá nhân công ngày càng tăng còn thể tiếp tục
tăng trong tương lai. Cùng với đó sự tác động của dịch bệnh
Covid-19 trong vài năm gần đây khiến cho ngành phê càng
nhiều biến động.
Ngoài ra, giá phê còn chịu sự chi phối của các yếu tố đầu vào
khác, dụ như giá của phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, các
loại hàng hoá phụ trợ. Các loại hàng hoá này tính chất ổn
định, không thay đổi quá nhiều, chính thế ít làm ảnh hưởng tới
giá của phê.
2. Giá hàng hóa liên quan đến sản xuất:
1.1. Giá của hàng hóa thay thế trong sản xuất:
Giá cả hàng hóa phê đã đóng một vai trò quan trọng trong
nền kinh tế trong ngoài nước nhưng phê cũng vấp không ít
thông tin nghiên cứu tiêu cực như làm tăng huyết áp, hay cafein
trong phê dẫn đến lo lắng, gián đoạn giấc ngủ, còn chất
gây nghiện,... Cũng chính đó một số người đã không còn lựa
chọn phê nữa, thay vào đó những thức uống từ nước ép
của trái cây tươi, sữa hàng hóa thay thế của phê, đã ...->
tác động rất lớn đến giá cả phê trong sản xuất cũng như ảnh
hưởng rất lớn đến lượng cung.
Giá của phê ngày càng tăng, thêm vào đó những thông tin
tiêu cực liên quan đến sức khỏe của người sử dụng, người tiêu
dùng không khó để nhận ra rằng phê đã đang trở nên đắt
đỏ. Nắm bắt được tình hình đó, cùng khả năng nhanh nhạy của
các doanh nghiệp, họ đẩy mạnh sản xuất, tuyên truyền những
mặt hàng hóa thay thế của phê với: giá ổn định, chất lượng
tương đương, thậm chí còn tốt hơn so với phê. Khi đó, thị
trường của phê sẽ thay đổi, số lượng người tiêu dùng ít đi
khiến cung bắt buộc phải giảm theo cầu
Tuy nhiên, khi nhu cầu của những loại hàng hóa thay thế tăng
lên quá nhiều ,cung không đủ cầu dẫn đến giá của chúng cũng
sẽ tăng lên. Lúc đó người tiêu dùng sẽ quay lại sử dụng các sản
phẩm phê. lượng cầu phê tăng ,cung nhất định sẽ tăng
(đường cung dịch chuyển sang phải)
Ngược lại, nếu giá của những hàng hóa thay thế của phê hạ
xuống, khiến cung tăng do nhu cầu sử dụng tăng thì hiển nhiên,
cầu của phê giảm dẫn đến cung giảm đường cung của
dịch chuyển sang trái
1.2. Giá của hàng hóa bổ sung trong sản xuất:
Tuỳ vào thói quen sở thích, độ ngon của phê được mỗi người
thưởng thức đánh giá khác nhau. Với những người thích ngọt thì
một tách phê thêm đường không thể thiếu, bên cạnh đó còn
một số nguyên liệu để tăng hương vị phê như sữa, kem thực vật,
…Trong sản xuất, những nguyên liệu bao gồm đường, sữa, kem béo
thực vật... phê được coi hàng hóa bổ sung cho nhau. Khi giá
của phê tăng lên, nhà sản xuất phê sẽ tăng lượng cung ra thị
trường kéo theo lượng cung hàng hóa bổ sung: đường, sữa, kem
béo thực vật… sẽ tăng lên.
Ngược lại, khi giá phê giảm ,lượng cung phê ra thị trường
cũng sẽ giảm xuống, nếu nhà sản xuất vẫn giữ nguyên hoặc gia
tăng lượng cung trong khi giá bán ra thị trường quá rẻ thì lợi nhuận
sẽ giảm, thậm chí thua lỗ khi lượng cung phê giảm thì lượng
cung hàng hóa bổ sung như đường, sữa, kem béo thực vật cũng
giảm xuống.
hội phát triển kéo theo nhu cầu của con người ngày càng cao, để
một tách phê thơm ngon lại đáp ứng yêu cầu nhanh gọn thì
máy pha phê đã trở thành một trợ thủ đắc lực đối với những tín
đồ phê. Chính lẽ đó phê máy pha phê hai hàng
hóa bổ sung cho nhau, khi giá phê tăng cao, nhà sản xuất sẽ
thúc đẩy sản xuất phê, lượng cung của phê sẽ tăng lên dẫn
đến cung của máy pha phê cũng sẽ tăng lên. Ngược lại ,khi giá
phê giảm, nhà sản xuất sẽ thu hẹp sản xuất giảm lượng cung
phê cung máy pha phê sẽ giảm đi
2. Thu nhập của người tiêu dùng:
Thu nhập của người mua liên quan đến tình trạng kinh tế hội
thể hiện số tiền người tiêu dùng sẵn để mua các mặt hàng
Khi thu nhập tăng lên, thì lượng cầu cũng tăng theo.
Khi thu nhập tăng thì cầu đối với hầu hết hàng hóa đều tăng. Xét mối
tương quan
giữa thu nhập sản lượng tiêu thụ, thể nói rằng phê hàng
hóa -thông
thường. Do khi thu nhập tăng kéo theo cầu về phê tăng.
3. Phân tích giá cả thị trường:
Trong nhiều năm qua, giá cả phê nước ta nhiều biến động:
a. Giá xuất khẩu:
- Tháng 12/2020, giá xuất khẩu bình quân phê ước đạt mức
2.000 USD/ tấn ,tăng 3,9% so với tháng 11/2020 tăng 14,9%
so với tháng 12/2019. Năm 2020,giá xuất khẩu bình quân phê
đạt mức 1.759 USD/tấn, tăng 1,8% so với năm 2019
.b. Giá phê trong nước
- Năm 2020, giá phê trong nước biến động giảm trong 6 tháng
đầu năm xu hướng tăng nhẹ trong 6 tháng cuối năm. So với
thời điểm cuối năm 2019, giá phê vối nhân xô tháng 12 tại các
tỉnh Tây Nguyên tăng nhẹ 500 đồng/kg. Tuy nhiên, giá lại 100-
200 đồng/kg so với tháng 11/2020, mức 32.500-
32.900đồng/kg.
Giá phê cao nhất khu vực tỉnh Đắk Lắk thấp nhất tại khu
vực tỉnh Lâm Đồng.
Giá phê Robusta giá FOB giao tại cảng TP HCM ổn định tại
ngưỡng 34.500 đồng/kg.

Preview text:

II. Yếu tố thị trường tài chính: 1. Chi phí sản xuất
Chi phí nhân công giữa các năm có sự thay đổi, tuy nhiên thường
rơi vào tình trạng thiếu nhân công thu hái cà phê:
Giá nhân công hái cà phê qua các năm:
Đơn vị: người/đồng/ngày Năm Giá nhân công 2015 170.000-180.000 2016 220.000-230.000 2017 240.000 đồng
Có thể thấy giá nhân công ngày càng tăng và còn có thể tiếp tục
tăng trong tương lai. Cùng với đó là sự tác động của dịch bệnh
Covid-19 trong vài năm gần đây khiến cho ngành cà phê càng nhiều biến động.
Ngoài ra, giá cà phê còn chịu sự chi phối của các yếu tố đầu vào
khác, ví dụ như giá của phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, và các
loại hàng hoá phụ trợ. Các loại hàng hoá này có tính chất ổn
định, không thay đổi quá nhiều, chính vì thế ít làm ảnh hưởng tới giá của cà phê.
2. Giá hàng hóa liên quan đến sản xuất:
1.1. Giá của hàng hóa thay thế trong sản xuất:
Giá cả hàng hóa Cà phê đã đóng một vai trò quan trọng trong
nền kinh tế trong và ngoài nước nhưng Cà phê cũng vấp không ít
thông tin nghiên cứu tiêu cực như làm tăng huyết áp, hay cafein
có trong Cà phê dẫn đến lo lắng, gián đoạn giấc ngủ, còn là chất
gây nghiện,... Cũng chính đó mà một số người đã không còn lựa
chọn Cà phê nữa, thay vào đó là những thức uống từ nước ép
của trái cây tươi, sữa...-> hàng hóa thay thế của Cà phê, và đã
tác động rất lớn đến giá cả Cà phê trong sản xuất cũng như ảnh
hưởng rất lớn đến lượng cung.
Giá của Cà phê ngày càng tăng, thêm vào đó là những thông tin
tiêu cực liên quan đến sức khỏe của người sử dụng, người tiêu
dùng không khó để nhận ra rằng Cà phê đã và đang trở nên đắt
đỏ. Nắm bắt được tình hình đó, cùng khả năng nhanh nhạy của
các doanh nghiệp, họ đẩy mạnh sản xuất, tuyên truyền những
mặt hàng hóa thay thế của Cà phê với: giá ổn định, chất lượng
tương đương, thậm chí là còn tốt hơn so với Cà phê. Khi đó, thị
trường của Cà phê sẽ thay đổi, số lượng người tiêu dùng ít đi
khiến cung bắt buộc phải giảm theo cầu
Tuy nhiên, khi nhu cầu của những loại hàng hóa thay thế tăng
lên quá nhiều ,cung không đủ cầu dẫn đến giá của chúng cũng
sẽ tăng lên. Lúc đó người tiêu dùng sẽ quay lại sử dụng các sản
phẩm Cà phê. Mà lượng cầu Cà phê tăng ,cung nhất định sẽ tăng
(đường cung dịch chuyển sang phải)
Ngược lại, nếu giá của những hàng hóa thay thế của Cà phê hạ
xuống, khiến cung tăng do nhu cầu sử dụng tăng thì hiển nhiên,
cầu của Cà phê giảm dẫn đến cung giảm và đường cung của nó dịch chuyển sang trái
1.2. Giá của hàng hóa bổ sung trong sản xuất:
Tuỳ vào thói quen và sở thích, độ ngon của cà phê được mỗi người
thưởng thức và đánh giá khác nhau. Với những người thích ngọt thì
một tách cà phê thêm đường là không thể thiếu, bên cạnh đó còn
một số nguyên liệu để tăng hương vị cà phê như sữa, kem thực vật,
…Trong sản xuất, những nguyên liệu bao gồm đường, sữa, kem béo
thực vật... và cà phê được coi là hàng hóa bổ sung cho nhau. Khi giá
của cà phê tăng lên, nhà sản xuất cà phê sẽ tăng lượng cung ra thị
trường và kéo theo lượng cung hàng hóa bổ sung: đường, sữa, kem
béo thực vật… sẽ tăng lên.
Ngược lại, khi giá cà phê giảm ,lượng cung cà phê ra thị trường
cũng sẽ giảm xuống, nếu nhà sản xuất vẫn giữ nguyên hoặc gia
tăng lượng cung trong khi giá bán ra thị trường quá rẻ thì lợi nhuận
sẽ giảm, thậm chí thua lỗ và khi lượng cung cà phê giảm thì lượng
cung hàng hóa bổ sung như đường, sữa, kem béo thực vật cũng giảm xuống.
Xã hội phát triển kéo theo nhu cầu của con người ngày càng cao, để
có một tách cà phê thơm ngon lại đáp ứng yêu cầu nhanh gọn thì
máy pha cà phê đã trở thành một trợ thủ đắc lực đối với những tín
đồ cà phê. Chính vì lẽ đó mà cà phê và máy pha cà phê là hai hàng
hóa bổ sung cho nhau, khi giá cà phê tăng cao, nhà sản xuất sẽ
thúc đẩy sản xuất cà phê, lượng cung của cà phê sẽ tăng lên và dẫn
đến cung của máy pha cà phê cũng sẽ tăng lên. Ngược lại ,khi giá
cà phê giảm, nhà sản xuất sẽ thu hẹp sản xuất giảm lượng cung cà
phê và cung máy pha cà phê sẽ giảm đi
2. Thu nhập của người tiêu dùng:
Thu nhập của người mua liên quan đến tình trạng kinh tế xã hội và
nó thể hiện số tiền mà người tiêu dùng có sẵn để mua các mặt hàng
Khi thu nhập tăng lên, thì lượng cầu cũng tăng theo.
Khi thu nhập tăng thì cầu đối với hầu hết hàng hóa đều tăng. Xét mối tương quan
giữa thu nhập và sản lượng tiêu thụ, có thể nói rằng cà phê là hàng hóa -thông
thường. Do khi thu nhập tăng kéo theo cầu về cà phê tăng.
3. Phân tích giá cả thị trường:
Trong nhiều năm qua, giá cả cà phê nước ta có nhiều biến động: a. Giá xuất khẩu:
- Tháng 12/2020, giá xuất khẩu bình quân cà phê ước đạt mức
2.000 USD/ tấn ,tăng 3,9% so với tháng 11/2020 và tăng 14,9%
so với tháng 12/2019. Năm 2020,giá xuất khẩu bình quân cà phê
đạt mức 1.759 USD/tấn, tăng 1,8% so với năm 2019
.b. Giá cà phê trong nước
- Năm 2020, giá cà phê trong nước biến động giảm trong 6 tháng
đầu năm và có xu hướng tăng nhẹ trong 6 tháng cuối năm. So với
thời điểm cuối năm 2019, giá cà phê vối nhân xô tháng 12 tại các
tỉnh Tây Nguyên tăng nhẹ 500 đồng/kg. Tuy nhiên, giá lại 100-
200 đồng/kg so với tháng 11/2020, ở mức 32.500- 32.900đồng/kg.
Giá cà phê cao nhất ở khu vực tỉnh Đắk Lắk và thấp nhất tại khu vực tỉnh Lâm Đồng.
Giá cà phê Robusta giá FOB giao tại cảng TP HCM ổn định tại ngưỡng 34.500 đồng/kg.