Cách tính CPI Việt Nam
1. Định nghĩa CPI
CPI (Consumer Price Index) có nghĩa chỉ số giá tiêu dùng, đây chỉ số tính
theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá ng tiêu dùng theo
thời gian. Chỉ số tiêu dùng CPI phản ánh mức tiêu dùng, sức mua của một nền
kinh tế được tính theo tỷ lệ phần trăm.
Chỉ số giá tiêu dùng chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá
sự thay đổi của mức giá chính lạm phát.
Nhằm phản ánh mức độ tăng gtiêu dùng chung, Việt Nam đã bắt đầu tính toán
sử dụng CPI từ năm 1998. Số lượng quyền số của các mặt hàng trong rổ
hàng hóa được cập nhật mở rộng 5 năm một lần.
+ Năm gốc 1995 296 mặt hàng;
+ Năm 2000 390 mặt hàng;
+ Năm 2005 494 mặt hàng;
Các mặt hàng trong rổ hàng hóa CPI được phân chia thành c nhóm được chi
tiết theo các cấp
+ Cấp 1: 10 nhóm;
+ Cấp 2: 32 nhóm;
+ Cấp 3: 86 nhóm;
+ Cấp 4: 237 nhóm.
Chính vậy, số liệu CPI của Việt Nam hiện nay được chia làm 3 giai đoạn:
1998-2000, 2001-2005, 2006-nay.
2.1 Phương pháp điều tra tính CPI Việt Nam
CPI nước ta đã đang được tính cho 8 vùng kinh tế, 64 tỉnh, thành phố thuộc
Trung ương.
nước ta, quyền số tính chỉ số giá tiêu dùng được sử dụng cố định trong 5
năm tính cho năm gốc so sánh (đồng nhất với năm cập nhật danh mục
mặt hàng, dịch vụ đại diện). Trong thời kỳ 2006-2010 năm gốc so sánh
năm 2005, do đó giá kỳ gốc theo danh mục mặt hàng, dịch vụ đại diện mới,
quyền số để tính chỉ số gtiêu dùng đều phải số liệu của năm 2005.
+ Tính chỉ số giá cả nước: Tính CPI khu vực nông thôn thành thị cả nước, từ
CPI khu vực nông thôn thành thị của 8 vùng, sau đó tính chỉ số giá Chung
cả nước từ chỉ số giá của hai khu vực.
Công thức tổng quát nsau:
I
t 0
=
i=1
n
p
i
t
q
i
0
i=1
n
p
i
0
q
i
0
=
i=1
n
W
i
0
(
p
i
t
p
i
0
)
(1)
Trong đó:
I
t 0
: chỉ số giá tiêu dùng kỳ báo cáo t so với kỳ gốc 0;
p
i
t
: giá mặt hàng i kỳ báo cáo t;
p
i
0
: giá mặt hàng i kỳ gốc;
W
i
0
: quyền số cố định m 2005.
Công thức (1) tính CPI i hạn (kỳ báo cáo so với kỳ gốc). Công thức này
nhiều ưu điểm như cách tính dễ hiểu, ngắn gọn; nhưng cũng một số nhược
điểm khi giải quyết vấn đề chọn mặt hàng mới thay thế mặt hàng cũ không
còn bán trên thị trường, hàng thời vụ hoặc hàng thay đổi chất lượng do mọi so
sánh đều phải thông qua một kỳ gốc đã chọn.
Để khắc phục những nhược điểm trên, hiện nay, CPI được tính theo công thức
Laspeyres chuyển đổi - hay phương pháp so sánh với kỳ gốc ngắn hạn. Công
thức này hoàn toàn tương thích với công thức Laspeyres gốc. Dạng tổng quát
như sau:
I
t 0
=
i=1
n
W
i
t1
(
p
i
t
p
i
t1
)
(2)
Trong đó:
W
i
t-1
=W
i
0
(
p
i
t1
p
i
0
)
Công thức (2) cũng có thể viết như sau:
I
t 0
=
i=1
n
W
i
0
i
pi
t10
i
pi
t t1
Trong đó:
I
t 0
: chỉ số giá tiêu dùng tháng báo cáo t so với kỳ gốc 0;
i
pi
tt1
: chỉ số thể mặt hàng i tháng báo cáo so với tháng trước
i
pi
t1 0
: chỉ số thể mặt hàng i tháng trước tháng báo cáo so với kỳ
gốcg0;
W
i
0
: quyền số cố định m 2005.
+ Tính chỉ số giá các vùng kinh tế: Tính CPI khu vực nông thôn
thành thị của các vùng (8 vùng) từ báo cáo CPI khu vực nông thôn thành thị
của các tỉnh trong vùng, sau đó tính CPI vùng chung cho cả hai khu vực (8 vùng).
+ Tính chỉ số giá cả nước: Tính CPI khu vực nông thôn thành thị cả
nước, từ CPI khu vực nông thôn thành thị của 8 vùng, sau đó tính chỉ số giá
Chung cả nước từ chỉ số giá của hai khu vực.
Công thức tổng quát nsau:
I
V
t 0
=
k =1
m
I
k
t 0
W
0
k
k=1
m
W
0
k
Trong đó:
I
V 0
t 0
chỉ số giá cả nước kỳ o cáo so với kỳ gốc;
I
V 1
t 0
chỉ số giá vùng 1 kỳ o cáo so với kỳ gốc;
I
V 2
t 0
chỉ số giá vùng 2 kỳ o cáo so với kỳ gốc;
I
k
t 0
chỉ số kỳ báo cáo của tỉnh k so với kỳ gốc;
k tỉnh tham gia tính chỉ số, m số tỉnh tham gia tính chỉ số giá;
W
0
k
quyền số cố định của tỉnh k.

Preview text:

Cách tính CPI Việt Nam 1. Định nghĩa CPI
CPI (Consumer Price Index) có nghĩa là chỉ số giá tiêu dùng, đây là chỉ số tính
theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo
thời gian. Chỉ số tiêu dùng CPI phản ánh mức tiêu dùng, sức mua của một nền
kinh tế và được tính theo tỷ lệ phần trăm.
Chỉ số giá tiêu dùng là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá
và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát.
2. Cách tính CPI tại Việt Nam
Nhằm phản ánh mức độ tăng giá tiêu dùng chung, Việt Nam đã bắt đầu tính toán
và sử dụng CPI từ năm 1998. Số lượng và quyền số của các mặt hàng trong rổ
hàng hóa được cập nhật và mở rộng 5 năm một lần.
+ Năm gốc 1995 có 296 mặt hàng;
+ Năm 2000 có 390 mặt hàng;
+ Năm 2005 có 494 mặt hàng;
Các mặt hàng trong rổ hàng hóa CPI được phân chia thành các nhóm được chi tiết theo các cấp + Cấp 1: 10 nhóm; + Cấp 2: 32 nhóm; + Cấp 3: 86 nhóm; + Cấp 4: 237 nhóm.
Chính vì vậy, số liệu CPI của Việt Nam hiện nay được chia làm 3 giai đoạn:
1998-2000, 2001-2005, 2006-nay. 2.1
Phương pháp điều tra và tính CPI Việt Nam
CPI nước ta đã và đang được tính cho 8 vùng kinh tế, 64 tỉnh, thành phố thuộc Trung ương.
Ở nước ta, quyền số tính chỉ số giá tiêu dùng được sử dụng cố định trong 5
năm và tính cho năm gốc so sánh (đồng nhất với năm cập nhật danh mục
mặt hàng, dịch vụ đại diện). Trong thời kỳ 2006-2010 năm gốc so sánh là
năm 2005, do đó giá kỳ gốc theo danh mục mặt hàng, dịch vụ đại diện mới,
quyền số để tính chỉ số giá tiêu dùng đều phải là số liệu của năm 2005.
+ Tính chỉ số giá cả nước: Tính CPI khu vực nông thôn và thành thị cả nước, từ
CPI khu vực nông thôn và thành thị của 8 vùng, sau đó tính chỉ số giá Chung
cả nước từ chỉ số giá của hai khu vực.
Công thức tổng quát như sau: npt q0 i i n t It →0=i=1 =∑ W0∗( pi ) n i 0 ∑ i =1 p p0 q0 i i i i=1 (1) Trong đó:
It→0 : chỉ số giá tiêu dùng kỳ báo cáo t so với kỳ gốc 0; t
pi : giá mặt hàng i kỳ báo cáo t;
p0i : là giá mặt hàng i kỳ gốc; 0
Wi : quyền số cố định năm 2005.
Công thức (1) tính CPI dài hạn (kỳ báo cáo so với kỳ gốc). Công thức này có
nhiều ưu điểm như cách tính dễ hiểu, ngắn gọn; nhưng cũng có một số nhược
điểm khi giải quyết vấn đề chọn mặt hàng mới thay thế mặt hàng cũ không
còn bán trên thị trường, hàng thời vụ hoặc hàng thay đổi chất lượng do mọi so
sánh đều phải thông qua một kỳ gốc đã chọn.
Để khắc phục những nhược điểm trên, hiện nay, CPI được tính theo công thức
Laspeyres chuyển đổi - hay phương pháp so sánh với kỳ gốc ngắn hạn. Công
thức này hoàn toàn tương thích với công thức Laspeyres gốc. Dạng tổng quát như sau: n t
It →0=∑ Wt−1∗( pi ) i t −1 i =1 pi (2) Trong đó: t −1
W t-1=W 0∗( pi ) i i p0i
Công thức (2) cũng có thể viết như sau: n 0
It →0=∑ W it−1→0∗it t−1 i pi pi i =1 Trong đó:
It →0 : chỉ số giá tiêu dùng tháng báo cáo t so với kỳ gốc 0; itt−1 pi
: là chỉ số cá thể mặt hàng i tháng báo cáo so với tháng trước it−1→0 pi
: là chỉ số cá thể mặt hàng i tháng trước tháng báo cáo so với kỳ gốcg0; 0
Wi : quyền số cố định năm 2005.
+ Tính chỉ số giá các vùng kinh tế: Tính CPI khu vực nông thôn và
thành thị của các vùng (8 vùng) từ báo cáo CPI khu vực nông thôn và thành thị
của các tỉnh trong vùng, sau đó tính CPI vùng chung cho cả hai khu vực (8 vùng).
+ Tính chỉ số giá cả nước: Tính CPI khu vực nông thôn và thành thị cả
nước, từ CPI khu vực nông thôn và thành thị của 8 vùng, sau đó tính chỉ số giá
Chung cả nước từ chỉ số giá của hai khu vực.
Công thức tổng quát như sau: mIt→0∗Wk k 0 I t →0= k=1 V mW k 0 k=1 Trong đó: I t →0
V 0 là chỉ số giá cả nước kỳ báo cáo so với kỳ gốc; I t →0
V 1 là chỉ số giá vùng 1 kỳ báo cáo so với kỳ gốc; I t →0
V 2 là chỉ số giá vùng 2 kỳ báo cáo so với kỳ gốc; t →0
Ik là chỉ số kỳ báo cáo của tỉnh k so với kỳ gốc;
k là tỉnh tham gia tính chỉ số, m là số tỉnh tham gia tính chỉ số giá;
W k0 là quyền số cố định của tỉnh k.