TP.HCM, tháng 02 năm 2022
MỤC LỤC
MC LC...........................................................................................................2
BNG PHÂN CÔNG.........................................................................................5
CHƯƠNG 1: M ĐU.......................................................................................6
CHƯƠNG 2: NI DUNG...................................................................................7
2.1. Thị trường trái phiếu quốc tế....................................................................7
2.1.1. Tổng quan về thị trường trái phiếu quốc tế........................................7
2.1.2. Eurobond trái phiếu nước ngoài....................................................7
2.1.2.1. Khái nim.......................................................................................7
2.1.3. Thị trường Eurobond.........................................................................8
2.1.3.1. S hình thành th trưng Eurobond.................................................8
2.1.3.2 T chc th trưng Eurobond.........................................................10
2.1.3.3 Phát hành Eurobond....................................................................11
2.1.3.4 Th tc thanh toán Eurobond........................................................12
2.1.4. Các nhà kinh doanh.........................................................................12
2.1.4.1. Ngân hàng đầu và ngân hàng thương mại.................................12
2.1.4.2. Mua hoặc bán các tài khoản của riêng mình.................................13
2.1.4.3. Giao dịch thông qua người môi giới hoặc trực tiếp với người bán lẻ
2.1.4.4. Thành viên Association of International Bond Dealers.................13
2
2.1.5. Ngưi môi gii................................................................................14
2.1.5.1. Đnh nghĩa....................................................................................14
2.1.5.2. Đc đim.......................................................................................14
2.1.6. Phân loi trái phiếu quc tế..............................................................14
2.1.6.1. Trái phiếu lãi suất cố định thông thường......................................14
2.1.6.2. K phiếu có lãi sut th ni...........................................................15
2.1.6.3. Trái phiếu chuyển đổi...................................................................15
2.1.6.4. Trái phiếu vi quyn mua c phiếu...............................................15
2.1.6.5. Trái phiếu không phiếu lãi............................................................15
2.1.6.6. Trái phiếu lưng t........................................................................16
2.1.6.7. Trái phiếu toàn cầu.......................................................................16
2.1.7. Xếp hng tín nhim..........................................................................17
2.2. Th trưng c phiếu quc tế....................................................................18
2.2.1. Tổng quan thị trường cổ phiếu quốc tế...........................................18
2.2.1.1. Khái quát......................................................................................18
2.2.1.2. Đc đim.......................................................................................19
2.2.2.Các cách phát hành cổ phiếu quốc tế................................................22
2.2.3. Quốc tế hoá thị trường cổ phiếu quốc tế..........................................23
2.2.4. Các phương tin đu tư....................................................................24
2.2.4.1. Mua c phiếu trc tiếp..................................................................24
2.2.4.2. Đầu thông qua các quỹ tương hỗ quốc tế..................................24
3
2.2.4.3. Mua cổ phiếu của c công ty toàn cầu.........................................25
2.2.4.4. Chứng chỉ lưu ký..........................................................................25
2.2.5. Các vn đ quan tâm........................................................................26
CHƯƠNG 3: KT LUN.................................................................................28
TÀI LIU THAM KHO.................................................................................29
4
BẢNG PHÂN CÔNG
Thành viên MSSV Công việc Mức độ
hoàn thành
Trác Thái Ngọc
(Nhóm trưởng)
050609210889 Phân chia công việc, các nhà kinh
doanh, người môi giới, phân loại trái
phiếu quốc tế, kết luận, kiểm tra lần
cuối.
100%
Huỳnh Khánh
Vy
050609211720
Mở đầu, tổng quan thị trường cổ
phiếu quốc tế, quốc tế hoá thị trường
cổ phiếu quốc tế
100%
Ngô Gia Kiêm Xếp hạng tín nhiệm (Thị trường trái
050609211987
phiếu quốc tế), các cách phát hành cổ
phiếu.
100%
Hoàng
Yến Nhi
050609210994
Tổng quan thị trường trái phiếu quốc
tế, Eurobond trái phiếu nước
ngoài, thị trường Eurobond.
100%
Nguyễn Phạm
Minh Thư
050609212239
Các phương tiện đầu tư, các vấn đề
quan tâm, chỉnh sửa hoàn chỉnh
word.
100%
5
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thế giới ngày nay mang tính toàn cầu hóa thống nhất cao. vậy,
thị trường tài chính quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của
các quốc gia trên thế giới. Thị trường tài chính quốc tế nơi lưu chuyển dòng vốn từ
những nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Bên cạnh đó, thị trường tài chính còn giúp các
nhà đầu chuyển giao rủi ro, từ đó kiểm soát được rủi ro thông qua các công ty bảo
hiểm. Không những thế, thị trường tài chính còn tạo tính thanh khoản cho các tài sản
tài chính khi, hội liên kết giữa các nhà đầu tư. Thị trường tài chính quốc tế được
chia thành hai thị trường chính thị trường tiền tệ quốc tế thị trường vốn quốc tế.
Trong đó thị trường chứng khoán - một bộ phận của thị trường vốn kênh dẫn vốn,
đầu quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Thêm vào đó, thị trường chứng khoán
được coi “phong biểu” của nền kinh tế khi thể phản ánh một cách chính xác
triển vọng của nền kinh tế cho giai đoạn sắp tới. theo các chuyên gia, thị trường
chứng khoán thường đi trước nền kinh tế từ 6-8 tháng. Thị trường chứng khoán gồm
thị trường trái phiếu (thị trường chứng khoán nợ i hạn) thị trị trường cổ phiếu (thị
trường chứng khoán vốn). Trong sự phát triển của các nền kinh tế mỗi quốc gia trên
thế giới, thị trường chứng khoán ngày càng thể hiện được vai trò thiết yếu của mình.
vậy, nhóm đã chọn đề tài Thị trường trái phiếu quốc tế thị trường cổ phiếu
quốc tế để tìm hiểu sâu hơn về thị trường này. Từ đó, thể giúp nhóm nói riêng
các bạn sinh viên nói chúng nhận biết được tầm quan trọng của thị trường trong nền
kinh tế thế giới hiện nay thể những quyết định đầu hợp lý, hiệu quả trong
tương lai.
6
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG
2.1. Thị trường trái phiếu quốc tếV
2.1.1. Tổng quan về thị trường trái phiếu quốc tế
Trái phiếu quốc tế ( Global bond hay International bond) chứng chỉ vay nợ do
nhà phát hành- thể Chính phủ, chính quyền địa phương các tổ chức kinh tế của
một nước hay các tổ chức tài chính quốc tế phát hành trên thị trường vốn quốc tế nhằm
huy động vốn của các nhà đầu trên thế giới. Để phát hành trái phiếu ra thị trường
vốn quốc tế, nhà phát hành thể sử dụng nhiều loại trái phiếu quốc tế khác nhau.
Trái phiếu quốc tế có những ưu điểm nổi bật như khả năng huy động vốn lớn,
thời gian thanh toán dài. Tuy nhiên, loại trái phiếu này cũng những hạn chế nhất
định. Tiểu biểu trong số đó việc phát hành phải được tuân thủ theo các thông lệ quốc
tế về trình tự, thủ tục phát hành, thanh toán trái phiếu. Ngoài ra, nhà kinh doanh cũng
thể gặp các rủi ro về tỷ giá hối đoái khi đến kỳ hạn thanh toán lợi tức vốn gốc
khi sự biến động tỷ giá hối đoái theo chiều hướng bất lợi cho người phát hành, hay
khi sdụng tiền vốn huy động kém hiệu quả thể làm tăng thêm gánh nặng nợ nần,
rủi ro cho nhà phát hành việc phát hành lần đầu thường phải chịu chi phí tương đối
cao.
Thị trường trái phiếu quốc tế (Global Bond Market) được hình thành nhằm đáp
ứng nhu cầu về vốn tài trợ cho các hoạt động của chính phủ, doanh nghiệp các tổ
chức quốc tế. Các chứng khoán nợ đã được giao dịch trên thị trường quốc tế từ thời
phong kiến xa xưa điển hình việc các hoàng đế phải vay nợ để tài trợ cho chiến
tranh. Ngày nay, th trường này khá đa dạng về đồng tiền phát hành, tuy nhiên việc
huy động vốn lại chỉ tập trung vào một số đồng tiền chủ chốt nhất định như Euro, Đô
la Mỹ, Bảng Anh hoặc Yên Nhật.
Về bản, thị trường trái phiếu quốc tế được chia thành hai thị trường chính
thị trường Eurobond thị trường trái phiếu nước ngoài hay còn gọi foreign bond..
Tuy vậy nhưng trong một vài tài liệu còn nhắc đến thêm thị trường trái phiếu toàn
cầu.
7
2.1.2. Eurobond trái phiếu nước ngoài
2.1.2.1. Khái niệm
Eurobond
Eurobond trái phiếu được phát hành bằng đồng tiền khác với đồng tiền của
nơi được phát hành. dụ:
˗ Một công ty của Mỹ phát hành trái phiếu bằng yên Nhật tại Nhật.
˗ Một công ty của Mỹ phát hành trái phiếu bằng đô la Mỹ tại Anh.
˗ Một công ty của Anh phát hành trái phiếu bằng đô la Mỹ tại Mỹ.
Từ ba dụ trên thể thấy rằng, khi đứng góc độ một quốc gia, nơi trái
phiếu được phát hành, thì đồng tiền ghi trên trái phiếu Eurobond ngoại tệ của quốc
gia đó. Chủ thể phát hành (bên vay nợ) người trong nước hay nước ngoài đều được.
Trái phiếu nước ngoài
Trái phiếu nước ngoài trái phiếu trái phiếu do người nước ngoài phát nh tại
một quốc gia bằng chính đồng tiền của quốc gia đó. Nói cách khác trái phiếu nước
ngoài trái phiếu nội tdo người phi trú phát hành. dụ:
˗ Một công ty của Mỹ phát hành trái phiếu bằng yên Nhật tại Nhật.
˗ Một công ty của Anh phát hành trái phiếu bằng đô la Mỹ tại Mỹ.
Rủi ro tỷ giá điểm đáng chú ý khi nói về trái phiếu nước ngoài. Trong dụ
thứ nhất, nhà đầu Nhật không gặp rủi ro tỷ giá khi mua trái phiếu nước ngoài do
công ty của Mỹ phát hành tại Nhật. Tương tự, dụ thứ hai, nhà đầu Mỹ cũng
không gặp rủi ro tỷ giá khi đầu vào trái phiếu nước ngoài do công ty của Anh phát
hành tại Mỹ trái phiếu được ghi bằng nội tệ đối với nhà đầu Mỹ. Trong khi đó,
cả hai trường hợp, chủ thể phát hành trái phiếu, cũng chính bên đi vay, đều phải đối
mặt với rủi ro tỷ giá do đồng tiền thu được từ đợt phát hành ngoại tệ đối với bên đi
vay. Do đó, chủ thể phát hành trái phiếu nước ngoài phải cân nhắc về rủi ro tỷ giá khi
muốn huy động vốn qua kênh này.
8
2.1.3. Thị trường Eurobond
2.1.3.1. Sự hình thành thị trường EurobondV
Trước 1950 thị trường Eurobond bắt nguồn từ sự hình thành các khoản tiền gửi
bằng đô la Mỹ nằm ngoài nước Mỹ nhưng với quy không lớn cũng không
tầm ảnh hưởng mạnh đến thị trường tài chính thế giới
Sau 1950 lúc này đô la Mỹ đồng tiền chủ chốt được sử dụng trong thanh toán
quốc tế, nhiều nước như Nga các nước cộng sản đều tài khoản bằng đô la Mỹ
mở tại New York. Nhưng sau đó, do chiến tranh lạnh giữa phương Tây phương
Đông nên chính phủ các nước này đã chuyển tài khoản của họ sang London các
trung tâm tài chính khác tại Châu Âu. Từ đó hình thành các khoản tiền gửi bằng đô la
Mỹ nằm ngoài nước Mỹ (Eurodollar). Bên cạnh đó, chính phủ Mỹ lại ban hành Quy
chế Q (Regulation Q) quy định mức trần lãi suất áp dụng cho các khoản tiền gửi ngân
hàng tại Mỹ. Từ đó, tạo ra sự chênh lệch khá lớn giữa lãi suất tiền gửi USD trong nước
lãi suất tiền gửi USD nước ngoài, kích thích gia tăng dòng vốn chảy ra khỏi nước
Mỹ. Chính những yếu tố này đã tạo ra điều kiện cho sự ra đời của các thị trường vốn
tiền tệ ngoại biên (Euromarkets).
Mặt khác, để cải thiện cán cân thanh toán, chính phủ Mỹ lại đưa ra nhiều biện
pháp nhằm kiểm soát các dòng vốn quốc tế. Nổi bật nhất năm 1963, Thuế sang bằng
tiền lãi (Interest Equalization Tax, gọi tắt IET) được ban hành, đánh lên thu nhập từ
đầu chứng khoán nước ngoài của công dân Mỹ đầu vào các trái phiếu do
người nước ngoài phát hành tại Mỹ (Yankee bonds) nhằm hạn chế dòng vốn ra nước
ngoài. Trước tình hình đó, các chủ thể đi vay ( chủ yếu đến từ các nước châu Âu ) đã
phát hành trái phiếu bằng USD tại nước ngoài. Các trái phiếu này gọi Eurobond.
Ngay sau khi IET được ban hành, tháng 6/1963, trái phiếu Eurobond bằng đô Mỹ đầu
tiên (15 triệu đô la Mỹ) đã được phát hành bởi Autostrade, công ty cao tốc quốc gia Ý
(Buljevich Park, 1999). Chỉ trong một năm, đã 145 triệu USD được huy động
bằng cách phát hành các Eurobond.
Thị trường Eurobond tiếp tục phát triển mạnh mẽ khi chính phủ Mỹ, vào năm
1965, đưa thêm một Chương trình giới hạn tín dụng nước ngoài (Foreign Credit
Restraint Program, gọi tắt FCRP) nhằm giảm bớt dòng vốn chảy ra. FCRP hạn chế
lượng tín dụng các ngân hàng Mỹ cấp cho người nước ngoài. Chính những biện
pháp này đã buộc các chủ thể đi vay nước ngoài các công ty con của doanh nghiệp
9
Mỹ phải tìm đến thị trường Eurobond để tài trợ dài hạn cho các hoạt động của mình
nước ngoài.
Trong những năm 1970, nhiều nước châu Âu ban hành biện pháp kiểm soát vốn
trong nước. Do đó, thị trường Eurobond với đồng tiền được phát hành không phải
đô la Mỹ đã được hình thành như mark Đức, guilder Lan, yên Nhật, bảng Anh,
franc Pháp đô la Canada cùng với sự nổi lên của các trung tâm tài chính nước ngoài
Tokyo, Hong Kong, Singapore, Bahamas Bahrain.
Năm 1974, IET đã bị bãi bỏ, các biện pháp điều tiết của chính phủ Mỹ cũng như
các quốc gia khác đã dần được tháo gỡ nhưng những điều này không hề ngăn cản được
sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường Eurobond. Ngày nay, so với thị trường vốn nội
địa, Eurobond không bị ràng buộc bởi bất kỳ quy định nào của chính phủ, nên đây vẫn
kênh tài trợ vốn dài hạn hấp dẫn đối với người đi vay các nhà đầu quốc tế.
2.1.3.2 Tổ chức thị trường EurobondV
Thị trường cấp
Người đi vay sẽ phát hành Eurobond trên thị trường cấp (primary market) để
vay vốn. Việc phát hành trái phiếu trên thị trường này được thực hiện qua nhiều bước
với sự tham gia của nhiều tchức tài chính phi tài chính vai trò khác nhau.
Thành phần tham gia vào việc phát hành trái phiếu Eurobond trên thị trường
cấp gồm:
Thị trường thứ cấp
10
Nhóm bảo lãnh
phát hành
Nhóm bán
Nhóm quản
Nhà đầu
Người phát hành
Đại tài chính/ đại
thanh toán / đại uỷ
thác
đồ 1: Cấu trức thị trường Eurobond cấp
Sau khi Eurobond được phát hành trên thị trường sơ cấp, các thành viên của
nhóm n (selling group) thể bán lại các trái phiếu này cho những nhà đầu khác
trên thị trường thứ cấp.
Thị trường Eurobond thứ cấp thị trường phi tập trung (OTC), trong đó, thành
viên giao dịch các nhà tạo thị trường (market makers) các nhà môi giới (brokers)
liên lạc với nhau qua hệ thống viễn thông. Các trung tâm giao dịch Eurobond lớn trên
thế giới ngày nay thể kể đến như London, Zurich, Luxembourg, Frankfurt
Amsterdam.
2.1.3.3 Phát hành Eurobond
Eurobond được phát hành trên thị trường sơ cấp thông qua tổ hợp bảo lãnh phát
hành để đưa trái phiếu từ người đi vay (người phát hành) đến người cho vay (nhà đầu
tư). Các định chế trung gian trong tổ hợp bảo lãnh phát hành thực hiện một vài hoặc tất
cả các nghiệp vụ trong quy trình phát hành đề cung cầu Eurobond được gặp nhau,
đó các nghiệp vụ: quản chính (lead management), bảo lãnh phát hành
(underwriting), bán trái phiếu (bond sales).
Quy trình phát hành
Bước 1: Chọn một ngân hàng đầu làm Người quản
Ngân hàng đầu được chọn làm Người quản chính chuyên gia lĩnh vực
phát hành trái phiếu quốc tế rất am hiểu thị trường. Đây người chịu trách nhiệm
chính trong việc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành, điều phối toàn bộ quá trình phát
hành, quyết định thời gian phát hành, các dịch vụ hỗ trợ phát hành duy trì một thị
trường thứ cấp hiệu quả.
Bước 2: Thành lập Nhóm quản
Người quản chính mời thêm các ngân hàng khác làm Người đồng quản để
hỗ trợ trong việc thương lượng với người phát nh, đánh giá điều kiện thị trường, tổ
chức quản việc phát hành.
Nhóm quản tiến hành lập đề án phát hành trái phiếu cho Người phát hành. Đề
án phát hành nêu các nội dung về mục đích phát hành, dự kiến khối lượng, cấu,
thời hạn, loại tiền của trái phiếu hình thức phát nh, phân tích điều kiện thị trường
11
để xác định lãi suất dự kiến của trái phiếu, các n tham gia trong quá trình phát hành,
phương án sử dụng vốn, xử các rủi ro liên quan, phương án thanh toán.
Bước 3: Thành lập nhóm bảo lãnh nhóm bán trái phiếu
Theo trình tự, sau khi Nhóm quản mua trái phiếu từ Nhà phát hành (người đi
vay) thì sẽ bán lại trái phiếu cho Người bảo lãnh phát hành Nhóm bán trái phiếu,
hoặc sẽ bán lại cho Người bảo lãnh phát hành rồi sau đó Người bảo lãnh phát hành sẽ
bán lại cho Nhóm n. Các thành viên Nhóm bán tiếp tục bán lại trái phiếu cho nhà
đầu cuối cùng.
Bước 4: Hoàn tất giao dịch phát hành
Kết thúc đợt phát hành, Nhà phát hành nhận được tiền bán trái phiếu sau khi trừ
đi mọi chi phí liên quan.
Không như các thị trường nội địa, thị trường Eurobond không bị kiểm soát chặt
chẽ bởi các quy định về đăng ký, giao dịch, công bố thông tin, v.v. Chính vậy, thị
trường hoạt động tương đối hiệu quả nhanh chóng hơn thị trường nội địa. Thời gian
trung bình cho một đợt phát hành Eurobond chỉ từ khoảng 5 đến 6 tuần, tính từ lúc
người đi vay quyết định phát hành Eurobond cho đến lúc kết thúc đợt phát hành, tức
các trái phiếu đã được bán xong.
2.1.3.4V Thủ tục thanh toán Eurobond
Sau khi được phát hành trên thị trường cấp, các Eurobond được giao dịch thứ
cấp thông qua hệ thống thanh toán chuyển giao quyền s hữu giữa các thành viên
thị trường. Việc chuyển giao các trái phiếu hiện vật rất hiếm khi xảy ra trên thị trường
Eurobond. Thay vào đó, các trái phiếu sẽ được lưu tại các ngân hàng lưu
thành viên của hệ thống thanh toán. Các thành viên này đều tài khoản trái phiếu
tài khoản tiền. Khi giao dịch được thực hiện, các bút toán điện tử sẽ được thực hiện
bằng việc chuyển giao quyền shữu trái phiếu trên ssách từ tài khoản của người bán
sang người mua chuyển giao tiền từ tài khoản của người mua sang người bán.
12
2.1.4. Các nhà kinh doanhV
Nhà kinh doanh trái phiếu những người thực sự mua bán trái phiếu trên thị
trường trái phiếu nhằm mục đích thu lời. Lợi nhuận thu được đến từ việc chênh lệch
giữa giá mua giá bán trái phiếu trên thị trường.
2.1.4.1. Ngân hàng đầu và ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại ngân hàng đầu thường chịu một số khâu trong việc
phát hành trái phiếu ra công chúng. Tuy nhiên, thỉnh thoảng họ cũng sẽ phát hành trái
phiếu của chính ngân hàng mình ra thị trường nhằm phục vụ cho hoạt động huy động
vốn hoặc cũng thể mua trái phiếu của các doanh nghiệp, tổ chức khác nhằm mục
đích đầu sinh lời.
2.1.4.2. Mua hoặc bán các tài khoản của riêng mình
Bên cạnh các ngân hàng thương mại ngân hàng đầu thì các doanh nghiệp
đa quốc gia cũng thể phát hành trái phiếu quốc tế để gia tăng nguồn vốn hoặc mua
trái phiếu của chính doanh nghiệp khi dự đoán được tình hình tài chính của bản thân
doanh nghiệp thể phát triển thu được lợi nhuận trong tương lai.
2.1.4.3. Giao dịch thông qua người môi giới hoặc trực tiếp với
người bán lẻV
Nhà đầu thể tìm một bên trung gian thứ 3 hay còn gọi người môi giới để
thể thay mặt, nhân danh họ để tiến nh thực hiện các giao dịch mua, bán trái phiếu
cũng như được nghe đánh giá vấn về thị trường trái phiếu. Tuy nhiên, người kinh
doanh trái phiếu cũng thể trực tiếp trao đổi, giao dịch với người bán lẻ để tiến hành
các hoạt động mua n trái phiếu trên thị trường trái phiếu trong điều kiện không tìm
được bên trung gian phù hợp, đáng tin cậy cũng như không muốn tốn kém một phần
chi phí hoa hồng cho bên môi giới.
2.1.4.4. Thành viên Association of International Bond Dealers
Association of International Bond Dealers (AIBD) hay còn được gọi Hiệp hội
các Nhà buôn Trái phiếu Quốc tế một tổ chức thành lập năm 1969 nhằm mục đích
lưu trữ, công bố giá lợi tức của những trái phiếu Châu âu (Eurobond) mới phát
hành. Tổ chức này tiền thân của Hiệp hội Thị trường Chứng khoán Quốc tế
13
(International Securities Market Association) gọi tắt ISMA do hầu hết các thành
viên AIBD đã mở rộng hoạt động sang các chứng khoán khác bên cạnh Eurobond.
ISMA một quan tự quản trụ sở đặt tại Zurich. Tất cả nhà tạo thị trường
nhà môi giới Eurobond đều thành viên của ISMA nghĩa vụ phải báo cáo các
điều khoản trong các giao dịch của họ thông qua một hệ thống giao dịch xác nhận
điện tử để đảm bảo giá cả thị trường được minh bạch. vậy, ISMA thể được xem
gần như một sở giao dịch chứng khoán, chỉ điều không sàn giao dịch
cũng không các quy định chính thức về niêm yết hay công bố thông tin. Thay
vào đó, ISMA giúp thiết lập các quy trình giao dịch được tiêu chuẩn hoá trên thị
trường trái phiếu quốc tế. Đến năm 2005, sự sáp nhập của Hiệp hội Thị trường Cổ
phiếu Quốc tế Hiệp hội thị trường cấp (International Primary Market
Association) tạo nên Hiệp hội Thị trường Vốn Quốc tế (International Capital Market
Association hay gọi tắt ICMA). Tính đến năm 2019 thì ICMA đã hơn 570 thành
viên tại 62 quốc gia.
2.1.5. Người môi giớiV
2.1.5.1. Định nghĩa
Môi giới trái phiếu chính việc trung gian thực hiện mua hoặc bán trái phiếu
cho khách hàng. Hay nói cụ thể hơn quá trình tìm kiếm nhà đầu hay người kinh
doanh đang nhu cầu mua, bán trái phiếu quốc tế - các nhà đầu thể một
nhân hay tổ chức đầy đủ năng lực cách pháp nhân để tiến hành giao dịch mua
bán trái phiếu theo đúng quy định của pháp luật. Người môi giới trái phiếu quốc tế
thể một nhân, tổ chức hoặc doanh nghiệp
2.1.5.2. Đặc điểmV
Người môi giới nhiệm vụ tìm hiểu, đánh giá cũng như tổng hợp, kiểm tra
thông tin thị trường chứng khoán trong ngoài nước; đánh giá được trái phiếu
tiềm năng thị trường. Song song đó việc tìm khách hàng các nhà đầu thực
hiện việc vấn cũng như tiến hành các giao dịch mua bán trái phiếu.
Bên cạnh đó, người môi giới thể nhận lệnh mua hoặc bán từ người kinh
doanh các doanh nghiệp hoặc tổ chức nhưng cũng thể giao dịch trực tiếp với các
khách hàng lẻ mỗi giao dịch đều sẽ một khoản hoa hồng nhất định. Khoảng hoa
hồng trái phiếu này khoản tiền người mua hoặc người bán trả cho trung gian môi
14
giới đã giúp cho người mua hoặc người bán thực hiện việc mua, bán trái phiếu cho
mình. đây cũng chính thu nhập chính của người môi giới.
2.1.6. Phân loại trái phiếu quốc tếV
Trái phiếu quốc tế được phát hành dưới nhiều dạng khác nhau, bao gồm:
2.1.6.1. Trái phiếu lãi suất cđịnh thông thường.V
Dạng đầu tiên cũng phổ thông nhất chính trái phiếu lãi suất cố định
hay còn được gọi straight bond loại trái phiếu truyền thống cam kết trả lãi định kỳ
trong đó lợi tức được xác định theo một tỉ lệ phần trăm (%) cố định tính theo mệnh giá
gốc được thanh toán một lần tại thời điểm đến hạn.
2.1.6.2. Kỳ phiếu lãi suất thả nổi
Dạng thứ hai trái phiếu lãi suất thả nổi (Floating Rate Notes) mức lãi
suất được điều chỉnh định kỳ, thường mỗi 3 hay 6 tháng một lần trên sở thay đổi
mức lãi suất bản, một mức chênh lệch cố định, thường với lãi suất liên ngân
hàng London (LIBOR) sáu tháng.
2.1.6.3. Trái phiếu chuyển đổiV
Dạng trái phiếu chuyển đổi (Convertible Bond) loại trái phiếu được phát hành
bởi các công ty cổ phần, cho phép người nắm giữ trái phiếu quyền chuyển đổi trái
phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành, theo mức giá đã dược ấn định từ
trước, tại một thời điểm nhất định trong tương lai.
Thông thường những trái phiếu chuyển đổi mức lãi suất thấp hơn mức lãi
suất của thị trường, vào đó, những người đầu kỳ vọng rằng giá của trái phiếu này
sẽ tăng khi chuyển đổi sang cổ phiếu. Điều đặc biệt này của trái phiếu thể tạo hội
cho các nhà kinh doanh thu được lợi nhuận cao hơn từ việc chuyển đổi giữa trái phiếu
cổ phiếu.
Bên cạnh đó, một số trái phiếu đính kèm giấy bảo lãnh quyền mua cổ phiếu
của công ty phát hành tại một mức giá đã định trước; giấy bảo lãnh thể được cắt
rời khỏi trái phiếu để chuyển nhượng mua bán một cách độc lập với trái phiếu
15
2.1.6.4. Trái phiếu với quyền mua cổ phiếuV
Trái phiếu quyền mua cổ phiếu trong tiếng Anh gọi Warrant-linked Bonds.
Đây loại trái phiếu kèm theo phiếu cho phép người sở hữu quyền được mua một
số lượng cổ phiếu nhất định của công ty phát hành với một mức giá đã được xác định
vào những thời kỳ nhất định.
2.1.6.5. Trái phiếu không phiếu lãi
Trái phiếu không phiếu lãi hay còn được gọi trái phiếu không lãi suất (Zero
coupon bond) loại trái phiếu người mua không nhận được lãi, nhưng được mua
với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) được hoàn trả bằng mệnh giá khi trái
phiếu đó đáo hạn. Đây thể được xem một công cụ tài trợ tưởng đối với bên
phát hành cho các dự án không tiền thu về trong một số năm nhất định. Tuy nhiên,
loại trái phiếu này lại gây ra một áp lực lớn rủi ro tín dụng cho bên đi vay toàn bộ
nợ từ việc phát hành trái phiếu lại tập trung vào một thời điểm sau đó. Chính vậy,
thị trường này thường chỉ giới hạn cho một số chủ thể phát hành nhất định mức tín
nhiệm được xếp hạng cao.
2.1.6.6. Trái phiếu lưỡng tệ
Trái phiếu lưỡng tệ (Dual Currency Bond) hay trái phiếu tiền tệ kép một loại
công cụ nợ trong đó được phát hành bằng một loại tiền tệ, nhưng các khoản thanh
toán bằng phiếu giảm giá tiền gốc (hoặc chỉ các khoản thanh toán bằng phiếu giảm
giá, hoặc chỉ tiền gốc) được thực hiện bằng một loại tiền khác. Đơn vị tiền tệ việc
phát hành được thực hiện được gọi tiền tệ sở. Trong một số trường hợp, khi phát
hành, tỷ lệ trả nợ gốc cố định. Trong hầu hết các trường hợp, tỷ giá được sử dụng tại
thời điểm thanh toán phiếu mua hàng / mệnh giá.
Lãi suất trái phiếu song tệ thường cao hơn một chút so với trái phiếu phát hành
cùng loại tiền với các kỳ hạn phát hành gần như tương đương do rủi ro ngoại hối hoặc
thanh toán bằng đồng tiền yếu hơn. Các nhà phát hành trái phiếu song tệ phổ biến nhất
các tập đoàn đa quốc gia các tổ chức phát triển quốc tế.
2.1.6.7. Trái phiếu toàn cầuV
Trái phiếu toàn cầu được phát hành lần đầu tiên vào năm 1989 bởi Ngân hàng
Thế giới (World Bank) đây cũng người tiên phong đưa ra khái niệm về Global
16
Bond trên thị trường trái phiếu quốc tế. Một trái phiếu toàn cầu (Global Bond) một
trái phiếu được phát hành một số thị trường chứng khoán một số quốc gia khác
nhau cùng một lúc. Loại trái phiếu này thường được phát hành bởi các tập đoàn đa
quốc gia với xếp hạng tín dụng cao. Bằng cách phát hành trái phiếu toàn cầu, các tổ
chức phát hành thể thu hút các quỹ từ một loạt các nhà đầu giảm chi phí vay.
Quy trung bình của các đợt phát hành trái phiếu toàn cầu đạt khoảng một tỷ đô la
Mỹ. Chính được phát hành với khối lượng rất lớn nên loại trái phiếu này rất khó bán
tại một quốc gia hay một khu vực nhất định. Tuy nhiên, do tính kinh tế về quy
tính đồng nhất (có thể thay thế nhau hoàn toàn) của mình lợi suất của trái phiếu
toàn cầu (chi phí của người đi vay) thường thấp hơn các loại trái phiếu khác như trái
phiếu nội địa, trái phiếu nước ngoài hay Eurobond.
dụ: Công ty phát hành trái phiếu tại Hoa Kỳ sẽ bằng đô la Mỹ (USD), đồng
thời phát hành trái phiếu toàn cầu Lan sẽ bằng Euro.
2.1.7. Xếp hạng tín nhiệmV
Xếp hạng tín nhiệm trái phiếu quốc tế thể được hiểu việc phân loại
xếp hạng các trái phiếu quốc tế dựa trên một số tiêu chí như: mức độ rủi ro mức độ
hoàn lại.
Chi phí vốn những người đi vay trên thị trường trái phiếu quốc tế phải trả
phụ thuộc vào rủi ro không trả được nợ (default risk) của họ. Nếu rủi ro này càng cao,
thì lãi suất trái phiếu họ phát hành sẽ càng cao, nghĩa số tiền của họ thu về
trong đợt phát hành sẽ thấp hơn (vì giá trái phiếu tỷ lệ nghịch với lãi suất). Thông
thường, trước khi phát hành trái phiếu quốc tế, những tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc
tế sẽ tiến hành đánh giá hệ số tín nhiệm để xác định mức độ tin cậy của các tổ chức
hoặc các quốc gia phát hành về rủi ro đầu khả năng hoàn trả các khoản vay. Đây
được xem sở để xác định chi phí huy động vốn của nhà phát hành trên thị trường
trái phiếu quốc tế. Đa phần thì chủ thể phát hành không được xếp hạng tín nhiệm cao
hơn chính phủ của quốc gia của chủ thể đó trú.
Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm như: Standard & Poor's (S&P), Fitch Ratings
Moody's Investor Service. Ba tổ chức này đã hoạt động nhiều năm trên thị trường
thế giới được xem những tổ chức được tin cậy để đánh giá mức độ rủi ro khả
năng trả nợ của các trái phiếu quốc tế. Họ cung cấp các đánh giá tín nhiệm cho các trái
17
phiếu, giúp người bán người mua biết được mức độ rủi ro của các trái phiếu
quản rủi ro cho các quỹ, công ty các tổ chức tài chính khác.
B&ng 1: B&ng tóm tắt các hệ số tín nhiệm của Moody’s Standard & Poor's
(S&P)
Moody's Standard & Poor's
(S&P),
Diễn gi&i
Aaa AAA Các công cụ nợ chất lượng tốt
Aa AA
A A Mạnh về khả năng trả lãi vốn gốc
Baa BBB
Ba BB khả năng trả lãi vốn gốc mang nh đầu
B B
Caa CCC
Ca CC
C C
D Đang vỡ nợ
Nguồn: Giáo trình Tài chính quốc tế.
thể thấy rằng mỗi tổ chức đều đưa ra cách đánh giá cũng như cách trình
bày thang điểm hạn mức tín nhiệm khác nhau. Như Moody's với 9 thứ hạng trong
việc đánh giá trái phiếu phát hành chủ thể phát hành, từ Aaa, Aa, A, Baa, Ba,...
xuống đến C. Được biết, hạng từ Aaa cho đến Baa được gọi hạng đầu
( investment grade), nghĩa các trái phiếu này được đánh giá không mang đặc
điểm đầu cơ, việc thanh toán lãi vốn gốc đầy đủ đúng hạn khá an toàn. Trong khi
đó, Standard & Poor's (S&P) lại đưa ra đến 10 thứ hạng từ AAA, AA, A, BBB, BB,...
xuống đến CC, R, SD D. Từ AAA đến BBB hạng đầu tư. Ngoài ra, Standard &
Poor's (S&P) còn đưa ra dấu (+) hoặc (-) để phản ánh s khác biệt tương đối trong
cùng một thứ hạng với nhau (ví dụ: BB+). Tuy nhiên, cũng một số lưu ý như sau:
18
xếp hạng tín nhiệm chỉ một yếu tố trong quá trình quản rủi ro quản tài sản,
không phải dự báo chính xác về tình hình kinh tế hoặc tình hình tài chính của một
công ty hoặc doanh nghiệp.
2.2. Thị trường cổ phiếu quốc tế
2.2.1. Tổng quan thị trườngV cổ phiếu quốc tế
2.2.1.1. Khái quát
Theo Khoản 1 Điều 121 Luật doanh nghiệp 2020: “Cổ phiếu chứng chỉ do
công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu
một hoặc một số cổ phần của công ty đó.”
Thị trường cổ phiếu quốc tế (Global Stock Markets) nơi diễn ra việc huy
động vốn quốc tế bằng cách phát hành cổ phiếu chuyển giao quyền sở hữu cổ phiếu
giữa các nhà đầu quốc tế.
Trong những năm 1980, thị trường cổ phiếu quốc tế chỉ tập trung các nước
phát triển như Mỹ châu Âu. Các thị trường cổ phiếu của các quốc gia mới nổi
không được đề cao do đặc điểm của các thị trường này thiếu thanh khoản, rủi ro cao
yêu cầu về báo cáo khá thấp. Theo tiến trình tự do hóa tài chính từ những m
1990, thị trường mới nổi trở thành tâm điểm thu hút được nhiều quỹ đầu tư.
Một thị trường cổ phiếu được đánh giá tốt một thị trường luôn thông tin
đầy đủ dễ tiếp cận, thanh khoản, chi phí giao dịch thấp hiệu quả về mặt thông
tin. Hiện nay, thị trường chứng khoán Anh, Mỹ, Úc, Singapore,... những thị trường
mạnh hàng đầu thế giới. Trong đó, thị trường chứng khoán Mỹ thị trường mạnh,
khối lượng giao dịch vốn hóa lớn nhất trên thế giới. Ngoài ra, sự phát triển của
những thị trường mới nổi như Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ,... đã đóng góp tích cực vào
sự phát triển của thị trường cổ phiếu quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam đang thị
trường cận biên đang trên đà nâng hạng thị trường, tiến lên thị trường mới nổi.
2.2.1.2. Đặc điểm
a. Tính thanh kho&n của thị trường
Thanh khoản (Liquidity) khả ng chuyển đổi thành tiền của một tài sản
không phải tiền không làm ảnh ởng tới giá thị trường của nó.
19
Thị trường thanh khoản thị trường cho phép các tài sản được mua bán dễ
dàng không ảnh hưởng tới giá cả của tài sản. Thị trường thanh khoản càng lớn
chứng tỏ càng nhộn nhịp, nhà đầu sẽ ít khả năng phải mua cổ phiếu với giá cao hơn
hoặc bán với giá thấp hơn giá thị trường. vậy, các nhà đầu thích nắm giữ tài sản
thanh khoản hơn tài sản không thanh khoản.
Phần thanh khoản mức chênh lệch lợi suất của cổ phiếu kém thanh khoản
thường được yêu cầu mang lại lợi suất cao hơn cho các nhà đầu so với cổ phiếu
thanh khoản. Chính thế, tính thanh khoản của thị trường vai trò lớn trong việc
phân tích, xác định giá cổ phiếu được đo bằng quy thị trường, khối lượng giao
dịch, biên độ giá mua-giá bán.
Quy thị trường
Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu một trong những chỉ số dùng để đánh giá
so sánh độ lớn của thị trường, được tính bằng giá cổ phiếu nhân cho s lượng cổ
phiếu đang lưu hành.
Theo báo cáo của Hiệp hội các Sở giao dịch chứng khoán thế giới (WFE), giá trị
vốn hóa thị trường cổ phiếu quốc tế từ năm 2013 đã tăng từ 65,04 nghìn tỷ đô la Mỹ
lên 121,94 nghìn tỷ đô la Mỹ vào năm 2021. Tuy nhiên, năm 2022, kinh tế thế giới
dấu hiệu yếu đi khi lạm phát đạt đỉnh, giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu quốc tế bị sụt
giảm.
B&ng 2: Các sở giao dịch giá trị vốn hóa lớn nhất thế giới 2022
(Đơn vị tính: Nghìn tỷ USD)
Sở giao dịch Giá trị vốn hóa
NYSE (US) 22.77
NASDAQ OMX (US) 16.24
ShangHai Stock Exchange 6.74
Euronext 6.06
Japan Exchange Group 5.38
Xét theo quốc gia cụ thể, Mỹ vẫn thị trường cổ phiếu giá trị vốn hóa lớn
nhất thế giới với hơn 39 nghìn tỷ USD vào năm 2022 của 2 sàn giao dịch thống trị trên
thị trường cổ phiếu quốc tế - Sở giao dịch chứng khoán New York( viết tắt NYSE)
20
NASDAQ ( viết tắt của National Association of Securities Dealers Automatic
Quotations).Kế tiếp Trung quốc, tiếp đến sàn giao dịch chứng khoán của các nước
Châu Âu cuối cùng Nhật Bản.
Tuy nhiên, nhận thấy giá trị vốn hóa trên khía cạnh quy chưa phản ánh
chính xác toàn diện về tính thanh khoản cũng như trình độ phát triển của thị trường
như theo bảng xếp hạng trên thì thị trường Trung Quốc xếp trước các nước Châu Âu
Nhật về giá trị vốn hóa. Để thấy hơn điều đó, ta sử dụng Chỉ số Giá trị vốn
hóa/Tổng sản phẩm quốc nội (Market Cap/GDP)- phản ánh mức độ đóng góp của thị
trường cổ phiếu đối với nền kinh tế quốc gia. dụ như Đức - thị trường phát triển,
các doanh nghiệp tài trợ cho hoạt động của mình chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng
nên chỉ số MarketCap/GDP năm 2022 46,5% (1,88 tỷ USD/ 4,06 tỷ USD). Trong
khi, Trung Quốc năm 2022 giá trị vốn hóa thị trường chiếm 63,73% GDP cả nước
(11,44 nghìn tỷ USD/ 17,95 nghìn tỷ USD). vậy, giá trị vốn hóa chưa phản ánh toàn
diện được tính thanh khoản của thị trường.
Khối lượng giao dịch
Khối lượng giao dịch tổng số lượng cổ phiếu được mua bán trong một thời
gian nhất định. Các sở giao dịch chứng khoán lớn thường những nơi doanh số
giao dịch lớn tính thanh khoản của các thị trường này tương đối đồng nhất. Ngoài
số lượng giá trị cổ phiếu, tính thanh khoản còn được quan sát thông qua các chỉ số
dưới đây:
Chỉ số vòng quay cổ phiếu ( ) được xác định bằng số cổ phiếu được giaoturnover
dịch chia cho tổng số cổ phiếu u hành trong một khoảng thời gian.
Chỉ số vòng quay hàng năm ( ) được xác định bằng giá trịannual turnover ratio
giao dịch trong năm chia cho giá trị vốn hóa cuối năm.
Chỉ số vòng quay trung bình ngày ( ) được xác định bằngaverage daily turnover
tổng giá cổ phiếu được giao dịch chia cho số ngày giao dịch trong năm.
Chỉ số vòng quay càng cao thể hiện thị trường càng thanh khoản hay giao dịch
được thực hiện dễ dàng. Tuy nhiên, do các giá trị này thường những con số trung
bình của một khoảng thời gian nhất định. vậy, thanh khoản bình quân của các cổ
phiếu nhìn chung tốt vòng quay trung bình cao trong một giai đoạn nhất định
21

Preview text:

TP.HCM, tháng 02 năm 2022 MỤC LỤC
MỤC LỤC...........................................................................................................2
BẢNG PHÂN CÔNG.........................................................................................5
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................6
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG...................................................................................7
2.1. Thị trường trái phiếu quốc tế....................................................................7
2.1.1. Tổng quan về thị trường trái phiếu quốc tế........................................7
2.1.2. Eurobond và trái phiếu nước ngoài....................................................7
2.1.2.1. Khái niệm.......................................................................................7
2.1.3. Thị trường Eurobond.........................................................................8
2.1.3.1. Sự hình thành thị trường Eurobond.................................................8
2.1.3.2 Tổ chức thị trường Eurobond.........................................................10
2.1.3.3 Phát hành Eurobond....................................................................11
2.1.3.4 Thủ tục thanh toán Eurobond........................................................12
2.1.4. Các nhà kinh doanh.........................................................................12
2.1.4.1. Ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại.................................12
2.1.4.2. Mua hoặc bán các tài khoản của riêng mình.................................13
2.1.4.3. Giao dịch thông qua người môi giới hoặc trực tiếp với người bán lẻ
.............................................................................................................................13
2.1.4.4. Thành viên Association of International Bond Dealers.................13 2
2.1.5. Người môi giới................................................................................14
2.1.5.1. Định nghĩa....................................................................................14
2.1.5.2. Đặc điểm.......................................................................................14
2.1.6. Phân loại trái phiếu quốc tế..............................................................14
2.1.6.1. Trái phiếu lãi suất cố định thông thường......................................14
2.1.6.2. Kỳ phiếu có lãi suất thả nổi...........................................................15
2.1.6.3. Trái phiếu chuyển đổi...................................................................15
2.1.6.4. Trái phiếu với quyền mua cổ phiếu...............................................15
2.1.6.5. Trái phiếu không phiếu lãi............................................................15
2.1.6.6. Trái phiếu lưỡng tệ........................................................................16
2.1.6.7. Trái phiếu toàn cầu.......................................................................16
2.1.7. Xếp hạng tín nhiệm..........................................................................17
2.2. Thị trường cổ phiếu quốc tế....................................................................18
2.2.1. Tổng quan thị trường cổ phiếu quốc tế...........................................18
2.2.1.1. Khái quát......................................................................................18
2.2.1.2. Đặc điểm.......................................................................................19
2.2.2.Các cách phát hành cổ phiếu quốc tế................................................22
2.2.3. Quốc tế hoá thị trường cổ phiếu quốc tế..........................................23
2.2.4. Các phương tiện đầu tư....................................................................24
2.2.4.1. Mua cổ phiếu trực tiếp..................................................................24
2.2.4.2. Đầu tư thông qua các quỹ tương hỗ quốc tế..................................24 3
2.2.4.3. Mua cổ phiếu của các công ty toàn cầu.........................................25
2.2.4.4. Chứng chỉ lưu ký..........................................................................25
2.2.5. Các vấn đề quan tâm........................................................................26
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN.................................................................................28
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................29 4 BẢNG PHÂN CÔNG Thành viên MSSV Công việc Mức độ hoàn thành
Trác Thái Ngọc 050609210889 Phân chia công việc, các nhà kinh 100% (Nhóm trưởng)
doanh, người môi giới, phân loại trái
phiếu quốc tế, kết luận, kiểm tra lần cuối. Huỳnh Khánh 050609211720
Mở đầu, tổng quan thị trường cổ 100% Vy
phiếu quốc tế, quốc tế hoá thị trường cổ phiếu quốc tế Ngô Gia Kiêm 050609211987
Xếp hạng tín nhiệm (Thị trường trái 100%
phiếu quốc tế), các cách phát hành cổ phiếu. Hoàng Vũ 050609210994
Tổng quan thị trường trái phiếu quốc 100% Yến Nhi
tế, Eurobond và trái phiếu nước
ngoài, thị trường Eurobond. Nguyễn Phạm 050609212239
Các phương tiện đầu tư, các vấn đề 100% Minh Thư
quan tâm, chỉnh sửa và hoàn chỉnh word. 5 CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thế giới ngày nay mang tính toàn cầu hóa và thống nhất cao. Vì vậy,
thị trường tài chính quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của
các quốc gia trên thế giới. Thị trường tài chính quốc tế là nơi lưu chuyển dòng vốn từ
những nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Bên cạnh đó, thị trường tài chính còn giúp các
nhà đầu tư chuyển giao rủi ro, từ đó kiểm soát được rủi ro thông qua các công ty bảo
hiểm. Không những thế, thị trường tài chính còn tạo tính thanh khoản cho các tài sản
tài chính khi, là cơ hội liên kết giữa các nhà đầu tư. Thị trường tài chính quốc tế được
chia thành hai thị trường chính là thị trường tiền tệ quốc tế và thị trường vốn quốc tế.
Trong đó thị trường chứng khoán - một bộ phận của thị trường vốn là kênh dẫn vốn,
đầu tư quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Thêm vào đó, thị trường chứng khoán
được coi là “phong vũ biểu” của nền kinh tế khi có thể phản ánh một cách chính xác
triển vọng của nền kinh tế cho giai đoạn sắp tới. Vì theo các chuyên gia, thị trường
chứng khoán thường đi trước nền kinh tế từ 6-8 tháng. Thị trường chứng khoán gồm
thị trường trái phiếu (thị trường chứng khoán nợ dài hạn) và thị trị trường cổ phiếu (thị
trường chứng khoán vốn). Trong sự phát triển của các nền kinh tế ở mỗi quốc gia trên
thế giới, thị trường chứng khoán ngày càng thể hiện được vai trò thiết yếu của mình.
Vì vậy, nhóm đã chọn đề tài “Thị trường trái phiếu quốc tế và thị trường cổ phiếu
quốc tế
” để tìm hiểu sâu hơn về thị trường này. Từ đó, có thể giúp nhóm nói riêng và
các bạn sinh viên nói chúng nhận biết được tầm quan trọng của thị trường trong nền
kinh tế thế giới hiện nay và có thể có những quyết định đầu tư hợp lý, hiệu quả trong tương lai. 6 CHƯƠNG 2: NỘI DUNG
2.1. Thị trường trái phiếu quốc tếV
2.1.1. Tổng quan về thị trường trái phiếu quốc tế
Trái phiếu quốc tế ( Global bond hay International bond) là chứng chỉ vay nợ do
nhà phát hành- có thể là Chính phủ, chính quyền địa phương các tổ chức kinh tế của
một nước hay các tổ chức tài chính quốc tế phát hành trên thị trường vốn quốc tế nhằm
huy động vốn của các nhà đầu tư trên thế giới. Để phát hành trái phiếu ra thị trường
vốn quốc tế, nhà phát hành có thể sử dụng nhiều loại trái phiếu quốc tế khác nhau.
Trái phiếu quốc tế có những ưu điểm nổi bật như khả năng huy động vốn lớn,
thời gian thanh toán dài. Tuy nhiên, loại trái phiếu này cũng có những hạn chế nhất
định. Tiểu biểu trong số đó là việc phát hành phải được tuân thủ theo các thông lệ quốc
tế về trình tự, thủ tục phát hành, thanh toán trái phiếu. Ngoài ra, nhà kinh doanh cũng
có thể gặp các rủi ro về tỷ giá hối đoái khi đến kỳ hạn thanh toán lợi tức và vốn gốc
khi có sự biến động tỷ giá hối đoái theo chiều hướng bất lợi cho người phát hành, hay
khi sử dụng tiền vốn huy động kém hiệu quả có thể làm tăng thêm gánh nặng nợ nần,
rủi ro cho nhà phát hành và việc phát hành lần đầu thường phải chịu chi phí tương đối cao.
Thị trường trái phiếu quốc tế (Global Bond Market) được hình thành nhằm đáp
ứng nhu cầu về vốn tài trợ cho các hoạt động của chính phủ, doanh nghiệp và các tổ
chức quốc tế. Các chứng khoán nợ đã được giao dịch trên thị trường quốc tế từ thời
phong kiến xa xưa điển hình là việc các hoàng đế phải vay nợ để tài trợ cho chiến
tranh. Ngày nay, thị trường này khá đa dạng về đồng tiền phát hành, tuy nhiên việc
huy động vốn lại chỉ tập trung vào một số đồng tiền chủ chốt nhất định như Euro, Đô
la Mỹ, Bảng Anh hoặc Yên Nhật.
Về cơ bản, thị trường trái phiếu quốc tế được chia thành hai thị trường chính là
thị trường Eurobond và thị trường trái phiếu nước ngoài hay còn gọi là foreign bond..
Tuy là vậy nhưng trong một vài tài liệu còn nhắc đến thêm thị trường trái phiếu toàn cầu. 7
2.1.2. Eurobond và trái phiếu nước ngoài 2.1.2.1. Khái niệmEurobond
Eurobond là trái phiếu được phát hành bằng đồng tiền khác với đồng tiền của
nơi mà nó được phát hành. Ví dụ: ˗
Một công ty của Mỹ phát hành trái phiếu bằng yên Nhật tại Nhật. ˗
Một công ty của Mỹ phát hành trái phiếu bằng đô la Mỹ tại Anh. ˗
Một công ty của Anh phát hành trái phiếu bằng đô la Mỹ tại Mỹ.
Từ ba ví dụ trên có thể thấy rằng, khi đứng ở góc độ một quốc gia, nơi mà trái
phiếu được phát hành, thì đồng tiền ghi trên trái phiếu Eurobond là ngoại tệ của quốc
gia đó. Chủ thể phát hành (bên vay nợ) là người trong nước hay nước ngoài đều được.
Trái phiếu nước ngoài
Trái phiếu nước ngoài là trái phiếu trái phiếu do người nước ngoài phát hành tại
một quốc gia bằng chính đồng tiền của quốc gia đó. Nói cách khác trái phiếu nước
ngoài là trái phiếu nội tệ do người phi cư trú phát hành. Ví dụ: ˗
Một công ty của Mỹ phát hành trái phiếu bằng yên Nhật tại Nhật. ˗
Một công ty của Anh phát hành trái phiếu bằng đô la Mỹ tại Mỹ.
Rủi ro tỷ giá là điểm đáng chú ý khi nói về trái phiếu nước ngoài. Trong ví dụ
thứ nhất, nhà đầu tư Nhật không gặp rủi ro tỷ giá khi mua trái phiếu nước ngoài do
công ty của Mỹ phát hành tại Nhật. Tương tự, ở ví dụ thứ hai, nhà đầu tư Mỹ cũng
không gặp rủi ro tỷ giá khi đầu tư vào trái phiếu nước ngoài do công ty của Anh phát
hành tại Mỹ vì trái phiếu được ghi bằng nội tệ đối với nhà đầu tư Mỹ. Trong khi đó, ở
cả hai trường hợp, chủ thể phát hành trái phiếu, cũng chính là bên đi vay, đều phải đối
mặt với rủi ro tỷ giá do đồng tiền thu được từ đợt phát hành là ngoại tệ đối với bên đi
vay. Do đó, chủ thể phát hành trái phiếu nước ngoài phải cân nhắc về rủi ro tỷ giá khi
muốn huy động vốn qua kênh này. 8
2.1.3. Thị trường Eurobond
2.1.3.1. Sự hình thành thị trường EurobondV
Trước 1950 thị trường Eurobond bắt nguồn từ sự hình thành các khoản tiền gửi
bằng đô la Mỹ nằm ngoài nước Mỹ nhưng với quy mô không lớn và cũng không có
tầm ảnh hưởng mạnh đến thị trường tài chính thế giới
Sau 1950 lúc này đô la Mỹ là đồng tiền chủ chốt được sử dụng trong thanh toán
quốc tế, nhiều nước như Nga và các nước cộng sản đều có tài khoản bằng đô la Mỹ và
mở tại New York. Nhưng sau đó, do chiến tranh lạnh giữa phương Tây và phương
Đông nên chính phủ các nước này đã chuyển tài khoản của họ sang London và các
trung tâm tài chính khác tại Châu Âu. Từ đó hình thành các khoản tiền gửi bằng đô la
Mỹ nằm ngoài nước Mỹ (Eurodollar). Bên cạnh đó, chính phủ Mỹ lại ban hành Quy
chế Q (Regulation Q) quy định mức trần lãi suất áp dụng cho các khoản tiền gửi ngân
hàng tại Mỹ. Từ đó, tạo ra sự chênh lệch khá lớn giữa lãi suất tiền gửi USD trong nước
và lãi suất tiền gửi USD nước ngoài, kích thích gia tăng dòng vốn chảy ra khỏi nước
Mỹ. Chính những yếu tố này đã tạo ra điều kiện cho sự ra đời của các thị trường vốn
và tiền tệ ngoại biên (Euromarkets).
Mặt khác, để cải thiện cán cân thanh toán, chính phủ Mỹ lại đưa ra nhiều biện
pháp nhằm kiểm soát các dòng vốn quốc tế. Nổi bật nhất là năm 1963, Thuế sang bằng
tiền lãi (Interest Equalization Tax, gọi tắt là IET) được ban hành, đánh lên thu nhập từ
đầu tư chứng khoán ở nước ngoài của công dân Mỹ và đầu tư vào các trái phiếu do
người nước ngoài phát hành tại Mỹ (Yankee bonds) nhằm hạn chế dòng vốn ra nước
ngoài. Trước tình hình đó, các chủ thể đi vay ( chủ yếu đến từ các nước châu Âu ) đã
phát hành trái phiếu bằng USD tại nước ngoài. Các trái phiếu này gọi là Eurobond.
Ngay sau khi IET được ban hành, tháng 6/1963, trái phiếu Eurobond bằng đô Mỹ đầu
tiên (15 triệu đô la Mỹ) đã được phát hành bởi Autostrade, công ty cao tốc quốc gia Ý
(Buljevich và Park, 1999). Chỉ trong một năm, đã có 145 triệu USD được huy động
bằng cách phát hành các Eurobond.
Thị trường Eurobond tiếp tục phát triển mạnh mẽ khi chính phủ Mỹ, vào năm
1965, đưa thêm một Chương trình giới hạn tín dụng nước ngoài (Foreign Credit
Restraint Program, gọi tắt là FCRP) nhằm giảm bớt dòng vốn chảy ra. FCRP hạn chế
lượng tín dụng mà các ngân hàng Mỹ cấp cho người nước ngoài. Chính những biện
pháp này đã buộc các chủ thể đi vay nước ngoài và các công ty con của doanh nghiệp 9
Mỹ phải tìm đến thị trường Eurobond để tài trợ dài hạn cho các hoạt động của mình ở nước ngoài.
Trong những năm 1970, nhiều nước châu Âu ban hành biện pháp kiểm soát vốn
ở trong nước. Do đó, thị trường Eurobond với đồng tiền được phát hành không phải là
đô la Mỹ đã được hình thành như mark Đức, guilder Hà Lan, yên Nhật, bảng Anh,
franc Pháp và đô la Canada cùng với sự nổi lên của các trung tâm tài chính nước ngoài
là Tokyo, Hong Kong, Singapore, Bahamas và Bahrain.
Năm 1974, IET đã bị bãi bỏ, các biện pháp điều tiết của chính phủ Mỹ cũng như
các quốc gia khác đã dần được tháo gỡ nhưng những điều này không hề ngăn cản được
sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường Eurobond. Ngày nay, so với thị trường vốn nội
địa, Eurobond không bị ràng buộc bởi bất kỳ quy định nào của chính phủ, nên đây vẫn
là kênh tài trợ vốn dài hạn hấp dẫn đối với người đi vay và các nhà đầu tư quốc tế.
2.1.3.2 Tổ chức thị trường EurobondV
Thị trường sơ cấp
Người đi vay sẽ phát hành Eurobond trên thị trường sơ cấp (primary market) để
vay vốn. Việc phát hành trái phiếu trên thị trường này được thực hiện qua nhiều bước
với sự tham gia của nhiều tổ chức tài chính và phi tài chính có vai trò khác nhau.
Thành phần tham gia vào việc phát hành trái phiếu Eurobond trên thị trường sơ cấp gồm:
Sơ đồ 1: Cấu trức thị trường Eurobond sơ cấp Người phát hành Nhóm quản lý
Đại lý tài chính/ đại lý thanh toán / đại lý uỷ Nhóm bảo lãnh thác phát hành Nhóm bán Nhà đầu tư 
Thị trường thứ cấp 10
Sau khi Eurobond được phát hành trên thị trường sơ cấp, các thành viên của
nhóm bán (selling group) có thể bán lại các trái phiếu này cho những nhà đầu tư khác
trên thị trường thứ cấp.
Thị trường Eurobond thứ cấp là thị trường phi tập trung (OTC), trong đó, thành
viên giao dịch là các nhà tạo thị trường (market makers) và các nhà môi giới (brokers)
liên lạc với nhau qua hệ thống viễn thông. Các trung tâm giao dịch Eurobond lớn trên
thế giới ngày nay có thể kể đến như London, Zurich, Luxembourg, Frankfurt và Amsterdam. 2.1.3.3 Phát hành Eurobond
Eurobond được phát hành trên thị trường sơ cấp thông qua tổ hợp bảo lãnh phát
hành để đưa trái phiếu từ người đi vay (người phát hành) đến người cho vay (nhà đầu
tư). Các định chế trung gian trong tổ hợp bảo lãnh phát hành thực hiện một vài hoặc tất
cả các nghiệp vụ trong quy trình phát hành đề cung và cầu Eurobond được gặp nhau,
đó là các nghiệp vụ: quản lý chính (lead management), bảo lãnh phát hành
(underwriting), và bán trái phiếu (bond sales).  Quy trình phát hành
Bước 1: Chọn một ngân hàng đầu tư làm Người quản lý
Ngân hàng đầu tư được chọn làm Người quản lý chính là chuyên gia lĩnh vực
phát hành trái phiếu quốc tế và rất am hiểu thị trường. Đây là người chịu trách nhiệm
chính trong việc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành, điều phối toàn bộ quá trình phát
hành, quyết định thời gian phát hành, các dịch vụ hỗ trợ phát hành và duy trì một thị
trường thứ cấp hiệu quả.
Bước 2: Thành lập Nhóm quản lý
Người quản lý chính mời thêm các ngân hàng khác làm Người đồng quản lý để
hỗ trợ trong việc thương lượng với người phát hành, đánh giá điều kiện thị trường, tổ
chức và quản lý việc phát hành.
Nhóm quản lý tiến hành lập đề án phát hành trái phiếu cho Người phát hành. Đề
án phát hành nêu rõ các nội dung về mục đích phát hành, dự kiến khối lượng, cơ cấu,
thời hạn, loại tiền của trái phiếu và hình thức phát hành, phân tích điều kiện thị trường 11
để xác định lãi suất dự kiến của trái phiếu, các bên tham gia trong quá trình phát hành,
phương án sử dụng vốn, xử lý các rủi ro liên quan, phương án thanh toán.
Bước 3: Thành lập nhóm bảo lãnh và nhóm bán trái phiếu
Theo trình tự, sau khi Nhóm quản lý mua trái phiếu từ Nhà phát hành (người đi
vay) thì sẽ bán lại trái phiếu cho Người bảo lãnh phát hành và Nhóm bán trái phiếu,
hoặc sẽ bán lại cho Người bảo lãnh phát hành rồi sau đó Người bảo lãnh phát hành sẽ
bán lại cho Nhóm bán. Các thành viên Nhóm bán tiếp tục bán lại trái phiếu cho nhà đầu tư cuối cùng.
Bước 4: Hoàn tất giao dịch phát hành
Kết thúc đợt phát hành, Nhà phát hành nhận được tiền bán trái phiếu sau khi trừ đi mọi chi phí liên quan.
Không như các thị trường nội địa, thị trường Eurobond không bị kiểm soát chặt
chẽ bởi các quy định về đăng ký, giao dịch, công bố thông tin, v.v. Chính vì vậy, thị
trường hoạt động tương đối hiệu quả và nhanh chóng hơn thị trường nội địa. Thời gian
trung bình cho một đợt phát hành Eurobond chỉ từ khoảng 5 đến 6 tuần, tính từ lúc
người đi vay quyết định phát hành Eurobond cho đến lúc kết thúc đợt phát hành, tức là
các trái phiếu đã được bán xong.
2.1.3.4V Thủ tục thanh toán Eurobond
Sau khi được phát hành trên thị trường sơ cấp, các Eurobond được giao dịch thứ
cấp thông qua hệ thống thanh toán và chuyển giao quyền sở hữu giữa các thành viên
thị trường. Việc chuyển giao các trái phiếu hiện vật rất hiếm khi xảy ra trên thị trường
Eurobond. Thay vào đó, các trái phiếu sẽ được lưu ký tại các ngân hàng lưu ký là
thành viên của hệ thống thanh toán. Các thành viên này đều có tài khoản trái phiếu và
tài khoản tiền. Khi giao dịch được thực hiện, các bút toán điện tử sẽ được thực hiện
bằng việc chuyển giao quyền sở hữu trái phiếu trên sổ sách từ tài khoản của người bán
sang người mua và chuyển giao tiền từ tài khoản của người mua sang người bán. 12
2.1.4. Các nhà kinh doanhV
Nhà kinh doanh trái phiếu là những người thực sự mua bán trái phiếu trên thị
trường trái phiếu nhằm mục đích thu lời. Lợi nhuận thu được đến từ việc chênh lệch
giữa giá mua và giá bán trái phiếu trên thị trường.
2.1.4.1. Ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư thường chịu một số khâu trong việc
phát hành trái phiếu ra công chúng. Tuy nhiên, thỉnh thoảng họ cũng sẽ phát hành trái
phiếu của chính ngân hàng mình ra thị trường nhằm phục vụ cho hoạt động huy động
vốn hoặc cũng có thể mua trái phiếu của các doanh nghiệp, tổ chức khác nhằm mục đích đầu tư sinh lời.
2.1.4.2. Mua hoặc bán các tài khoản của riêng mình
Bên cạnh các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư thì các doanh nghiệp
đa quốc gia cũng có thể phát hành trái phiếu quốc tế để gia tăng nguồn vốn hoặc mua
trái phiếu của chính doanh nghiệp khi dự đoán được tình hình tài chính của bản thân
doanh nghiệp có thể phát triển và thu được lợi nhuận trong tương lai.
2.1.4.3. Giao dịch thông qua người môi giới hoặc trực tiếp với người bán lẻV
Nhà đầu tư có thể tìm một bên trung gian thứ 3 hay còn gọi là người môi giới để
có thể thay mặt, nhân danh họ để tiến hành thực hiện các giao dịch mua, bán trái phiếu
cũng như được nghe đánh giá và tư vấn về thị trường trái phiếu. Tuy nhiên, người kinh
doanh trái phiếu cũng có thể trực tiếp trao đổi, giao dịch với người bán lẻ để tiến hành
các hoạt động mua bán trái phiếu trên thị trường trái phiếu trong điều kiện không tìm
được bên trung gian phù hợp, đáng tin cậy cũng như không muốn tốn kém một phần
chi phí hoa hồng cho bên môi giới.
2.1.4.4. Thành viên Association of International Bond Dealers
Association of International Bond Dealers (AIBD) hay còn được gọi là Hiệp hội
các Nhà buôn Trái phiếu Quốc tế là một tổ chức thành lập năm 1969 nhằm mục đích
lưu trữ, công bố giá và lợi tức của những trái phiếu Châu âu (Eurobond) mới phát
hành. Tổ chức này là tiền thân của Hiệp hội Thị trường Chứng khoán Quốc tế 13
(International Securities Market Association) gọi tắt là ISMA do hầu hết các thành
viên AIBD đã mở rộng hoạt động sang các chứng khoán khác bên cạnh Eurobond.
ISMA là một cơ quan tự quản lý có trụ sở đặt tại Zurich. Tất cả nhà tạo thị trường và
nhà môi giới Eurobond đều là thành viên của ISMA và có nghĩa vụ phải báo cáo các
điều khoản trong các giao dịch của họ thông qua một hệ thống giao dịch và xác nhận
điện tử để đảm bảo giá cả thị trường được minh bạch. Vì vậy, ISMA có thể được xem
gần như là một cơ sở giao dịch chứng khoán, chỉ có điều là nó không có sàn giao dịch
và cũng không có các quy định chính thức về niêm yết hay công bố thông tin. Thay
vào đó, ISMA giúp thiết lập các quy trình giao dịch được tiêu chuẩn hoá trên thị
trường trái phiếu quốc tế. Đến năm 2005, sự sáp nhập của Hiệp hội Thị trường Cổ
phiếu Quốc tế và Hiệp hội thị trường sơ cấp (International Primary Market
Association) tạo nên Hiệp hội Thị trường Vốn Quốc tế (International Capital Market
Association hay gọi tắt là ICMA). Tính đến năm 2019 thì ICMA đã có hơn 570 thành viên tại 62 quốc gia.
2.1.5. Người môi giớiV 2.1.5.1. Định nghĩa
Môi giới trái phiếu chính là việc trung gian thực hiện mua hoặc bán trái phiếu
cho khách hàng. Hay nói cụ thể hơn là quá trình tìm kiếm nhà đầu tư hay người kinh
doanh đang có nhu cầu mua, bán trái phiếu quốc tế - các nhà đầu tư có thể là một cá
nhân hay tổ chức có đầy đủ năng lực và tư cách pháp nhân để tiến hành giao dịch mua
bán trái phiếu theo đúng quy định của pháp luật. Người môi giới trái phiếu quốc tế có
thể là một cá nhân, tổ chức hoặc doanh nghiệp
2.1.5.2. Đặc điểmV
Người môi giới có nhiệm vụ tìm hiểu, đánh giá cũng như tổng hợp, kiểm tra
thông tin thị trường chứng khoán trong và ngoài nước; đánh giá được trái phiếu và
tiềm năng thị trường. Song song đó là việc tìm khách hàng là các nhà đầu tư và thực
hiện việc tư vấn cũng như tiến hành các giao dịch mua bán trái phiếu.
Bên cạnh đó, người môi giới có thể nhận lệnh mua hoặc bán từ người kinh
doanh là các doanh nghiệp hoặc tổ chức nhưng cũng có thể giao dịch trực tiếp với các
khách hàng lẻ và mỗi giao dịch đều sẽ có một khoản hoa hồng nhất định. Khoảng hoa
hồng trái phiếu này là khoản tiền mà người mua hoặc người bán trả cho trung gian môi 14
giới đã giúp cho người mua hoặc người bán thực hiện việc mua, bán trái phiếu cho
mình. Và đây cũng chính là thu nhập chính của người môi giới.
2.1.6. Phân loại trái phiếu quốc tếV
Trái phiếu quốc tế được phát hành dưới nhiều dạng khác nhau, bao gồm:
2.1.6.1. Trái phiếu lãi suất cố định thông thường.V
Dạng đầu tiên và cũng là phổ thông nhất chính là trái phiếu có lãi suất cố định
hay còn được gọi là straight bond là loại trái phiếu truyền thống cam kết trả lãi định kỳ
trong đó lợi tức được xác định theo một tỉ lệ phần trăm (%) cố định tính theo mệnh giá
và gốc được thanh toán một lần tại thời điểm đến hạn.
2.1.6.2. Kỳ phiếu có lãi suất thả nổi
Dạng thứ hai là trái phiếu có lãi suất thả nổi (Floating Rate Notes) có mức lãi
suất được điều chỉnh định kỳ, thường là mỗi 3 hay 6 tháng một lần trên cơ sở thay đổi
mức lãi suất cơ bản, và có một mức chênh lệch cố định, thường với lãi suất liên ngân
hàng London (LIBOR) sáu tháng.
2.1.6.3. Trái phiếu chuyển đổiV
Dạng trái phiếu chuyển đổi (Convertible Bond) là loại trái phiếu được phát hành
bởi các công ty cổ phần, cho phép người nắm giữ trái phiếu quyền chuyển đổi trái
phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành, theo mức giá đã dược ấn định từ
trước, tại một thời điểm nhất định trong tương lai.
Thông thường những trái phiếu chuyển đổi có mức lãi suất thấp hơn mức lãi
suất của thị trường, bù vào đó, những người đầu tư kỳ vọng rằng giá của trái phiếu này
sẽ tăng khi chuyển đổi sang cổ phiếu. Điều đặc biệt này của trái phiếu có thể tạo cơ hội
cho các nhà kinh doanh thu được lợi nhuận cao hơn từ việc chuyển đổi giữa trái phiếu và cổ phiếu.
Bên cạnh đó, một số trái phiếu có đính kèm giấy bảo lãnh quyền mua cổ phiếu
của công ty phát hành tại một mức giá đã định trước; và giấy bảo lãnh có thể được cắt
rời khỏi trái phiếu để chuyển nhượng mua bán một cách độc lập với trái phiếu 15
2.1.6.4. Trái phiếu với quyền mua cổ phiếuV
Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu trong tiếng Anh gọi là Warrant-linked Bonds.
Đây là loại trái phiếu kèm theo phiếu cho phép người sở hữu có quyền được mua một
số lượng cổ phiếu nhất định của công ty phát hành với một mức giá đã được xác định
và vào những thời kỳ nhất định.
2.1.6.5. Trái phiếu không phiếu lãi
Trái phiếu không phiếu lãi hay còn được gọi là trái phiếu không lãi suất (Zero
coupon bond) là loại trái phiếu mà người mua không nhận được lãi, nhưng được mua
với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) và được hoàn trả bằng mệnh giá khi trái
phiếu đó đáo hạn. Đây có thể được xem là một công cụ tài trợ lý tưởng đối với bên
phát hành cho các dự án không có tiền thu về trong một số năm nhất định. Tuy nhiên,
loại trái phiếu này lại gây ra một áp lực lớn và rủi ro tín dụng cho bên đi vay vì toàn bộ
nợ từ việc phát hành trái phiếu lại tập trung vào một thời điểm sau đó. Chính vì vậy,
thị trường này thường chỉ giới hạn cho một số chủ thể phát hành nhất định có mức tín
nhiệm được xếp hạng cao.
2.1.6.6. Trái phiếu lưỡng tệ
Trái phiếu lưỡng tệ (Dual Currency Bond) hay trái phiếu tiền tệ kép là một loại
công cụ nợ trong đó nó được phát hành bằng một loại tiền tệ, nhưng các khoản thanh
toán bằng phiếu giảm giá và tiền gốc (hoặc chỉ các khoản thanh toán bằng phiếu giảm
giá, hoặc chỉ tiền gốc) được thực hiện bằng một loại tiền khác. Đơn vị tiền tệ mà việc
phát hành được thực hiện được gọi là tiền tệ cơ sở. Trong một số trường hợp, khi phát
hành, tỷ lệ trả nợ gốc là cố định. Trong hầu hết các trường hợp, tỷ giá được sử dụng tại
thời điểm thanh toán phiếu mua hàng / mệnh giá.
Lãi suất trái phiếu song tệ thường cao hơn một chút so với trái phiếu phát hành
cùng loại tiền với các kỳ hạn phát hành gần như tương đương do rủi ro ngoại hối hoặc
thanh toán bằng đồng tiền yếu hơn. Các nhà phát hành trái phiếu song tệ phổ biến nhất
là các tập đoàn đa quốc gia và các tổ chức phát triển quốc tế.
2.1.6.7. Trái phiếu toàn cầuV
Trái phiếu toàn cầu được phát hành lần đầu tiên vào năm 1989 bởi Ngân hàng
Thế giới (World Bank) và đây cũng là người tiên phong đưa ra khái niệm về Global 16
Bond trên thị trường trái phiếu quốc tế. Một trái phiếu toàn cầu (Global Bond) là một
trái phiếu được phát hành ở một số thị trường chứng khoán ở một số quốc gia khác
nhau cùng một lúc. Loại trái phiếu này thường được phát hành bởi các tập đoàn đa
quốc gia với xếp hạng tín dụng cao. Bằng cách phát hành trái phiếu toàn cầu, các tổ
chức phát hành có thể thu hút các quỹ từ một loạt các nhà đầu tư và giảm chi phí vay.
Quy mô trung bình của các đợt phát hành trái phiếu toàn cầu đạt khoảng một tỷ đô la
Mỹ. Chính vì được phát hành với khối lượng rất lớn nên loại trái phiếu này rất khó bán
tại một quốc gia hay một khu vực nhất định. Tuy nhiên, do tính kinh tế về quy mô và
tính đồng nhất (có thể thay thế nhau hoàn toàn) của mình mà lợi suất của trái phiếu
toàn cầu (chi phí của người đi vay) thường thấp hơn các loại trái phiếu khác như trái
phiếu nội địa, trái phiếu nước ngoài hay Eurobond.
Ví dụ: Công ty phát hành trái phiếu tại Hoa Kỳ sẽ bằng đô la Mỹ (USD), đồng
thời phát hành trái phiếu toàn cầu ở Hà Lan sẽ bằng Euro.
2.1.7. Xếp hạng tín nhiệmV
Xếp hạng tín nhiệm trái phiếu quốc tế có thể được hiểu là việc phân loại và
xếp hạng các trái phiếu quốc tế dựa trên một số tiêu chí như: mức độ rủi ro và mức độ hoàn lại.
Chi phí vốn mà những người đi vay trên thị trường trái phiếu quốc tế phải trả
phụ thuộc vào rủi ro không trả được nợ (default risk) của họ. Nếu rủi ro này càng cao,
thì lãi suất trái phiếu mà họ phát hành sẽ càng cao, có nghĩa là số tiền của họ thu về
trong đợt phát hành sẽ thấp hơn (vì giá trái phiếu tỷ lệ nghịch với lãi suất). Thông
thường, trước khi phát hành trái phiếu quốc tế, những tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc
tế sẽ tiến hành đánh giá hệ số tín nhiệm để xác định mức độ tin cậy của các tổ chức
hoặc các quốc gia phát hành về rủi ro đầu tư và khả năng hoàn trả các khoản vay. Đây
được xem là cơ sở để xác định chi phí huy động vốn của nhà phát hành trên thị trường
trái phiếu quốc tế. Đa phần thì chủ thể phát hành không được xếp hạng tín nhiệm cao
hơn chính phủ của quốc gia của chủ thể đó cư trú.
Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm như: Standard & Poor's (S&P), Fitch Ratings
và Moody's Investor Service. Ba tổ chức này đã hoạt động nhiều năm trên thị trường
thế giới và được xem là những tổ chức được tin cậy để đánh giá mức độ rủi ro và khả
năng trả nợ của các trái phiếu quốc tế. Họ cung cấp các đánh giá tín nhiệm cho các trái 17
phiếu, giúp người bán và người mua biết được mức độ rủi ro của các trái phiếu và
quản lý rủi ro cho các quỹ, công ty và các tổ chức tài chính khác.
B&ng 1: B&ng tóm tắt các hệ số tín nhiệm của Moody’s và Standard & Poor's (S&P)
Moody's Standard & Poor's Diễn gi&i (S&P), Aaa AAA
Các công cụ nợ có chất lượng tốt Aa AA A A
Mạnh về khả năng trả lãi và vốn gốc Baa BBB Ba BB
Có khả năng trả lãi và vốn gốc mang tính đầu cơ B B Caa CCC Ca CC C C D Đang vỡ nợ
Nguồn: Giáo trình Tài chính quốc tế.
Có thể thấy rằng mỗi tổ chức đều đưa ra cách đánh giá cũng như cách trình
bày thang điểm và hạn mức tín nhiệm khác nhau. Như Moody's với 9 thứ hạng trong
việc đánh giá trái phiếu phát hành và chủ thể phát hành, từ Aaa, Aa, A, Baa, Ba,...
xuống đến C. Được biết, hạng từ Aaa cho đến Baa được gọi là hạng đầu tư
( investment grade), có nghĩa là các trái phiếu này được đánh giá là không mang đặc
điểm đầu cơ, việc thanh toán lãi và vốn gốc đầy đủ và đúng hạn khá an toàn. Trong khi
đó, Standard & Poor's (S&P) lại đưa ra đến 10 thứ hạng từ AAA, AA, A, BBB, BB,...
xuống đến CC, R, SD và D. Từ AAA đến BBB là hạng đầu tư. Ngoài ra, Standard &
Poor's (S&P) còn đưa ra dấu (+) hoặc (-) để phản ánh sự khác biệt tương đối trong
cùng một thứ hạng với nhau (ví dụ: BB+). Tuy nhiên, cũng có một số lưu ý như sau: 18
xếp hạng tín nhiệm chỉ là một yếu tố trong quá trình quản lý rủi ro và quản lý tài sản,
không phải là dự báo chính xác về tình hình kinh tế hoặc tình hình tài chính của một
công ty hoặc doanh nghiệp.
2.2. Thị trường cổ phiếu quốc tế
2.2.1. Tổng quan thị trườngV cổ phiếu quốc tế 2.2.1.1. Khái quát
Theo Khoản 1 Điều 121 Luật doanh nghiệp 2020: “Cổ phiếu là chứng chỉ do
công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu
một hoặc một số cổ phần của công ty đó.”
Thị trường cổ phiếu quốc tế (Global Stock Markets) là nơi diễn ra việc huy
động vốn quốc tế bằng cách phát hành cổ phiếu và chuyển giao quyền sở hữu cổ phiếu
giữa các nhà đầu tư quốc tế.
Trong những năm 1980, thị trường cổ phiếu quốc tế chỉ tập trung ở các nước
phát triển như Mỹ và châu Âu. Các thị trường cổ phiếu của các quốc gia mới nổi
không được đề cao do đặc điểm của các thị trường này là thiếu thanh khoản, rủi ro cao
và yêu cầu về báo cáo khá thấp. Theo tiến trình tự do hóa tài chính từ những năm
1990, thị trường mới nổi trở thành tâm điểm và thu hút được nhiều quỹ đầu tư.
Một thị trường cổ phiếu được đánh giá tốt là một thị trường luôn có thông tin
đầy đủ và dễ tiếp cận, thanh khoản, có chi phí giao dịch thấp và hiệu quả về mặt thông
tin. Hiện nay, thị trường chứng khoán Anh, Mỹ, Úc, Singapore,... là những thị trường
mạnh hàng đầu thế giới. Trong đó, thị trường chứng khoán Mỹ là thị trường mạnh, có
khối lượng giao dịch và vốn hóa lớn nhất trên thế giới. Ngoài ra, sự phát triển của
những thị trường mới nổi như Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ,... đã đóng góp tích cực vào
sự phát triển của thị trường cổ phiếu quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam đang là thị
trường cận biên và đang trên đà nâng hạng thị trường, tiến lên thị trường mới nổi. 2.2.1.2. Đặc điểm
a. Tính thanh kho&n của thị trường
Thanh khoản (Liquidity) là khả năng chuyển đổi thành tiền của một tài sản
không phải tiền mà không làm ảnh hưởng tới giá thị trường của nó. 19
Thị trường thanh khoản là thị trường cho phép các tài sản được mua bán dễ
dàng và không ảnh hưởng tới giá cả của tài sản. Thị trường thanh khoản càng lớn
chứng tỏ càng nhộn nhịp, nhà đầu tư sẽ ít khả năng phải mua cổ phiếu với giá cao hơn
hoặc bán với giá thấp hơn giá thị trường. Vì vậy, các nhà đầu tư thích nắm giữ tài sản
thanh khoản hơn tài sản không thanh khoản.
Phần bù thanh khoản là mức chênh lệch lợi suất của cổ phiếu kém thanh khoản
thường được yêu cầu mang lại lợi suất cao hơn cho các nhà đầu tư so với cổ phiếu
thanh khoản. Chính vì thế, tính thanh khoản của thị trường có vai trò lớn trong việc
phân tích, xác định giá cổ phiếu và được đo bằng quy mô thị trường, khối lượng giao
dịch, biên độ giá mua-giá bán. 
Quy mô thị trường
Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu là một trong những chỉ số dùng để đánh giá
và so sánh độ lớn của thị trường, được tính bằng giá cổ phiếu nhân cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành.
Theo báo cáo của Hiệp hội các Sở giao dịch chứng khoán thế giới (WFE), giá trị
vốn hóa thị trường cổ phiếu quốc tế từ năm 2013 đã tăng từ 65,04 nghìn tỷ đô la Mỹ
lên 121,94 nghìn tỷ đô la Mỹ vào năm 2021. Tuy nhiên, năm 2022, kinh tế thế giới có
dấu hiệu yếu đi khi lạm phát đạt đỉnh, giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu quốc tế bị sụt giảm.
B&ng 2: Các sở giao dịch có giá trị vốn hóa lớn nhất thế giới 2022
(Đơn vị tính: Nghìn tỷ USD) Sở giao dịch Giá trị vốn hóa NYSE (US) 22.77 NASDAQ OMX (US) 16.24 ShangHai Stock Exchange 6.74 Euronext 6.06 Japan Exchange Group 5.38
Xét theo quốc gia cụ thể, Mỹ vẫn là thị trường cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn
nhất thế giới với hơn 39 nghìn tỷ USD vào năm 2022 của 2 sàn giao dịch thống trị trên
thị trường cổ phiếu quốc tế - Sở giao dịch chứng khoán New York( viết tắt là NYSE) 20
và NASDAQ ( viết tắt của National Association of Securities Dealers Automatic
Quotations).Kế tiếp là Trung quốc, tiếp đến là sàn giao dịch chứng khoán của các nước
Châu Âu và cuối cùng là Nhật Bản.
Tuy nhiên, nhận thấy giá trị vốn hóa trên khía cạnh quy mô chưa phản ánh
chính xác và toàn diện về tính thanh khoản cũng như trình độ phát triển của thị trường
như theo bảng xếp hạng trên thì thị trường Trung Quốc xếp trước các nước Châu Âu
và Nhật về giá trị vốn hóa. Để thấy rõ hơn điều đó, ta sử dụng Chỉ số Giá trị vốn
hóa/Tổng sản phẩm quốc nội (Market Cap/GDP)- phản ánh mức độ đóng góp của thị
trường cổ phiếu đối với nền kinh tế quốc gia. Ví dụ như Đức - thị trường phát triển,
các doanh nghiệp tài trợ cho hoạt động của mình chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng
nên chỉ số MarketCap/GDP năm 2022 là 46,5% (1,88 tỷ USD/ 4,06 tỷ USD). Trong
khi, Trung Quốc năm 2022 có giá trị vốn hóa thị trường chiếm 63,73% GDP cả nước
(11,44 nghìn tỷ USD/ 17,95 nghìn tỷ USD). Vì vậy, giá trị vốn hóa chưa phản ánh toàn
diện được tính thanh khoản của thị trường. 
Khối lượng giao dịch
Khối lượng giao dịch là tổng số lượng cổ phiếu được mua và bán trong một thời
gian nhất định. Các sở giao dịch chứng khoán lớn thường là những nơi có doanh số
giao dịch lớn và tính thanh khoản của các thị trường này tương đối đồng nhất. Ngoài
số lượng và giá trị cổ phiếu, tính thanh khoản còn được quan sát thông qua các chỉ số dưới đây:
Chỉ số vòng quay cổ phiếu (turnover) được xác định bằng số cổ phiếu được giao
dịch chia cho tổng số cổ phiếu lưu hành trong một khoảng thời gian.
Chỉ số vòng quay hàng năm (annual turnover ratio) được xác định bằng giá trị
giao dịch trong năm chia cho giá trị vốn hóa cuối năm.
Chỉ số vòng quay trung bình ngày (average daily turnover) được xác định bằng
tổng giá cổ phiếu được giao dịch chia cho số ngày giao dịch trong năm.
Chỉ số vòng quay càng cao thể hiện thị trường càng thanh khoản hay giao dịch
được thực hiện dễ dàng. Tuy nhiên, do các giá trị này thường là những con số trung
bình của một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, thanh khoản bình quân của các cổ
phiếu nhìn chung là tốt vì có vòng quay trung bình cao trong một giai đoạn nhất định 21