






Preview text:
Khó khăn và thách thức của sinh viên trong môi trường Đại học
1. Thích nghi với môi trường học tập mới
Việc thay đổi từ môi trường cấp 3 sang giảng đường ĐH là một bước ngoặt quan trọng,
đòi hỏi sinh viên phải nhanh chóng làm quen với cách học chủ động và tư duy phản biện. Không
còn sự hướng dẫn từng bước từ giáo viên như trước, sinh viên buộc phải tự sắp xếp kế hoạch học
tập, tự tìm tài liệu và chủ động nghiên cứu.
Ảnh: Sinh viên thay đổi cách học, tự ghi chú
Chương trình học tập ở bậc ĐH có khối lượng kiến thức lớn, nội dung sâu rộng và giảng
viên sẽ không giảng giải chi tiết mà chủ yếu để sinh viên tự tìm hiểu, nghiên cứu thêm. Đối với
sinh viên năm nhất, điều này dễ gây cảm giác bỡ ngỡ, thậm chí mất phương hướng nếu không có
sự chuẩn bị tâm lý từ trước. Nhiều bạn cảm thấy choáng ngợp với số lượng môn học dày đặc,
lịch học linh hoạt, giảng viên không kiểm tra bài thường xuyên. Nếu không xây dựng được thói
quen học tập linh hoạt và thái độ chủ động từ sớm, sinh viên sẽ rất khó theo kịp tiến độ đào tạo.
2. Áp lực học tập và điểm số
Khối lượng môn học, bài vở dày đặc, thời khóa biểu thay đổi liên tục cùng với yêu cầu
cao về chuyên môn của từng học phần khiến nhiều sinh viên cảm thấy quá tải. Đặc biệt trong các
ngành học có yếu tố thực hành cao, sinh viên không chỉ học lý thuyết mà còn phải hoàn thành
nhiều bài tập, đồ án, báo cáo cá nhân và nhóm. Hình thức kiểm tra, đánh giá ở ĐH cũng rất đa
dạng, từ tự luận, trắc nghiệm, tiểu luận đến thuyết trình. Việc không kịp thích nghi với hình thức
đánh giá này có thể dẫn đến kết quả học tập kém, thậm chí phải học lại môn.
Ngoài ra, dựa trên một khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến việc học tập của sinh viên
năm nhất, có thể phân chia nguyên nhân thành ba nhóm chính.
Bảng biểu đồ: Một nghiên cứu tại Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh ( Những khó khăn
trong học tập xuất phát từ 3 nhóm yếu tố )
Dựa trên biểu đồ thể hiện mức độ khó khăn trong học tập từ ba nhóm yếu tố chính, có thể
thấy rằng cả ba nhóm đều có ảnh hưởng nhất định đến quá trình học tập của sinh viên, với giá trị
trung bình đều cao hơn mức trung bình chuẩn của thang đo:
Nhóm A, bao gồm các yếu tố xuất phát từ chính bản thân sinh viên, cũng được đánh giá
ở mức cao với giá trị trung bình 3.1749. Điều này cho thấy rằng nhiều sinh viên năm nhất
gặp khó khăn trong việc thích nghi với môi trường học tập mới, thiếu kỹ năng tự học,
quản lý thời gian chưa hiệu quả, và còn hạn chế trong việc chủ động tiếp cận kiến thức
Nhóm B gồm các yếu tố liên quan đến giảng viên và CVHT được sinh viên đánh giá là
gây nhiều khó khăn nhất, với giá trị trung bình 3.1949. Điều này cho thấy rằng phương
pháp giảng dạy, cách truyền đạt kiến thức, khả năng hỗ trợ từ giảng viên và CVHT đóng
vai trò quan trọng và là rào cản lớn đối với quá trình học của sinh viên trong giai đoạn nhập học.
Nhóm C liên quan đến nhà trường, gia đình và bạn bè, mặc dù có mức ảnh hưởng thấp
hơn hai nhóm còn lại, nhưng vẫn ở mức đáng lưu ý với giá trị trung bình 3.1513. Điều
này cho thấy những yếu tố như chính sách hỗ trợ của nhà trường, môi trường học tập, sự
động viên từ gia đình và ảnh hưởng của bạn bè cũng góp phần tạo nên các khó khăn nhất
định đối với sinh viên năm nhất, dù không phải là yếu tố chính
Kết quả này cho thấy sinh viên năm nhất phải đối mặt với khó khăn toàn diện, từ việc thích
nghi cá nhân đến những rào cản về phương pháp giảng dạy hay thiếu hỗ trợ từ bên ngoài.
3. Khó khăn trong việc hòa nhập với bạn bè, môi trường sống mới
Sự thay đổi môi trường sống khi bước vào ĐH không chỉ là thay đổi về địa lý mà còn là
cú sốc văn hóa và xã hội đối với nhiều sinh viên. Việc rời xa gia đình, đặc biệt với những bạn lần
đầu sống xa nhà, khiến cảm giác cô đơn, nhớ nhà trở thành thử thách tâm lý rất lớn.
Ảnh: Nỗi nhớ nhà của sinh viên khi phải xa gia đình
Những bữa cơm một mình, sự yên tĩnh trong phòng trọ hay ký túc xá xa lạ có thể khiến
sinh viên dễ rơi vào trạng thái trống trải, lạc lõng. Bên cạnh đó, việc thiết lập các mối quan hệ
mới trong lớp học, CLB hay nơi ở cũng không dễ dàng, nhất là với các bạn rụt rè, ít nói. Việc
không hòa nhập được với cộng đồng xung quanh sẽ ảnh hưởng đến tâm lý và động lực học tập,
khiến quãng đời sinh viên trở nên đơn điệu và áp lực hơn rất nhiều.
4. Áp lực tài chính và những cám dỗ tiêu cực từ môi trường xã hội
Vấn đề tài chính luôn là nỗi trăn trở thường trực của phần lớn sinh viên, đặc biệt với
những bạn đến từ tỉnh xa hoặc có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Việc tự chi trả học phí, tiền trọ,
ăn uống và các chi phí sinh hoạt khác đòi hỏi sinh viên phải tìm cách kiếm thêm thu nhập. Công
việc làm thêm giúp các bạn có thêm nguồn tài chính, đồng thời tích lũy kỹ năng làm việc.
Tuy nhiên, làm thêm lại là con dao hai lưỡi, nếu không biết cách sắp xếp thời gian hợp lý,
việc làm thêm sẽ khiến sinh viên rơi vào tình trạng mệt mỏi, thiếu ngủ, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến việc học. Đôi khi, vì quá tập trung vào việc kiếm tiền, sinh viên dễ bỏ bê lớp học, dẫn đến
kết quả học tập suy giảm. Đặc biệt, những công việc không liên quan đến chuyên ngành sẽ
không giúp ích nhiều cho sự nghiệp sau này, mà còn làm tốn thời gian.
ĐH là môi trường mở, tạo nhiều điều kiện cho sự phát triển cá nhân nhưng cũng ẩn chứa
không ít rủi ro. Việc dễ dàng tiếp cận các thú vui như tụ tập bạn bè quá đà, nghiện mạng xã hội,
mua sắm, tiêu xài hoang phí, chơi game,... khiến nhiều sinh viên lạc lối nếu thiếu định hướng rõ
ràng. Không ít trường hợp bỏ bê học hành, dính vào các mối quan hệ độc hại hoặc thậm chí có
hành vi vi phạm nội quy. Những cám dỗ này âm thầm bào mòn động lực học tập, ảnh hưởng trực
tiếp đến kết quả và tương lai của sinh viên.
5. Khó khăn trong việc duy trì kỷ luật cá nhân và phân bổ thời gian hợp lý
Tự do về thời gian là con dao hai lưỡi đối với sinh viên. Việc không còn bị kiểm soát bởi
giáo viên hay phụ huynh khiến nhiều bạn rơi vào tình trạng sống buông thả, học tập thiếu kế
hoạch, sinh hoạt không điều độ. Thức khuya, bỏ bữa, ăn uống không đủ chất, lười vận động… là
những biểu hiện thường gặp, dần ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần.
Ảnh: Sinh viên thức đêm chạy deadline
Không chỉ vậy, việc học dồn vào phút cuối, làm bài tập qua loa, nộp trễ deadline khiến
thành tích học tập giảm sút nghiêm trọng. Kỹ năng lập kế hoạch cá nhân, lên thời gian biểu hợp
lý và duy trì kỷ luật là những điều cần thiết nhưng lại không được chú trọng rèn luyện ngay từ đầu.
6. Thiếu kỹ năng mềm, kỹ năng thực tế
Khác với cấp 3, ĐH đòi hỏi sinh viên phải có nhiều kỹ năng như: thuyết trình, làm việc
nhóm, tư duy phản biện, ngoại ngữ, tin học,... để có thể theo kịp chương trình học cũng như cơ
hội việc làm sau này. Nhiều sinh viên ra trường yếu kỹ năng thực hành, ngại giao tiếp, thiếu kinh
nghiệm làm việc,... dẫn đến khó khăn trong hội nhập với thị trường lao động.
Ngoài kiến thức chuyên môn, nhiều sinh viên còn thiếu kỹ năng mềm như làm việc
nhóm, quản lý thời gian, tư duy phản biện hay ứng xử trong môi trường chuyên nghiệp. Việc
giáo dục đạo đức nghề nghiệp, lối sống có trách nhiệm và kỹ năng giao tiếp chưa được chú trọng
đúng mức, gây ảnh hưởng đến khả năng thích nghi trong môi trường lao động đa dạng và năng động.
7. Chưa có định hướng nghề nghiệp rõ ràng
Một số sinh viên bước vào giảng đường ĐH mà chưa xác định được mục tiêu học tập cụ
thể. Việc chọn ngành học theo xu hướng, trào lưu, theo sự định hướng từ người thân khiến nhiều
bạn không thật sự đam mê nghề nghiệp tương lai. Hệ quả là cảm giác chán nản, thiếu động lực,
dễ bỏ dở giữa chừng hoặc tốt nghiệp mà không biết nên làm gì tiếp theo. Sự mơ hồ trong định
hướng nghề nghiệp còn khiến sinh viên thiếu quyết tâm học tập, không tham gia các hoạt động
chuyên môn và đánh mất nhiều cơ hội phát triển.
8. Tâm lý và sức khỏe tinh thần
Áp lực học tập, thi cử, kỳ vọng từ gia đình khiến nhiều sinh viên như em cảm thấy lo
lắng, mất ngủ và căng thẳng. Có bạn phải tìm đến tư vấn tâm lý để ổn định tinh thần. Đây là điều
mà trước đây em chưa từng nghĩ tới khi còn học phổ thông.
9. Khó khăn trong tiếp cận công nghệ và học online
Biểu đồ: Khó khăn của sinh viên do chương trình học thiếu hiệu quả
Trong thời đại số, việc học online, tìm tài liệu số, hoặc sử dụng phần mềm học tập là điều
bắt buộc. Tuy nhiên, không phải sinh viên nào cũng thành thạo công nghệ hoặc có điều kiện thiết
bị đầy đủ. Điều này tạo nên sự bất bình đẳng trong học tập, đặc biệt là giữa sinh viên thành thị và nông thôn. Kết luận
Môi trường đại học là một hành trình đầy màu sắc – nơi không chỉ chứa đựng tri thức mà
còn ẩn giấu vô vàn thử thách. Những khó khăn như áp lực học tập, vấn đề tài chính, sức khỏe
tinh thần hay sự mơ hồ về tương lai… đều là những bài kiểm tra không chính thức nhưng có sức
ảnh hưởng sâu sắc đến sự trưởng thành của mỗi sinh viên. Tuy nhiên, chính khi đối mặt với khó
khăn, chúng ta mới có cơ hội rèn luyện bản lĩnh, học cách tự lập và khám phá năng lực thật sự của bản thân.
Không ai trưởng thành mà không từng vấp ngã, và quãng đời sinh viên – dù có đôi lúc
mỏi mệt – vẫn là khoảng thời gian quý giá nhất để chúng ta học cách đứng dậy, bước tiếp và
vươn lên. Điều quan trọng không nằm ở việc bạn gặp bao nhiêu thử thách, mà là cách bạn chọn
đối diện, vượt qua và trưởng thành từ chúng. TLTK
Phương Liên. (2022, 10 18). Giáo dục đại học: Thách thức và cơ hội. Retrieved 07 12, 2025, from Báo
Điện tử Chính phủ: https://baochinhphu.vn/giao-duc-dai-hoc-thach-thuc-va-co-hoi- 102221018174130923.htm
Trương Thị Ngọc Điệp, Huỳnh Minh Hiền, Võ Thế Hiện, H. (2012). THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG HỌC
TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM NHẤT TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ. Tạp chí khoa học- Khoa Khoa
Học Xã Hội và Nhân Văn, Trường Đại học Cần Thơ, 83.
PGS, TS. TRẦN THỊ MINH TUYẾT. (2022, 05 21). Đổi mới giáo dục ĐH ở Việt Nam: Thực
trạng và giải pháp. Retrieved 07 13, 2025, from Tạp chí Cộng sản:
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/825408/doi-moi-giao-duc-
dai-hoc-o-viet-nam--thuc-trang-va-giai-phap.aspx