







Preview text:
I. Nội dung cơ bản của thực tiễn và nhận thức
1.1. Khái niệm về thực tiễn
- Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử – xã hội
của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
1.2. Các hình thức cơ bản của thực tiễn
- Hoạt động sản xuất của cải vật chất:
Ví dụ: Hoạt thu hoạch cà chua của nông dân, lao động của các công nhân
trong các nhà máy, xí nghiệp…
- Hoạt động thực nghiệm khoa học:
Ví dụ: Hoạt động nghiên cứu, làm thí nghiệm của các nhà khoa học đã tìm
ra các vật liệu mới, nguồn năng lượng mới, vác-xin phòng ngừa dịch bệnh mới
- Hoạt động chính trị - xã hội:
Ví dụ: Hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội, tiến hành Đại hội Đoàn Thanh
niên trường học, Hội nghị công đoàn.
1.3. Khái niệm nhận thức
- Nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách
quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức
về thế giới khách quan đó.
1.4. Các giai đoạn của quá trình của nhận thức
* Quá trình nhận thức của con người gồm hai giai đoạn:
- Nhận thức cảm tính: là giai đoạn nhận thức được tạo nên do sự tiếp xúc trực
tiếp của các cơ quan cảm giác với sự vật, hiện tượng, đem lại cho con
người hiểu biết về đặc điểm bên ngoài của chúng.
Ví dụ: Khi muối ăn tác động vào các cơ quan cảm giác, mắt (thị giác) sẽ
cho ta biết muối có màu trắng, dạng tinh thể; mũi (khướu giác) cho ta biết muối
không có mùi; lưỡi (vị giác) cho ta biết muối có vị mặn.
- Nhận thức lí tính: là giai đoạn nhận thức tiếp theo, dựa trên các tài liệu do
nhận thức cảm tính đem lại, nhờ các thao tác của tư duy như: phân tích, so
sánh, tổng hợp, khái quát… tìm ra bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng.
Ví dụ: Nhờ đi sâu phân tích, người ta tìm ra cấu trúc tinh thể và công thức
hóa học của muối, điều chế được muối…
II. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
1.5. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
- Đối với nhận thức, thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của
nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính đúng đắn của quá trình nhận thức chân lý:
a) Thực tiễn là nguồn gốc, cơ sở (điểm xuất phát) của nhận thức
- Thông qua hoạt động thực tiễn con người nhận biết được cấu trúc; tính chất và
các mối quan hệ giữa các đối tượng để hình thành tri thức về đối tượng.
- Hoạt động thực tiễn bổ sung và điều chỉnh những tri thức đã được khái quát.
Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức và khuynh hướng vậnđộng và phát triển của nhận thức
- Nhu cầu giải thích, nhận thức và cải tạo thế giới buộc con người tác động trực
tiếp vào đối tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình. Chính sự tác
động đó đã làm cho các đối tượng bộc lộ những thuộc tính, những mối
liên hệ và các quan hệ khác nhau giữa chúng đem lại cho con người
những tri thức, giúp cho con người nhận thức được các quy luật vận động
và phát triển của thế giới. Trên cơ sở đó hình thành các lý thuyết khoa học.
Ví dụ: Sự xuất hiện học thuyết Macxit vào những năm 40 của thế kỷ XIX
cũng bắt nguồn từ hoạt động thực tiễn của các phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân chống lại giai cấp tư sản lúc bấy giờ.
+ nếu xa rời thực tiễn, không dựa vào thực tiễn thì nhận thức sẽ xa rời cơ sở
hiện thực nuôi dưỡng sự phát sinh, tồn tại và phát triển của mình. Cũng vì
thế, chủ thể nhận thức không thể có được những tri thức đúng đắn và sâu
sắc về thế giới nến nó xa rời thực tiễn
+ Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán
triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát
từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công
tác tổng kết thực tiễn.
+ Việc nghiên cứu lí luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành. Nếu xa
rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy
móc, quan liêu. Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ
nghĩa thực dụng và kinh nghiệm chủ nghĩa. Như vậy, nguyên tắc thống nhất
giữa thực tiễn và lý luận phải là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thực tiễn và hoạt động lý luận
+ lý luận mà không có thực tiễn làm cơ sở và tiêu chuẩn để xác định tính chân lý
của nó thì đó chỉ là lý luận suông, ngược lại, thực tiễn mà không có lý luận khoa
học, cách mạng soi sáng thì nhất định sẽ biến thành thực tiễn mù quáng.
b) Thực tiễn là động lực của nhận thức:
- Hoạt động thực tiễn góp phần hoàn thiện các giác quan, tạo ra khả năng
phản ánh nhạy bén, chính xác, nhanh hơn; tạo ra các công cụ, phương tiện
để tăng năng lực phản ánh của con người đối với tự nhiên. Những tri thức
được áp dụng vào thực tiễn đem lại động lực kích thích quá trình nhận thức tiếp theo:
+ Thực tiễn sản xuất vật chất và cải biến thế giới đặt ra yêu cầu buộc con người
phải nhận thức về thế giới.
+ Thực tiễn làm cho các giác quan, tư duy của con người phát triển và hoàn
thiện, từ đó giúp con người nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về thế giới.
Ví dụ: Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn con người cần phải “đo đạc diện tích
và đo lường sức chứa của những cái bình, từ sự tính toán thời gian và sự chế tạo
cơ khí ” MÀ toán học đã ra đời và phát triển
c) Thực tiễn là mục đích của nhận thức:
+ Mục đích cuối cùng của nhận thức là giúp con người hoạt động thực tiễn
nhằm cải biến thế giới. Nhấn mạnh vai trò này của thực tiễn Lênin đã cho
rằng: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và
cơ bản của lý luận về nhận thức”.
+ Nhận thức không chỉ thoả mãn nhu cầu hiểu biết mà còn đáp ứng nhu cầu
nâng cao năng lực hoạt động để đưa lại hiệu quả cao hơn, đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng của con người. Thực tiễn luôn vận động, phát triển
nhờ đó, thực tiễn thúc đẩy nhận thức vận động, phát triển theo. Thực tiễn
đặt ra những vấn đề mà lý luận cần giải quyết.
+ Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, thì tri thức con người mới thể hiện được
sức mạnh của mình, sự hiểu biết của con người mới có ý nghĩa.
Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai, khi nhận thức
đúng thì nó phục vụ thực tiễn phát triển và ngược lại
gbnhững thành tựu mới nhất của y học về điều chế vắc-xin cũng ra đời
từ thực tiễn ,mục đích chữa trị và ngăn chặn những mối hiểm họa từ dịch bệnh cho nhân loại
VD: Tìm ra nguyên lý tại sao con chuồn chuồn lại bay được =>
sáng tạo ra máy bay để phục vụ hoạt động thực tiễn.
d) Thực tiễn là tiêu chuẩn tiêu chuẩn của chân lý:
- Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai. Khi nhận thức đúng
thì nó phục vụ thực tiễn phát triển và ngược lại. Như vậy, thực tiễn là thước đo
chính xác nhất để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức, xác nhận tri thức đó có
phải là chân lý hay không
VD: Thuyết nhật tâm của Copernicus: Trước đây tin trái đất là
trung tâm nhưng khi quan sát thực tiễn chứng minh mặt trời mới là trung tâm.
III. Ý nghĩa của phương pháp luận
- Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn quán triệt
quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu:
+ Phải quán triệt quan điểm thực tiễn: việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn
+ Nghiên cứu lí luận phải đi đôi với thực tiễn; học phải đi đôi với hành. Xa rời
thực tiễn dẫn đến bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, quan liêu.
+ Nhưng không tuyệt đối hoá vai trò của thực tiễn, tuyệt đối hoá vai trò của thực
tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng.