



















Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG =======✵======= BÀI CUỐI KỲ
MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: ẢNH HƯỞNG CỦA TIN GIẢ TRÊN FACEBOOK LÊN GIỚI
TRẺ: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI
HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN - ĐHQG TP. HCM TẠI VIỆT NAM
GVHD: TS. Nguyễn Quang Dũng
Lớp: Báo chí CLC K22 - 2
Nhóm thực hiện: Tắm mình trong dữ liệu Đào Phạm Thái Hoà 2256031019 Nguyễn Thị Linh Nga 2256031047 Trần Thị Hồng Nga 2256031048 Trần Duy Khánh Tuyên 2256031064 Trần Ngọc Minh Thư 2256031068
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2023
NỘI DUNG THỰC HIỆN I. Giới thiệu
Trong thời đại ngày nay, sự phổ biến của tin tức trực tuyến và mạng xã hội mở
ra một thế giới thông tin đa dạng, phong phú, nhưng đồng thời dẫn đến sự đe dọa từ tin
giả. Đối diện với sự gia tăng nhanh chóng của tin giả, nghiên cứu này nhằm tìm hiểu
sự ảnh hưởng tích cực - tiêu cực của thông tin giả mạo đối với đời sống của sinh viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh (Trường ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP. HCM).
Thông tin gây hiểu lầm (misinformation) xảy ra khi “mọi người có những niềm
tin không chính xác và thực hiện điều đó một cách tự tin” (Kuklinski, J. H., Quirk, P.
J., Jerit, J., Schwieder, D., & Rich, R. F., 2000, trang 792). Thông tin gây hiểu lầm
được cấu thành từ một tuyên bố mâu thuẫn hoặc bị bóp méo cách hiểu thông thường về
các sự kiện có thể kiểm chứng được ( Persily
, N. & Tucker, J. A., 2020, trang 10).
Như vậy, thông tin gây hiểu lầm (misinformation) là thông tin không chính xác,
thường được lan truyền mà không có chủ đích lừa dối hay gây hại cho người khác.
Thông tin loại này có thể sinh ra từ việc người đưa tin có niềm tin và quan điểm chủ
quan khiến họ đánh giá sai về một sự vật, sự việc. Hoặc đơn giản là lỗi sai của họ thuộc
về mặt kỹ thuật như nhìn nhầm, nghe nhầm hay nhớ nhầm. Như vậy, “misinformation”
là chỉ thông tin sai lệch một cách tự nhiên, có thể do người nói hoặc người đọc hiểu sai vấn đề.
Thông tin cố tình gây hiểu lầm (disinformation) là thông tin sai sự thật, được cố
tình lan truyền nhằm mục đích đánh lừa hoặc lừa dối (Hernon, P., 1995, trang 134).
Thông tin này là một dạng thông tin cố tình gây hiểu lầm đặc biệt có vấn đề vì không
phải ngẫu nhiên mà mọi người bị lừa. Hơn nữa, ngoài việc trực tiếp gây hại, thông tin
cố tình gây hiểu lầm còn có thể làm hại gián tiếp cho con người bằng cách làm “xói
mòn” lòng tin, do đó hạn chế khả năng chia sẻ thông tin với nhau một cách hiệu quả
(Fallis, D., 2015, trang 402). Thông
tin cố tình gây hiểu lầm (disinformation) được tạo
ra hoặc truyền đi có mục đích thao túng người khác, đặc biệt là trong các tình huống
chính trị. Hình thức thường gặp là các thuyết âm mưu để “dắt mũi” dư luận.
Mặc dù không mới, nhưng việc lan truyền thông tin sai lệch đã và đang dần
được dùng như đồng nghĩa của thuật ngữ “tin giả” (Jon, R. & Sander, L., 2018, trang
570). Sau khi tìm kiếm, chúng tôi nhận ra rằng “tin giả” còn hay được hiểu là những
tin bài có chủ đích, có thể kiểm chứng được chúng sai, và có khả năng gây hiểu lầm
cho độc giả (Allcott, H. & Gentzkow, M., 2017, trang 215). Hay trong định nghĩa
thường thức, “tin giả” có thể được mô tả rất đơn giản là tin tức hoàn toàn bịa đặt,
“nhào nặn” để giống với báo chí nhằm trở nên đáng tin cậy và thu hút tối đa sự chú ý
của công chúng (National Literacy Trust, 2018b). Qua các định nghĩa trên, ta có thể
thấy hầu hết các nghiên cứu những người phát tán tin giả thường mang mục đích đánh 1
lừa hoặc định hướng dư luận. Những người này thường dùng tin giả để mưu lợi cá
nhân, nói xấu một người hay một tổ chức nào đó.
Để tổng hợp cũng như có cái nhìn khách quan đầy đủ nhất về “tin giả” chúng
tôi tiến hành nghiên cứu định nghĩa sau đây và các vấn đề xoay quanh nó. Định nghĩa
này cho rằng “tin giả” là thông tin bịa đặt, bắt chước nội dung của tin tức chính thức
dưới hình thức truyền thông tin tức, nhưng không theo quy trình hay đúng với mục
đích của các cơ quan thông tấn (Lazer, D. M. J. và các cộng sự, 2018, trang 1). Tin giả
ở đây, hiển nhiên, sẽ thiếu các bước biên tập, kiểm chứng nhằm xác minh tính chính
xác và tin cậy của thông tin như các cơ quan truyền thông, báo chí chính thống. Định
nghĩa về “tin giả” của Lazer, D. M. J. và các cộng sự (2018), theo tạp chí Social
Science sẽ là “kim chỉ nam” cho nghiên cứu của chúng tôi để xác định một cách cơ sở
về những khía cạnh ảnh hưởng của tin giả lên giới trẻ.
Chúng tôi sẽ thực hiện phân tích chi tiết về cách các sinh viên tiếp cận và xử lý
thông tin từ các nguồn tin giả. Đồng thời, chúng tôi sẽ đánh giá tác động của những
thông tin này đối với tư duy, nhận thức và quyết định, hành vi của sinh viên trong đời
sống sinh hoạt và học tập thường nhật.
Từ khoá: Fake news, The influence of fake news, Unofficial news, Uncensored news,
Effect, Affect, Impact, Influence, The effect of fake, Misinformation, Disinformation. II.
Tổng quan lý thuyết
1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về ảnh hưởng của tin giả trên Facebook
đối với giới trẻ
Chúng ta đều biết rằng, với sức ảnh hưởng mạnh mẽ của mạng xã hội như hiện
nay, chỉ cần một cú chạm thì ta có thể “mở” cả thế giới, dù cho khoảng cách địa lý có
bao xa đi chăng nữa. Tuy nhiên, sự hiện diện của các tin tức giả trên nền tảng internet,
đặc biệt là Facebook cũng vì thế mà tăng theo. Trong khi đó, giới trẻ thường được gọi
là thế hệ kỹ thuật số bởi vì họ là thế hệ được phát triển đầy đủ trong một môi trường
công nghệ hiện đại. Do đó, dễ dàng thấy họ chủ yếu theo dõi tin tức sự kiện thông qua
kênh Facebook. Điều này dẫn đến tình trạng thanh thiếu niên trên toàn thế giới đã và
đang phải đối mặt hàng ngày, hàng giờ với sự xuất hiện tràn lan các thông tin sai lệch
và bịa đặt. Các nghiên cứu trên thế giới đều phát hiện ra những ảnh hưởng đáng kể đối
với nhận thức cũng như hành vi của người trẻ khi tiếp xúc với tin tức giả trên
Facebook. Trong đó, mẫu số chung mà các nhà nghiên cứu ám chỉ chính là tin giả trên
Facebook có tác động đa phần là tiêu cực đến sự tham gia báo chí công dân toàn cầu,
cụ thể là đối tượng giới trẻ trên thế giới.
1.1. Về mặt nhận thức
Tin giả trên Facebook có khả năng “thao túng” tâm lý của giới trẻ bằng cách
khiến họ có niềm tin vào bất cứ thông tin nào được đăng tải và “quên” mất việc phải
xác thực nó. Trong khi đó, chính nền tảng Facebook từng xác nhận rằng họ gặp khó 2
khăn khi kiểm soát sự phát tán mạnh mẽ các thông tin sai lệch (Italiano, L., 2017). Cụ
thể, Facebook tuyên bố rằng họ không thể phân biệt được tin giả thông qua chính sách
cảnh báo (Red flag policy), dẫn đến việc vô tình “củng cố” những tin tức sai lầm, trái
ngược với thực tế (Italiano, L., 2017). Về vấn đề này, sự lan truyền tin giả cũng bị ảnh
hưởng bởi một thứ gọi là “Hiệu ứng giả dược” (“Placebo effect”), nghĩa là chúng
khiến giới trẻ, kể cả mọi lứa tuổi có suy nghĩ tích cực về tin giả và chấp nhận nó là
thông tin chính xác (Andelová, L., 2018). Điều này làm suy giảm khả năng nhận biết,
phân loại thông tin của phần lớn thanh thiếu niên bởi họ chỉ đọc tin tức qua tựa đề
hoặc một vài câu chú thích (caption) kèm trong bài đăng.
Theo nghiên cứu về kỹ năng phát hiện tin giả dành cho thanh thiếu niên (Al
Zou'bi, R. M, 2022), giới trẻ là những người tiêu thụ tin tức khá thụ động. Có khoảng
43% thanh niên từ 16 đến 24 tuổi chỉ muốn theo dõi tin tức về những chủ đề mà họ
thấy thú vị. Vì mối quan tâm của thanh thiếu niên thường nằm ở tin tức về văn hóa, thể
thao, người nổi tiếng hơn là tin tức về chính trị và xã hội. Cũng trong nghiên cứu điều
tra tin tức giả trên Facebook bằng cách tiến hành cuộc khảo sát bán cấu trúc của
Geeng, C., Yee, S., Roesner, F. (2020) đã cho ra kết quả rằng giới trẻ nói riêng và mọi
người nói chung đều có vẻ “kiệt sức” đối với các tin tức về khía cạnh chính trị. Chính
vì những “khoảng trống tri thức” đó dẫn đến giới trẻ thiếu các kiến thức liên quan để
nhận biết tin tức giả về những chủ đề quan trọng này. Bên cạnh đó, họ có xu hướng
không kiểm tra tính xác thực trên các nguồn, trang web báo chí chính thống. Khoảng
một nửa thanh thiếu niên phớt lờ hoặc tránh né đọc tin tức bằng cách không theo dõi
qua các kênh truyền thống (Edgerly, S. và các cộng sự, 2017, trang 2). Chính vì những
điều trên, khi tin giả xuất hiện trên Facebook đã ảnh hưởng đến tâm lý phản ánh thông
tin của giới trẻ. Họ thiếu kinh nghiệm trong việc phân biệt đâu là thông tin không
chính xác và đâu là thông tin đáng tin cậy (National Literacy Trust, 2018a). Như vậy,
nếu gặp phải tin tức giả trên Facebook thì giới trẻ sẽ dễ có sự nhầm lẫn, hiểu sai về các
vấn đề xã hội, chính trị, đặc biệt là các khía cạnh thuộc về sắc tộc, tôn giáo, niềm tin,...
Tuy vậy, đôi khi họ vẫn tin tưởng và chia sẻ, đăng lại các tin tức sai sự thật (Geeng,
C., Yee, S., Roesner, F., 2020).
Bên cạnh những nghiên cứu chỉ ra việc giới trẻ mất cảnh giác đối với tin tức giả
thì tin giả còn ảnh hưởng đến nhận thức của họ theo một chiều hướng ngược lại. Đó là
những thanh thiếu niên đang dần suy giảm niềm tin vào bất kỳ tin tức nào được đăng
tải trên Facebook. Trong một nghiên cứu định tính liên quan đến trải nghiệm tin tức
giả của 214 thanh niên Flemish có độ tuổi từ 15 - 19 (Vissenberg, J., d’Haenens, L.,
2020), có một câu trả lời của cô gái 17 tuổi rằng: “Tôi nghi ngờ về những tin tức tôi
đọc được trên Facebook” (trang 67). Hoặc một nguồn tin khác: “Khi tôi nhìn thấy điều
gì đó về cưỡng hiếp hoặc bạo lực trên Facebook, tôi thường nghĩ rằng nó đã bị cường
điệu hoá hoặc không đúng sự thật” (trang 67). Thêm vào đó, một nghiên cứu về mức
độ tương tác của giới trẻ tại Na Uy (Selnes, F. N., 2023) đã phát hiện ra có khá nhiều
thanh thiếu niên thường xuyên hoài nghi về tính chính xác của tin tức trên Facebook,
rộng hơn là mạng xã hội. Chẳng hạn như kết quả phỏng vấn được thu thập gồm “Điều 3
đầu tiên tôi nghĩ đến là sự hoài nghi [. . .]” (FGD1, Orkland 01.06.2022), “Tôi trở nên
rất không chắc chắn về mọi thứ mà tôi thấy trên mạng xã hội” (FGD2, Orkland
01.06.2022). Thậm chí là “Tôi đã mất niềm tin vào hầu hết các tin tức [. . .] dối trá
nhiều lắm” (FGD3, Heim 15.03.2022). Có vẻ như sự phổ biến của tin giả trên mạng xã
hội đồng nghĩa với việc phải cẩn thận, làm tăng mâu thuẫn và gây ra sự sợ hãi và mất
lòng tin ở một số thanh thiếu niên. Bởi vì tin giả có liên quan đến tâm lý căng thẳng, lo
lắng và “gây tổn hại đến lòng tự trọng của trẻ em và thanh thiếu niên” (National Literacy Trust, 2018b).
1.2. Về mặt hành vi
Ngoài việc gây ra khả năng bị tổn thương đến nhận thức, sự xuất hiện của
những tin tức giả có thể gây ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi của con người đặc biệt là
trong độ tuổi thanh thiếu niên.
Chúng ta không thể phủ nhận được rằng việc tương tác với tin tức thông qua
những lượt chia sẻ, thích và bình luận sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thể hiện bản
thân cũng như cho phép thanh thiếu niên hiểu được thế giới xung quanh. Trong bài
viết “Cách học sinh tương tác với tin tức: Năm bài học rút ra dành cho nhà giáo dục,
nhà báo và thủ thư” (Head, A. J và các cộng sự, 2018) đã chỉ ra đa số trẻ vị thành niên
và người trẻ tuổi sẽ theo dõi những tin tức như tin trong nước, thế giới, thời tiết và văn
hóa - giải trí. Thế nhưng những phân tích định tính về cách họ tương tác với tin tức và
bên ngoài mạng xã hội vẫn còn chưa phổ biến. Điều đáng lo sợ hơn là, rõ ràng họ sẽ
chia sẻ tin tức giả một cách “vô tội vạ” vì lượng kiến thức không đủ dẫn đến độ tuổi vị
thành niên lúc này rất dễ bị kích động và “dắt mũi” bởi nhiều luồng tin tức khác nhau.
Điều này dẫn đến các hành vi như chỉ trích nặng nề hoặc chống phá,... điển hình như ở
Việt Nam mạng xã hội phổ biến nhất là Facebook, tất cả người dùng đều có thể tự do
đăng tải thông tin, ý kiến của mình lên mạng xã hội điều đó đã dẫn đến thông tin
không được kiểm duyệt. Theo một nghiên cứu của Viện An ninh mạng Quốc gia
(INCIBE) và Văn phòng An ninh Internet (OSI) năm 2019 cho rằng: “Nếu một phần
nội dung thu hút sự chú ý của họ, họ sẽ không ngần ngại chia sẻ nó, đôi khi với số
lượng lớn mà không dừng lại để đánh giá xem thông tin đó có đáng tin cậy hay không.
Thông thường, họ lan truyền nó dù biết rằng không phải vậy”.
Một cuộc phỏng vấn dựa theo nghiên cứu đã được diễn ra tại thành phố
Trondheim ngày 28/2/2022 (Selnes, F. N., 2023) một số thanh niên cho biết họ trở
thành người sử dụng mạng xã hội thụ động do sợ tiếp xúc với tin giả: “Tôi ít sử dụng
Facebook hơn vì tin giả. Nó có ở khắp mọi nơi trên Facebook”. Rõ ràng, tin giả cản trở
sự tương tác của giới trẻ đối với tin tức vì họ e ngại, né tránh khả năng tin tức giả sẽ
ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của bản thân mình. Các cuộc điều tra về hoạt động đưa
tin làm nổi bật sự ngờ vực ngày càng tăng đối với các phương tiện truyền thông tin tức
và sự mất kết nối với tin tức ở một số người tiêu dùng đặc biệt là giới trẻ bởi những
thông tin sai sự thật xuất hiện với mức độ dày đặc và tần suất ngày càng cao. Hoặc có
thể chính họ sẽ có xu hướng trở thành “người dùng mệt mỏi” (Talwar, S. và các cộng 4
sự, 2019). Đây chính là những người sẽ ít có xu hướng xác thực tin tức trước khi chia
sẻ do họ có ý định giảm việc sử dụng mạng xã hội, kết hợp với khả năng mắc lỗi ngày
càng tăng do đó thông tin họ quan tâm chỉ những tin tức “giật gân” và không được xác
minh sự thật (Shalini Talwar và các cộng sự, 2019).
Mặt khác, trong những nghiên cứu về tác động của tin giả lên hành vi giới trẻ,
có một điềm báo khởi sắc rằng tin giả ngày càng lan rộng thì mức độ cảnh giác của
người trẻ càng tăng cao. Giữa thời đại công nghệ như hiện nay những người trẻ tuổi đã
trở nên khôn ngoan hơn khi kiểm tra và đối chứng lại hết tất cả đối với những tin tức
trên Facebook. Cũng trong nghiên cứu của Selnes, F. N. (2023), một cuộc phỏng vấn
đã được diễn ra tại thành phố Trondheim ngày 9/3/2022, một thiếu nữ đã chia sẻ lần
tình cờ đọc được một bài báo nói rằng nhà vua đã chết. Cô ấy đã tin điều đó và cảm
thấy rất sốc. Tuy nhiên, chỉ một vài ngày sau, thông tin ấy đã được đính chính rằng đó
không phải sự thật. Vì vậy, từ sau lần đó đối với những tin tức đọc được cô ấy đều
phải kiểm tra với nhiều nguồn khác nhau, chẳng hạn như VG hoặc NRK.
Không chỉ riêng cô gái trên mà còn rất nhiều thanh thiếu niên đã chia sẻ trải
nghiệm của họ với nội dung giả mạo đã dẫn đến việc tham gia tin tức thông qua việc
phê bình những gì họ gặp trên Facebook. Những người trẻ tuổi coi việc tham gia vào
tin tức trên mạng xã hội và tiếp xúc với tin tức giả là rất quan trọng trong việc tìm hiểu
về tin tức và tin giả. Mặt khác, việc tương tác với tin tức là cơ hội để tìm hiểu và nâng
cao nhận thức của họ về tin tức giả như đã được chứng minh: “Bạn trở nên nhận thức
rõ hơn [. . .] bạn học cách phê phán nhiều hơn, chỉ trích các nguồn, hoài nghi [. . .]
kiểm tra một số nguồn đáng tin cậy” theo nghiên cứu Tin giả trên mạng xã hội: Tìm
hiểu mức độ tương tác của thanh thiếu niên với tin tức (Selnes, F. N., 2023).
Như vậy từ những điều được nêu ra ở trên, có thể thấy được rằng người trẻ
đang dần trở nên cảnh giác hơn với những tin tức được đăng tải trên Facebook vì các
cơ quan đứng ra kiểm duyệt các tin tức ở nền tảng đó bị hạn chế.
2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam về ảnh hưởng của tin giả trên Facebook
đối với giới trẻ
Từ những nghiên cứu tổng thể phía trên ở phạm vi toàn cầu, chúng tôi sẽ một
lần nữa chỉ ra những tác động xấu của tin giả lên bộ phận giới trẻ thế giới cũng như
Việt Nam đều có điểm tương đồng. Như vậy, khung lý thuyết của chúng tôi được xây
dựng trên những nghiên cứu hiện có, tham khảo các nghiên cứu trước cách hỏi về ảnh
hưởng từ việc đọc tin giả trên Facebook. Sau đó tập trung nghiên cứu một nhóm nhỏ
hơn, cụ thể là sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc
gia TP. HCM (ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP. HCM) tại Việt Nam. Từ những mẫu số
chung đó, chúng tôi tiếp tục đi sâu vào quá trình nghiên cứu sự ảnh hưởng của tin giả
về mặt nhận thức và hành vi của bộ phận giới trẻ. Thuật ngữ khái niệm “tin giả” của
Lazer, D. M. J. và các cộng sự (2018) trên tạp chí Social Science là “kim chỉ nam”
trong khung phân tích của chúng tôi - về phương diện ảnh hưởng đến nhận thức lẫn 5
hành vi của giới trẻ cũng như đóng vai trò là nguồn tham khảo cho nghiên cứu sâu hơn
trường hợp sinh viên trường ĐH KHXH & NV ĐHQG TP. HCM tại Việt Nam.
2.1. Về mặt nhận thức
Theo Hãng nghiên cứu thị trường Statista, số lượng người dùng Facebook tại
Việt Nam đạt 66,74 triệu vào năm 2022. Như vậy, người Việt Nam không chỉ sử dụng
Facebook phổ biến mà còn dành nhiều thời gian cho nó để tiếp nhận tin tức, theo với tỉ
lệ đó tần suất mà tin giả được đăng tải và tiếp cận trên Facebook cũng tăng cao. Trong
số các nhóm người sử dụng mạng xã hội, thanh thiếu niên là nhóm tuổi dễ bị tổn
thương nhất; mặc dù là những người trẻ nhất nhưng thanh thiếu niên cũng là những
người dành nhiều thời gian trực tuyến nhất và do đó trở thành những người phải đối
mặt với những rủi ro tiềm ẩn của mạng xã hội nhiều nhất (Phuong và cộng sự, 2022).
Và trong những rủi ro đó, chúng ta không thể bỏ qua mối nguy về tin giả.
Tin giả có thể sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của mỗi cá nhân hay cả nhóm
tập thể, đặc biệt là khi thông tin đó phù hợp với quan điểm của họ (An, Quercia, Cha,
Gummadi, & Crowcroft, 2014) hoặc có nhiều thông tin kích động mạnh mẽ. Người trẻ
có thể nhận thông tin sai lệch, dẫn đến hiểu lầm về một vấn đề cụ thể hoặc một sự kiện
quan trọng. Điều này ảnh hưởng đến quyết định của họ và góp phần tạo ra suy nghĩ
không đúng đắn. Ví dụ nổi bật và gần đây nhất về việc “tin giả” phải trả giá bằng
mạng sống là đại dịch COVID-19. Tin giả gây hoang mang, không chính xác về virus,
biện pháp phòng chống dịch, nhu yếu phẩm, hoặc về các loại vắc xin có thể ảnh hưởng
đến nhận của giới trẻ về sức khỏe cá nhân và cộng đồng.
Như khung lý thuyết đã nói, tiếp xúc liên tục với tin giả có thể làm mất khả
năng phân biệt thông tin tin cậy và thông tin không đáng tin cậy (National Literacy
Trust, 2018a). Đặc biệt là trong bối cảnh của những cuộc khủng hoảng như dịch bệnh
Covid - 19, liên tục tiếp xúc với tin giả khiến cho mọi người có xu hướng né tránh
thông tin và áp dụng phương pháp phỏng đoán trong việc xử lý dữ liệu (Kim, H. K., 2020).
Tác động của tin tức trực tuyến là đáng kể và đều có khuynh hướng ảnh hưởng
như nhau ở tất cả các quốc gia (Kirkizh, N. & Koltsova, O., 2021). Tin giả cũng thế,
nó có thể tác động xấu đến quan điểm của người trẻ về nhiều vấn đề quan trọng như
chính trị, xã hội, sức khỏe, và giáo dục tại Việt Nam. Như tin giả về vụ việc nữ sinh
Huflit bị hãm hiếp tại trường Quân sự Quân khu 7 (TP. HCM) xuất hiện lần đầu là trên
nền tảng Facebook. Những kẻ tung tin giả đã thừa cơ hội này để lôi kéo một bộ phận
giới trẻ, gây mất niềm tin vào sự quản lý của quân đội và nhà nước. Điều này không
chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức của giới trẻ, mà còn làm thay đổi quyết định và
hành động của họ trong thế giới thực. Giới trẻ tin tưởng vào những tin tức “dắt mũi”
rằng nhà nước đang bịa đặt nhằm chiếm lợi ích độc quyền và bắt đầu quay sang chống
đối chính quyền. Không chỉ về chính trị, mà trong giai đoạn dịch bệnh Covid - 19
bùng phát, tin giả cũng ảnh hưởng không nhỏ nhận thức của nhiều cá nhân trong thanh 6
thiếu niên, có thể từ trực tiếp hoặc qua lời kể lại của nhiều người. Như tin rằng dịch
bệnh mất kiểm soát, vacxin không hiệu quả, hay những tin giả chính phủ che giấu thông tin,...
Tuy nhiên, cũng có nhiều nỗ lực của chính phủ qua giáo dục nhằm khuyến
khích giới trẻ hiểu về tầm quan trọng của việc kiểm chứng thông tin và nhận biết tin
giả. Các chương trình giáo dục và hoạt động tuyên truyền có thể giúp tăng cường khả
năng phân tích thông tin đúng đắn trong giới trẻ Việt Nam. Giới trẻ đang trở nên nhạy
bén hơn trong việc nhận biết tin giả, bắt đầu kiểm tra nguồn tin và dựa các nguyên tắc
cơ bản của một thông tin chính thống để xem xét, đánh giá tính xác thực của thông tin,
người đưa tin. Đi cùng với đó là thái độ phê phán và bài trừ tin giả dần được định hình
trong nhận thức của giới trẻ Việt Nam, không chỉ phòng vệ cho mình mà còn bắt tay
vào nhiệm vụ lên tiếng để cảnh tỉnh những người xung quanh.
2.2. Về mặt hành vi
Chia sẻ là một yếu tố quan trọng tạo nên khả năng tin giả lan truyền rộng rãi.
Một đợt sóng chia sẻ lại xảy ra khi các cá nhân chia sẻ nội dung với bạn bè của họ trên
mạng xã hội và sau đó một số người bạn đó chia sẻ lại cùng một nội dung với nhiều
người bạn khác (Cheng, J., Adamic, L., Dow, P.A, Kleinberg, J. M. & Leskovec, J.
2014, trang 925). Trong bối cảnh này, những người cố ý tạo ra những tin tức giả trông
giống như tin tức thực tế với mục đích làm cho nó có vẻ đáng tin cậy (Sydell, J. 2016).
Thậm chí lừa đảo bằng các trang web đã được xây dựng để bắt chước các trang tin tức
thực tế, nhằm cố gắng tạo uy tín cho những tin tức sai sự thật (Ruddick, G. 2017). Các
đối tượng xây dựng các trang giả mạo tổ chức, cơ quan nhà nước như trang Ban Tuyên
giáo Trung ương, trang của Bộ Công an, trang của Đài Truyền hình Việt Nam từ đó
chia sẻ các thông tin không đáng tin cậy. Các thông tin giả mạo xuất hiện trên nhiều
lĩnh vực khác nhau từ thông tin kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, y tế,... Trong bối
cảnh dịch bệnh COVID-19, tin giả tràn lan trên mạng xã hội đã dẫn đến làm lây lan
dịch bệnh, làm mờ các thông báo chính thức về sức khỏe của chính phủ trên nền tảng
trực tuyến. Nhiều thông tin gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến công tác chống
dịch như việc lan truyền những thông tin của các tài khoản cá nhân như: “Dịch bùng ra
một cái, chắc chắn Việt Nam sẽ bứt lên Top 1 ngay”; “Hà Nội 11 triệu dân chỉ có
khoảng 300 cái máy thở”; “Quận 12 thông báo tiêm vắc - xin Trung Quốc, dân bỏ về
hết”; “Bác sĩ rút ống thở của mẹ đẻ để nhường cho sản phụ song sinh” sau khi xác
minh thì thông tin này hoàn toàn không có thật. Với đặc tính hấp dẫn, lôi cuốn của
thông tin giả mạo trên Facebook rất dễ làm cho sinh viên bị sa vào “biển thông tin”
hỗn loạn, dẫn đến sao nhãng việc học, giảm năng suất lao động, tinh thần uể oải, đắm
chìm vào thế giới ảo trong đời sống thực.
Mức độ người dùng bình luận ảnh hưởng đến khả năng thông điệp đó được lan
truyền đến các thành viên khác trong mạng xã hội của họ. Vì vậy, hành vi của các cá
nhân làm cho thông tin sai lệch có thể dẫn đến sự lan truyền theo cấp số nhân
(Buchanan, T. & Benson, V. 2019, trang 2). Những hành động sai trái bắt nguồn từ 7
việc bình luận “vô tội vạ” về các thông tin không được kiểm chứng. Ngoài ra, nghiên
cứu phát hiện ra rằng mọi người có xu hướng chia sẻ nội dung tin tức phù hợp với suy
nghĩ của họ. Đặc biệt là sinh viên có thể thích các bình luận có nhiều quan điểm, có
thể được coi là “xác thực” hơn là tin tức từ nguồn chính thống (Marchi, R. 2012, trang
253). Trong nhiều trường hợp, mọi người chia sẻ những câu chuyện dựa trên sự hấp
dẫn tình cảm hoặc cảm xúc hơn là tính chính xác thực tế. Facebook được đánh giá là
một kẻ giết thời gian mang tính giải trí (Schäfer, S., Sülflow, M., & Müller, P. 2017).
Các vụ việc của Bà Nguyễn Phương Hằng tố cáo ông Võ Hoàng Yên, việc vận động từ
thiện của nghệ sĩ Hoài Linh, Đàm Vĩnh Hưng, Trấn Thành,… thu hút sự chú ý rất lớn
từ công chúng dẫn đến hình thành tâm lý đám đông, áp lực dư luận, có thể tạo ra các
giá trị lệch lạc trong văn hóa ứng xử của sinh viên. Sự tự do thể hiện ý kiến cá nhân
đang trở thành mảnh đất cho cái xấu khi họ dễ dàng chỉ trích, lên án, cười cợt, chê bai
bất kỳ thứ gì không “vừa mắt”. Việc nhiều người hùa nhau chửi bới, “ném đá” một
nhân vật không đơn thuần là hành động, thói quen xấu, mà còn phản ánh một lối sống
tiêu cực bị ảnh hưởng bởi tin giả.
Hành vi cực đoan thường được khơi dậy thông qua thông tin sai lệch trực tuyến
của các tác nhân mong muốn tận dụng bối cảnh chính trị và xã hội để lật đổ chính
quyền (Iosifidis, P. & Nicoli, N. 2019, trang 2). Các thế lực thù địch và phản động đã
tận dụng sự phát triển của công nghệ này để tuyên truyền và phát tán các thông tin sai
lệch, xuyên tạc và độc hại nhằm tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng và lịch sử
cách mạng của dân tộc Việt Nam. Các thông tin xấu, độc hại phát tán trên Facebook
thường là những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo sự thật nhằm phân tích và định
hướng dư luận bằng luận điệu thù địch. Những hoạt động này đã gây ra những tác
động tiêu cực đến lập trường, tư tưởng chính trị của một bộ phận sinh viên. Bằng cách
này, nghiên cứu đã chỉ ra rằng tác động của thông tin sai lệch có thể tiếp tục ảnh
hưởng đến thái độ ngay cả sau khi những tuyên bố sai sự thật đã bị mất uy tín (Ecker,
U. K. H., Lewandowsky, S., Swire, B. & Chang, D. 2011, trang 573). Điều này dẫn
đến hậu quả sinh viên bị lôi kéo vào các tổ chức phản động, chống phá nhà nước. Như
vậy tình trạng tin giả trên Facebook và ảnh hưởng của nó tác động đến sinh viên vẫn
còn là một thách thức lớn cần xã hội chung tay giải quyết.
Qua những tổng quan nghiên cứu ảnh hưởng của tin giả lên giới trẻ về khía
cạnh nhận thức và hành vi. Nghiên cứu của chúng tôi sẽ đưa ra những tác động thiết
thực hơn của tin giả đối với sinh viên cũng như đóng góp thêm cái nhìn mới về thách
thức và cơ hội mà sinh viên trường ĐH KHXH&NV TP. HCM tại Việt Nam đang phải
đối mặt trong môi trường thông tin ngày nay. Từ việc hiểu rõ cách mà tin tức giả mạo
có thể ảnh hưởng đến tư duy và hành động của sinh viên, nghiên cứu này mong muốn
đóng góp góc nhìn sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa tin giả đối với quá trình học tập và
phát triển cá nhân của họ.
III. Phương pháp nghiên cứu 8
Chúng tôi xác định thu thập dữ liệu nghiên cứu (study data) bằng phương pháp
định lượng, lấy mẫu thuận tiện và mã hoá dữ liệu thông qua phần mềm SPSS. Trước
tiên, chúng tôi xác định đề tài (ảnh hưởng của tin giả) và phạm vi nghiên cứu (Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP. HCM tại Việt Nam), thời gian (10
năm gần đây), đối tượng (sinh viên) cũng như kênh mạng xã hội là Facebook. Sau đó
tiến hành tìm hiểu tài liệu, đọc các nghiên cứu gần nhất, phù hợp với phạm vi thời gian
của đề tài để tổng quan lại xu hướng và ảnh hưởng mới nhất trong vòng những năm
gần đây. Như vậy, nhóm chúng tôi sẽ mã hóa dữ liệu theo dạng diễn dịch, nghĩa là tìm
hiểu từ cái chung đến cái cụ thể trong khả năng tác động của tin giả. Chúng tôi dựa
vào các lý thuyết ban đầu để khảo sát, kiểm chứng và xác nhận các nghiên cứu trước
đây liên quan đến tác động của tin giả ngày càng phổ biến với giới trẻ. Đồng thời đưa
đến một kết luận thực tế hơn, phù hợp hơn khi nghiên cứu tại Việt Nam.
Chúng tôi xác định sẽ tập trung nghiên cứu đề tài trên nền tảng Facebook. Hiện
nay, Facebook là một trong những mạng xã hội phổ biến nhất (Anderson, B. và các
cộng sự, 2012, trang 23). Kể từ năm 2004, Facebook lần đầu tiên bùng nổ, nó đã trở
thành một trang mạng xã hội (SNS) nổi tiếng (Anderson, B. và các cộng sự, 2012,
trang 23). Theo khảo sát toàn cầu năm 2014 của Trung tâm nghiên cứu Pew (2014),
87% người dùng Internet ở độ tuổi từ 18 đến 29 sử dụng Facebook và Facebook được
cho là thu hút số lượng người lớn trực tuyến cao nhất khi so sánh với SNS khác. Trong
đó, Facebook cũng được người dùng mạng xã hội Việt Nam ưa chuộng.
Theo báo cáo mới nhất của WeAreSocial (2015) về việc sử dụng Internet và
mạng xã hội trên toàn thế giới vào tháng 1 năm 2015, Việt Nam có tỷ lệ người dùng
mạng xã hội tăng 40% (chiếm 31% tổng dân số) kể từ năm 2014 khi có 20 triệu tài
khoản Facebook đang hoạt động (WeAreSocial, 2014). Bởi vì Facebook là mạng xã
hội dễ sử dụng và có nhiều chức năng như nguồn cấp tin tức, sự kiện, ghi chú, nhóm
và trang. Những cơ sở định hướng xã hội này đã biến Facebook trở thành một xã hội
ảo, mở cửa cho bất kỳ ai bày tỏ ý kiến và chia sẻ thông tin. Tuy nhiên, mức độ phổ
biến và thiệt hại tiềm ẩn mà những thông tin sai lệch hoặc tin tức giả như vậy có thể
gây ra đã tăng lên đáng kể nhờ sự xuất hiện của các nền tảng truyền thông xã hội như
Facebook, thu hút khán giả toàn cầu (Chaffey, D., 2023).
Các nghiên cứu về tin tức giả đã chỉ ra rằng Facebook đặc biệt đóng vai trò hỗ
trợ đặc biệt quan trọng trong việc truyền bá tin tức giả (Allcott & Gentzkow, 2017).
Brendan Nyhan, giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Dartmouth, người nghiên cứu
thông tin sai lệch chính trị và kiểm tra thực tế, cho biết: “Tôi lo ngại rằng Facebook
đang làm quá ít để chống lại tin tức giả mạo” (Silverman, C., 2016).
Về số lượng phiếu khảo sát (form) và chọn mẫu, chúng tôi sẽ đảm bảo số lượng
400 - 450 phiếu khảo sát gửi đến đối tượng là sinh viên trường ĐH KHXH & NV -
ĐHQG TP. HCM. Chúng tôi chọn mẫu sinh viên đại học thuộc độ tuổi từ 18 - 25 tuổi
là phù hợp nhất đối với đề tài thiên về giới trẻ. Họ là mẫu tiêu chuẩn được khảo sát do
có tần suất sử dụng Facebook nhiều và dễ bị tác động do tin tức giả trên kênh này. Bởi 9
vì tuổi vị thành niên được coi là giai đoạn phát triển và thay đổi về tính cách hoặc hành
vi. Thanh thiếu niên đã trở thành thế hệ kết nối với điện tử nhiều nhất mọi thời đại và
là đối tượng sử dụng mạng xã hội nhiệt tình nhất (Vlachopoulou, E. & Boutsouki, C.,
2014, trang 1). Mặc dù ảnh hưởng của đặc điểm tính cách đến việc sử dụng SNS đã
được nghiên cứu rộng rãi trong trường hợp sinh viên đại học và người lớn, nhưng
thanh thiếu niên là nhóm thường dễ bị bỏ quên. Tuy nhiên, thanh thiếu niên lại thuộc
nhóm tuổi có nhiều khả năng lên mạng và sử dụng SNS nhất (Lenhart và cộng sự,
2010). Họ dường như nhận thức rõ về công nghệ kỹ thuật số và thích những thiết bị
giúp con người có thể truy cập dễ dàng, có thể chia sẻ, đồng thời thuận tiện và dễ sử
dụng (Hundley và Shyles, 2010, trang 417 - 433). Do đó chúng tôi có thể xác định
thanh thiếu niên trong độ tuổi 18 - 25 là những người chiếm đa số trong tỷ lệ thường
xuyên gặp phải tin tức giả khi sử dụng Facebook. Bởi vì việc sử dụng Facebook chủ
yếu thỏa mãn nhu cầu hòa nhập, tương tác xã hội, thông tin và hiểu biết về môi trường
xã hội của thanh thiếu niên, điều này phù hợp với những phát hiện của nghiên cứu
trước đây. Kết hợp với xu hướng xem tin tức theo sở thích, mối quan tâm phù hợp với
đặc trưng của giới trẻ đã được trình bày trong tổng quan tình hình nghiên cứu. Việc
tiếp cận các hoạt động Facebook của thanh thiếu niên là mối quan tâm của các bậc cha
mẹ, đặc biệt là thanh thiếu niên (13 - 15 tuổi), độ tuổi thích thú với những điều mới mẻ
xung quanh, tò mò, có xu hướng chấp nhận thử thách, sự mới lạ và thể hiện bản thân,
danh tính (Wenjing, X., 2014, trang 228 - 235).
Các nghiên cứu đó là cơ sở lý thuyết để chúng tôi thiết kế bảng câu hỏi một
cách xác đáng và chân thực nhất. Từ đó cho ra bảng câu hỏi chính thức, sau đó mã hoá
các phản hồi từ phiếu khảo sát (form) và kết luận giải pháp. Dữ liệu nghiên cứu được
thu thập thông qua phân tích định lượng theo nội dung phản hồi của 400 - 450 phiếu
khảo sát. Cụ thể, thông tin được thu thập qua khảo sát trực tiếp bằng bảng câu hỏi khảo
sát theo hình thức Google Forms. Bởi vì Google Forms là công cụ hoàn toàn miễn phí và dễ sử dụng.
Trong phiếu khảo sát, chúng tôi sẽ kết hợp các câu hỏi mở và câu hỏi đóng
nhằm mong muốn đạt được hiệu quả tối ưu nhất. Do đó, nhóm sẽ thiết kế hình thức
bảng hỏi theo hai phương pháp đó là phương pháp lựa chọn trong thang đo 5 bậc và
phương pháp nhập văn bản (text) theo ý kiến riêng, quan điểm cá nhân của người được
khảo sát trong phiếu. Chúng tôi cho phép người được khảo sát nhập văn bản (text)
không giới hạn số chữ nhằm thu thập được nhiều thông tin chân thật nhất có thể. Từ
đó, nhóm sẽ quản lý việc nhập dữ liệu đầu vào của người dùng và tổng hợp dữ liệu thu
về dưới dạng bảng tính Excel. Dữ liệu thu được sẽ được lọc, làm sạch bằng cách sử
dụng Frequencies để kiểm tra lỗi hoặc sửa lỗi trong tập dữ liệu và mã hóa (code) bằng
phần mềm Microsoft Excel 2016 trước khi nhập vào SPSS 20.0 để xử lý dưới sự kiểm
soát của cả nhóm. Sau đó, chúng tôi sẽ sử dụng bảng mã (codebook) phù hợp để bao
hàm những tiêu đề xuất hiện trong dữ liệu nhằm mã hoá chúng. Những mã (code) ban
đầu mà chúng tôi đề xuất bao gồm: “ảnh hưởng”, “nhầm lẫn”, “lan truyền”, “kiểm tra”. 10
Dựa trên tính chất khám phá của nghiên cứu này, các câu hỏi nghiên cứu mà
chúng tôi đề xuất gồm:
RQ1: Mọi người tương tác như thế nào với các bài đăng tin giả trên trang Facebook của họ?
RQ2: Ảnh hưởng của tin giả trên Facebook lên nhận thức và hành vi của giới trẻ tới mức độ nào?
RQ3: Ảnh hưởng của tin giả trên Facebook lên quá trình tham gia báo chí toàn
cầu của giới trẻ như thế nào?
Chúng tôi dự kiến chia sẻ phiếu khảo sát đến trang web Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn TP. HCM, nhóm USSH - Góc chia sẻ học tập và nhóm Cộng đồng
Nghiên cứu khoa học Tâm lý trên ứng dụng Facebook bằng cách đăng URL, gửi URL
qua ứng dụng Messenger, gửi khảo sát qua email,… Các thông tin cá nhân (tên, tuổi,
giới tính) của người điền bảng hỏi sẽ được bảo mật để bảo vệ người tham gia và mạng
lưới của họ. Dựa trên khảo sát nhóm sẽ đánh giá được mức độ tiếp cận tin giả của từng
sinh viên. Những câu hỏi nhóm đề xuất để đánh giá mức độ tiếp nhận và chọn lọc
thông tin của giới trẻ sinh viên khi vấn đề về tin giả hiện đang là những vấn đề được
bàn luận và quan tâm nhiều.
Dưới đây là bảng câu hỏi của nhóm chúng tôi sẽ gửi cho 400 - 450 sinh viên
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - ĐHQG TP.HCM:
Bảng câu hỏi khảo sát
Câu 1: Thời gian bạn dành cho Facebook để cập nhập tin tức bao nhiêu tiếng một ngày ● 30 phút mỗi ngày ● Từ 1 tiếng - 2 tiếng ● Từ 2 tiếng - 3 tiếng ● Hơn 3 tiếng ● Khác
Câu 2: Bạn có thường xuyên bắt gặp những tin giả trên Facebook không? ● Không bao giờ gặp ● 1 lần 1 tuần ● Vài lần 1 tuần ● Gặp nhiều lần ● Mỗi ngày
Câu 3: Bạn có thường sử dụng Facebook là công cụ chính để cập nhật thông tin hằng ngày? 11 ● Rất không đồng ý ● Không đồng ý ● Phân vân ● Đồng ý ● Rất đồng ý
Câu 4: Bạn thường bắt gặp tin giả ở lĩnh vực nào mà bạn quan tâm? ● Giáo dục ● Kinh tế ● Chính trị ● Giải trí
● Tất cả các lĩnh vực trên
Câu 5: Mức độ tin tưởng của bạn vào những thông tin được đăng tải trên Facebook là bao nhiêu phần trăm? ● 0% - 25% ● 26% - 50% ● 51% - 75% ● Trên 75%
● Không bị ảnh hưởng
Câu 6: Bạn có đồng ý với quan điểm cho rằng: “ Facebook là nơi tin giả được lan
truyền đi một cách nhanh nhất”? ● Rất không đồng ý ● Không đồng ý ● Phân vân ● Đồng ý ● Rất đồng ý
Câu 7: Theo bạn, việc tin giả xuất hiện tràn lan dẫn đến nhiều thông tin sai sự thật,
không chính thống trên Facebook thì giới trẻ sẽ là người bị tác động lớn nhất? ● Rất không đồng ý ● Không đồng ý ● Phân vân ● Đồng ý ● Rất đồng ý
Câu 8: Theo bạn, có phải những tin tức không lành mạnh và chính thống là nguyên
nhân làm suy đồi hành vi và đạo đức của giới trẻ? ● Rất không đồng ý ● Không đồng ý 12 ● Phân vân ● Đồng ý ● Rất đồng ý
Câu 9: Theo bạn, có phải giới trẻ là đối tượng dễ bị thu hút bởi những tin tức giật gân, gây shock? ● Rất không đồng ý ● Không đồng ý ● Phân vân ● Đồng ý ● Rất đồng ý
Câu 10: Theo bạn, có phải giới trẻ chưa ý thức được trong việc chọn lọc tin tức trên Facebook? ● Rất không đồng ý ● Không đồng ý ● Phân vân ● Đồng ý ● Rất đồng ý
Câu 11: Theo bạn, giới trẻ dễ có những hành vi lệch lạc bởi những tin giả mang thiên
hướng bạo động không? ● Rất không đồng ý ● Không đồng ý ● Phân vân ● Đồng ý ● Rất đồng ý
Câu 12: Khi đối mặt với tin giả trên Facebook bạn thường làm gì?
● Tôi gửi tin nhắn đến người đã đăng tải và bảo rằng tin đó là sai
● Tôi tham gia bình luận, nói rằng tin tức đó bị sai
● Tôi báo cáo để Facebook xóa tin đó đi
● Tôi bỏ theo dõi và chặn hết tất cả các trang đưa tin tức sai sự thật ● Tôi không làm gì cả
Câu 13: Theo bạn, giới trẻ nên cần có những kỹ năng nào để ứng phó khi gặp tin giả trên Facebook?
Câu 14: Bạn sẽ làm cách nào để xác thực thông tin mình nghi ngờ khi đọc được từ Facebook? 13
Câu 15 Bạn nghĩ Nhà nước Việt Nam cần phải có những biện pháp nào để thắt chặt
và đẩy lùi trong việc phòng chống tin giả trên Facebook?
Câu 16: Với bản thân là một sinh viên bạn sẽ làm gì để ngăn chặn việc phát tán tin giả?
Trong bảng hỏi trên chúng tôi xác định từ câu 1 đến câu 4 được soạn để đo
lường xu hướng sử dụng và tần suất bắt gặp tin giả trên Facebook đối với sinh viên
trường ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP.HCM. Từ câu 5 đến câu 11 dùng để khảo sát
quan điểm về sự ảnh hưởng của tin giả tới các bạn sinh viên. Từ đó đo lường nhận
thức của sinh viên về vấn đề này đến mức độ nào. Từ câu 12 đến câu 14 là tìm hiểu về
khả năng ứng phó với tin giả trên Facebook thông qua các câu hỏi liên quan đến hành
vi. Cuối cùng, từ câu 15 đến câu 16 nhằm tập hợp những biện pháp do những người
được khảo sát đưa ra để chúng tôi có thể kết luận những đánh giá khách quan về nhận
thức phòng chống tin giả của sinh viên trường ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP.HCM.
IV. Tiềm năng đóng góp của nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ nhiều khía cạnh mà tin tức giả
mạo gây ra cho cộng đồng sinh viên Trường ĐH KHXH&NV. Một trong những điểm
quan trọng nhất mà chúng tôi tập trung nghiên cứu sẽ là nhận thức của sinh viên đối
với vấn đề tin giả, cách sinh viên đánh giá và đối xử với những thông tin không chính xác ấy.
Bên cạnh đó, kết quả từ nghiên cứu này sẽ xác thực nội dung các nghiên cứu
trước đây có liên quan đến tác động của tin giả đối với giới trẻ. Đồng thời, những phát
hiện trong nghiên cứu của chúng tôi cũng sẽ xác minh rằng có hay không có việc tiếp
nhận tin giả sẽ ảnh hưởng đến quan điểm của sinh viên và quyết định, lựa chọn của họ
trong cuộc sống. Chúng tôi còn mong muốn được đặt ra câu hỏi về việc phòng chống
tin giả trên Facebook một cách có hiệu quả cho sinh viên và làm thế nào để họ tích cực
hơn trong quá trình tham gia vào báo chí toàn cầu.
Cuối cùng, chúng tôi mong muốn tăng cường giáo dục về đọc hiểu tin tức,
khuyến khích tư duy phản ánh và kỹ năng nắm bắt thông tin chính xác trong sinh viên.
Chúng tôi hy vọng rằng nghiên cứu này sẽ làm nổi bật tầm quan trọng của sự hiểu biết
sâu sắc về vấn đề tin giả trong cộng đồng sinh viên Trường ĐH KHXH&NV, góp
phần vào quá trình xây dựng một môi trường học tập tích cực và bền vững. 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ahmad, A. R., Murad, H. R. (2020). The impact of social media on panic during the
COVID-19 pandemic in Iraqi Kurdistan: online questionnaire study. Journal of
Medical Internet Research 22:e19556. https://doi.org/10.2196/19556
2. Al Zou'bi, R. M. (2022). The Impact of Media and Information Literacy on Students’
Acquisition of the Skills Needed to Detect Fake News. Journal of Media Literacy
Education Pre-Prints. https://digitalcommons.uri.edu/jmle-preprints/28
3. Allcott, H. & Gentzkow, M. (2017). Social Media and Fake News in the 2016
Election. Journal of Economic Perspectives. DOI: 10.1257/jep.31.2.211
4. An, Y., Huang, Y., Danjuma, N. U., Apuke, O. D., & Tunca, E. A. (2023). Why do
people spread fake news? Modeling the factors that influence social media users’ fake news sharing behavior. Information Development.
https://doi.org/10.1177/02666669231194357
5. Andelová, L. (2018). The Importance of Media Education Combatting Fake News. Central and Eastern European Online Library.
https://www.ceeol.com/search/article-detail?id=743391
6. Anderson, B., Fagan, P., Woodnutt, T., & Chamorro-Premuzic, T. (2012). Facebook
psychology: Popular questions answered by research. Psychology of Popular Media
Culture, 1, trang 23. http://dx.doi.org/10.1037/a0026452.
7. Anderson, C. W. (2021). Fake News is Not a Virus: On Platforms and Their Effects.
Communication Theory, trang 23-27. https://doi.org/10.1093/ct/qtaa008
8. Andı, S. & Akesson, J. (2020). Nudging Away False News: Evidence from a Social Norms Experiment. Digital Journalism.
https://doi.org/10.1080/21670811.2020.1847674
9. Bakir, V. & McStay, A. (2017). Fake News and The Economy of Emotions Problems, causes, solutions. Digital Journalism.
https://doi.org/10.1080/21670811.2017.1345645
10. Benham, J. (2019). Best Practices for Journalistic Balance: Gatekeeping, Imbalance and the Fake News Era. Journalism Practice.
https://doi.org/10.1080/17512786.2019.1658538
11. Bennett, L., & Livingston, S. (2018). The disinformation order: Disruptive
communication and the decline of democratic institutions. European Journal of
Communication. https://doi.org/10.1177/0267323118760317
12. Bragarnich, R. (2022). Observations on psychic vulnerability to media
dissemination of false political-ideological messages (fake news). The Journal of
Analytical Psychology. https://doi.org/10.1111/1468-5922.12807
13. Braun, J. A. & Eklund, J. E. (2018). Fake News, Real Money: Ad Tech Platforms,
Profit-Driven Hoaxes, and the Business of Journalism. Digital Journalism.
https://doi.org/10.1080/21670811.2018.1556314
14. Buchanan, T. & Benson, V. (2019). Spreading Disinformation on Facebook: Do
Trust in Message Source, Risk Propensity, or Personality Affect the Organic Reach of 15 “Fake News”?. Social Media + Society. Trang 2.
https://doi.org/10.1177/2056305119888654
15. Chaffey, D., (2023, tháng 6, ngày 7). Global social media statistics research
summary 2023. Smart Insights. https://www.smartinsights.com/social-media-
marketing/social-media-strategy/new-global-social-media-research/
16. Cheng, J., Adamic, L., Dow, P.A, Kleinberg, J.M. & Leskovec, J. (2014). Can
Cascades be Predicted?. Proceedings of the 23rd international conference on World
wide web. Trang 925. https://doi.org/10.1145/2566486.2567997
17. Collier, J. R. & Duyn, E. V. (2022). Fake news by any other name: phrases for false
content and effects on public perceptions of U.S. news media. Journal of Applied
Communication Research. https://doi.org/10.1080/00909882.2022.2148487
18. Dabbous, A., Barakat, K. A., Beatriz de Quero Navarro (2022). Fake news
detection and social media trust: a cross-cultural perspective. Behaviour & Information
Technology. https://doi.org/10.1080/0144929X.2021.1963475
19. Degenhard, J. (2023, tháng 11, ngày 6). Number of social media users in Vietnam
from 2019 to 2028. Statista. https://www.statista.com/forecasts/1147065/social- media-users-in-vietnam
20. Duyn, E. V. & Collier, J. (2018). Priming and Fake News: The Effects of Elite
Discourse on Evaluations of News Media. Mass Communication and Society.
https://doi.org/10.1080/15205436.2018.1511807
21. Ecker, U. K. H., Lewandowsky, S., Swire, B. & Chang, D. (2011). Correcting False
Information in Memory: Manipulating the Strength of Misinformation Encoding and
Its Retraction. Psychonomic Bulletin & Review. Trang 573. DOI: 10.3758/s13423-011- 0065-1
22. Edgerly, S., Vraga, E. K., Bode, L., Thorson, K. & Thorson, E. (2017). New media,
new relationship to participation? A closer look at youth news repertoires and political
participation. Journalism & Mass Communication Quarterly, 95 (1), trang 2.
https://doi.org/10.1177/1077699017706928
23. Egelhofer, J. L. (2020). From Novelty to Normalization? How Journalists Use the
Term “Fake News” in their Reporting. Journalism Studies.
https://doi.org/10.1080/1461670X.2020.1745667
24. Fallis, D. (2015). What Is Disinformation? Library Trends, 63(3), 401–426. Trang
402. DOI:10.1353/lib.2015.0014
25. Farkas, J. (2023). Fake News in Metajournalistic Discourse. Journalism Studies.
https://doi.org/10.1080/1461670X.2023.2167106
26. Geeng, C., Yee, S., Roesner, F. (2020). Fake News on Facebook and Twitter:
Investigating How People (Don't) Investigate. ACM Digital Library.
https://doi.org/10.1145/3313831.3376784
27. Haigh, M., Haigh, T. & Kozak, N. I. (2017). Stopping Fake News: The work
practices of peer-to-peer counter propaganda. Journalism Studies.
https://doi.org/10.1080/1461670X.2017.1316681 16
28. Head, A. J.; Wihbey, John; Metaxas, P. Takis; MacMillan, Margy; Cohen, Dan
(2018). How Students Engage with News: Five Takeaways for Educators, Journalists,
and Librarians. The News Study Executive Summary. Project Information Literacy.
https://eric.ed.gov/?id=ED591129
29. Hernon, P. (1995). Disinformation and misinformation through the internet:
Findings of an exploratory study. Government Information Quarterly, 12(2), 133–139.
Trang 134. DOI:10.1016/0740-624x(95)90052-7
30. Ho, S. S., Chuah, A. S. F., Kim, N., Tandoc Jr, E. C. (2022). Fake news, real risks:
How online discussion and sources of fact-check influence public risk perceptions
toward nuclear energy. Risk Analysis. https://doi.org/10.1111/risa.13980
31. Hundley, H. L. & Shyles, L. (2010). US teenagers' perceptions and awareness of
digital technology: a focus group approach. New Media & Society, Vol. 12, No. 3,
trang 417 - 433. https://doi.org/10.1177/1461444809342558
32. Iosifidis, P. & Nicoli, N. (2019). The battle to end fake news: A qualitative content
analysis of Facebook announcements on how it combats disinformation..International
Communication Gazette. Trang 2. https://doi.org/10.1177/1748048519880729
33. Italiano, L. (2017, tháng 12, ngày 22). Facebook gives up on ‘flagging’ fake news.
New York Post. https://nypost.com/2017/12/22/facebook-gives-up-on-flagging-fake- news/
34. Jon, R. & Sander, L. (2018). The fake news game: actively inoculating against the risk of misinformation. Journal of Risk Research.
https://doi.org/10.1080/13669877.2018.1443491
35. Kim, H. K., Ahn, J., Atkinson, L., Kahlor, L. A. (2020). Effects of COVID-19
Misinformation on Information Seeking, Avoidance, and Processing: A Multicountry Comparative Study. Science Communication.
https://doi.org/10.1177/1075547020959670
36. Kirkizh, N. và Koltsova, O. (2021). Online News and Protest Participation in a
Political Context: Evidence from Self-Reported Cross-Sectional Data. Social Media +
Society. https://doi.org/10.1177/2056305120984456
37. Klein, D. O., & Wueller, J. R. (2018, tháng 4, ngày 17). Fake news: A legal perspective. Australasian Policing, 10(2).
https://papers.ssrn.com/Sol3/Delivery.cfm/SSRN_ID2958790_code2090195.pdf? abstractid=2958790
38. Koch, K. T., Frischlich, L. & Lermer, E. (2023). Effects of fact-checking warning
labels and social endorsement cues on climate change fake news credibility and
engagement on social media. Journal of Applied Social Psychology.
https://doi.org/10.1111/jasp.12959
39. Kuklinski, J. H., Quirk, P. J., Jerit, J., Schwieder, D., & Rich, R. F. (2000).
Misinformation and the Currency of Democratic Citizenship. The Journal of Politics,
62(3), 790–816.Trang 792. https://doi.org/10.1111/0022-3816.00033
40. Lazer, D. M. J. và các cộng sự (2018). The science of fake news. Social Science,
trang 1. https://doi.org/10.1126/science.aao2998 17
41. Lee, T. (2021). How people perceive influence of fake news and why it matters.
Communication Quarterly. https://doi.org/10.1080/01463373.2021.1954677
42. Lenhart, A. Purcell, K. Smith, A. and Zickuhr, K. (2010). Social Media and Young Adults’. Pew Internet & American Life Project.
http://www.pewinternet.org/Reports/2010/Social-Media-and-Young-Adults.aspx
43. Marchi, R. (2012). With Facebook, Blogs, and Fake News, Teens Reject
Journalistic “Objectivity”. Journal of Communication Inquiry. Trang 253.
https://doi.org/10.1177/0196859912458700
44. Martin, J. D. & Hassan, F. (2021). News Media Credibility Ratings and
Perceptions of Online Fake News Exposure in Five Countries. Journalism Studies.
https://doi.org/10.1080/1461670X.2020.1827970
45. Mayorga, M. W., Hester, E. B., Helsel, E., Slovic, P., Burns, W. J., Frakes, D.
(2020). Enhancing Public Resistance to “Fake News”. The Handbook of Applied
Communication Research. https://doi.org/10.1002/9781119399926.ch12
46. Mourão, R. R. & Robertson, C. T. (2019). Fake News as Discursive Integration: An
Analysis of Sites That Publish False, Misleading, Hyperpartisan and Sensational
Information. Journalism Studies. https://doi.org/10.1080/1461670X.2019.1566871
47. Munoriyarwa, A. & Chambwera, C. (2020). Who are the arbiters of Truth?
Mainstream Journalists’ responses to fake news during the 2017 Zimbabwe Coup.
Communicatio. South African Journal of Communication Theory and Research.
https://hdl.handle.net/10520/ejc-commu-v46-n4-a5
48. Nagi, K. (2018, tháng 12, ngày 5). New Social Media and Impact of Fake News on
Society. ICSSM Proceedings. https://ssrn.com/abstract=3258350
49. National Literacy Trust (2018a, tháng 9, ngày 19). NewsWise pilot report 2018.
https://literacytrust.org.uk/research-services/research-reports/newswise-pilot- report-2018/
50. National Literacy Trust (2018b, tháng 6, ngày 11). Fake news and critical literacy:
Final report. https://literacytrust.org.uk/research-services/research-reports/fake-
news-and-critical-literacy-final-report/
51. Ncube, L. (2019). Digital Media, Fake News and Pro-Movement for Democratic
Change (MDC) Alliance Cyber-Propaganda during the 2018 Zimbabwe Election.
African Journalism Studies. https://doi.org/10.1080/23743670.2019.1670225
52. Olan, F., Arakpogun, U. J. E. O., Suklan, J. & Liu, S. (2022). Fake news on Social Media: the Impact on Society.
Information Systems Frontiers.
https://doi.org/10.1007/s10796-022-10242-z
53. Pepp, J., Michaelson, E. & Sterken, R. (2019). Why we should keep talking about
fake news. An Interdisciplinary Journal of Philosophy.
https://doi.org/10.1080/0020174X.2019.1685231
54. Persily, N. & Tucker, J. A. (2020). Social Media and Democracy: The State of the
Field, Prospects for Reform. Cambridge University Press. Trang 10
https://doi.org/10.1017/9781108890960 18