



















Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA VĂN HỌC TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
TÊN ĐỀ TÀI: HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG
TRUYỆN NGẮN TƯỚNG VỀ HƯU CỦA NGUYỄN HUY THIỆP Học phần:
Phương pháp luận nghiên cứu văn học Mã học phần: 2410VAN111L01 Giảng viên hướng dẫn: TS. Trần Tịnh Vy
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2024 1 MỤC LỤC
DẪN NHẬP ..........................................................................................................2
CHƯƠNG 1. TRUYỆN NGẮN “TƯỚNG VỀ HƯU” CỦA NGUYỄN HUY
THIỆP TRONG BỐI CẢNH VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1975 .............................4
1.1. Diện mạo Văn học Việt Nam sau 1975 ..................................................... 4
1.2. Tác giả Nguyễn Huy Thiệp........................................................................4
1.3. Khái quát “Tướng về hưu” .........................................................................5
CHƯƠNG 2. NHỮNG KIỂU NGƯỜI TRONG “TƯỚNG VỀ HƯU” .........6
2.1. Con người suy tư ........................................................................................6
2.2. Con người đê tiện, thực dụng .....................................................................8
2.3. Con người lưỡng diện .............................................................................. 10
2.4. Con người cô đơn .....................................................................................11
CHƯƠNG 3: HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG BỐI CẢNH HIỆN
THỰC THỜI HẬU CHIẾN: BI KỊCH CÁ NHÂN ..................................................13
3.1. Từ lạc lõng, hoài niệm về quá khứ đến mâu thuẫn thế hệ .......................13
3.1.1. Lạc lõng trong xã hội thời hậu chiến ................................................13
3.1.2. Hoài niệm về quá khứ.......................................................................14
3.1.3. Mâu thuẫn thế hệ ...............................................................................15
3.2. Khủng hoảng bản sắc ...............................................................................16
3.2.1. Khủng hoảng bản sắc của thế hệ cũ ..................................................16
3.2.2. Khủng hoảng bản sắc của thế hệ mới ...............................................17
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 19
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM ............................................................20 2 DẪN NHẬP
Từ lâu, Nguyễn Huy Thiệp và tác phẩm của ông đã trở thành chủ đề thu hút sự
quan tâm của nhiều nhà phê bình và nghiên cứu. Trong đó, tác phẩm “Tướng về hưu”
là một trong những dấu mốc khẳng định nghệ thuật đỉnh cao trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp, nhận được nhiều sự bàn luận từ giới chuyên môn. Đặc biệt, hình
tượng con người trong “Tướng về hưu” nói riêng và trong các truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp nói chung không chỉ phản ánh sâu sắc bối cảnh thay đổi của xã hội
mà còn thể hiện những mâu thuẫn và khát vọng của nhân vật. Bên cạnh đó, nó còn góp
phần thể hiện rõ quan điểm sống, tư tưởng và sự tài hoa nghệ thuật của ông.
Với vấn đề trên, chúng tôi đã tiếp cận những tài liệu nghiên cứu trước đó theo
hai hướng. Trước hết, nhóm những nghiên cứu về các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp,
có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Chùm bài viết “Chung quanh sáng tác
của Nguyễn Huy Thiệp” gồm các bài “Nhà văn đối thoại phong cách phúng dụ” của
tác giả Lê Xuân Giang (1989), “Có nghệ thuật Ba-rốc trong các truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp hay không?” của tác giả Thái Hòa (1989) hay bài viết “Tư duy tiểu
thuyết và cái nhìn về con người trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” của tác giả
Trần Viết Thiện (2007), đề tài “Mối quan hệ không gian và thời gian nghệ thuật trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” của Đoàn Tiến Dũng (2021), bài nghiên cứu “Hiện
tượng truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trong văn học thời kì Đổi mới: 35 năm nhìn lại”
của Vũ Thị Mỹ Hạnh (2021),... Nhìn chung, các nghiên cứu đã đem đến cho độc giả
cái nhìn sơ lược và khái quát nhất về tác giả Nguyễn Huy Thiệp cũng như sự nghiệp
sáng tác của ông. Tuy nhiên, những dữ kiện về tác giả chưa nhiều, sự nghiệp sáng tác
nghệ thuật chỉ đơn thuần là sự liệt kê, chưa làm nổi bật các sáng tác và chưa rút ra
được quan niệm sáng tác của người nghệ sĩ tài hoa Nguyễn Huy Thiệp. Đối với nhóm
những nghiên cứu về hình tượng con người trong tác phẩm “Tướng về hưu”, có thể
điểm qua các nghiên cứu nổi bật như: Bài viết “Thêm một cách hiểu truyện ngắn
"Tướng về hưu" của Nguyễn Huy Thiệp sự băng hoại những giá trị đạo đức” của tác
giả Phùng Quý Nhâm (1991), Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Tiến (2012) với đề
tài “Con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới”, đề tài “Nỗi suy tư về con
người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp” của Hồ Tấn Nguyên Minh (2013),...
Các nghiên cứu đã mở ra nhiều hướng tiếp cận khác nhau, từ việc khám phá tâm lý 3
đến việc phân tích hoàn cảnh mà nhân vật phải đối mặt từ đó cho thấy rõ bản chất và
tính cách của mỗi nhân vật. Song, hình tượng con người trong “Tướng về hưu” chưa
được khắc họa sâu sắc, hầu như chỉ là sự giới thiệu và phân tích sơ lược, chưa làm rõ
nghệ thuật và cách xây dựng hình tượng con người trong tác phẩm. Tiếp đó, các
nghiên cứu liên quan đến đề tài này chưa thực sự làm sáng rõ sự nghiệp văn học đồ sộ
của Nguyễn Huy Thiệp thông qua các tác phẩm tiêu biểu.
Xuất phát từ thực tiễn đó, nhóm tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Hình tượng
con người trong truyện ngắn “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp”. Qua phân tích,
chúng tôi nhận thấy hình tượng con người là một đề tài tiềm năng trong hầu hết các
sáng tác của ông. Nguyễn Huy Thiệp đã rất thành công trong việc xây dựng hình
tượng con người bằng cách len lỏi vào những phần sâu kín nhất trong nội tâm nhân vật
để nhìn thấy những biểu hiện nhỏ bé nhất lóe lên từ tâm hồn họ. Bên cạnh đó, hình
tượng con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp dù đã được nghiên cứu
nhiều nhưng với hình tượng con người trong “Tướng về hưu” lại khá mờ nhạt, chưa
được khai thác sâu. Phân tích hình tượng con người trong “Tướng về hưu”, nhóm tác
giả kỳ vọng sẽ làm sáng rõ nghệ thuật xây dựng hình tượng con người trong tác phẩm,
từ đó sẽ cung cấp thêm những thông tin và góc nhìn mới phục vụ cho quá trình nghiên cứu văn học sau này. 4
CHƯƠNG 1. TRUYỆN NGẮN “TƯỚNG VỀ HƯU” CỦA NGUYỄN HUY
THIỆP TRONG BỐI CẢNH VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1975
1.1. Diện mạo Văn học Việt Nam sau 1975
Đại thắng mùa xuân năm 1975 đánh dấu sự kết thúc thắng lợi của cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc, đồng thời,
cũng góp phần tạo nên một diện mạo mới cho văn học Việt Nam. Đất nước chuyển từ
giai đoạn chiến tranh sang hòa bình, cùng những chuyển biến trong lĩnh vực kinh tế đã
kéo theo nhiều đổi thay về mặt xã hội.
Trong suốt 30 năm đấu tranh vì sự nghiệp giữ nước và giải phóng dân tộc, sức
mạnh của tinh thần yêu nước và ý thức cộng đồng đã được phát huy cao độ. Cuộc sống
cá nhân, riêng tư của mỗi người phải thu hẹp đến mức tối thiểu để hướng đến đời sống
chung của cả đất nước, cả dân tộc. Con người được nhìn nhận, đánh giá với tư cách là
con người dân tộc, con người của nhân dân, của cách mạng. Bước vào thời bình, con
người trở về với cuộc sống đời thường, nghĩa là trở về với những điều thường nhật
phồn tạp, lẫn lộn trắng đen. Sống với sự đa đoan vốn có, thể hiện rõ muôn vẻ tốt xấu
của mình. Trong khi đó, không ít người rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, trở nên
lạc thời trong xã hội mới.
Trong sự đổi thay đó của xã hội, văn học cũng đổi thay để bắt kịp những nhu
cầu và quan niệm thẩm mỹ mới. Từ sau năm 1975, hàng loạt những tác phẩm ra đời
đánh dấu sự hình thành những hướng đi mới, có thể kể đến như: truyện ngắn “Bức
tranh” của nhà văn Nguyễn Minh Châu, tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” của nhà
văn Ma Văn Kháng, tiểu thuyết “Thời xa vắng” của nhà văn Lê Lựu… Bằng những
tìm tòi trên cả hai lĩnh vực sáng tác và lý luận-phê bình nền văn học đã từng bước hình
thành một tư duy nghệ thuật mới, trên cơ sở đổi mới toàn diện các quan niệm văn
chương, đổi mới cách nhìn nhận về hiện thực và con người, về văn nghệ và chính trị.
Văn học sau năm 1975 với những diện mạo mới vừa là hệ quả vừa là động lực cho
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.
1.2. Tác giả Nguyễn Huy Thiệp
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (1950-2021) là một trong những tên tuổi nổi bật
của văn học Việt Nam đương đại, xuất hiện trong giai đoạn hậu chiến với những điều 5
đặc biệt, phản ánh sự chuyển mình của xã hội. Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện khá muộn
trên văn đàn nhưng tên tuổi của ông lại nhanh chóng nổi lên và gây được tiếng vang
lớn, ông được nhận định là một hiện tượng độc đáo của văn học đổi mới. Tác phẩm
của ông thể hiện sự nhạy cảm với tâm lý xã hội, từ những biến động chính trị đến
những xung đột nội tâm của con người. Bên cạnh đó, ông còn phản ánh những trăn trở
về bản sắc, về vai trò của con người trong đời sống. Cùng với khả năng sử dụng ngôn
ngữ tinh tế và hình ảnh sinh động, Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên bức tranh tâm lý
phức tạp, mở ra một không gian văn học mới, nơi con người được thể hiện không chỉ
qua các sự kiện lớn mà còn qua những chi tiết nhỏ, đời thường. Qua từng trang viết, có
thể thấy, Nguyễn Huy Thiệp đã mang đến một góc nhìn mới mẻ và sâu sắc về con
người, đưa người đọc vào những dòng suy tư về cuộc sống, về những khát khao và đau
đớn trong bối cảnh lịch sử đầy biến động.
Văn chương Nguyễn Huy Thiệp chủ yếu xoay quanh ba mảng lớn: 1) Về đời
sống nông thôn với các tác phẩm như “Chảy đi sông ơi” (1985), “Những bài học nông
thôn” (1988), “Chăn trâu cắt cỏ” (1996)…2) Về miền rừng núi, như: “Những ngọn gió
Hua Tát” (1971-1986), “Muối của rừng” (1986)…3) Về đời sống thị dân, như: “Huyền
thoại phố phường” (1983), “Tướng về hưu” (1986), “Không có vua” (1987)…
Nguyễn Huy Thiệp là tác giả đa tài, suốt sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã
cho xuất bản hơn 25 tập truyện ngắn, tuyển tập phê bình và một số tác phẩm kịch.
Nhiều tác phẩm của ông được dịch và xuất bản bằng tiếng Pháp, nổi bật có thể kể đến
như “Un Général à la retraite” (dịch từ tác phẩm “Tướng về hưu”). Năm 2022, ông
được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho hai tác phẩm “Tướng
về hưu” và “Những ngọn gió Hua Tát”.
1.3. Khái quát “Tướng về hưu”
Truyện ngắn “Tướng về hưu” xuất bản năm 1987, là một trong những sáng tác
mang về thành công lớn cho nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, đồng thời được xem như là
sáng tác mở đầu cho văn học Việt Nam Thời kỳ Đổi mới.
“Tướng về hưu” kể về một vị Thiếu tướng tên Thuấn, niềm tự hào của dòng họ
Nguyễn và xóm làng. Sau nhiều năm cùng đồng đội xông pha chiến trường, trận mạc,
ông về hưu ở tuổi 70. Khi trở về, tướng Thuấn hoàn toàn lạc lõng trong một xã hội
nhiều đổi thay. Ông như người xa lạ trong chính ngôi nhà của mình, trước cô con dâu 6
sắc sảo, người con trai nhu nhược và một bà vợ lẩn thẩn, tình cảnh đó khiến ông phải
thốt lên “Sao tôi cứ như lạc loài?”. Một người từng được đặt trong “bầu không khí vô
trùng” của thời trước bỗng dưng bị đẩy vào thế giới mới rối rắm, xấu xí, méo mó cả về
nhân cách lẫn nhân tính khiến ông trở nên hoang mang, choáng ngợp. Ông quyết định
trở lại chiến trường, chiến đấu và hy sinh - giải thoát mình khỏi những sự lạ lẫm, giữ
lấy cõi lòng trong sạch đến phút cuối cùng. Ngoài ra, truyện còn đề cập đến nhân vật
mưu toan như người con dâu, nhân vật đánh mất tính người như ông Bổng,…“Tướng
về hưu”, với điểm nhìn là sự hòa nhập với cuộc sống mới của vị Thiếu tướng, tác giả
đã mở rộng góc nhìn cho đọc giả về một thế giới đa diện mà sự đa đoan trong lòng
người còn đáng sợ hơn cả bom đạn, thuốc súng.
CHƯƠNG 2. NHỮNG KIỂU NGƯỜI TRONG “TƯỚNG VỀ HƯU” 2.1. Con người suy tư
Con người suy tư được khắc họa trong tác phẩm là kiểu người luôn trăn trở,
nghĩ suy về cuộc đời, về thế sự. Nguyễn Huy Thiệp thường đặt hình tượng những nhân
vật này vào một bối cảnh gia đình, lịch sử hay xã hội nhất định, gắn với những sự kiện
cụ thể. Để từ đó, làm nổi bật hình ảnh con người với nhiều nỗi khắc khoải, ưu tư.
Đồng thời, cũng thể hiện rõ ý đồ nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp, đó là sự phản ánh
thế giới đa chiều với những kiểu người đa dạng, có suy nghĩ, có tâm tư tình cảm.
Trong “Tướng về hưu”, hình tượng ấy được khắc họa rõ nét qua nhân vật Thiếu
tướng Thuấn. Trong truyện, tác giả tập trung xây dựng hình tượng nhân vật tướng
Thuấn khi đã về hưu, không còn sống ở chiến trường, không còn xuất hiện trong bộ
quân phục nghiêm trang như trước. Thay vào đó, là một ông Thuấn trong bối cảnh thời
hậu chiến và gắn với các mối quan hệ gia đình - thứ mà bấy lâu ông đã không dám đối
diện. Từ khi lấy vợ có con, ông đi lính và ít khi trở về nhà. Dù vậy, không đồng nghĩa
với việc ông không lắng lo, đoái hoài đến vợ con, điều này có lẽ Thuần - con ông là
người hiểu rõ nhất, “cả những bức thư cha tôi gửi về cũng ngắn, dầu rằng dưới những
dòng chữ, tôi biết ở đấy ẩn chứa nhiều tình thương cùng với âu lo”. Những suy nghĩ,
sự quan tâm và tình cảm của ông Thuấn được đặt hết vào những bức thư tay ấy, dù
không dài nhưng mỗi dòng mỗi chữ đều là những điều chân thật từ chính lòng mình.
Và dù ít trở về nhưng mọi thứ ông đều lo lắng ổn thỏa, nhân vật Thuần phải thừa nhận
một điều rằng anh đã chịu ơn cha về mọi mặt, nào là học hành, được du ngoại cho đến 7
những cơ sở vật chất trong gia đình, ngôi nhà ở ven nội đều được ông xây dựng và
chăm chút cẩn thận… Hiện tại, trong lòng ông đã không còn những mối ngổn ngang ở
bối cảnh thời chiến nữa, thay vào đó là những trăn trở về thời bình, những suy tư trong
chính căn nhà của ông và những mối quan hệ xoay quanh. Chính vì luôn cảm thấy cô
đơn, lạc lõng ngay trong tổ ấm của gia đình mình nên ông đã tìm kiếm nhiều cơ hội để
gắn kết "ông Cơ và cô Lài vất vả quá. Họ làm không hết việc, cha muốn giúp họ được
không?". Hay tìm hiểu công việc của Thủy, ông chợt suy nghĩ nhiều điều.Ông hỏi
Thuần: “Con có để ý công việc của Thủy không con? Cha cứ rờn rợn”. Nhìn thấy
những mẩu thai nhi được nấu lên cho chó lợn ăn, ông cảm thấy vô cùng ghét bỏ, ghê
rợn và đau đớn: “Cha tôi dắt tôi xuống bếp, chỉ vào nồi cám, trong đó có các mẩu thai
nhi bé xíu. Tôi lặng đi. Cha tôi khóc. Ông cầm phích đá ném vào đàn chó béc giê:
"Khốn nạn! Tao không cần sự giàu có này"”. Những nỗi niềm, sầu tư cứ chất chồng
lên người ông Thuấn. Ông cảm thấy ghê sợ trước những hành động của con dâu, vô
cùng xấu hổ và nhục nhã, thậm chí là chua xót, đớn đau trước những điều vô nhân tính mà nó đã làm.
Sau này, có dịp đi Thanh Hóa về quê cùng ông Cơ, cô Lài, ông hỏi: “Hay thôi
không đi?”, ông Cơ không chịu vì sợ ảnh hưởng đến danh tiếng. Còn ông lại điềm tĩnh
đáp: “Tôi có tiếng gì mà mang?”. Có lẽ, ông nhận ra bản thân khi về hưu cũng đã
đồng nghĩa với việc đã hết “tiếng thơm”, còn gì đâu để mang, còn gì đâu để người ta
nhớ mỗi khi nhắc đến. Tiếng thở dài ấy chứa đựng biết bao dòng suy nghĩ, chua chát
của ông Thuấn khi ngẫm nghĩ, suy tư về cuộc đời mình. Về phần ông Thuấn và vợ, dù
đây là cuộc hôn nhân không có tình yêu, hai người cũng không nói chuyện nhiều
nhưng khi vợ mất, ông đau khổ vô cùng. Một người đàn ông mạnh mẽ, uy nghiêm ở
chiến trường đã bật khóc nức nở như một đứa trẻ trong lúc liệm vợ. Ông hỏi ông Bổng
"Sao người bà ấy rút nhanh thế? Người già ai cũng chết khổ như thế này à?”. Từ ngày
bà mất về sau, ông lúc nào cũng rầu rĩ, khóc thương. Nghĩ về bà, nghĩ về đời người,
tâm tư ông chất chồng nghĩ suy, khó tìm thấy lối thoát.
Tháng năm đó, ông Thuấn trở lại chiến trường sau một thời gian suy tính kỹ
lưỡng. Có lẽ, đây cũng chính là lựa chọn tốt nhất với ông; ngay lúc ấy, dẫu biết rằng
lần này đi thì khó về, thậm chí phải bỏ mạng. Nhưng dường như đó là lối thoát duy
nhất cứu vớt cuộc đời tẻ nhạt, chua chát của ông khi phải sống với những con người 8
máu lạnh, vô tâm, cay nghiệt. Buổi tối ấy, ông gọi ông Cơ đến cho hai nghìn, bảo khắc
một cái bia đá gửi về Thanh Hóa đánh dấu mộ vợ. Ông cũng không quên dặn cô Lài:
“Cháu lấy chồng đi”(...)“Con ơi, con không hiểu rằng cả tin chính là sức mạnh để
sống hả con?”.Trước khi lên xe, ông lấy ra một quyển vở từ trong ba lô và dặn Thuần:
“Trong này cha có ghi chép ít điều, con đọc thử xem”. Trước sự ra đi đột ngột lần này,
ông dặn dò từng người kỹ lưỡng, nhắc nhở mọi người như một di nguyện cuối đời.
Ông luôn mong muốn ai ai cũng được hạnh phúc, có một cuộc sống đầy đủ và êm ấm.
Ẩn sâu dưới những lời căn dặn thâm tình là những tình cảm sâu kín, những tâm tư, suy
nghĩ rất lâu mới có thể thốt ra từ người đàn ông ấy.
Có thể thấy, hình tượng con người suy tư trong “Tướng về hưu” đã góp phần
không nhỏ trong việc tạo nên sự thành công của tác phẩm. Con người suy tư được chú
trọng khai thác ở sự giằng xé nội tâm, sự băn khoăn, day dứt không nguôi trước những
sự lựa chọn của mình, trước những mối quan hệ xung quanh, thậm chí là gia đình.
Nguyễn Huy Thiệp đã rất thành công khi khắc họa hình tượng con người suy tư trong
“Tướng về hưu”, bởi lẽ ông đã chạm đến những tầng sâu thẳm nhất bên trong tâm hồn
con người, đặt trong những tình huống éo le nhất để rồi làm nổi bật phẩm chất tốt đẹp
ở họ. Điều đó cũng mở ra niềm tin cho độc giả rằng dẫu cuộc đời nhiều biến cố thế nào
dẫu thế giới đầy nhiễu nhương tàn nhẫn ra sao thì lúc nào cũng luôn tồn tại những con
người không bị vấy bẩn về đạo đức, những nhân cách cao đẹp.
2.2. Con người đê tiện, thực dụng
Hình tượng con người trong “Tướng về hưu” nói riêng và các tác phẩm của
Nguyễn Huy Thiệp nói chung không chỉ là cái tốt, cái thiện, cái đẹp mà bên cạnh đó,
còn là cái xấu, cái ác, cái bất lương. Phần lớn dung lượng trong các tác phẩm của mình,
Nguyễn Huy Thiệp thường viết về những con người xấu xa, bại hoại về đạo đức, đặc
biệt là hình ảnh con người đê tiện, thực dụng. Cũng bởi vậy, đa phần hiện thực trong
các sáng tác của ông chính là bức tranh phản ánh xã hội đầy nhơ nhuốc, hỗn tạp và tàn nhẫn.
Xét trong “Tướng về hưu”, hình ảnh con người đê tiện, thực dụng xuất hiện với
những lời nói, hành động hết sức kệch cỡm. Đó là những con người bỉ ổi, tham lam,
sống độc ác và không có tình người. Họ là những người sống ích kỷ, sẵn sàng “bán rẻ”
lương tâm để đổi lại chút lợi ích nhỏ nhoi. Tiêu biểu cho hình ảnh con người đê tiện, 9
thực dụng là nhân vật ông Bổng. Miệng luôn chửi "Quân trí thức khốn nạn! Rẻ dân
lao động! Nể bố nó, không tôi cạch cửa!". Nói thế nhưng ông Bổng vẫn sang vay tiền.
Quá đáng hơn, nhiều món nợ ông cứ lờ đi không trả. Đến khi đám cưới con, ông Bổng
nói với ông Thuấn: “Anh phải đứng ra chủ hôn, bố cháu Kim Chi vụ phó, anh là tướng,
thế là "môn đăng hộ đối ". Sau này các cháu nhờ phúc của ông, như tôi là thằng phu
xe, báu gì’’. Ông Bổng chỉ nghĩ đến cái lợi cho bản thân mình, còn người khác nói gì
hay làm gì ông chẳng thèm quan tâm, vụ lợi một cách hết sức bỉ ổi. Ông còn đòi mượn
danh ông Thuấn - một vị tướng oai phong đứng ra chủ hôn để được mang cái danh
"môn đăng hộ đối" mà kiêu ngạo, ra oai. Không những thế, ngay trong ngày tang chị
dâu, hắn ta còn tỏ vẻ bảo: “Mất mẹ bộ xa lông. Ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dổi
bao giờ? Bao giờ bốc mộ, cho chú bộ ván”. Làm bộ ra vẻ tiếc rẻ, chê trách, song lại
lợi dụng điều đó để xin xỏ. Bổng cố gắng bên ngoài tỏ ra là một người chăm lo chu
toàn cho đám tang để người ngoài nhìn vào ngợi khen mình có tình có nghĩa nhưng lời
nói đã phản bội lại hoàn toàn những hành động giả nhân giả nghĩa của hắn ta. Ông
Bổng bảo: “Đưa tao bốn nghìn, mày định làm bao nhiêu mâm?”(...) “Không đủ cho
đô tùy rửa ruột. Mày bàn với vợ mày đi. Bốn mươi mâm”. Đám người giả tạo, vô cảm
và thực dụng, chỉ biết trục lợi cho bản thân mình được khắc họa chân thực thông qua
hàng loạt các chi tiết như: “Ngoài sân, ông Bổng với mấy bác đô tùy ngồi đánh tam
cúc àn tiền. Khi nào kết tốt đen, ông Bổng lại chạy vào vái quan tài mẹ tôi: "Lạy chị,
chị phù hộ cho em để em vét thật nhẵn túi chúng nó"” hay “họ khênh quan tài hồn
nhiên như việc bình thường vẫn làm, như khênh cột nhà. Vừa đi vừa nhai trầu, hút
thuốc, tán chuyện. Khi nghỉ, đứng ngồi ngổn ngang ngay bên quan tài. Có người nằm
lăn ra nói: "Mát thật, không bận cứ ngủ ở đây đến tối"”. Không chỉ vậy, ông Bổng
còn bảo: “Các bố ơi, đi đi còn về nhắm”(...) “Bao giờ tôi chết, đô tùy của tôi toàn dân
cờ bạc, cỗ không thịt lợn mà thịt chó”. Khi ông Thuấn nhắc nhở, ông Bổng lúc này
mới giả vờ nín bặt, lại khóc tỏ ra đáng thương: “Chị ơi, chị đánh lừa em chị đi... Chị bỏ em chị đi…”.
Một đám người tàn nhẫn, thực dụng và bỉ ổi. Cái đám tang chẳng khác nào chỗ
nhậu nhẹt, đánh bài bạc của chúng. Một loạt lời nói và hành động kệch cỡm đã vạch
trần những bộ mặt xấu xa, thối nát, đểu cáng của bọn chúng. Bề ngoài tỏ ra văn minh,
tốt đẹp nhưng thực chất tâm hồn đã thối rữa, mục nát, là những con người đê tiện, lũ người vô nhân tính. 10
Bên cạnh ông Bổng và đám người ấy, Thủy - con dâu ông Thuấn cũng là một
trong những nhân vật đại diện cho hình tượng con người đê tiện, thực dụng trong
“Tướng về hưu”. Điều ấy được thể hiện qua những chi tiết: “Vợ tôi làm việc ở bệnh
viện sản, công việc là nạo phá thai. Hàng ngày các rau thai nhi bỏ đi, Thủy cho vào
phích đá đem về. Ông Cơ nấu lên cho chó, cho lợn… Cha tôi dắt tôi xuống bếp, chỉ
vào nồi cám, trong đó có các mẩu thai nhi bé xíu….Vợ tôi đi vào nói với ông Cơ: "Sao
không cho vào máy xát? Sao để ông biết?!"”. Hành động hết sức kinh tởm, tàn nhẫn
của người đàn bà ấy. Cô ta vô cảm, ích kỷ, chẳng còn chút gì gọi là nhân tính. Nhân
cách Thủy đã bị thoái hóa một cách nghiêm trọng, vì đồng tiền vì lợi ích mà làm
những chuyện thất đức, vô nhân tính, khiến người ta cảm thấy ghê tởm.
Có thể nói, hình tượng con người đê tiện, thực dụng trong “Tướng về hưu” đã
được Nguyễn Huy Thiệp khắc họa rõ nét trên nhiều phương diện và khía cạnh. Nhìn
chung, họ đều là những con người có nhân cách đã bị hoen ố, vô cảm, chạy theo lợi
ích thay vì việc coi trọng đạo đức, nghĩa tình. Họ là những con người bỉ ổi, kệch cỡm,
độc ác, cuộc đời chỉ xoay quanh những quan hệ vật chất hay vụ lợi cá nhân. Từ hình
tượng ấy, ông đã không ngần ngại phơi bày trước mắt độc giả một bức tranh về thế
giới hỗn tạp, nhiều góc khuất đen tối. Ngoài ra, Nguyễn Huy Thiệp cũng đã mang đến
nhiều góc nhìn mới cho người đọc về hiện thực xã hội lúc bấy giờ và không ngại ngần
bày tỏ những nỗi trăn trở, suy tư của mình về thế giới, về con người.
2.3. Con người lưỡng diện
Con người lưỡng diện là những người sống trong trạng thái mâu thuẫn sâu sắc
giữa hai thế giới, hai hệ thống giá trị đối nghịch, thường là giữa quá khứ và hiện tại,
giữa lý tưởng và thực tế. Họ không thể hòa nhập hoàn toàn vào một trong hai thế giới
này mà luôn phải vật lộn giữa hai chiều không gian và thời gian khác nhau.
Khái niệm “con người lưỡng diện” bắt nguồn từ các biểu hiện trong hành động
và tư tưởng của con người trong bối cảnh xã hội hậu chiến. Sau năm 1975, khi đất
nước thống nhất, các giá trị cũ và mới có sự giao thoa mạnh mẽ. Con người trong xã
hội này không thể đơn thuần chỉ là “tốt” hay “xấu”, “yêu” hay “ghét”, “thiện” hay “ác”
mà phải đối diện với nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống thường nhật. Bởi lẽ đó mà
Nguyễn Minh Châu (1976) từng nói “trong con người đang sống lẫn lộn người tốt kẻ
xấu, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ” (tr.16).Con người sẽ có những 11
lúc giống như thánh thần, khiến người khác phải trầm trồ và ngưỡng mộ nhưng cũng
có lúc họ như những “mụ phù thủy” khó chịu và đáng sợ. Những đặc tính ấy tồn tại
song song với nhau, phản ánh sự phức tạp của các mối quan hệ trong xã hội hiện thực.
Trong “Tướng về hưu”, ông Bổng là nhân vật điển hình cho kiểu con người
lưỡng diện. Vốn là một người lỗ mãng, cọc cằn nhưng ông đã bật khóc khi ông hỏi
người chị sắp lìa xa cuộc đời rằng: “Thế em là ai?”. Cả làng, cả họ gọi ông là “đồ chó”
“đồ đểu”, “đồ khốn nạn” duy chỉ có mình vợ ông Thuấn gọi ông “là người”. Câu trả
lời đó đã khiến ông khóc vỡ òa như một đứa trẻ. Tác giả đã phản ánh sự xung đột
trong lòng ông Bổng, giữa vẻ ngoài táo tợn, kiêu hãnh và nỗi khát khao được yêu
thương, được nhìn nhận là một con người có giá trị. Hay hình tượng nhân vật Thủy,
con dâu của ông Thuấn. Thủy là một người có học thức và lối sống hiện đại. Cô tháo
vát, đảm đang, quán xuyến tất cả công việc trong gia đình “Thủy am tường các việc lo
liệu kinh tế cũng như dạy dỗ con cái”. Công việc của cô là nạo phá thai tại một bệnh
viện phụ sản và cũng chính công việc đó đã lột tả mặt trái nhân cách của nhân vật này.
“Hàng ngày các rau thai nhi bỏ đi, Thủy cho vào phích đá đem về. Ông Cơ nấu lên
cho chó, cho lợn.” Hành động của Thủy là sự biểu hiện rõ nét của sự vô cảm và thiếu
tính nhân văn. Thủy không những không có bất kỳ sự đau lòng, áy náy nào về việc này
mà xem đó là một thứ vật chất để sử dụng cho mục đích nuôi gia súc.
Các tác giả đã đặt nhân vật của họ đứng trong ranh giới của sự giằng co, đôi khi
là sự mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác, giữa lý tưởng và thực tiễn, giữa những giá trị
truyền thống và những xu hướng mới. Lúc này, con người không còn là một thể thống
nhất mà họ đang sống trong một trạng thái phân tán giữa các thế giới với ít nhiều sự miễn cưỡng. 2.4. Con người cô đơn
Sau khi đất nước thống nhất, xã hội Việt Nam phải đối mặt với nhiều thay đổi
sâu sắc về mặt chính trị, xã hội và văn hóa dẫn đến những xáo trộn trong tư tưởng và
tâm lý của con người, đặc biệt là những người trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến.
Trong bối cảnh ấy, nhiều tác phẩm văn học đã phản ánh sự cô đơn của con người, từ
những người lính trở về sau chiến tranh, những trí thức gặp khó khăn trong việc tìm
kiếm vị trí của mình trong xã hội mới cho đến những con người bình thường trong
cuộc sống hiện đại phải chạy đua với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. 12
Con người cô đơn là là những nhân vật cảm thấy tách biệt, lạc lõng và không
thể kết nối với thế giới xung quanh. Cô đơn ở đây không chỉ là trạng thái trống vắng
của các mối quan hệ xã hội mà còn là sự thiếu vắng về mặt cảm xúc, tinh thần và sự
kết nối của nhân vật với chính bản thân hoặc với cộng đồng.
Sự cô đơn trong văn học Việt Nam thời kỳ này không chỉ là sự xa cách về mặt
không gian địa lý mà còn là sự lạc lõng trong chính tư tưởng. Đây là nỗi cô đơn không
thể chia sẻ, không thể giao tiếp, do sự đổ vỡ trong các mối quan hệ, sự thất bại trong
việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống giữa những thay đổi của xã hội. Những con người
này thường không còn tìm được điểm tựa cũng không thể hòa nhập vào một xã hội với những giá trị mới.
Trong hoàn cảnh tái thiết đất nước, cuộc sống sau chiến tranh không hề đơn
giản như lý tưởng mà các nhân vật trong chiến tranh từng theo đuổi. Nhiều nhân vật
trong văn học phải đối mặt với những mâu thuẫn giữa lý tưởng cách mạng mà họ đã
hy sinh trong thời chiến và thực tế cuộc sống khó khăn trong xã hội hòa bình. Lý
tưởng cống hiến cho đất nước, hy sinh vì Tổ quốc đôi khi trở thành một niềm tin mơ
hồ, không còn phù hợp với nhu cầu thực tế của cuộc sống hậu chiến. Trong Tướng về
hưu, ông Thuấn là nhân vật tiêu biểu cho kiểu người này. Ông là một vị tướng mẫu
mực, đạt được nhiều thành tích. “Ở trong gia đình, cha tôi bao giờ cũng là hình ảnh
của niềm vinh dự, tự hào. Cả ở trong họ, trong làng, tên tuổi cha tôi cũng được mọi
người ngưỡng vọng.” Là một người được rèn luyện trong quân ngũ một cách nghiêm
chỉnh, thế nhưng khi từ giã sự nghiệp trở về cùng gia đình, ông đã gặp rất nhiều sự trăn
trở và đấu tranh ngay trong chính ngôi nhà của mình. Ông đã tận mắt chứng kiến một
cảnh tượng mất nhân tính. Ông “chỉ vào nồi cám, trong đó có các mẩu thai nhi bé xíu”.
Ngoài ra, ông phải làm chủ hôn cho một “đám cưới ngoại ô lố lăng và khá dung
tục.”,... và rồi ông thốt lên rằng “Sao tôi cứ như lạc loài?”. Dường như với ông, cuộc
sống hiện tại quá khác xa với những ông từng gắn bó nơi chiến trường. Nhân vật ông
Thuấn trở thành một biểu tượng của những con người thuộc thế hệ trước, đã từng có
quyền lực, nhưng giờ đây phải vật lộn với sự cô đơn và cảm giác bị lãng quên trong
một xã hội đang thay đổi nhanh chóng.
Những nhân vật cũ, vốn là người lính, người chiến sĩ cách mạng, giờ phải vật
lộn để thích nghi với hoàn cảnh xã hội mới mà không còn một hệ thống lý tưởng chắc 13
chắn để bám víu. Họ không thể từ bỏ lý tưởng cũ nhưng cũng không thể sống chỉ với
lý tưởng ấy trong một xã hội đang thay đổi. Chính bởi những sự đấu tranh về mặt tâm
lý ấy đã khiến các nhân vật vô thức tự tách mình ra khỏi tập thể chung, làm dấy lên
cảm giác cô đơn trong họ.
CHƯƠNG 3: HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG BỐI CẢNH HIỆN
THỰC THỜI HẬU CHIẾN: BI KỊCH CÁ NHÂN
3.1. Từ lạc lõng, hoài niệm về quá khứ đến mâu thuẫn thế hệ
3.1.1. Lạc lõng trong xã hội thời hậu chiến
Lạc lõng là cảm giác chủ yếu nhất của các nhân vật trong “Tướng về hưu” của
Nguyễn Huy Thiệp, phản ánh rõ nét bi kịch cá nhân của những người từng tham gia
chiến tranh khi phải sống trong một xã hội hòa bình và thay đổi mạnh mẽ. Sau chiến
tranh, đất nước đã chuyển mình sang thời kỳ hòa bình và song song với đó là những
thay đổi về mặt kinh tế, chính trị, xã hội đến chóng mặt. Những người đã từng chiến
đấu nơi chiến trường nay trở về lại phải tự đi tìm chỗ đứng của mình trong xã hội, một
xã hội không còn vai trò là những người chiến đấu, không còn những lý tưởng cao đẹp
để theo đuổi mà thay vào đó là những giá trị mới được xuất hiện. Tướng Thuần ở
chiến trường vốn là người có quyền lực, có lý tưởng chiến đấu vì đất nước. Nhưng khi
chiến tranh kết thúc, ông không còn một vai trò cụ thể nào trong xã hội mà mình đang
sống. Xã hội hậu chiến không còn chỗ cho những người lính cũ như ông, những người
đã dành cả cuộc đời mình cho những lý tưởng đấu tranh, nay lại bị đẩy vào một thế
giới mà lý tưởng và mục tiêu sống của họ không còn phù hợp. Nhân vật tướng về hưu,
vốn từng quen với sự tôn trọng và vai trò quan trọng trong quân đội, nay chỉ còn là
một người già yếu, sống trong cô đơn và nỗi buồn của sự lạc lõng. Cảm giác này được
thể hiện rõ qua việc tướng không thể hòa nhập vào cuộc sống dân sự, không thể tìm ra
ý nghĩa trong cuộc sống hòa bình. Những người xung quanh không hiểu được ông, và
ông cũng không thể hiểu được những thay đổi của xã hội. Chính sự thất bại trong việc
tìm lại chỗ đứng trong xã hội hậu chiến là nguồn cơn của bi kịch, khi mà ông không thể sống tiếp với lý.
Đứng trước sự thay đổi của một xã hội thời hậu chiến, nơi không còn chỗ cho
những giá trị và lý tưởng đấu tranh, các nhân vật không chỉ cảm thấy cô đơn và lạc 14
lõng mà song song với đó là sự hoài nghi về vai trò và ý nghĩa của chính bản thân
mình. Ông Trọng, người bạn cũ của tướng Thuần cũng đã từng là một người lính, một
người có vai trò rõ ràng với nhiệm vụ đấu tranh, bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, khi hoà
bình lặp lại, ông lại chẳng biết mình là ai, mình nên làm gì, khi ông không còn tìm
thấy được giá trị sống hay sự tôn trọng trong một xã hội. Ông sống một cuộc đời tẻ
nhạt, không có mục đích cụ thể và hoàn toàn lạc lõng trong một thế giới mà ông không
thể hòa nhập. Trở về cuộc sống đời thường, ông sống trong sự trống rỗng khi không
còn vai trò gì trong xã hội, những ký ức về chiến tranh của ông đã trở nên vô nghĩa.
3.1.2. Hoài niệm về quá khứ
Hoài niệm về quá khứ chiến tranh chính là thể hiện những nỗi mất mát, đau
thương của nhân vật trong truyện. Quá khứ chiến tranh dù đầy gian khổ, vất vả, hy
sinh nhưng nhân vật tướng Thuần vẫn cảm thấy đó là thời kì đỉnh cao của ông, nơi mà
ông còn cảm nhận được ý nghĩa tồn tại của chính mình. Ông nhớ lại những ngày tháng
chiến đấu, những ngày ông cùng đồng đội của mình vượt qua mưa bom bão đạn.
Chính ông là người đội trưởng, người đã dẫn dắt đồng đội của mình đi qua biết bao
nhiêu trận đánh, những chiến thắng vang dội làm tô đậm dấu ấn của một vị tướng
quyền lực và có tầm ảnh hưởng. Những kỉ niệm nơi chiến trường, nơi có lý tưởng và
mục tiêu sống rõ ràng của một chiến tướng quyền lực giờ đây lại trở thành một miền
ký ức không thể quay lại.
Nhân vật Tướng nhìn lại mình, không chỉ nhìn vào những ký ức nơi chiến trận,
mà còn nhìn vào những thất bại, những tổn thương mà ông đã phải trải qua. Quá khứ
trong mắt tướng không chỉ là một ký ức cá nhân, mà còn là sự chứng kiến những đổi
thay của xã hội, của những người xung quanh. Thế hệ trẻ trong truyện không còn chia
sẻ những giá trị mà ông đã sống và chiến đấu vì nó. Điều này càng làm cho tướng cảm
thấy mình như một người ngoại cuộc, đứng ngoài dòng chảy của xã hội. Cái "dấu ấn"
của quá khứ không thể nào xóa nhòa trong tâm trí ông, dù cho thực tại có thay đổi thế
nào đi nữa. Hoài niệm về quá khứ vì thế trở thành một cách để tướng giữ lại những gì
ông tin là đáng quý, những gì đã xác định ông là ai trong cuộc đời này nhưng cũng sự
giằng xé đau đớn khi không thể sống với những ký ức đó trong một thế giới đã khác. 15 3.1.3. Mâu thuẫn thế hệ
Trong “Tướng về hưu”, mọi sự lạc lõng, hoài niệm về quá khứ đều xuất phát từ
những thay đổi trong xã hội thời hậu chiến. Cũng vì lẽ đó mà Nguyễn Huy Thiệp đã
cho thấy sự mâu thuẫn giữa các thế hệ không chỉ đối lập về quan điểm, lẽ sống mà còn
phản ánh sự chuyển mình sâu sắc của xã hội Việt Nam trong giai đoạn hậu chiến. Mâu
thuẫn giữa tướng Thuấn và những người xung quanh ông, đặc biệt là thế hệ trẻ, là một
chủ đề nổi bật trong tác phẩm. Trong khi tướng vẫn nhìn lại quá khứ chiến tranh với sự
tự hào về những hy sinh và chiến công, thì những người trẻ, chưa trải qua những mất
mát và đau thương của chiến tranh, lại coi những ký ức ấy như những gánh nặng, thậm
chí là những điều xa lạ. Họ không hiểu những lý tưởng cao đẹp mà tướng và thế hệ của
ông đã chiến đấu và hy sinh vì nó. Họ sống trong một xã hội hòa bình, nơi các giá trị
chiến tranh và hy sinh dường như trở nên xa vời và không còn cần thiết. Họ chỉ quan
tâm đến những vấn đề thiết thực như công việc, sự nghiệp và thành công cá nhân. Đối
với họ, quá khứ chiến tranh chỉ là một phần của lịch sử, một phần mà họ không muốn
phải gánh vác hay suy tư quá nhiều. Chính điều này tạo ra một sự vỡ vụn trong mối
liên kết giữa các thế hệ, khi những gì mà tướng và những người lính cũ trân trọng lại
bị thế hệ trẻ coi là những thứ không còn có giá trị thực tiễn trong đời sống hiện tại. Sự
thờ ơ và thiếu đồng cảm của thế hệ trẻ đối với quá khứ khiến tướng cảm thấy bị bỏ rơi
và lạc lõng trong chính xã hội mà ông từng cống hiến.
Mâu thuẫn giữa các thế hệ trong “Tướng về hưu” không chỉ dừng lại ở sự khác
biệt về quan niệm sống, mà còn thể hiện trong mối quan hệ giữa tướng và những người
thân, đặc biệt là người vợ của ông. Người vợ, dù không tham gia chiến tranh nhưng
cũng mang trong mình những ký ức về những năm tháng chờ đợi tướng trở về. Tuy
nhiên, khi cuộc sống bình thường đã trở lại, bà lại thấy mình dần xa cách với người
chồng mà bà đã từng rất yêu quý. Sự thiếu hiểu biết và chia sẻ giữa hai vợ chồng thể
hiện rõ ràng trong những cuộc trò chuyện thiếu sự kết nối. Người vợ, mặc dù không
phải là người trực tiếp tham gia chiến tranh nhưng bà cũng cảm nhận sự đổi thay trong
mối quan hệ vợ chồng, khi tướng không còn là người chồng mạnh mẽ, quyết đoán như
trước mà trở thành một người già nua, rơi vào khủng hoảng bản sắc. Mâu thuẫn này
không chỉ thể hiện sự xa cách trong tình cảm mà còn là sự mất mát trong chính mối
quan hệ cá nhân, khi quá khứ không thể kéo con người lại gần nhau. 16
Mâu thuẫn giữa các thế hệ trong “Tướng về hưu” còn là sự phản ánh những
biến động sâu sắc trong xã hội Việt Nam sau chiến tranh. Xã hội hòa bình không chỉ là
sự kết thúc của chiến tranh, mà còn là sự bắt đầu của những cuộc chiến khác trong nội
tâm con người. Đó là cuộc chiến giữa quá khứ và hiện tại, giữa lý tưởng và thực tế,
giữa những gì đã qua và những gì không thể quay lại. Tướng Thuấn, dù là nhân vật
chính, nhưng trong thực tế lại chỉ là một đại diện cho những người đi trước, những
người mà xã hội mới không còn cần đến. Mâu thuẫn này làm nổi bật sự chia rẽ không
chỉ giữa các cá nhân mà còn giữa các tầng lớp trong xã hội, khi các thế hệ phải đối mặt
với một thực tại không còn giống như những gì họ đã từng biết.
3.2. Khủng hoảng bản sắc
3.2.1. Khủng hoảng bản sắc của thế hệ cũ
Khủng hoảng bản sắc của thế hệ cũ, đặc biệt là nhân vật tướng trong “Tướng về
hưu”, chủ yếu đến từ sự giằng xé giữa quá khứ chiến tranh và hiện tại hậu chiến.
Trong thời chiến, tướng là một chiến tướng đầy quyền lực, uy tín và lý tưởng, ông
sống với một mục đích rõ ràng và tham gia vào cuộc chiến đấu để bảo vệ lý tưởng và
đất nước. Tuy nhiên, khi chiến tranh kết thúc, tướng không còn giữ được vai trò, vị trí
và sự tôn trọng như trước. Sự mất đi chức vụ, quyền lực và lý tưởng chiến đấu đã
khiến ông đối diện với một nỗi khủng hoảng sâu sắc về bản sắc. Ông không thể xác
định được mình là ai trong một xã hội mới, một xã hội không còn cần đến những
người như ông nữa. Hình ảnh người lính chiến – người gắn bó với lý tưởng bảo vệ đất
nước, giờ đây trở thành một "dĩ vãng", không còn vai trò trong một xã hội hòa bình.
Khủng hoảng bản sắc của thế hệ cũ thể hiện rõ qua việc tướng cảm thấy mình
lạc lõng, không tìm thấy nơi chốn cho bản thân trong thế giới mới. Khi tướng gặp lại
những người đồng đội cũ, họ cũng không còn được trọng vọng và tìm thấy giá trị trong
công việc hay cuộc sống. Tất cả những gì còn lại trong cuộc sống của họ là ký ức về
một thời huy hoàng, nhưng ký ức đó không thể giúp họ sống tiếp trong hiện tại. Tướng
và những người lính cũ trở thành những con người thất lạc, không tìm thấy mục đích
sống trong một xã hội không còn chiến tranh. Sự lạc lõng này cũng thể hiện qua quan
hệ vợ chồng của tướng, khi người vợ không thể kết nối với người chồng mà bà đã từng
yêu mến. Họ không còn chia sẻ cùng một không gian cảm xúc, vì giữa họ đã có một sự 17
đứt gãy về bản sắc. Tướng không còn là người đàn ông mạnh mẽ mà bà từng ngưỡng
mộ, và bà cũng không còn là người vợ chờ đợi ông trở về từ chiến trường.
Khủng hoảng bản sắc của thế hệ cũ vì thế không chỉ là sự mất mát cá nhân mà
còn là sự phản ánh sự thất bại trong việc giữ gìn những giá trị cũ trong một thế giới đã
thay đổi. Những chiến tướng, người lính cũ không thể tìm thấy một lý tưởng mới để
sống. Họ không còn là những người anh hùng trong mắt xã hội mà chỉ là những người
già nua, không có chỗ đứng trong một xã hội không còn chỗ cho họ.
3.2.2. Khủng hoảng bản sắc của thế hệ mới
Nếu khủng hoảng bản sắc của thế hệ cũ là sự thất lạc giữa quá khứ và hiện tại,
thì khủng hoảng bản sắc của thế hệ mới trong “Tướng về hưu” là sự thiếu vắng một
bản sắc vững chắc, một lý tưởng để sống. Thế hệ trẻ trong tác phẩm của Nguyễn Huy
Thiệp không phải là những người trực tiếp trải qua chiến tranh nhưng họ lại phải đối
mặt với một xã hội hậu chiến đầy hỗn loạn, không rõ ràng về các giá trị. Họ lớn lên
trong một thế giới không có những lý tưởng cao đẹp hay những mục tiêu lớn lao như
thế hệ trước. Những mối quan tâm của họ chủ yếu là vật chất, danh vọng, và sự nghiệp
cá nhân. Họ sống trong một xã hội được gọi là hòa bình nhưng sự "hòa bình" ấy lại
không mang lại cho họ một cảm giác an ổn hay mục đích sống rõ ràng. Thực tế, thế hệ
trẻ trong tác phẩm bị cuốn vào những mối bận tâm tầm thường, không còn quan tâm
đến những lý tưởng về tổ quốc hay nghĩa vụ như thế hệ cũ.
Khủng hoảng bản sắc của thế hệ mới còn thể hiện qua sự thiếu kết nối với quá
khứ. Trong khi thế hệ cũ vẫn sống với những ký ức chiến tranh và những lý tưởng lớn
lao, thế hệ mới lại thiếu đi sự đồng cảm và hiểu biết về quá khứ. Họ không thể nhìn
nhận chiến tranh như một phần của lịch sử mà phải học hỏi từ đó để sống tốt hơn trong
hiện tại. Thế hệ trẻ dường như không cảm nhận được sự cần thiết phải giữ gìn những
giá trị cũ, mà thay vào đó, họ chỉ tìm kiếm những giá trị mới để tồn tại. Tuy nhiên,
những giá trị mới này lại không đủ mạnh mẽ để định hình bản sắc của họ, khiến họ rơi
vào tình trạng khủng hoảng bản sắc sâu sắc.
Sự thiếu thốn lý tưởng và mục tiêu sống của thế hệ trẻ là một trong những
nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng bản sắc. Họ không biết mình là ai trong xã
hội này, không biết mình đang làm gì và vì sao lại phải làm như vậy. Họ sống trong
một thế giới mà mọi thứ đều có thể thay đổi nhưng không có một định hướng rõ ràng 18
để theo đuổi. Chính sự thiếu vắng lý tưởng này khiến họ dễ dàng rơi vào sự thiếu thốn
về bản sắc cá nhân. Trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, các nhân vật trẻ không
thấy được giá trị của quá khứ mà chỉ thấy sự mờ nhạt của hiện tại. Điều này thể hiện
một cách rõ ràng qua cách họ sống, cách họ ứng xử với tướng và những người lớn tuổi
– một sự thiếu thốn về cảm xúc, sự quan tâm và sự kết nối. KẾT LUẬN
Xuyên suốt đề tài “Hình tượng con người trong truyện ngắn Tướng về hưu của
Nguyễn Huy Thiệp”, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và chỉ ra sự tài tình trong việc
khắc hoạ hình ảnh con người của nhà văn, từ đó, cũng làm nổi bật lên những trăn trở
của ông về con người, về cuộc đời. Với giọng văn không mang sắc thái biểu cảm cùng
việc xây dựng kết cấu truyện đặc biệt, nhà văn đã dám nhìn thẳng vào sự thật cuộc
sống mới và khắc họa trên trang viết muôn mặt của cuộc sống ấy. Thông qua nghiên
cứu này, nhóm tác giả hy vọng có thể góp phần làm sáng tỏ hơn giá trị và ý nghĩa của
tác phẩm “Tướng về hưu”, cũng như những đặc sắc trong xây dựng hình tượng con
người của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đoàn Tiến Dũng. (2021, 6 12). Mối quan hệ không gian và thời gian nghệ thuật trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Tạp chí Giáo dục & Xã hội, 25-28.
Hoàng Thị Thanh Huyền. (2010). Hội thoại trực tiếp trong truyện ngắn “Tướng về
hưu” của Nguyễn Huy Thiệp. Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống,7(177), 35-39.
Hồ Tấn Nguyên Minh. (2023). Nỗi suy tư về con người trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp. Tạp chí Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, (52), 126-132.
Nguyễn Minh Châu. (1976). Bức tranh. NXB Văn học.
Nguyễn Thị Kim Tiến. (2012). Con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới.
[Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc
gia Hà Nội]. Kho lưu trữ điện tử Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguyễn Văn Thành. (Ngày 11 tháng 12 năm 2019). Bi kịch cá nhân con người qua
truyện ngắn "Tướng về hưu" của Nguyễn Huy Thiệp. Vĩnh Viên. Truy cập từ
https://vinhvien.edu.vn/bi-kich-ca-nhan-con-nguoi-qua-truyen-ngan-tuong-ve- huu-cua-nguyen-huy-thiep/
Phùng Quý Nhâm. (1991). Thẩm định văn học. NXB Văn học Thành phố Hồ Chí Minh, 132-136.
Trần Viết Thiện. (2007). Tư duy tiểu thuyết và cái nhìn về con người trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh, (11), 83-87.
Vũ Thị Mỹ Hạnh. (2021). Hiện tượng truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trong văn học
thời kì Đổi mới: 35 năm nhìn lại. Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 8(464), 44-50.