



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
TÊN ĐỀ TÀI: THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG Nhóm thực hiện : 03 Lớp học phần : 231RLCP1211
Giảng viên hướng dẫn
: Ths. Đặng Thị Hoài
Hà Nội, tháng 10 năm 2023
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03 MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI.....................................................3
1.1. Lý do chọn đề tài....................................................................................................3
1.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài.....................................................................................3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu..............................................................................................3
1.4. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................3
1.5. Kết cấu đề tài.........................................................................................................3
CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ
TRƯỜNG..........................................................................................................................4
2.1. Thị trường và vai trò của thị trường....................................................................4
2.1.1. Khái niệm:........................................................................................................4
2.1.2. Phân loại thị trường.........................................................................................4
2.1.3 Vai trò của thị trường.......................................................................................5
2.2. Nền kinh tế thị trường và một số quy luật chủ yếu của nền kinh tế thị trường.
........................................................................................................................................ 6
2.2.1. Khái niệm, đặc trưng, ưu thế và khuyết điểm của nền kinh tế thị trường.....6
2.2.2. Một số quy luật kinh tế chủ yếu của nền kinh tế thị trường:..........................7
2.3. Các chủ thể tham gia thị trường...........................................................................9
2.3.1. Người sản xuất.................................................................................................9
2.3.2. Người tiêu dùng...............................................................................................9
2.3.3. Các chủ thể trung gian trong thị trường.......................................................10
2.3.4. Nhà nước........................................................................................................10
CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM....................................................12
3.1 Thực trạng kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay..........................................12
3.1.1. Thực trạng nền kinh tế thị trường hiện nay..................................................12
3.1.2 Đánh giá chung về thực trạng kinh tế thị trường ở Việt Nam.......................14
3.2 Vận dụng lý luận vào thực tiễn nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.................16
3.3. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
...................................................................................................................................... 19
KẾT LUẬN.....................................................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................23 2
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Lý do chọn đề tài
Thị trường là tổng hàng hóa những quan hệ kinh tế trong đó nhu cầu các chủ thể
được đáp ứng thông qua việc trao đổi, mua bán với sự xác định giá cả và số lượng hàng
hóa, dịch vụ tương ứng với trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội. Có nhiều chủ thể
tham gia thị trường, mỗi chủ thể có vai trò vị trí khác nhau. Các chủ thể đó là: Người sản
xuất, người tiêu dùng, các chủ thể trung gian trong thị trường và nhà nước. Mỗi chủ thể
tham gia vào thị trường đều đóng vai trò quan trọng và có những nhiệm vụ riêng để đảm
bảo hoạt động của thị trường luôn được suôn sẻ và hiệu quả nên mỗi chủ thể tham gia thị
thường sẽ đóng vai trò quan trọng. Vậy nên việc nắm giữ lý luận và thực tiễn của thị
trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường là vô cùng cần thiết nên nhóm
chúng em đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu.
1.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Liên hệ đến thực tiễn trong phạm vi ở Việt Nam.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Bài thảo luận nghiên cứu xung quanh những vấn đề sau:
- Làm rõ khái niệm của thị trường và vai trò của thị trường.
- Làm rõ những khái niệm, đặc trưng của nền kinh tế thị trường và một số quy luật
chủ yếu của nền kinh tế thị trường.
- Làm sáng tỏ những các chủ thể tham gia thị trường.
- Liên hệ với thực tiễn Việt Nam.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp để tìm hiểu về lý luận thị trường và là phương pháp thống kê, phân
tích tổng hợp, logic kết hợp với lịch sử; hệ thống hóa những vấn đề lý luận; sau đó nghiên
cứu các chủ thể tham gia thị trường. Từ đó ta thấy được lý luận của thị trường và vai trò
của các chủ thể tham gia thị trường.
1.5. Kết cấu đề tài Gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường
Chương 3: Liên hệ thực tiễn ở việt nam
Chương 4: Kết luận 3
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG
2.1. Thị trường và vai trò của thị trường.
2.1.1. Khái niệm:
Thị trường là tổng hòa những quan hệ kinh tế, trong đó nhu cầu của các chủ thể
được đáp ứng thông qua việc trao đổi, mua bán với sự xác định giá cả và số lượng hàng
hóa dịch vụ tương ứng với trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội.
Như vậy thị trường có thể được nhận diện ở cấp độ cụ thể quan sát được như chợ,
cửa hàng, quầy hàng lưu động, phòng giao dịch hay siêu thị và nhiều hình thức tổ chức giao dịch mua bán khác.
Ở cấp độ trừu tượng hơn thị trường cũng có thể được nhận diện thông qua các mối
quan hệ liên quan đến trao đổi mua bán hàng hóa dịch vụ trong xã hội được hình thành do
những điều kiện lịch sử kinh tế xã hội nhất định. Theo nghĩa này thị trường là tổng thể
các mối quan hệ kinh tế gồm cung, cầu, giá cả; quan hệ hàng - tiền; quan hệ giá trị, giá trị
sử dụng; quan hệ hợp tác, cạnh tranh; quan hệ trong nước, ngoài nước… đây cũng là các
yếu tố của thị trường.
2.1.2. Phân loại thị trường.
Căn cứ vào đối tượng trao đổi, mua bán cụ thể, có các loại thị trường như thị
trường hàng hóa, thị trường dịch vụ. Trong mỗi loại thị trường này lại có thể chia cụ thể
thành các thị trường theo các loại hàng hóa dịch vụ khác nhau .
Căn cứ vào phạm vi các quan hệ có thị trường trong nước và thị trường thế giới.
Căn cứ vào vai trò của các yếu tố được trao đổi mua bán có thị trường tư liệu tiêu
dùng và thị trường tư liệu sản xuất.
Căn cứ vào tính chất và cơ chế vận hành, có thể chia thành: thị trường tự do, thị
trường có điều tiết, thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo (độc quyền).
Ngày nay các nền kinh tế phát triển ngày càng nhanh và phức tạp hơn, do đó hệ
thống thị trường cũng biến đổi cho phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển của nền kinh
tế. Vì vậy để tổ chức có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải hiểu rõ bản
chất của hệ thống thị trường, những quy luật kinh tế cơ bản của thị trường và các vấn đề liên quan khác. 4
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
2.1.3 Vai trò của thị trường.
Xét trong mối quan hệ với thúc đẩy sản xuất và trao đổi hàng hóa (dịch vụ) cũng
như thúc đẩy tiến bộ xã hội, vai trò chủ yếu của thị trường có thể được khái quát như sau:
Một là, thị trường thực hiện giá trị hàng hóa là điều kiện môi trường cho sản xuất phát triển.
Giá trị hàng hóa được thực hiện thông qua trao đổi. Việc trao đổi phải được diễn ra
ở thị trường. Thị trường là môi trường để các chủ thể thực hiện giá trị hàng hóa. Sản xuất
hàng hóa càng phát triển, sản xuất ra càng nhiều hàng hóa dịch vụ thì càng đòi hỏi thị
trường tiêu thụ phải rộng lớn hơn. Sự mở rộng thị trường đến lượt nó lại thúc đẩy trở lại
sản xuất phát triển. Vì vậy thị trường là môi trường là điều kiện không thể thiếu của quá
trình sản xuất kinh doanh.
Thị trường là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng. Thị trường đặt ra các nhu cầu
cho sản xuất cũng như nhu cầu cho tiêu dùng. Vì vậy thị trường có vai trò thông tin, định
hướng cho mọi nhu cầu sản xuất kinh doanh.
Hai là, thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội tạo ra
cách thức phân bổ nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế.
Thị trường thúc đẩy các quan hệ kinh tế không ngừng phát triển. Do đó đòi hỏi các
thành viên trong xã hội phải không ngừng nỗ lực, sáng tạo để thích ứng với sự phát triển
của thị trường. Khi sự sáng tạo được thị trường chấp nhận, chủ thể sáng tạo sẽ được thụ
hưởng lợi ích tương xứng. Khi lợi ích để đáp ứng, động lực cho sự sáng tạo được thúc
đẩy. Cứ như vậy sẽ kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội.
Thông qua thị trường, các nguồn lực cho sản xuất được điều tiết, phân bổ tới các
chủ thể sử dụng hiệu quả, thị trường tạo ra cơ chế để lựa chọn các chủ thể có năng lực sử
dụng nguồn lực hiệu quả trong nền sản xuất.
Ba là, thị trường gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể, gắn kết nền kinh tế quốc
gia với nền kinh tế thế giới.
Xét trong phạm vi quốc gia, thị trường làm cho các quan hệ sản xuất, lưu thông,
phân phối, tiêu dùng trở thành một hệ thống nhất. Thị trường không phụ thuộc vào địa
giới hành chính. Thị trường gắn kết mọi chủ thể giữa các khâu giữa các vùng miền và
một chỉnh thể thống nhất.
Xếp trong quan hệ với nền kinh tế thế giới, thị trường tạo ra sự gắn kết nền kinh tế
trong nước với nền kinh tế thế giới. Các quan hệ sản xuất lưu thông phân phối tiêu dùng
không chỉ bó hẹp trong phạm vi nội bộ quốc gia mà thông qua thị trường, các quan hệ đó 5
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
có sự kết nối, liên thông với các quan hệ trên phạm vi thế giới. Với vai trò này thị trường
góp phần thúc đẩy sự gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới.
Vai trò của thị trường luôn không tách rời với cơ chế thị trường. Thị trường trở
nên sống động bởi có sự vận hành của cơ chế thị trường.
Cơ chế thị trường là hệ thống các quan hệ mang tính tự điều chỉnh tuân theo yêu
cầu của các quy luật kinh tế.
Cơ chế thị trường là phương thức cơ bản để phân phối và sử dụng các nguồn vốn,
tài nguyên, công nghệ, sức lao động, thông tin, trí tuệ,... trong nền kinh tế thị trường. Đây
là một kiểu cơ chế vận hành nền kinh tế mang tính khách quan, do bản thân nền sản xuất
hàng hóa hình thành. Cơ chế thị trường được ví như là một “bàn tay vô hình” có khả năng
tự điều chỉnh các quan hệ kinh tế.
2.2. Nền kinh tế thị trường và một số quy luật chủ yếu của nền kinh tế thị trường.
2.2.1. Khái niệm, đặc trưng, ưu thế và khuyết điểm của nền kinh tế thị trường. a) Khái niệm:
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường. Đó là
nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được
thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường.
b) Đặc trưng:
- Đa dạng chủ thể kinh tế, nhiều hình thức sở hữu.
- Thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực.
- Giá cả được hình thành theo nguyên tắc thị trường, cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực.
- Động lực trực tiếp của các chủ thể sản xuất kinh doanh là lợi ích kinh tế - xã hội.
- Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các quan hệ kinh tế, khắc
phục khuyết tật của thị trường, thúc đẩy những yếu tố tích cực, đảm bảo sự bình đẳng xã
hội và sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
- Là nền kinh tế mở, thị trường trong nước gắn liền với thị trường quốc tế. c) Ưu điểm:
-Một là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự hình
thành ý tưởng mới của các chủ thể kinh tế.
-Hai là, nền kinh tế thị trường luôn thực hiện phát huy tốt nhất tiềm năng
của mọi chủ thể, các vùng miền cũng như lợi thế quốc gia trong quan hệ với thế giới.
-Ba là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thỏa mãn tối đa
nhu cầu của con người, từ đó thúc đẩy tiến bộ, văn minh xã hội. 6
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03 d) Nhược điểm:
-Một là, xét trên phạm vi toàn bộ nền sản xuất xã hội, nền kinh tế thị trường luôn
tiềm ẩn những rủi ro khủng hoảng.
-Hai là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được xu hướng cạn kiệt tài
- nguyên không thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường xã hội.
-Ba là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được hiện tượng phân hóa sâu sắc trong xã hội.
2.2.2. Một số quy luật kinh tế chủ yếu của nền kinh tế thị trường:
a) Quy luật giá trị:
Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị.
- Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị:
+ Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và lưu thông hàng hóa phải dựa trên cơ sở
hao phí lao động xã hội cần thiết.
+ Trong sản xuất: Hao phí lao động các biệt phải phù hợp với hao phí lao động xã
hội cần thiết. Để có thể bán được hàng hóa, hao phí lao động để sản xuất ra hàng hóa của
các chủ thể kinh doanh phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội có thể chấp nhận được.
+ Trong trao đổi hàng hóa: Phải dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá.
- Quy luật giá trị hoạt động và phát huy tác dụng thông qua sự vận động của giá cả
xung quanh giá trị dưới sự tác động của quan hệ cung – cầu. Giá cả thị trường lên xuống
xoay quanh giá trị hàng hòa và trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị.
- Quy luật giá trị tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý muồn chủ quan của con
người. Người sản xuất và trao đổi hàng hóa phải tuân theo mệnh lệnh của giá cả thị trường.
- Tác động của quy luật giá trị:
+ Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa. Trong sản xuất, thông qua
biến động giá cả, người sản xuất sẽ biết được hình hình cung – cầu và quyết định phương
án sản xuất. Nếu giá cả hàng hóa lớn hơn hoặc bằng giá trị thì việc sản xuất nên được tiếp
tục, mở rộng. Tư liệu sản xuất, sức lao động sẽ được tự phát dịch chuyển vào ngành có giá trị cao.
Trong lưu thông, quy luật giá trị điều tiết bằng hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến
nơi có giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung nhỏ hơn cầu. Thông qua mệnh
lệnh của giá cả thị trường, hàng hoá ở nơi có giá cả thấp được thu hút, chảy đến nơi có
giá cả cao hơn, góp phần làm cho cung - cầu hàng hoá giữa các vùng được cân bằng,
phân phối lại thu nhập giữa các vùng, miền, điều chỉnh sức mua của thị trường. 7
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
+ Thứ hai, kích thích cải tiến ký thuật, hợp lý hóa sản xuất nhằm tăng năng suất lao động.
Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi theo giá trị xã hội. Người sản xuất có giá
trị cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội, khi bán theo giá trị xã hội sẽ thu được nhiều lợi nhuận
hơn và ngược lại. Để đứng vững trong cạnh tranh phải luôn tìm cách làm cho giá trị cá
biệt hàng hóa của mình nhỏ hơn hoặc bằng giá trị xã hội dẫn đến phải cải tiến kỹ thuật, áp
dụng công nghệ mới, đổi mới phương pháp quản lý, thực hiện tiết kiệm... khiến lực lượng
sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động xã hội tăng lên, chi phí sản xuất giảm
xuống. Trong lưu thông, để bán được nhiều hàng hóa, người sản xuất phải không ngừng
tăng chất lượng phục vụ, quảng cáo, tổ chức tốt khâu bán hàng... làm cho quá trình lưu
thông được hiệu quả cao hơn, nhanh chóng, thuận tiện với chi phí thấp nhất.
+ Thứ ba, phân hoá những người sản xuất thành những người giàu, người nghèo một cách tự nhiên.
Trong quá trình cạnh tranh, những người sản xuất nhạy bén với thị trường, trìnhđộ
năng lực giỏi, sản xuất với hao phí cá biệt thấp hơn mức hao phí chung của xã hội sẽ trở
nên giàu có và ngược lại. Trong nền kinh tế thị trường thuần túy, chạy theo lợi ích cá
nhân, đầu cơ, gian lận, khủng hoảng kinh tế... là những yếu tố có thể làm tăng thêm tác
động phân hóa sản xuất cùng những tiêu cực về kinh tế - xã hội khác.
Tóm lại, quy luật giá trị vừa có tác dụng đào thải cái lạc hậu, lỗi thời, kích thíchsự
tiến bộ, làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ; vừa có tác dụng lựa chọn, đánh
giá người sản xuất, bảo đảm sự bình đẳng đối với người sản xuất; vừa có cả những tác
động tích cực lẫn tiêu cực. Các tác động đó diễn ra một cách khách quan trên thị trường.
b) Quy luật cung – cầu:
-Khái niệm: Là quy luật kinh tế điều tiết quan hệ giữa cung (bên bán) và cầu (bên
mua) hàng hóa trên thị trường. Quy luật này đòi hỏi cung – cầu phải có sự thống nhất. - Tác động:
+ Cung – cầu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thường xuyên tác động lẫn nhau và
ản hưởng trục tiếp đến giá cả.
+ Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả thấp hơn giá trị và ngược lại; nếu cung bằng cầu
thì giá cả bằng với giá trị.
Tác dụng của quy luật cung – cầu: điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa; làm
thay đổi cơ cấu và quy mô thị trường, ảnh hưởng tới giá cả hàng hóa. Nhà nước có thể
vận dụng quy luật cung – cầu thông qua các chính sách và biện pháp kinh tế như giá cả, lợi nhuận.
c) Quy luật lưu thông tiền tệ:
- Khái niệm: Quy luật lưu thông tiền tệ yêu cầu việc lưu thông tiền tệ phải căn cứ
trên yêu cầu của lưu thông hàng hóa và dịch vụ. 8
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
- Số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa ở mỗi thời ký nhất định được xác định bằng công thức: M = P.QVM = P.QV Trong đó:
M: Số lượng tiền cần thiết cho lưu thông trong một thời gian nhất định. P: Mức giá cả
Q: Khối lượng hàng hóa dịch vụ đưa ra lưu thông.
V: Số vòng lưu thông của đồng tiền.
Như vậy, khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông tỷ lệ thuận với tổng số giá cả
hàng hóa được đưa ra thị trường và tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông của tiền tệ. Quy luật
này có ý nghĩa chung cho các nền sản xuất hàng hóa.
Khi lưu thông hàng hóa phát triển, việc thanh toán không dùng tiền mặt trở nên
phồ biến thì số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được xác định như sau:
M = P.Q - (G1 + G2) + G3vM = P.Q - (G1 + G2) + G3V Trong đó:
P.Q là tổng giá cả hàng hóa;
G1 là tổng giá cả hàng hóa bán chịu;
G2 là tổng giá cả hàng hóa khấu trừ cho nhau;
G3 là tông giá cả hàng hóa đến kỷ thanh toán;
V là số vòng quay trung bình của tiền tệ.
Nội dung nêu trên mang tính nguyên lý, trong điều kiện nền kinh tế thị trường
ngày nay việc xác định lượng tiền cần thiết cho lưu thông trở nên phức tạp hơn song
không vượt ra ngoài khuôn khổ nguyên lý nêu trên.
Khi tiền giấy ra đời, nếu được phát hành quá nhiều sẽ làm cho đồng tiền bị mất giá
trị, giá cả hàng hóa tăng lớn dẫn đến lạm phát. Bởi vậy, nhà nước không thể in và phát
hành tiền giấy một cách tùy tiện mà phải tuân theo nguyên lý của quy luật lưu thông tiền tệ.
2.3. Các chủ thể tham gia thị trường.
2.3.1. Người sản xuất a) Khái niệm:
Người sản xuất là những người sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ ra thị
trường nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Họ là những người trực tiếp tạo ra
của cải vật chất, sản phẩm cho xã hội để phục vụ tiêu dùng. b) Nhiệm vụ: 9
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
- Họ không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu hiện tại của xã hội, mà còn tạo ra và phục vụ
cho những nhu cầu trong tương lai với mục tiêu đạt lợi nhuận tối đa trong điều kiện nguồn lực có hạn.
- Người sản xuất phái có trách nhiệm đối với con người; trách nhiệm cung cấp
những hàng hóa, dịch vụ không làm tổn hại tới sức khỏe và lợi ích của con người trong xã hội.
2.3.2. Người tiêu dùng a) Khái niệm:
Người tiêu dùng là những người mua hàng hóa, dịch vụ trên thị trường để thỏa
mãn nhu cầu tiêu dùng. b) Vai trò:
- Sức mua của người tiêu dùng là yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của người sản xuất
- Sự phát triển đa dạng của người tiêu dùng là động lực quan trọng của sự phát triển
sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất
Người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng trong định hướng sản xuất
2.3.3. Các chủ thể trung gian trong thị trường a) Khái niệm:
Chủ thể trung gian là những cá nhân, tổ chức đảm nhiệm vai trò cầu nối giữa các
chủ thể sản xuất, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
b) Nguồn gốc xuất hiện:
Do sự phát triển của sản xuất và trao đổi dưới tác động của phân công lao động xã
hội,làm cho sự tách biệt tương dối giữa sản xuất và trao đổi ngày càng sâu sắc. Trên cơ
sở đó xuất hiện những chủ thể trung gian trong thị trường. c) Vai trò:
- Kết nối, trao đổi thông tin giữa người mua và người bán trên thị trường, tạo điều
kiện cho việc giao dịch được diễn ra dễ dàng hơn.
- Làm tăng cơ hội thực hiện giá trị của hàng hóa cũng như thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng.
- Làm tăng sự kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, làm cho sản xuất và tiêu dùng trở nên ăn khớp với nhau.
d) Một số chủ thể trung gian:
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay, các chủ thể trung gian
thị trường không phải chỉ có các trung gian thương nhân mà còn rất nhiều các chủ thể 10
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
trung gian phong phú trên tất cả các quan hệ kinh tế như: trung gian môi giới chứng
khoán, trung gian môi giới nhà đất, trung gian môi giới khoa học công nghệ...
Bên cạnh đó cũng có nhiều loại hình trung gian khồng phù hợp với các chuẩn mực
đạo đức (lừa đảo, môi giới bất hợp pháp...). Những trung gian này cần được loại trừ.
2.3.4. Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, xét về vai trò kinh tế, nhà nước thực hiộn chức năng
quản lý nhà nước về kinh té đồng thời thực hiện những biện pháp để khắc phục những
khuyết tật của thị trường.
Với trách nhiệm như vậy, một mặt, nhà nước thực hiện quản trị phát triển nền kinh
tế thông qua việc tạo lập môi trường kinh tế tốt nhắt cho các chủ thể kinh tế phát huy sức
sáng tạo của họ. Mặt còn lại, việc tạo ra các rào cản đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh từ phía nhà nước sẽ làm kìm hãm động lực sáng tạo của các chủ thể sản xuất kinh doanh.
Mỗi cá nhân có trách nhiệm trong bộ máy quản lý nhà nước cần phải nhận
thức được trách nhiệm của mình là thúc đầy phát triển, không gây cản trờ sự phát
triền của nền kinh tế thị trường.
Cùng với đó, nhà nước còn sử dụng các công cụ kinh tế để khắc phục các khuyết
tật của nền kinh tế thị trường, làm cho nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả. 11
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
3.1 Thực trạng kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
3.1.1. Thực trạng nền kinh tế thị trường hiện nay
Ở Việt Nam, sau hơn 30 năm đổi mới, nền KTTT định hướng XHCN đã hình
thành, phát triển, đến nay đã có những yếu tố của một nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc
tế và bảo đảm định hướng XHCN. Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần; có sự phát triển đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường, thị trường trong nước
gắn kết với thị trường quốc tế. Thị trường đã phát huy vai trò trong việc xác định giá cả,
phân bổ nguồn lực, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa; nền kinh tế đã vận hành theo các quy luật của KTTT.
Đồng thời, nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN; Nhà nước
vừa xây dựng và hoàn thiện thể chế, tạo khung khổ pháp luật, môi trường ổn định, thuận
lợi cho kinh tế phát triển, vừa sử dụng các nguồn lực kinh tế của Nhà nước để điều tiết,
thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, phát triển bền vững cả kinh tế, xã
hội, môi trường; gắn phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội hướng tới
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Những yếu tố này hoàn
toàn tương đồng với các định hướng xã hội của các nền KTTT hiện đại trên thế giới.
Như vậy, từ thực tiễn và lý luận, có thể khẳng định, KTTT định hướng XHCN là
mô hình KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế không chỉ phù hợp với thực tiễn Việt Nam và
xu thế của thời đại, mà còn là mô hình kinh tế phù hợp với các nước kinh tế chưa phát triển quá độ lên CNXH.
Về kinh tế: Sự phát triển của Viê }t Nam trong hơn 30 năm qua rất đáng ghi nhâ }n.
Công cuộc đổi mới từ năm 1986 đã nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc
gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Giai đoạn 2002-
2022, GDP đầu người tăng 7,51 lần, đạt trên 4.100 USD năm 2022, với hơn 45 triệu
người thoát nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6% (3,2
USD/ngày theo sức mua ngang giá). Đại bộ phận người nghèo còn lại ở Việt Nam là dân
tộc thiểu số, chiếm 86%.
Riêng kinh tế – xã hội nước ta năm 2022 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới
đang phải đối mặt với những thách thức lớn, biến động nhanh, khó lường và tính bất ổn
cao; lạm phát đã tăng lên mức cao nhất trong nhiều thập kỷ buộc các quốc gia phải thắt
chặt chính sách tiền tệ. Cạnh tranh chiến lược, địa chính trị giữa các nước lớn, xung đột
quân sự giữa Nga và Ukraina; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, mưa bão, hạn hán…
đã làm gia tăng rủi ro đến thị trường tài chính, tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương 12
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
thực toàn cầu. Nhưng Việt Nam vẫn duy trì được tính ổn định như: Thông báo của Tổng
cục Thống kê ngày 29-12 cho thấy một điểm sáng nổi bật là GDP năm 2022 ước tính
tăng 8,02%, đạt mức tăng cao nhất kể từ năm 2011 do nền kinh tế đã khôi phục trở lại.
Trong mức tăng của tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và
thủy sản, khu vực công nghiệp và xây dựng và khu vực dịch vụ đều có sự tăng trưởng
đáng kể, lần lượt là: 3,36%; 7,78% và 9,99%.
Về xã hội: Việt Nam đang chứng kiến sự thay đổi nhanh về cơ cấu dân số và xã
hội. Dân số Việt Nam đã đạt 99,46 triệu dân vào năm 2022 và dự kiến sẽ tăng lên 120
triệu dân tới năm 2050. Hiện nay, 70% dân số có độ tuổi dưới 35, với tuổi thọ trung bình
gần 76 tuổi, cao hơn những nước có thu nhâ }p tương đương trong khu vực. Tầng lớp trung
lưu đang hình thành, hiện chiếm khoảng 13% dân số và dự kiến sẽ tăng lên đến 26% vào năm 2026.
Trong giai đoạn 2010-2022, Chỉ số vốn nhân lực của Việt Nam tăng từ 0,66 lên
0,69. Một em bé Việt Nam được sinh ra ở thời điểm hiện nay khi lớn lên sẽ đạt mức năng
suất bằng 69% so với cũng đứa trẻ đó được học tập và chăm sóc sức khỏe đầy đủ. Như
vậy, Việt Nam là quốc gia có Chỉ số Vốn con người cao nhất trong số các quốc gia có thu
nhập trung bình, tuy nhiên vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa các địa phương, nhất là ở nhóm dân tộc thiểu số.
Y tế của nước ta cũng đạt nhiều tiến bộ khi mức sống ngày càng cải thiện. Trong
giai đoạn 1993-2022, tỷ suất tử vong ở trẻ sơ sinh giảm từ 32,6 xuống còn 16,7 (trên
1.000 trẻ sinh). Tuổi thọ trung bình tăng từ 70,5 lên 76,3 tuổi trong giai đoạn 1990-2016.
Chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân là 73, cao hơn mức trung bình của khu vực
và thế giới, với 87% dân số có bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, tỷ lệ chênh lệch giới tính khi
sinh còn ở mức cao và ngày mô }t tăng, điều này cho thấy tình trạng phân biệt giới tính vẫn
còn tồn tại. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số
nhanh nhất, dự báo đến năm 2050 nhóm tuổi trên 65 sẽ tăng gấp 2,5 lần.
Trong 30 năm qua, việc cung cấp các dịch vụ cơ bản đã có sự thay đổi tích cực.
Khả năng người dân tiếp cận hạ tầng cơ sở được cải thiện. Tính đến năm 2022, 99% dân
số sử dụng điện chiếu sáng, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ 14% năm 1993. Tỷ lệ tiếp cận
nước sạch nông thôn cũng được cải thiện, từ 17% năm 1993 lên 89% năm 2022, trong khi
tỷ lệ ở thành thị là trên 95%.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đầu tư cơ sở vật chất tính theo phần trăm
GDP của Việt Nam nằm trong nhóm thấp nhất trong khu vực ASEAN. Điều này tạo ra
thách thức không nhỏ đối với sự phát triển liên tục của các dịch vụ cơ sở hạ tầng hiện đại 13
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
cần thiết cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo (Việt Nam xếp thứ 89 trong số 137 quốc gia
về chất lượng cơ sở hạ tầng). 14
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
3.1.2 Đánh giá chung về thực trạng kinh tế thị trường ở Việt Nam a) Thành tựu:
Sau khi Việt Nam kí kết hiệp định thương mại song phương Việt – Mĩ và Việt Nam gia
nhập WTO năm 2006 thì tốc độ tăng trưởng xuất - nhập khẩu nước ta bắt đầu tăng lên,
đồng nghĩa GDP cũng có những thay đổi tích cực. Dưới đây là biểu đồ thể hiện:
Tăng trưởng GDP cả nước giai đoạn 2011 - 2022
Duy trì được tính ổn định: viễn cảnh kinh tế của Việt Nam đang có những cải
thiện đáng kể. Sự cải thiện này nhờ một loạt chính sách và cơ chế đưa nền kinh tế vào
một quỹ đạo tăng trưởng trung hạn có tầm cao hơn, kể cả trong điều kiện môi trường bên
ngoài còn chưa thuận lợi. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong nước tiếp tục dẫn đầu
về tăng trưởng. Điều này phản ánh sự chuyển dịch dần dần của Việt Nam sang kinh tế thị trường.
Trong những năm gần đây do các chính sách phát triển kinh tế của nhà nước
XHCN Việt Nam nên đã thu hút được rất nhiều các nhà đầu tư trong khu vực và thế giới.
Thời điểm ghi nhận các mốc kỷ lục của xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ năm 2012 đến năm 2022 15
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
b) Mặt tồn tại trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam và
những nguyên nhân của những mặt tồn tại đó:
1. Kinh tế thị trường còn sơ khai chưa đạt trình độ của nền kinh tế thị trường hiện đại.
Cơ sở vật chất còn ở trình độ chưa cao, trình độ trang thiết bị kỹ thuật công nghệ ở
trong các doanh nghiệp còn chưa bắt kịp với công nghệ cao quốc tế. Dẫn đến hiệu quả là
năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp, chi phí cao, giá cao. Kết quả là năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp nước ta trên thị trường quốc gia và quốc tế rất kém. Theo
UNDP, Việt Nam đang ở trình độ công nghệ thấp của thế giới, lao động thủ công chiếm tỉ
lệ lớn trong tổng số lao động xã hội.
Kết cấu hạ tầng (hệ thống giao thông, bến cảng,...) đã có những cải thiện nhưng
vẫn còn một số làm hạn chế giao lưu kinh tế giữa các vùng trong nước.
Do cơ sở vật chất kỹ thuật còn ở trình độ thấp làm cho phân công lao động kém
phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm. Nền kinh tế nước ta chưa thoát khỏi nền
kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ, các ngành kinh tế công nghiệp cao chiếm tỉ trọng thấp.
2. Thị trường dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành nhưng chưa đồng bộ:
Thị trường hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ: đã được hình thành nhưng còn hạn
hẹp và còn nhiều hiện tượng tiêu cực (hàng giả,hàng nhập lậu, hàng nhái nhãn hiệu vẫn
làm rối loạn thị trường). Thị trường hàng hoá sức lao động mới manh nha, nét nổi bật của 16
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
thị trường này là sức cung về lao động lành nghề nhỏ hơn cầu rất nhiều, trong khi đó
cung về sức lao động giản đơn lại vượt quá xa cầu, thị trường hoạt động chỉ mang tính tự
phát, tỉ lệ người tham gia vào thi trường còn thấp, năng lực cạnh tranh còn thấp do tay nghề thấp.
Thị trường tài chính và tiền tệ: đang trong quá trình hình thành, nên hoạt động
mang tính quá độ từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường. Các yếu tố
được hình thành chưa đồng bộ, hệ thống pháp luật để hướng dẫn quản lí chưa hoàn thiện
và đang thiếu đồng bộ.
Thị trường bất động sản: mới được hình thành nên tính nhạy cảm còn rất cao,
liên quan động chạm tới mọi dân cư, thành phần kinh tế, giao dịch ngầm, giá cả đang
biến động thất thường.
Thị trường KHCN: xuất hiện một số hình thức và thương mại hoá, ở Việt Nam
chưa được hình thành. Vì chưa thiết lập quan hệ cung-cầu đối với sản phẩm KHCN, vì
vậy việt nam không gia nhập thị trường này vào thị trường khoa học thế giới
3. Nhiều thành phần kinh tế tham gia vào thị trường:
Trên thị trường tồn tại nhiều loại hình sản xuất hàng hoá giản đơn với quy mô lớn
(doanh nghiệp, công ty) sản xuất XHCN (KT nhà nước, hợp tác xã); sản xuất TBCN
(doanh nghiệp tư nhân CTY tư nhân), trong đó sản xuất hàng hoá nhỏ phân tán còn phổ
biến. Vì vậy có nhiều loại hình quy luật chi phối: Quản lý kinh tế TBCN, Quản lý kinh tế
XHCN, QL sản xuất hàng hoá nhỏ. Song vẫn tuân thủ những yêu cầu của các QLKT thị
trường, tạo tính phức tạp trong quan hệ KT quản lí điều hành KT vĩ mô của nhà nước.
4. Quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội còn yếu kém:
Chưa khắc phục tình trạng chồng chéo về chức năng nhiệm vụ giữa các bộ ngành,
cơ quan chính quyền cửa các tỉnh, thành phố, địa phương.
Quản lí nhà nước về KT nặng về kiểm tra, xử lý nhiều hơn là hỗ trợ và tạo điều
kiện cho hoạt đông kinh doanh của các doanh nghiệp.
Cải cách hành chính còn chậm, trong khi đó tình trạng tham nhũng lãng phí tài sản
của nhà nước ở mức độ nghiêm trọng.
3.2 Vận dụng lý luận vào thực tiễn nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
a) Nền kinh tế thị trường theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, xã hội tồn tại và phát triển được là nhờ sản
xuất vật chất, lịch sử của xã hội trước hết là lịch sử phát triển của sản xuất vật chất. 17
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
C. Mác khẳng định, sự phát triển của xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ nghĩa ở
giai đoạn cao, lúc đó nhà nước tự tiêu vong và khi ấy kinh tế hàng hóa (kinh tế thị
trường) cũng không còn tồn tại. Lênin cũng cho rằng: Chủ nghĩa xã hô }i (CNXH) là sản
phẩm của nền đại công nghiệp cơ khí. Và nếu “không có kỹ thuật tư bản chủ nghĩa quy
mô lớn được xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại... thì không
thể nói đến CNXH được”. Tuy nhiên, trước khi không còn cơ sở tồn tại, bản thân nhà
nước và kinh tế thị trường lại cần thiết cho quá trình xây dựng thành công một xã hội
mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Logic này được Lênin khẳng định từ chính thực tiễn phát triển của nước Nga. Khi
Cách mạng tháng Mười (Nga) thành công, ngay bản thân Lênin, trong giai đoạn đầu cũng
triển khai chính sách cộng sản thời chiến. Tuy nhiên, sau đó ông nhận ra sai lầm, nóng
vội nó đối lập Đảng với quần chúng nhân dân và chỉ làm trầm trọng thêm nền kinh tế vốn
đã hoang tàn của đất nước. Lênin đã chỉ ra con đường khắc phục thông qua triển khai
thực hiện chính sách kinh tế mới, tức chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang khuyến
khích phát triển kinh tế hàng hóa, chấp nhận mức độ nhất định cơ chế thị trường. Để phát
triển lực lượng sản xuất trong điều kiện mới hình thành còn nhiều khó khăn, cần phải duy
trì nền kinh tế nhiều thành phần…
b) Phát triển nền kinh tế thị trường ở Viê ~t Nam
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tham khảo kinh nghiệm phát
triển của các quốc gia trên thế giới và từ thực tiễn phát triển Việt Nam, Đảng ta đã đề ra
đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCH. Đây là bước phát triển mới về
tư duy lý luận, một sự vận dụng độc lập, sáng tạo của Đảng ta trong quá trình đổi mới và
là sự vận dụng sáng tạo từ chỉ dẫn của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH và con đường đi
lên CNXH, đặc biệt là những chỉ dẫn của Lênin trong chính sách kinh tế mới.
Với mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nền kinh tế nước ta đã đạt nhiều thành
tựu, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn chiến tranh, bảo vệ nền độc lập dân tộc, thống nhất
đất nước. Tuy nhiên, sau khi thống nhất đất nước, cả nước đi lên CNXH, mô hình kinh tế
này đã bộc lộ nhiều hạn chế. Trước tình trạng sản xuất đình đốn, thương mại trì trệ, năng
suất lao động thấp, tốc độ tăng trưởng kinh tế rất thấp, lực lượng sản xuất lạc hậu... Đảng
Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực
tiễn nước ta, quyết tâm từ bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp để
chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Ở Việt Nam, mặc dù đã có quan điểm manh nha về kinh tế thị trường từ Đại hội
VI khi xác định xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tuy nhiên đến Đại hội
IX, thuật ngữ “phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN” mới chính thức được sử
dụng trong Văn kiện của Đảng. 18
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
Đến Đại hội X của Đảng (2006), 5 thành phần kinh tế gồm: kinh tế nhà nước, kinh
tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
được xác lập trong nền kinh tế nước ta. Vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế trong
nền kinh tế quốc dân đã được nhận thức rõ ràng và xác định cụ thể.
Đến Đại hội XI của Đảng (2011) đã phát triển và hoàn thiện thêm một bước đặc
trưng kinh tế của CNXH, trong đó Đảng ta xác định: “Nền kinh tế với nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Các
thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền
kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành
mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố
và phát triển. Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc
của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển. Các hình thức sở hữu
hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển”.
Trên cơ sở kế thừa nhận thức của các đại hội trước, Đại hội XII của Đảng đã có
những bổ sung đáng kể với sự hiện diện khá toàn diện và cụ thể các thành tố cấu thành
nền kinh tế, thể hiện bước tiến trong nhận thức lý luận của Đảng về mô hình kinh tế Việt
Nam, đó là: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành
đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng
XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường
hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một
động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng,
hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và
phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản
xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bố theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù
hợp với cơ chế thị trường.
Như vâ }y, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam không phải là cái khác biệt mà vẫn là
“nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật khách quan của kinh tế thị
trường” như quy luật tự do cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị; thực hiện tự do
hoá thương mại... Các nguyên tắc, thông lệ quốc tế trong quản lý và điều hành kinh tế 19
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin – Nhóm 03
được tuân thủ và vận dụng một cách hợp lý, linh hoạt. Nhà nước quản lý, điều hành nền
kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật và bằng cả sức mạnh
vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước; thực hiện sự điều tiết ở tầm vĩ mô, “định hướng,
xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch”
bảo đảm cho thị trường phát triển lành mạnh, tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường.
Ngoài ra, nền kinh tế thị trường phải hiện đại và hội nhập quốc tế. Nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam đã và đang thực hiện quá trình hội nhập quốc tế, mở rộng và gia tăng
các mối quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm tranh thủ nhiều cơ hội
hợp tác, giúp đỡ về nhiều mặt từ các nước, đặc biệt là các quốc gia phát triển; chủ động
và tích cực, nhanh chóng và hiệu quả, tận dụng tốt những thời cơ, vận hội, phát huy tối đa
các nguồn lực trong và ngoài nước cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đồng thời có những
biện pháp gia tăng khả năng dự phòng của nền kinh tế, ứng phó tốt với những rủi ro,
thách thức của tiến trình hội nhập.
3.3. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
a) Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần.
Thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ
là một trong những điều kiện cơ bản để thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, nhờ đó mà
sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế.
Cùng với việc đổi mới, củng cố kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, việc thừa nhận
và khuyến khích các thành phần kinh tế cá thể, tư nhân phát triển là nhận thức quan trọng
về xây dưng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ. Tất cả thành phần kinh tế đều bình
đẳng trước pháp luật, tuy vị trí quy mô, tỷ trọng, trình độ có khác nhau nhưng tất cả đều
là nội lực của nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
b) Mở rộng phân công lao động xã hội, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường
Phân công lao động xã hội là cơ sở của việc trao đổi sản phẩm. Để đẩy mạnh phát
triển kinh tế hàng hoá, cần phải mở rộng phân công lao động xã hội, phân bố lại lao động
và dân cư trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, từng vùng theo hướng
chuyên môn hoá, hợp tác hoá nhằm khai thác mọi nguồn lực, phát triển nhiều ngành
nghề, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có và tạo việc làm cho người lao động.
Cùng với mở rộng phân công lao động xã hội trong nước, phải tiếp tục mở rộng
quan hệ kinh tế với nước ngoài nhằm gắn phân công lao động trong nước với phân công
lao động quốc tế, gắn thị trường với thị trường thế giới. Nhờ đó mà thị trường trong nước
từng bước được mở rộng, tiềm năng về lao động, tài nguyên, cơ sở vật chất hiện có được khai thác có hiệu quả. 20