LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Khoa học hội Nhân
văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa bộ môn Lịch sử Quan hệ
Quốc tế vào chương trình giảng dạy để emhội tiếp thu những kiến thức quý giá.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các giảng viên phụ trách bộ môn
này - PGS.TS. Trần Nam Tiến và TS. Nguyễn Tuấn Khanh, những người đã truyền đạt
cho em kiến thức bằng tất cả tâm huyết của mình. Thời gian học bộ môn của các Thầy
là khoảng thời gian tuyệt vời vì em không chỉ được học lý thuyết mà còn nắm bắt được
những kinh nghiệm thực tế hữu ích. Đây chắc chắn sẽ những kiến thức quý báu,
hành trang giúp em có thể vững bước sau này.
Bộ môn Lịch s Quan hệ Quốc tế một môn học thú vị, không chỉ bổ ích
còn có tính thực tế cao, đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn
của sinh viên. Mặc em đã cố gắng hết sức nhưng do vốn kiến thức còn nhiều hạn
chế khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ, nên chắc chắn bài tiểu luận khó
thể tránh những thiếu sót, kính mong các Thầy xem xét góp ý để bài tiểu luận
của em được hoàn thiện hơn.
Lời cuối, em xin gửi lời chúc sức khỏe đến các Thầy, chúc các Thầy luôn hạnh
phúc trong cuộc sống và thành công trên con đường giảng dạy của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...............................................................................................................2
GIẢI THÍCH MỘT SỐ THUẬT NGỮ..........................................................................1
NỘI DUNG...................................................................................................................2
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC SAU CHIẾN TRANH
THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914 - 1918).......................................................................2
I. Bối cảnh thế giới..............................................................................................2
II. Bối cảnh trong nước.........................................................................................7
TIỂU KẾT CHƯƠNG I............................................................................................17
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHE TRỤC (ROME - BERLIN -
TOKYO)..................................................................................................................18
I. Quá trình phát xít hóa của ba nước phe Trục..................................................18
II. Quá trình hình thành phe Trục (Rome - Berlin - Tokyo)................................26
TIỂU KẾT CHƯƠNG II..........................................................................................35
TỔNG KẾT.................................................................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................38
LỜI MỞ ĐẦU
Khi bàn về liên minh, chúng ta sẽ nghĩ ngay đến việc các quốc gia hoặc các thế lực
liên kết, tập hợp lại với nhau. Các bên tham gia liên minh có cùng một mục tiêu chung
nào đó giữa các chủ thể y bình đẳng về mặt quyền lợi cũng như quyền lực. Nói
một cách cụ thể chính xác hơn, liên minh sự cam kết chính thức giữa các quốc
gia nhằm phối hợp hay tương trợ lẫn nhau để đối phó với các vấn đề an ninh, chống
lại các mối đe dọa chung”1. Mục tiêu lớn nhất của các liên minh này làm sao tập
hợp các nguồn lực phối hợp các nguồn lực ấy một cách hiệu quả nhất để ng cao
vị thế của bản thân trong hệ thống quốc tế, đồng thời nâng cao sức mạnh chung so với
các quốc gia khác không tham gia vào liên minh. Sự liên minh, cho mục đích
đi chăng nữa, cũng ảnh hưởng một phần đến trật tự thế giới. Sự ảnh hưởng này thể
là tích cực, nó góp phần đoàn kết giữa các quốc gia để xây dựng thế giới ngày càng tốt
đẹp hơn, hay cũng thể tiêu cực, đó những liên minh mục đích xấu xa, sẵn
sàng bất chấp tất cả để giành lấy quyền chủ thế giới quyền làm chủ nhân loại để
phục tùng họ.
Trong các liên minh đã từng tồn tại trong lịch sử, liên minh phe Trục (hay còn gọi
“Trục Rome - Berlin - Tokyo”) là một trong những liên minh bị xếp vào loại “cần phải
tiêu diệt ngay tận gốc”. do bởi những mục đích xấu xa trong phương hướng
hoạt động của liên minh này được thế giới dự báo “nếu không tiêu diệt tận gốc sẽ
mang đến một cuộc chiến thảm khốc”, hậu quả là đã dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới
lần hai (1939 - 1945). Thông qua bài tiểu luận “Quá trình hình thành phe Trục (Berlin
- Roma - Tokyo)”, ta sẽ cái nhìn tổng quát hơn về bối cảnh, quá trình, mục đích
hình thành phe Trục, về các quốc gia trong phe Trục mối quan hệ giữa các chủ thể
này, từ đó giúp ta hiểu hơn nguyên nhân trực tiếp dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai.
1 Liên minh (Alliance). nghiencuuquocte.org
GIẢI THÍCH MỘT SỐ THUẬT NGỮ
Phe Trục hay Khối Trục (Axis powers): liên minh quân sự giữa Đức Quốc xã, Phát
xít Ý Quân phiệt Nhật Bản được thành lập chính thức vào năm 1940, thông qua nỗ
lực ngoại giao của ba nước này nhằm chống lại lực lượng Đồng Minh trong Chiến
tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945).
Chủ nghĩa phát xít (Fascism): ý thức hệ chính trịphong trào quần chúng đã thống
trị nhiều vùng miền Trung, miền Nam và miền Đông châu Âu từ năm 1919 đến năm
1945 và một số ít người ủng hộ ở Tây Âu, Hoa Kỳ, Nam Phi, Nhật Bản, Mỹ Latinh
Trung Đông. Mặc mỗi nước đảng và chế độ phát xít khác nhau, nhưng chúng
nhiều đặc điểm chung, bao gồm chủ nghĩa dân tộc quân phiệt cực đoan, coi thường
bầu cử dân chủ chủ nghĩa tự do chính trị văn hóa, niềm tin vào hệ thống phân
cấp hội tự nhiên quy tắc của giới tinh hoa, mong muốn tạo ra một
Volksgemeinschaft2, trong đó lợi ích cá nhân sẽ phụ thuộc vào lợi ích của quốc gia.
Chủ nghĩa quân phiệt (Militarism): niềm tin của một quốc gia (hoặc chính phủ)
trong việc duy trì phát triển lực lượng quân sự (quân đội, vũ khí,...) để giành quyền
lực và đạt được mục tiêu của mình. Nói cách khác, chủ nghĩa quân phiệt đề cao vai trò
của quân sự đối với một quốc gia, như bộ mặt đại diện cho quốc gia, quân sự càng
phát triển thì nước đó càng mạnh.
2 Từ này xuất phát từ tiếng Đức có nghĩa là “people’s community” (“cộng đồng của người dân”)
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC SAU
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914 - 1918)
I. Bối cảnh thế giới
Sau 4 năm dài thế giới chìm trong đêm tối của súng đạn, bom nổ, ngày 11/11/1918, tại
toa tàu hỏa nhân của Thống chế Ferdinand Foch ở rừng Compiegne (Pháp), Đức ký3
hiệp định đầu hàng không điều kiện. Vào lúc 11 giờ cùng ngày, 101 phát súng đại bác
đã được bắn, báo hiệu kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, tại Versailles (ngoại vi thủ đô Pari của
Pháp), các nước thắng trận đã tổ chức Hội nghị Hòa bình để phân chia lại thế giới
thiết lập một trật tự thế giới mới, hòa bình an ninh mới sau chiến tranh. Hội nghị
khai mạc từ ngày 18/1/1919 kéo dài suốt một năm sau đó, kết thúc vào ngày
21/1/1920. Tham gia Hội nghị gồm đại biểu của 27 nước thắng trận nắm quyền
quyết định Hội nghị ba cường quốc Mĩ, Anh, Pháp. Hội nghị được tiến hành trong
bối cảnh thế giới nhiều chuyển biến to lớn. Thứ nhất cuộc Cách mạng tháng
Mười Nga 1917 thành công, đánh dấu s ra đời của một nước hội chủ nghĩa, chủ
nghĩa tư bản không còn là một hệ thống duy nhất trên thế giới. Điều này góp phần thúc
đẩy mạnh mẽ sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới, đe dọa đến sự tồn tại
của chủ nghĩa bản. Thứ hai, bên cạnh sự ảnh hưởng của cuộc Cách mạng tháng
Mười Nga thành công hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất, một cao trào cách
mạng đã bùng nổ và phát triển mạnh mẽ ở các nước tư bản lẫn các nước thuộc địa, phụ
thuộc vào những năm 1918 - 1923. Thứ ba, cuộc chiến đã tàn phá nghiêm trọng các
3 Ferdinand Foch (2/10/1851 20/3/1929) là một tướng lĩnh nhà luận quân sự người Pháp, từng giữ chức
vụ Tư lệnh tối cao của quân Đồng minh trong Thế chiến thứ nhất.
Anh, Pháp và Đức trong buổi kí hiệp
định đầu hàng, ngày 11/11/1918
Hình ảnh tờ báo đưa tin thế chiến 1 kết thúc vào
ngày 11/11/1918.
nước tham chiến châu Âu thay đổi căn bản tương quan lực lượng giữa các nước
tư bản: từ các nước bại trận như Đức, Áo - Hung, Thổ Nhĩ Kỳ đến các nước thắng trận
Anh, Pháp, Italia, Nhật Bản đều bị suy sụp nghiêm trọng, riêng nước tham chiến
muộn thu được nguồn lợi khổng lồ (khoảng 24 tỉ đôla) từ việc bán khí nên đã
vươn lên trở thành nước dẫn đầu về kinh tế, tài chính và quân sự, vì thế trong Hội nghị
Versailles, nước tiếng nói quan trọng nhất chủ nợ của các nước châu
Âu.
Từ những chuyển biến đó, Hội nghị đã họp bàn và ký kết với nhau Hòa ước Versailles.
Trong số các nội dung được thông qua trong Hòa ước hai nội dung quan trọng
đưa ra các điều khoản cho việc trừng phạt Đức các đồng minh của Đức, đồng thời
thông qua quyết định thành lập Hội Quốc liên - một tổ chức quốc tếchức năng bảo
đảm trật tự thế giới sau chiến tranh. Bên cạnh đó, trong suốt quá trình diễn ra Hội nghị,
các nước thắng trận đã thương thuyết, thỏa thuận với nhau soạn thảo ra 5 hòa ước
để kết với 5 nước bại trận: Đức, Áo, Hungary, Bulgaria, Thổ Nhĩ Kỳ. Ba nội dung
quan trọng trên đã hợp thành Hệ thống Hòa ước Versailles dần dần trở thành hệ
thống quan hệ quốc tế mới thường được gọi Hệ thống Versailles hoặc Trật tự
Versailles.
Trang đầu của Hòa ước
Versailles, bản tiếng Anh
Quang cảnh buổi kí Hòa ước Versailles năm 1919
Năm 1939, một biểu tượng bán chính thức của Hội
Quốc Liên xuất hiện: hai sao năm cánh trong một
hình ngũ giác màu lam. Chúng tượng trưng cho năm
lục địa của Trái Đất năm "chủng tộc". Một dòng
chữ phía trên hiển thị tên tiếng Anh ("League of
Nations"), dòng chữ khác phía ới hiển thị tên
tiếng Pháp ("Société des Nations").
Tuy nhiên, cả hai phe chiến thắng lẫn chiến bại đều không thỏa mãn với những điều đã
được ký kết trong Hệ thống Hòa ước Versailles. Hòa ước này không những không đảm
bảo được hòa bình cho các dân tộc mà trái lại còn làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn
của chủ nghĩa đế quốc.nhân hội này đã ra sức củng cố quyền lực của mình trên
thế giới. Tháng 11/1921, Mĩ triệu tập tám nước bao gồm Anh, Pháp, Italia, Bỉ, Hà Lan,
Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Trung Quốc họp tại Hội nghị Washington. Hội nghị được tổ
chức để thảo luận quyết định tỉ lệ hải quân giữa các cường quốc, đồng thời các
vấn đề Thái Bình Dương Viễn Đông. Tại hội nghị này, một số văn kiện quan
trọng đã được kết: Hiệp ước 4 nước, Hiệp ước 9 nước Hiệp ước 5 nước. Với hệ
thống hòa ước Washington, hoàn toàn lợi thế về mọi mặt. Đây thể một
khuôn khổ mới do tạo ra. Trong khuôn khổ mới này, một mặt phủ nhận khuôn
khổ của hệ thống hòa ước Versailles, làm cho mất đi tác dụng thực tiễn, mặt
khác lại bổ sung vào khuôn khổ này để hình thành nên một khuôn khổ mới, đầy đủ
hoàn chỉnh hơn (theo quan điểm của Mĩ) về việc tổ chức lại thế giới sau chiến
tranh. Đó là hệ thống Versailles - Washington.
Trong những năm 1924 - 1929, nhìn chung các cường quốc bản chủ nghĩa đã khắc
phục được phần nào những khủng hoảng sau chiến tranh, khôi phục nền kinh tế và trên
sở đó, chính quyền của giai cấp sản được định hình lại, các nước này bước vào
giai đoạn ổn định. Về kinh tế, nhiều nước bản bước sang giai đoạn phát triển phồn
vinh; nhiều công ty bản độc quyền xuất hiện với quy mô khổng lồ, vượt hơn những
Sự thay đổi bản đồ chính trị châu Âu theo hệ thống Versailles - Washington
gì đã có trước năm 1914. Nhưng sự ổn định này diễn ra không đều cũng không kéo
dài được u. Sự ổn định của các nước bản chủ nghĩa châu Âu phần nhiều phụ
thuộc vào vốn đầu của Mĩ. Đây cũng thời chuyển đổi trung tâm kinh tế - tài
chính của thế giới bản chủ nghĩa từ châu Âu sang Mĩ. Về hội, các lãnh tụ cánh
hữu của Đảng hộin chủ tăng cường tuyên truyền về chủ nghĩa xã hội trong hòa
bình bằng cách hợp tác với giai cấp sảnkhông cần những cuộc cách mạng. Các
Đảng này ngày càng lôi kéo thêm nhiều người tham gia ủng hộ, song cuộc đấu
tranh giai cấp vẫn diễn ra nhiều nước, tiêu biểu cuộc bãi công năm 1926 nước
Anh đã lôi cuốn hàng triệu công nhân tham gia. Sự ổn định trong những m 1924 -
1929 không những không loại bỏ được những mâu thuẫn trong lòng hội bản chủ
nghĩa mà còn không khắc phục được những nhược điểm vốncủa nền kinh tếbản
chủ nghĩa. Từ đó đã dẫn đến cuộc đại khủng hoảng kinh tế nước vào cuối năm
1929 nhanh chóng lan ra toàn bộ thế giới, chấm dứt thời phồn vinh, thăng bằng
và ổn định ấy.
Đại khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 (The Great Depression)
Ngày 24/10/1929, tại Sở Giao dịch chứng khoán phố Wall (New York, Mĩ), 13 triệu
cổ phiếu được tung ra thị trường với giá sụt giảm đột ngột, chỉ bằng 2/3 giá trị thực.
Chỉ trong một ngày, hàng nghìn người sở hữu cổ phiếu bị trắng tay. Ngày này trong
lịch sử nướcgọi là “Ngày thứ Năm đen tối” (“Black Thursday”). Sự kiện này đánh
dấu bước khởi đầu cho cuộc Đại khủng hoảng kinh tế sâu sắc không chỉ diễn ra ở nước
còn lan ra toàn bộ thế giới bản, kéo dài tới đầu năm 1933. Khủng hoảng
diễn ra trên tất cả các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, tài chính
đưa đến giảm sút mạnh mậu dịch thế giới. Nguyên nhân dẫn đến cuộc Đại khủng
hoảng nàydo trong thời kỳ ổn định từ năm 1924 - 1929, các nhà máy của chủ nghĩa
bản sức sản xuất vượt trội, sản lượng tăng lên gấp bội, sản phẩm liên tục được
cung cấp cho thị trường, nhưng nhu cầu sức mua của quần chúng nhân dân lại
không có sự tăng lên tương ứng làm cho giá của hàng hóa ngày càng giảm, rồi dẫn đến
tình trạng ế thừa, sản xuất suy thoái nghiêm trọng. n cạnh đó nạn lạm phát ngày
càng tăng, tiền được in ra như giấy, hoàn toàn mất giá trị. Cuộc Đại khủng hoảng diễn
ra hầu khắp các nước tư bản chủ nghĩa nhưng với mức độ, quy mô và thời gian ít nhiều
sự khác nhau. nước đầu tiên bị khủng hoảng nước chịu ảnh hưởng nặng
nề nhất.
Không những tàn phá nền kinh tế, cuộc Đại khủng hoảng còn gây ra những hậu quả
nặng nề về mặt chính trị hội. Hàng nghìn nhà máy, công xưởng bị phá sản
đóng cửa. Hơn 50 triệu công nhân thất nghiệp, số khác thì không được trả lương.
Nhiều người trở nên vô giavì không trả được tiền cầm cố. Nông dân ở nhiều nơi bị
mất hết ruộng đất, sống trong cảnh nghèo đói. nhiều nước, các gia đình nghèo khổ
không được đáp ứng các nhu cầu tối thiểu không bảo hiểm hội thất nghiệp
thì không được phụ cấp. Trong bối cảnh đó, nhiều cuộc biểu tình bãi công đã diễn
ra khắpi trên thế giới bởi những người công nhân thất nghiệp, gây nên những cuộc
xung đột và đàn áp với cảnh sát và quân đội; bãi công đấu tranh chống giảm tiền lương
đã nổ ra ở hầu hết các nước. Theo thống kê không đầy đủ, trong thời gian từ năm 1928
đến cuối năm 1933, số người tham gia bãi công ở các nướcbản chủ nghĩa đã lên tới
17 triệu, còn số ngày bãi công là 267 triệu.
Để thoát khỏi cuộc Đại khủng hoảng này, nhiều nước bản đã chọn cho mình những
con đường riêng biệt, phù hợp với tình cảnh đất nước lúc đó, nhưng hình trung lại
tạo thành hai phe đối lập nhau về mục đích và cách thức. Các nước Anh, Pháp, Mĩ tiến
hành những cải cách kinh tế - hội để khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng,
tăng cường vai trò của Nhà nước Nhà nước kết hợp chặt chẽ với các công ty lũng
đoạn trong việc chi phối toàn bộ đời sống kinh tế đất nước. Các nước Đức, Italia, Nhật
Đám dông tụ tập tại ngã tư Phố Wall và
Phố Broad sau vụ sụp đổ thị trường chứng
khoán năm 1929
Công nhân thất nghiệp đứng xếp hàng bên
ngoài một cửa hàng súp gà ở Chicago để
nhận đồ ăn miễn phí
Bản lại tìm kiếm lối thoát cho mình bằng những hình thức thống trị mới. Đó việc
thiết lập các chế độ độc tài phát xít - nền chuyên chính khủng bố công khai của những
thế lực phản động nhất, hiếu chiến nhất. từ đây, lời cảnh báo về những cuộc chạy
đua vũ trang ráo riết đã báo hiệu nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới.
II. Bối cảnh trong nước
1. Đức
a. Giai đoạn 1918 - 1923
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Đức nước bại trận hoàn toàn, lâm vào tình trạng
kiệt quệ về kinh tế, chính trị quân sự. Mâu thuẫn hội ngày càng trở nên gay gắt.
Từ ngày 3/11/1918, các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra trên khắp nước Đức từ với lực lượng
chủ yếu giai cấp công nhân tầng lớp tiểu sản. Quần chúng nhân dân đã lật đổ
các chính phủ phản động, thành lập chính quyền viết đại biểu công nhân binh
lính, đập tan sự kháng cự của bọn quan quân đội trung thành với chính phủ, chiếm
được thành phố. Vua Đức Wilhelm II buộc phải thoái vị, nền quân chủ sụp đổ. Một 4
chính phủ lâm thời mới lên nắm chính quyền, chủ yếu những người hội chủ
nghĩa ôn hòa. Chính phủ này đề ra một số cải cách tiến bộ không đụng chạm đến
sở của chế độ bản. vậy, một phe khác - gồm những người hội chủ nghĩa
cực đoan - thuộc phe Spartacus (một phái tả của Đảng hội dân chủ được tách ra5
trong thời Chiến tranh thế giới thứ nhất) đã quyết định thành lập Đảng Cộng sản
Đức6, đặt ra nhiệm vụ lật đổ chính quyền của giai cấp sản địa chủ, thiết lập nền
chuyên chính vô sản.
Ngày 5/1/1919, những người ủng hộ phe Spartacus đã tham gia biểu tình Berlin.
Chính phủ đã tập trung lực lượng vũ trang để đàn áp cuộc cách mạng vô sản này. Cuộc
khởi nghĩa đã nhanh chóng bị đàn áp. Hai lãnh tụ của Đảng Cộng sản Đức - Karl
Liebknecht7 và Rosa Luxemburg đã bị bắt và tử hình. Sau khi đàn áp thành công cuộc8
4 Friedrich Wilhelm Viktor Abert von Hohenzollern, Wilhelm II của Phổ Đức, (27/1/1859 – 4/6/1941) vị
Hoàng đế (Kaiser) cuối cùng của Đế quốc Đức, đồng thời cũng vị Quốc vương cuối cùng của Vương quốc
Phổ, trị vì từ năm 1888 cho đến năm 1918
5 Liên đoàn Spartacus (tiếng Đức: Spartakusbund) một phong trào cách mạng Marxist được tổ chức Đức
trong Thế chiến thứ nhất
6 Đảng Cộng sản Đức (tiếng Đức: Kommunistische Partei Deutschlands) là một đảng chính trị cực tả lớn ở Cộng
hòa Weimar trong thời kỳ giữa chiến tranh, một phong trào phản kháng ngầm ở Đức Quốc xã và một đảng nhỏ ở
Tây Đức trong thời kỳ hậu chiến cho đến khi nó bị Tòa án Hiến pháp Liên bang cấm vào năm 1956.
7 Karl Paul August Friedrich Liebknecht (8/13/1871 15/1/1919) một nhà hội chủ nghĩa chống quân
phiệt người Đức.
8 Rosa Luxemburg (3/5/1871 15/1/1919) một nhà hội chủ nghĩa cách mạng người Ba Lan nhập tịch
Đức, người theo chủ nghĩa Mác chính thống và nhà hoạt động phản chiến.
khởi nghĩa của những người vô sản Berlin, chính phủ đã nhanh chóng chuẩn bị và tiến
hành cuộc bầu cử Quốc hội. Ngày 6/2/1919, Quốc hội đã họp tại thị tỉnh Weimar.
Đến ngày 31/7/1919, Hiến pháp đã được thông qua, đặt cơ sở pháp lí cho sự ra đời của
chế độ cộng hòa tư sản ở Đức - thường được gọi là nền Cộng hòa Weimar . 9
Ngày 28/6/1919, Chính phủ Đức đã Hòa ước Versailles, đồng nghĩa với việc Đức
chấp nhận thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ nhất phải bồi thường thiệt hại cho
các nước Đồng minh. Theo Hòa ước, Đức phải chuyển giao cho Pháp hai tỉnh Alsace -
Lorraine; cho Bỉ vùng Aipen Manmơđi; cho Ba Lan vùng Poznań, Đông Phổ
một phần vùng Thượng Silesia, trả lại cho Lithuania vùng Memel, cho Đan Mạch
vùng Bắc Slezvig. Quân đội Đức bị buộc phải giảm còn dưới 100.000 người, bị cấm
sản xuất pháo hạng nặng, xe tăng, máy bay quân sự, tàu ngầm. Ngoài ra, Đức còn phải
từ bỏ tất cả các thuộc địa của mình cho các nước thắng trận. Nước Đức mất đi 1/8 diện
tích đất đai, 1/12 dân số, 1/3 mỏ sắt, 1/3 mỏ than, 2/5 sản lượng gang, 1/3 sản lượng
thép một khoản bồi thường chiến phí khổng lồ lên đến 132 tỷ mác. Nước Đức lâm
vào cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính tồi tệ chưa từng thấy. Đồng mác sụt giá
nghiêm trọng: năm 1914, 1 đô la tương đương 4,2 mác, đến tháng 9/1923: 1 đô la
tương đương 98 860 000 mác. Tình hình chính trị ngày càng lâm nguy, chính phủ
rối loạn phải đổi người quá nhiều lần, nước Đức trở nên loạn lạc hơn bao giờ hết.
Không dừng lại đó, ngày 12/1/1923, viện cớ Đức chậm trễ trong việc bồi thường
chiến phí, Pháp và Bỉ đã đem quân chiếm đóng hạt Ruhr . Nơi đây sản xuất 90% than,10
70% gang cho toàn nước Đức. Điều này gây ra một thảm họa lớn cho nền kinh tế Đức,
nhà máy khắp nơi đóng cửa, số công nhân thất nghiệp lên đến 5 triệu người, giá sinh
hoạt tăng vọt, đồng mác xuống đến giá thấp nhất trong lịch sử nước Đức. Trong bối
cảnh đó, phong trào bãi công của công nhân diễn ra nhiều nơi. Cuộc khởi nghĩa
trang của công nhân Hamburg tháng 10-1923 là âm hưởng cuối cùng của bãop cách
mạng vô sản ở Đức trong những năm 1918 - 1923.
9 Cộng hòa Weimar, tên chính thức là Đế chế Đức, là một giai đoạn lịch sử của Đức từ ngày 9/11/1918 đến ngày
23/3/1933, đây là một nước cộng hòa liên bang lập hiến lần đầu tiên trong lịch sử ở thời điểm đó.
10 Ruhr, còn gọi vùng Ruhr, đôi khi huyện Ruhr, vùng Ruhr hoặc thung lũng Ruhr, một khu đô thị đa
trung tâm ở Bắc Rhine-Westphalia, Đức.
b. Giai đoạn 1924 - 1929
Từ cuối năm 1923, nhờ vào nỗ lực của bản thân sự giúp đỡ, đầu của Anh
cùng với những chính sách giảm nhẹ bồi thường chiến tranh (kế hoạch Dawes11 năm
1924 kế hoạch Young năm 1929), Đức đã vượt qua cơn khủng hoảng kinh tế 12
chính trị sau chiến tranh. Chính quyền tư sản Đức đã đẩy lùi được các phong trào cách
mạng của quần chúng nhân dân, khủng hoảng về mặt tài chính từng bước được khắc
phục, tạo đà cho nền kinh tế khôi phục phát triển. Từ năm 1925, nền công nghiệp
của Đức phát triển mạnh. Đến năm 1927, giá trị xuất khẩu của Đức đã đạt được mức
trước chiến tranh. Năm 1929, tổng sản lượng công nghiệp của Đức đạt 113% mức
trước chiến tranh, vượt qua Anh, Pháp, đứng đầu châu Âu. Trên sở nền kinh tế hồi
phục, tình hình chính trị của Đức cũng được củng cố một cách tích cực cả về phương
diện đối nội và đối ngoại.
Về đối ngoại, tháng 10/1925, Đức Hiệp ước Locarno với các nước bản châu Âu
được tán thành. Theo hiệp ước này, Đức, Bỉ Pháp cùng cam kết không vi
phạm biên giới phía tây đã được quy định trong Hòa ước Versailles. Năm 1926, Đức
tham gia o Hội Quốc liên, địa vị quốc tế của Đức lại được nâng lên một bước mới.
Bên cạnh đó, trong hai năm 1925 và 1926, Đức kí thêm hai hiệp ước nữa với Liên Xô.
Đến đây, nước Đức đã dần khẳng định được sức mạnh của mình để tự xây dựng một
đường lối đối ngoại độc lập hơn xúc tiến âm mưu chống lại sự ràng buộc của hệ
thống Versailles. Về đối nội, chế độ Cộng hòa Weimar được củng cố. Nhờ vào chính
11 Kế hoạch Dawes (theo đề xuất của Ủy ban Dawes, do Charles G. Dawes chủ trì) một kế hoạch vào năm
1924 đã giải quyết thành công vấn đề bồi thường Thế chiến thứ nhất mà Đức phải trả.
12 Kế hoạch Young một chương trình giải quyết các khoản bồi thường trong Thế chiến thứ nhất của Đức.
được trình bày bởi ủy ban, đứng đầu nhà công nghiệp người Mỹ Owen D. Young, người sáng lập cựu chủ
tịch của Radio Corporation of America (RCA), người vào thời điểm đó thành viên hội đồng quản trị của
Rockefeller Foundation.
Lạm phát ở Đức đầu những năm 20 của thế kỷ XX – Trẻ em làm diều bằng những đồng mác mất giá, từng tờ
mác được cột thành bó và chất thành từng đống lớn trong ngân hàng
sách hợp tác giai cấp của Đảng Xã hội dân chủ, các chính đảng và các tổ chức của giai
cấp sản lấy lại vị trí đã mất của mình. Quá trình hợp tác hóa sản xuất bản chủ
nghĩa cũng làm cho quyền lực của giới tư bản, đặc biệt là tư bản độc quyền, được củng
cố tăng cường. Năm 1925, Ebert chết, Hindenburg - ứng cử viên cánh hữu được13 14
bầu làm tổng thống nước Cộng hòa Weimar. Chính phủ mới ban hành một số chính
sách về thuế, đồng thời tăng cường đàn áp phong trào đấu tranh của giai cấp công
nhân, xóa bỏ những thành tựuhọ đã đạt được trong cuộc Cách mạng tháng 11 năm
1918.
c. Giai đoạn 1929 - 1933
Cuộc Đại khủng hoảng 1929 đã giáng một đòn nặng nề vào nền kinh tế Đức. Năm
1930, mức sản xuất công nghiệp của Đức giảm sút 8.4% so với năm 1929. Đếnm
1932, sản xuất công nghiệp giảm 47% so với trước khủng hoảng. Tổng giá trị xuất
khẩu không quá 5,7 tỉ mác (năm 1929 là 13,5 tỉ mác). Hàng nghìn nhà máy, nghiệp
phải đóng cửa. Số người thất nghiệp lên đến 9 triệu người thời điểm năm 1932.n
cạnh đó mâu thuẫn hội cuộc đấu tranh của quần chúng lao động đã dẫn tới
cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng. Giai cấp sản cầm quyền không đủ sức mạnh
để duy trì chế độ cộng hòa tư sản, đưa đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng đó.
Nhân cơ hội này, những thế lực phản động, hiếu chiến ngày càng mở rộng ảnh hưởng.
Một trong những chính đảng phản động nhất của chủ nghĩa đế quốc Đức là Đảng Công
nhân quốc gia hội (gọi tắt Đảng Quốc xã). Đảng này ra đời từ tháng 1/1919.15
Adolf Hitler - lúc bấy giờ là một Thượng sĩ - gia nhập đảng này từ tháng 9/1939; đến16
tháng 1/1920 được cử phụ trách công tác tuyên truyền. Tháng 7/1920, Hitler được bầu
làm Chủ tịch của Đảng này. Đảng này đã đưa ra cương lĩnh hết sức mị dân lừa bịp
hòng mở rộng tầm ảnh hưởng của trong quần chúng. Sau một thời gian phát triển
ổn định, bọn bản lũng đoạn Đức công khai ủng hộ cho Đảng Quốc xã, giới cầm
quyền Đức cũng dung túng cho những hành động của chúng. Vì vậy trong thời này,
13 Friedrich Ebert (4/2/1871 28/2/1925) là một chính trị gia người Đức của Đảng Dân chủ hội Đức (SPD)
và là tổng thống đầu tiên của Đức từ năm 1919 đến năm 1925.
14 Paul Ludwig Hans Anton von Beneckendorff und von Hindenburg (2/10/1847 – 2/8/1934) là một nguyên soái
và chính khách người Đức, người lãnh đạo Quân đội Đế quốc Đức trong Thế chiến I. Sau đó, ông trở thành Tổng
thống Đức từ năm 1925 cho đến khi qua đời.
15 Đảng Công nhân Quốc gia Xã hội chủ nghĩa Đức (tiếng Đức: Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei -
NSDAP), thường được gọi Đảng Quốc trong tiếng Việt, đảng cầm quyền Đức trong thời kỳ Đức Quốc
Xã, đứng đầu bởi Adolf Hitler.
16 Adolf Hitler (20/4/1889 30/4/1945) một chính khách người Đức, nhà độc tài của Đức từ năm 1933 cho
đến khi qua đời vào năm 1945
Đảng Quốc tăng cường mở rộng các hoạt động của mình, công khai lên tiếng đòi
xét lại biên giới nước Đức, công khai chống lại trật tự thế giới theo hệ thống Versailles
- Washington, ra sức đầu độc chủ nghĩa sô vanh và thù ghét người Do Thái trong quần
chúng nhân dân.
Trong khi giới đại bản, địa chủ quý tộc
giới quân nhân ngày càng ủng hộ bọn phát xít
phản động thì các lực lượng cách mạng và dân chủ cũng mở rộng ảnh hưởng của mình
trong hàng ngũ những người lao động kêu gọi nhân dân tăng cường đấu tranh
chống nguy cơ phát xít. Đảng Cộng sản Đức lần lượt cho ra những bản Cương lĩnh của
mình, uy tín của Đảng ngày càng được nâng cao và thực tế tất cả những cuộc đấu tranh
lớn trong những năm khủng hoảng đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đảng Cộng sản đã
kêu gọi quần chúng đấu tranh để thành lập Mặt trận thống nhất chống chủ nghĩa phát
xít. Tuy nhiên, Đảng hội dân chủ vẫn có ảnh hưởng lớn nhất trong quần chúng lao
động gần 400.000 đảng viên tham gia trong các bộ y hành chính của trung
ương địa phương. Đảng này không chịu hợp tác với Đảng Cộng sản nên khiến cho
đội ngũ giai cấp công nhân Đức bị chia rẽ trầm trọng. Nước Đức đứng trước sự đối
đầu quyết liệt giữa cách mạng phản cách mạng. Điều này đã tạo điều kiện cho các
thế lực phát xít lên cầm quyền. Xu hướng thành lập một chính quyền “mạnh”, một nền
chuyên chính dân tộc chủ nghĩa cực đoan, đã trở thành nhu cầu cấp thiết của giới quân
phiệt và tài phiệt ở Đức.
2. Italia
* Giai đoạn 1918 - 1920
Italia nước thuộc phe Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Cuộc chiến
tranh này đã làm cho đất nước bị kiệt quệ về mọi mặt, cả về vật chất và tài chính: thiệt
Chân dung Quốc trưởng Đức Quốc xã –
Adolf Hitler vào năm 1938
Lá cờ của Đức Quốc xã có biểu tượng
hình chữ vạn (Swastika)
hại ước tính lên đến 65 tỉ lia vàng, gần 60% tàu buôn bị hủy hoại, 63,5 vạn người thiệt
mạng gần 50 vạn người bị thương. Nguồn nguyên nhiên liệu sản xuất công nghiệp
bị dốc cạn, việc xuất khẩu hàng hóa bị giảm sút. Quy mô của ngành công nghiệp quân
sự cũng bị thu hẹp lại sau khi chiến tranh kết thúc. Hàng vạn công nhân rơi vào cảnh
thất nghiệp. Nông nghiệp cũng rơi vào tình trạng khó khăn (diện tích đất trồng trọt bị
thu hẹp 10%) do nhân lực đã bị điều ra chiến trường. Hậu quả mà chiến tranh để lại đã
làm cho nước này lâm vào khủng hoảng kinh tế sâu sắc, đời sống vật chất của nhân
dân lao động không được đáp ứng đầy đủ, giảm sút nghiêm trọng.
Do hậu quả của chiến tranh ảnh hưởng từ cuộc Cách mạng tháng Mười Nga, cùng
với việc chính quyền Italia bị thất bại nhục nhã trong cuộc vận động ngoại giao Hội
nghị Versailles, một phong trào đấu tranh cách mạng đã nổ ra trên khắp cả nước nhằm
chống lại chính quyền thống trị bất lực thối nát. Công nhân luyện kim các trung
tâm công nghiệp như Milano, Torino, Roma, Genoa đã đi tiên phong trong cuộc đấu
tranh. Các cuộc bãi công diễn ra trong hai tháng rưỡi, chỉ tính riêng năm 1919 đã
1.663 cuộc bãi công với hơn 1 triệu người tham gia. Cuộc đấu tranh của công nhân
Italia đạt đỉnh điểm vào năm 1920, khi chuyển từ các cuộc bãi công sang phong
trào chiếm công xưởng. Sau khi chiếm được các nhà máy, họ đã tái tổ chức quản lí sản
xuất phân phối, thành lập các “đội cận vệ đỏ” để bảo vệ nghiệp. Công nhân còn
nắm giữ các hội đồng thị chính ở một số thành phố.
Trong điều kiện phong trào cách mạng của công nhân đang phát triển, Đảng hội17
và các lãnh tụ công đoàn đã thi hành chính sách thỏa hiệp với giai cấp thống trị về việc
nhượng bộ một số quyền lợi đối với giai cấp công nhân. Cũng từ đó, phong trào đấu
tranh của công nhân bắt đầu lắng xuống sau khi giai cấp thống trị cam kết nhượng bộ.
Tuy nhiên, những người phái tả (chiếm thiểu số trong Đảng hội) đã phản kháng
trước hành động thỏa hiệp này của ban lãnh đạo Đảng đoạn tuyệt với Đảng. Những
người này đã tập hợp lại tổ chức Đại hội đại biểu của mình, đứng đầu Antonio
17 Đảng hội Ý (tiếng Ý: Partito Sociala Italiano, PSI) một đảng chính trị hội dân chủ dân chủ -
hội chủ nghĩa ở Ý, được thành lập vào năm 1892
Gramsci18. Cũng tại Đại hội này, Đảng Cộng sản Italia đã được thành lập. Sự kiện19
này đã mở ra một bước ngoặt mới trong lịch sử phong trào công nhân Italia.
Khủng hoảng kinh tế chính trị do hậu quả của chiến tranh để lại đã tạo thời cho
các thế lực phản động cực đoan ngóc đầu dậy tăng cường hoạt động. Ngày
7/11/1919, Benito Mussolini cùng một số phần tử phản động đã tập hợp lập ra20
Đảng Phát xít Quốc gia Italia với mục đích giành chính quyền, thiết lập chế độ độc21
tài để đàn áp phong trào cách mạng. Đảng này ra sức tuyên truyền những cương lĩnh
mị dân, lừa bịp, kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi trong nhân dân. Đây cũng chính
là khởi đầu cho một nền chính trị độc tài, khát máu của chính quyền mới, một màn đen
bao trùm toàn Italia kể từ đây.
3.
Nhật Bản
a. Giai đoạn 1918 - 1923
Cũng như Italia, Nhật Bản thuộc về phe Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất
nước thu được nhiều lợi thứ hai sau Mĩ. Lợi dụng sự suy giảm khả năng kinh tế
của các nước tư bản châu Âu trong chiến tranh, Nhật Bản đã tăng cường hoạt động sản
18 Antonio Francesco Gramsci (22/1/1891 27/4/1937) một triết gia, nhà báo, nhà ngôn ngữ học, nhà văn
chính trị gia theo chủ nghĩa Mác người Ý.
19 Đảng Cộng sản Ý (tiếng Ý: Partito Comunista Italiano, PCI) là một đảng chính trị xã hội cộng sản dân chủ
Ý. được thành lập Livorno với cách là Đảng Cộng sản Ý vào ngày 21 /1/1921, khi tách khỏi Đảng
Xã hội Ý (PSI).
20 Benito Amilcare Andrea Mussolini (29/7/1883 28/4/1945) một nhà độc tài nhà báo người Ý, người
sáng lập lãnh đạo Đảng Phát xít Quốc gia (PNF). Ông Thủ tướng Ý từ cuộc diễu hành Rome vào năm
1922 cho đến khi bị phế truất vào năm 1943.
21 Đảng Phát xít Quốc gia (tiếng Ý: Partito Nazionale Fascista, PNF) một đảng chính trị Ý, do Benito
Mussolini thành lập như một biểu hiện chính trị của chủ nghĩa phát xít Ý một sự tái tổ chức của Fasces of
Combat trước đây của Ý.
Nhà độc tài Benito Mussolini Đám đông người ủng hộ Đảng Quốc gia Italy diễu hành
ở Milan hồi tháng 11/1928
xuất xuất khẩu. Nhờ những đơn đặt hàng quân sự, sản xuất công nghiệp của Nhật
tăng trưởng rất nhanh. Nhiều công ti mới đã ra đời, những công ti hiện đều tập
trung mở rộng quy sản xuất. Hàng hóa của Nhật tràn ngập các thị trường châu Á
(Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia). Nhật trở thành chủ sự của các đồng minh châu Âu.
Tuy nhiên, trái ngược với sự phát triển rực rỡ của nền công nghiệp, nền nông nghiệp
Nhật Bản vẫn bị các tàn phong kiến đè nặng. Nền kinh tế nông nghiệp vẫn còn lạc
hậu, sa sút nghiêm trọng. Giá thực phẩm, nhất giá gạo tăng làm đời sống người lao
động đã cực khổ lại càng lao đao hơn và từ đó, những phong trào đấu tranh đã dấy lên
mạnh mẽ. Những cuộc đấu tranh đó đã diễn ra dưới hình thức của những cuộc bạo
động lúa gạo” của những người dân nghèo phá kho thóc để lấy lương thực, tập kích và
đốt phá nhà cửa của bọn nhà giàu. Bên cạnh đó, phong trào bãi công của công nhân
cũng những bước phát triển rệt dần xuất hiện những tổ chức công đoàn thực
sự tính chiến đấu quyền lợi của giai cấp mình. Đến năm 1920 - 1921, Nhật Bản
lâm vào khủng hoảng. Nền kinh tế đang phát triển thì bất ngờ tụt dốc, nhiều công ti bị
thua lỗ, nhiều nhà kinh doanh bị phá sản, mất trắng. Số công nhân thất nghiệp lên đến
12 vạn người. Những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đã phát triển từ những
cuộc bãi công sang những cuộc chiến chống chính phủ. Trên sở s phát triển của
phong trào công nhân, tháng 7/1922 Đảng Cộng sản Nhật Bản được thành lập.22
Còn về phía chủ nghĩa đế quốc Nhật lại gặp phải những khó khăn do các cuộc đấu
tranh của công nhân trong nướccủa các dân tộc thuộc địabên ngoài, cùng với đó
sự chèn ép của các đế quốc khác. Giới tài phiệt Nhật Bản lúc bấy giờ đứng đầu
trong giới i phiệt toàn thế giới, bành trướng thế lực kinh tế ra bên ngoài lãnh thổ
điều giới này thực hiện để cố gắng ổn định tình hình kinh tế trong nước. đã
nhân nhượng Hội nghị Washington nhưng vẫn cố gắng phát triển kinh tế, khai
thác vùng Mãn Châu và tiếp tục nhòm ngó thị trường Trung Quốc rộng lớn, màu mỡ.23
b. Giai đoạn 1924 - 1929
22 Đảng Cộng sản Nhật Bản là một đảng cộng sản Nhật Bản. Được thành lập vào năm 1922, đây là đảng chính
trị lâu đời nhất trong lịch sử Nhật Bản
23 một khu vực Đông Bắc Á bao gồm toàn bộ vùng Đông Bắc Trung Quốc ngày nay hoặc, về mặt lịch sử,
những khu vực đó kết hợp với một phần của Viễn Đông Nga (Mãn Châu Nga)
Khác với các nước bản Tây Âu Mĩ, nền kinh tế Nhật Bản thời này chỉ tạm
thời bấpnh. Đến năm 1926, sản lượng công nghiệp mới phục hồi trở lại vượt
mức trước chiến tranh, phát triển mạnh về công nghiệp nặng, nhất công nghiệp
chiến tranh. Nhưng chưa đầy một năm sau đó, vào mùa xuân năm 1927, cuộc khủng
hoảng tài chính lại bùng nổ ở Thủ đô Tokyo làm 30 ngân hàng phá sản. Nguyên nhân
do sự mất cân đối giữa các ngành công nghiệp giữa công nghiệp tiên tiến với
nông nghiệp lạc hậu. Từ một nước có sức sản xuất xuất khẩu tăng rất nhanh trong
chiến tranh, giờ đây Nhật Bản phải nhập khẩu quá mức do khan hiếm nguồn nguyên
liệu và nhiên liệu. Bên cạnh đó, do vấp phải sự cạnh tranh với Mĩ và các nước Tây Âu
nên nền công nghiệp chủ yếu dựa vào xuất khẩu của Nhật Bản ngày càng gặp khó
khăn. Hậu quả là sản xuất trong nước bị suy giảm, số người thất nghiệp lên đến 1 triệu
người vào năm 1928. Nông dân bị bần cùng hóa, sức mua của người dân suy giảm làm
cho thị trường trong nước ngày càng bị thu hẹp.
Về mặt đối nội, tháng 6/1924, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện một số cải cách n
chủ nhằm ổn định chế độ bản chủ nghĩa (như ban hành luật bầu cử phổ thông cho
nam giới, cắt giảm ngân sách quốc phòng,...), đồng thời ban hành luật cho phép
quan pháp phạt khổ sai, chung thân đối với những người chống lại chế độ Thiên
hoàng. Về mặt đối ngoại, Nhật Bản chủ trương giảm bớt căng thẳng với các cường
quốc khác bằng việc với Liên Xô bản thỏa ước nhằm giải quyết các tranh chấp hòa
bình rút khỏi miền Bắc đảo Sakhalin . Đối với Trung Quốc, Nhật thi hành chính24
sách mềm dẻo hòng xoa dịu cuộc đấu tranh của nhân dân cố gắng thâm nhập dần
vào thị trường nước này bằng kinh tế.
Đến cuối thập niên 20, Chính phủ của tướng Tanaka - một phần tử của quân phiệt -25
đã thực hiện chính sách đối nội đối ngoại hiếu chiến. Chính phủ Tanaka chủ trương
dùng lực để bành trướng ra bên ngoài nhằm giải quyết khó khăn trong nước, hay
nói cách khác quân sự hóa đất nước để thực hiện chiến tranh xâm lược. Năm 1927,
Tanaka vạch ra kế hoạch chiến tranh toàn cầu và trình lên Thiên hoàng dưới hình thức
một bản . Năm 1927, Tanaka đưa quân chiếm đóng Sơn Đông (Trung “Tấu thỉnh đệ” 26
24 Sakhalin một hòn đảo dài Đông Bắc Á, nằm cách bờ biển phía đông nam Khabarovsk Krai của Nga chỉ
6,5 km và cách Hokkaido của Nhật Bản 40 km về phía bắc.
25 Nam tước Tanaka Giichi (22/6/1864 – 29/9/1929) là một vị tướng trong Quân đội Đế quốc Nhật Bản, chính trị
gia, bộ trưởng nội các và Thủ tướng Nhật Bản từ năm 1927 đến 1929.
26 Một tỉnh ven biển phía Đông Trung Quốc
Quốc) nhưng lại vướng phải phong trào phản kháng bằng hình thức tẩy chay hàng hóa
Nhật đang nổ ra trên khắp lãnh thổ Trung Quốc nên đành phải rút quân. Hai năm sau
đó, vào năm 1929, Tanaka phái quân xâm lược Sơn Đông lần thứ hai nhưng lại thất bại
vì phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân Trung Quốcsự phản đối đến từ Mĩ,
Anh. Không lâu sau đó, Chính phủ Tanaka buộc phải từ chức đã không giải quyết
được những khó khăn của Nhật Bản, không làm thỏa mãn giới quân phiệt cũng như tài
phiệt. Một chính phủ mới được thành lập do Hamaguchi đứng đầu nhưng không27
được bao lâu thì vướng phải cuộc Đại khủng hoảng kinh tế.
c. Giai đoạn 1929 - 1933
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1927 Nhật Bản một “mồi lửa đang âm cháy”
cho đến m 1929, sự sụp đổ của thị trường chứng khoán như một “ngọn gió thổi
ngang” mở đầu cho một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng chưa từng thấy trong
lịch sử Nhật Bản. Khủng hoảng xảy ra trầm trọng nhất trong nông nghiệp, nông
nghiệp Nhật hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường ngoài nước. Xuất khẩu sống trước
đây chiếm gần 45% số hàng xuất cảng của Nhật, nay sụt xuống tới 84%. Mậu dịch đối
ngoại năm 1930 so với 1925 giảm 30%, năm 1931 so với năm 1930 giảm 20% và năm
1933 lại càng gay gắt. Thị trường xuất khẩu của Nhật bị thu hẹp tới mức chưa từng có.
Sản xuất công nghiệp cũng bị suy giảm nhanh chóng, năm 1930 sản lượng gang giảm
xuống 30%, thép giảm 47%. Thị trường trong nước cũng không mấy khả quan sự
bần cùng hóa của nhân dân lao động. Cuộc khủng hoảng đạt đến đỉnh điểm vào năm
1931, đã gây ra những hậu quả hội tai hại: nông dân phá sản, mất mùa đói kém,
số công nhân thất nghiệp lên đến 3 triệu người vào cuối năm 1931. Mâu thuẫn hội
ngày càng gay gắt. Năm 1931 ước tính gần 1.000 cuộc bãi công của tầng lớp công
nhân viên chức. Trong khi nền kinh tế Nhật đang lâm vào tình trạng khủng hoảng
nghiêm trọng thì các thế lực phong kiến đã nắm quyền kiểm soát các tổ hợp tài chính
(gọi Zaibatsu ) đẩy mạnh quá trình tập trung sản xuất. Đây điểm khác biệt28
giữa quá trình tập trung của Nhật các nước bản chủ nghĩa khác. Đối với các
Zaibatsu, khủng hoảng kinh tế hội để họ giàu thêm mở rộng hơn nữa sự độc
quyền.
27 Hamaguchi Osachi (1/4/187026/8/1931) chính trị gia người Nhật, bộ trưởng nội các Thủ tướng Nhật
Bản từ 2/7/1929 đến 14/4/1931
28 Zaibatsu là một từ tiếng Nhật dùng để chỉ các tập đoàn kinh doanh tài chính và công nghiệp ở Đế quốc Nhật
Trong khi đó, giới tài phiệt Nhật Bản vẫn đang lăm le thị trường Trung Quốc khao
khát được độc chiếm nó, đặc biệt là vùng Đông Bắc Trung Quốc, nơi tập trung 77% số
vốn của Nhật Bản. Ngày 18/9/1931, Nhật tạo ra sự kiện “Đường sắt Nam Mãn Châu”29
lấy cớ đó để đánh chiếm Đông Bắc Trung Quốc, biến vùng này thành thuộc địa
bàn đạp của những cuộc phiêu lưu quân sự mới.
TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Chương I đã trình bày cho chúng ta hiểu hơn về bối cảnh thế giới sau Chiến tranh
thế giới thứ nhất nói chung ba nước Đức, Italia, Nhật Bản nói riêng. Nhìn chung,
Đức Italia đều gặp nhiều khó khăn về mặt kinh tế tài chính, còn Nhật Bản thì
không bị ảnh hưởng nhiều, nền kinh tế quân sự nhiều chuyển biến tích cực
nhưng mất cân đối bấp bênh. Điểm chung của cả ba nước này đều bị ảnh hưởng
bởi hậu quả của chiến tranh Cách mạng tháng Mười Nga nên phong trào đấu tranh
của giai cấp công nhân trong nước hầu như diễn ra thường xuyên mang tính chất
quyết liệt để lật đổ chính quyền sản đang thống trị, từ đó làm cho nền chính trị của
cả ba nước này mất ổn định trầm trọng. Bên cạnh đó là Cuộc Đại khủng hoảng kinh tế
từ năm 1929 đến năm 1933 đã giáng một đòn nặng nề vào nền kinh tế của cả ba nước
này, vốn đã không ổn định nay lại càng nghiêm trọng và sâu sắc hơn. Chương I tiền
đề, sở để xây dựng triển khai chương II, về quá trình phát xít hóa sự liên kết
giữa ba nước này, từ đó hình thành nên phe Trục - một thế lực phản động, hiếu chiến
và nguy hiểm nhất trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai.
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHE TRỤC (ROME -
BERLIN - TOKYO)
I. Quá trình phát xít hóa của ba nước phe Trục
Như đã nói chương I, để thoát khỏi cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 -
1933 và khắc phục tình trạng chính trị không ổn định trong nước, các nước tư bản tiên
29 Đường sắt Nam Mãn Châu một công ty lớn của Đế quốc Nhật Bản quản tuyến đường sắt Đại Liên-
Phụng Thiên-Tân Kinh ở Mãn Châu, hoạt động từ năm 1931 đến 1945.

Preview text:

LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa bộ môn Lịch sử Quan hệ
Quốc tế vào chương trình giảng dạy để em có cơ hội tiếp thu những kiến thức quý giá.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các giảng viên phụ trách bộ môn
này - PGS.TS. Trần Nam Tiến và TS. Nguyễn Tuấn Khanh, những người đã truyền đạt
cho em kiến thức bằng tất cả tâm huyết của mình. Thời gian học bộ môn của các Thầy
là khoảng thời gian tuyệt vời vì em không chỉ được học lý thuyết mà còn nắm bắt được
những kinh nghiệm thực tế hữu ích. Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức quý báu, là
hành trang giúp em có thể vững bước sau này.
Bộ môn Lịch sử Quan hệ Quốc tế là một môn học thú vị, không chỉ bổ ích mà
còn có tính thực tế cao, đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn
của sinh viên. Mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng do vốn kiến thức còn nhiều hạn
chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ, nên chắc chắn bài tiểu luận khó có
thể tránh có những thiếu sót, kính mong các Thầy xem xét và góp ý để bài tiểu luận
của em được hoàn thiện hơn.
Lời cuối, em xin gửi lời chúc sức khỏe đến các Thầy, chúc các Thầy luôn hạnh
phúc trong cuộc sống và thành công trên con đường giảng dạy của mình. Em xin chân thành cảm ơn! MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...............................................................................................................2
GIẢI THÍCH MỘT SỐ THUẬT NGỮ..........................................................................1
NỘI DUNG...................................................................................................................2
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC SAU CHIẾN TRANH
THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914 - 1918).......................................................................2
I. Bối cảnh thế giới..............................................................................................2
II. Bối cảnh trong nước.........................................................................................7
TIỂU KẾT CHƯƠNG I............................................................................................17
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHE TRỤC (ROME - BERLIN -
TOKYO)..................................................................................................................18
I. Quá trình phát xít hóa của ba nước phe Trục..................................................18
II. Quá trình hình thành phe Trục (Rome - Berlin - Tokyo)................................26
TIỂU KẾT CHƯƠNG II..........................................................................................35
TỔNG KẾT.................................................................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................38 LỜI MỞ ĐẦU
Khi bàn về liên minh, chúng ta sẽ nghĩ ngay đến việc các quốc gia hoặc các thế lực
liên kết, tập hợp lại với nhau. Các bên tham gia liên minh có cùng một mục tiêu chung
nào đó và giữa các chủ thể này bình đẳng về mặt quyền lợi cũng như quyền lực. Nói
một cách cụ thể và chính xác hơn, “liên minh là sự cam kết chính thức giữa các quốc
gia nhằm phối hợp hay tương trợ lẫn nhau để đối phó với các vấn đề an ninh, chống
lại các mối đe dọa chung”1. Mục tiêu lớn nhất của các liên minh này là làm sao tập
hợp các nguồn lực và phối hợp các nguồn lực ấy một cách hiệu quả nhất để nâng cao
vị thế của bản thân trong hệ thống quốc tế, đồng thời nâng cao sức mạnh chung so với
các quốc gia khác không tham gia vào liên minh. Sự liên minh, cho dù là mục đích gì
đi chăng nữa, cũng ảnh hưởng một phần đến trật tự thế giới. Sự ảnh hưởng này có thể
là tích cực, nó góp phần đoàn kết giữa các quốc gia để xây dựng thế giới ngày càng tốt
đẹp hơn, hay cũng có thể là tiêu cực, đó là những liên minh vì mục đích xấu xa, sẵn
sàng bất chấp tất cả để giành lấy quyền bá chủ thế giới và quyền làm chủ nhân loại để phục tùng họ.
Trong các liên minh đã từng tồn tại trong lịch sử, liên minh phe Trục (hay còn gọi là
“Trục Rome - Berlin - Tokyo”) là một trong những liên minh bị xếp vào loại “cần phải
tiêu diệt ngay tận gốc”. Lí do là bởi vì những mục đích xấu xa trong phương hướng
hoạt động của liên minh này và được thế giới dự báo “nếu không tiêu diệt tận gốc sẽ
mang đến một cuộc chiến thảm khốc”, hậu quả là đã dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới
lần hai (1939 - 1945). Thông qua bài tiểu luận “Quá trình hình thành phe Trục (Berlin
- Roma - Tokyo)”, ta sẽ có cái nhìn tổng quát hơn về bối cảnh, quá trình, mục đích
hình thành phe Trục, về các quốc gia trong phe Trục và mối quan hệ giữa các chủ thể
này, từ đó giúp ta hiểu hơn nguyên nhân trực tiếp dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai.
1 Liên minh (Alliance). nghiencuuquocte.org
GIẢI THÍCH MỘT SỐ THUẬT NGỮ
Phe Trục hay Khối Trục (Axis powers): liên minh quân sự giữa Đức Quốc xã, Phát
xít Ý và Quân phiệt Nhật Bản được thành lập chính thức vào năm 1940, thông qua nỗ
lực ngoại giao của ba nước này nhằm chống lại lực lượng Đồng Minh trong Chiến
tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945).
Chủ nghĩa phát xít (Fascism): ý thức hệ chính trị và phong trào quần chúng đã thống
trị nhiều vùng ở miền Trung, miền Nam và miền Đông châu Âu từ năm 1919 đến năm
1945 và một số ít người ủng hộ ở Tây Âu, Hoa Kỳ, Nam Phi, Nhật Bản, Mỹ Latinh và
Trung Đông. Mặc dù mỗi nước có đảng và chế độ phát xít khác nhau, nhưng chúng có
nhiều đặc điểm chung, bao gồm chủ nghĩa dân tộc quân phiệt cực đoan, coi thường
bầu cử dân chủ và chủ nghĩa tự do chính trị và văn hóa, niềm tin vào hệ thống phân
cấp xã hội tự nhiên và quy tắc của giới tinh hoa, mong muốn tạo ra một
Volksgemeinschaft2, trong đó lợi ích cá nhân sẽ phụ thuộc vào lợi ích của quốc gia.
Chủ nghĩa quân phiệt (Militarism): là niềm tin của một quốc gia (hoặc chính phủ)
trong việc duy trì và phát triển lực lượng quân sự (quân đội, vũ khí,...) để giành quyền
lực và đạt được mục tiêu của mình. Nói cách khác, chủ nghĩa quân phiệt đề cao vai trò
của quân sự đối với một quốc gia, nó như bộ mặt đại diện cho quốc gia, quân sự càng
phát triển thì nước đó càng mạnh.
2 Từ này xuất phát từ tiếng Đức có nghĩa là “people’s community” (“cộng đồng của người dân”) NỘI DUNG
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC SAU
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914 - 1918) I.
Bối cảnh thế giới
Sau 4 năm dài thế giới chìm trong đêm tối của súng đạn, bom nổ, ngày 11/11/1918, tại
toa tàu hỏa cá nhân của Thống chế Ferdinand Foch ở rừng 3 Compiegne (Pháp), Đức ký
hiệp định đầu hàng không điều kiện. Vào lúc 11 giờ cùng ngày, 101 phát súng đại bác
đã được bắn, báo hiệu kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Anh, Pháp và Đức trong buổi kí hiệp
Hình ảnh tờ báo đưa tin thế chiến 1 kết thúc vào
định đầu hàng, ngày 11/11/1918 ngày 11/11/1918.
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, tại Versailles (ngoại vi thủ đô Pari của
Pháp), các nước thắng trận đã tổ chức Hội nghị Hòa bình để phân chia lại thế giới và
thiết lập một trật tự thế giới mới, hòa bình và an ninh mới sau chiến tranh. Hội nghị
khai mạc từ ngày 18/1/1919 và kéo dài suốt một năm sau đó, kết thúc vào ngày
21/1/1920. Tham gia Hội nghị gồm đại biểu của 27 nước thắng trận mà nắm quyền
quyết định Hội nghị là ba cường quốc Mĩ, Anh, Pháp. Hội nghị được tiến hành trong
bối cảnh thế giới có nhiều chuyển biến to lớn. Thứ nhất là cuộc Cách mạng tháng
Mười Nga 1917 thành công, đánh dấu sự ra đời của một nước xã hội chủ nghĩa, chủ
nghĩa tư bản không còn là một hệ thống duy nhất trên thế giới. Điều này góp phần thúc
đẩy mạnh mẽ sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới, đe dọa đến sự tồn tại
của chủ nghĩa tư bản. Thứ hai, bên cạnh sự ảnh hưởng của cuộc Cách mạng tháng
Mười Nga thành công là hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất, một cao trào cách
mạng đã bùng nổ và phát triển mạnh mẽ ở các nước tư bản lẫn các nước thuộc địa, phụ
thuộc vào những năm 1918 - 1923. Thứ ba, cuộc chiến đã tàn phá nghiêm trọng các
3 Ferdinand Foch (2/10/1851 – 20/3/1929) là một tướng lĩnh và nhà lý luận quân sự người Pháp, từng giữ chức
vụ Tư lệnh tối cao của quân Đồng minh trong Thế chiến thứ nhất.
nước tham chiến ở châu Âu và thay đổi căn bản tương quan lực lượng giữa các nước
tư bản: từ các nước bại trận như Đức, Áo - Hung, Thổ Nhĩ Kỳ đến các nước thắng trận
Anh, Pháp, Italia, Nhật Bản đều bị suy sụp nghiêm trọng, riêng nước Mĩ tham chiến
muộn và thu được nguồn lợi khổng lồ (khoảng 24 tỉ đôla) từ việc bán vũ khí nên đã
vươn lên trở thành nước dẫn đầu về kinh tế, tài chính và quân sự, vì thế trong Hội nghị
Versailles, Mĩ là nước có tiếng nói quan trọng nhất và là chủ nợ của các nước châu Âu.
Từ những chuyển biến đó, Hội nghị đã họp bàn và ký kết với nhau Hòa ước Versailles.
Trong số các nội dung được thông qua trong Hòa ước có hai nội dung quan trọng là
đưa ra các điều khoản cho việc trừng phạt Đức và các đồng minh của Đức, đồng thời
thông qua quyết định thành lập Hội Quốc liên - một tổ chức quốc tế có chức năng bảo
đảm trật tự thế giới sau chiến tranh. Bên cạnh đó, trong suốt quá trình diễn ra Hội nghị,
các nước thắng trận đã thương thuyết, thỏa thuận với nhau và soạn thảo ra 5 hòa ước
để ký kết với 5 nước bại trận: Đức, Áo, Hungary, Bulgaria, Thổ Nhĩ Kỳ. Ba nội dung
quan trọng trên đã hợp thành Hệ thống Hòa ước Versailles và dần dần trở thành hệ
thống quan hệ quốc tế mới thường được gọi là Hệ thống Versailles hoặc Trật tự Versailles.
Quang cảnh buổi kí Hòa ước Versailles năm 1919 Trang đầu của Hòa ước Versailles, bản tiếng Anh
Năm 1939, một biểu tượng bán chính thức của Hội
Quốc Liên xuất hiện: hai sao năm cánh trong một
hình ngũ giác màu lam. Chúng tượng trưng cho năm
lục địa của Trái Đất và năm "chủng tộc". Một dòng
chữ phía trên hiển thị tên tiếng Anh ("League of
Nations"), dòng chữ khác ở phía dưới hiển thị tên
tiếng Pháp ("Société des Nations").
Tuy nhiên, cả hai phe chiến thắng lẫn chiến bại đều không thỏa mãn với những điều đã
được ký kết trong Hệ thống Hòa ước Versailles. Hòa ước này không những không đảm
bảo được hòa bình cho các dân tộc mà trái lại còn làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn
của chủ nghĩa đế quốc. Mĩ nhân cơ hội này đã ra sức củng cố quyền lực của mình trên
thế giới. Tháng 11/1921, Mĩ triệu tập tám nước bao gồm Anh, Pháp, Italia, Bỉ, Hà Lan,
Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Trung Quốc họp tại Hội nghị Washington. Hội nghị được tổ
chức để thảo luận và quyết định tỉ lệ hải quân giữa các cường quốc, đồng thời là các
vấn đề ở Thái Bình Dương và Viễn Đông. Tại hội nghị này, một số văn kiện quan
trọng đã được ký kết: Hiệp ước 4 nước, Hiệp ước 9 nước và Hiệp ước 5 nước. Với hệ
thống hòa ước Washington, Mĩ hoàn toàn có lợi thế về mọi mặt. Đây có thể là một
khuôn khổ mới do Mĩ tạo ra. Trong khuôn khổ mới này, nó một mặt phủ nhận khuôn
khổ cũ của hệ thống hòa ước Versailles, làm cho nó mất đi tác dụng thực tiễn, mặt
khác lại bổ sung vào khuôn khổ cũ này để hình thành nên một khuôn khổ mới, đầy đủ
và hoàn chỉnh hơn (theo quan điểm của Mĩ) về việc tổ chức lại thế giới sau chiến
tranh. Đó là hệ thống Versailles - Washington.
Sự thay đổi bản đồ chính trị châu Âu theo hệ thống Versailles - Washington
Trong những năm 1924 - 1929, nhìn chung các cường quốc tư bản chủ nghĩa đã khắc
phục được phần nào những khủng hoảng sau chiến tranh, khôi phục nền kinh tế và trên
cơ sở đó, chính quyền của giai cấp tư sản được định hình lại, các nước này bước vào
giai đoạn ổn định. Về kinh tế, nhiều nước tư bản bước sang giai đoạn phát triển phồn
vinh; nhiều công ty tư bản độc quyền xuất hiện với quy mô khổng lồ, vượt hơn những
gì đã có trước năm 1914. Nhưng sự ổn định này diễn ra không đều và cũng không kéo
dài được lâu. Sự ổn định của các nước tư bản chủ nghĩa châu Âu phần nhiều là phụ
thuộc vào vốn đầu tư của Mĩ. Đây cũng là thời kì chuyển đổi trung tâm kinh tế - tài
chính của thế giới tư bản chủ nghĩa từ châu Âu sang Mĩ. Về xã hội, các lãnh tụ cánh
hữu của Đảng Xã hội dân chủ tăng cường tuyên truyền về chủ nghĩa xã hội trong hòa
bình bằng cách hợp tác với giai cấp tư sản mà không cần những cuộc cách mạng. Các
Đảng này ngày càng lôi kéo thêm nhiều người tham gia và ủng hộ, song cuộc đấu
tranh giai cấp vẫn diễn ra ở nhiều nước, tiêu biểu là cuộc bãi công năm 1926 ở nước
Anh đã lôi cuốn hàng triệu công nhân tham gia. Sự ổn định trong những năm 1924 -
1929 không những không loại bỏ được những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản chủ
nghĩa mà còn không khắc phục được những nhược điểm vốn có của nền kinh tế tư bản
chủ nghĩa. Từ đó đã dẫn đến cuộc đại khủng hoảng kinh tế ở nước Mĩ vào cuối năm
1929 và nhanh chóng lan ra toàn bộ thế giới, chấm dứt thời kì phồn vinh, thăng bằng và ổn định ấy.
● Đại khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 (The Great Depression)
Ngày 24/10/1929, tại Sở Giao dịch chứng khoán phố Wall (New York, Mĩ), 13 triệu
cổ phiếu được tung ra thị trường với giá sụt giảm đột ngột, chỉ bằng 2/3 giá trị thực.
Chỉ trong một ngày, hàng nghìn người sở hữu cổ phiếu bị trắng tay. Ngày này trong
lịch sử nước Mĩ gọi là “Ngày thứ Năm đen tối” (“Black Thursday”). Sự kiện này đánh
dấu bước khởi đầu cho cuộc Đại khủng hoảng kinh tế sâu sắc không chỉ diễn ra ở nước
Mĩ mà nó còn lan ra toàn bộ thế giới tư bản, kéo dài tới đầu năm 1933. Khủng hoảng
diễn ra trên tất cả các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, tài chính và
đưa đến giảm sút mạnh mậu dịch thế giới. Nguyên nhân dẫn đến cuộc Đại khủng
hoảng này là do trong thời kỳ ổn định từ năm 1924 - 1929, các nhà máy của chủ nghĩa
tư bản có sức sản xuất vượt trội, sản lượng tăng lên gấp bội, sản phẩm liên tục được
cung cấp cho thị trường, nhưng nhu cầu và sức mua của quần chúng nhân dân lại
không có sự tăng lên tương ứng làm cho giá của hàng hóa ngày càng giảm, rồi dẫn đến
tình trạng ế thừa, sản xuất suy thoái nghiêm trọng. Bên cạnh đó là nạn lạm phát ngày
càng tăng, tiền được in ra như giấy, hoàn toàn mất giá trị. Cuộc Đại khủng hoảng diễn
ra hầu khắp các nước tư bản chủ nghĩa nhưng với mức độ, quy mô và thời gian ít nhiều
có sự khác nhau. Mĩ là nước đầu tiên bị khủng hoảng và là nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.
Đám dông tụ tập tại ngã tư Phố Wall và
Công nhân thất nghiệp đứng xếp hàng bên
Phố Broad sau vụ sụp đổ thị trường chứng
ngoài một cửa hàng súp gà ở Chicago để khoán năm 1929 nhận đồ ăn miễn phí
Không những tàn phá nền kinh tế, cuộc Đại khủng hoảng còn gây ra những hậu quả
nặng nề về mặt chính trị và xã hội. Hàng nghìn nhà máy, công xưởng bị phá sản và
đóng cửa. Hơn 50 triệu công nhân thất nghiệp, số khác thì không được trả lương.
Nhiều người trở nên vô gia cư vì không trả được tiền cầm cố. Nông dân ở nhiều nơi bị
mất hết ruộng đất, sống trong cảnh nghèo đói. Ở nhiều nước, các gia đình nghèo khổ
không được đáp ứng các nhu cầu tối thiểu vì không có bảo hiểm xã hội và thất nghiệp
thì không được phụ cấp. Trong bối cảnh đó, nhiều cuộc biểu tình và bãi công đã diễn
ra khắp nơi trên thế giới bởi những người công nhân thất nghiệp, gây nên những cuộc
xung đột và đàn áp với cảnh sát và quân đội; bãi công đấu tranh chống giảm tiền lương
đã nổ ra ở hầu hết các nước. Theo thống kê không đầy đủ, trong thời gian từ năm 1928
đến cuối năm 1933, số người tham gia bãi công ở các nước tư bản chủ nghĩa đã lên tới
17 triệu, còn số ngày bãi công là 267 triệu.
Để thoát khỏi cuộc Đại khủng hoảng này, nhiều nước tư bản đã chọn cho mình những
con đường riêng biệt, phù hợp với tình cảnh đất nước lúc đó, nhưng vô hình trung lại
tạo thành hai phe đối lập nhau về mục đích và cách thức. Các nước Anh, Pháp, Mĩ tiến
hành những cải cách kinh tế - xã hội để khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng,
tăng cường vai trò của Nhà nước và Nhà nước kết hợp chặt chẽ với các công ty lũng
đoạn trong việc chi phối toàn bộ đời sống kinh tế đất nước. Các nước Đức, Italia, Nhật
Bản lại tìm kiếm lối thoát cho mình bằng những hình thức thống trị mới. Đó là việc
thiết lập các chế độ độc tài phát xít - nền chuyên chính khủng bố công khai của những
thế lực phản động nhất, hiếu chiến nhất. Và từ đây, lời cảnh báo về những cuộc chạy
đua vũ trang ráo riết đã báo hiệu nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới. II.
Bối cảnh trong nước 1. Đức
a. Giai đoạn 1918 - 1923
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Đức là nước bại trận hoàn toàn, lâm vào tình trạng
kiệt quệ về kinh tế, chính trị và quân sự. Mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt.
Từ ngày 3/11/1918, các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra trên khắp nước Đức từ với lực lượng
chủ yếu là giai cấp công nhân và tầng lớp tiểu tư sản. Quần chúng nhân dân đã lật đổ
các chính phủ phản động, thành lập chính quyền Xô viết đại biểu công nhân và binh
lính, đập tan sự kháng cự của bọn sĩ quan quân đội trung thành với chính phủ, chiếm
được thành phố. Vua Đức Wilhelm
II4 buộc phải thoái vị, nền quân chủ sụp đổ. Một
chính phủ lâm thời mới lên nắm chính quyền, chủ yếu là những người xã hội chủ
nghĩa ôn hòa. Chính phủ này đề ra một số cải cách tiến bộ mà không đụng chạm đến
cơ sở của chế độ tư bản. Vì vậy, một phe khác - gồm những người xã hội chủ nghĩa
cực đoan - thuộc phe Spartacus 5(một phái tả của Đảng Xã hội dân chủ được tách ra
trong thời kì Chiến tranh thế giới thứ nhất) đã quyết định thành lập Đảng Cộng sản
Đức6, đặt ra nhiệm vụ lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản và địa chủ, thiết lập nền chuyên chính vô sản.
Ngày 5/1/1919, những người ủng hộ phe Spartacus đã tham gia biểu tình ở Berlin.
Chính phủ đã tập trung lực lượng vũ trang để đàn áp cuộc cách mạng vô sản này. Cuộc
khởi nghĩa đã nhanh chóng bị đàn áp. Hai lãnh tụ của Đảng Cộng sản Đức - Karl
Liebknecht7 và Rosa Luxemburg 8đã bị bắt và tử hình. Sau khi đàn áp thành công cuộc
4 Friedrich Wilhelm Viktor Abert von Hohenzollern, Wilhelm II của Phổ và Đức, (27/1/1859 – 4/6/1941) là vị
Hoàng đế (Kaiser) cuối cùng của Đế quốc Đức, đồng thời cũng là vị Quốc vương cuối cùng của Vương quốc
Phổ, trị vì từ năm 1888 cho đến năm 1918
5 Liên đoàn Spartacus (tiếng Đức: Spartakusbund) là một phong trào cách mạng Marxist được tổ chức ở Đức
trong Thế chiến thứ nhất
6 Đảng Cộng sản Đức (tiếng Đức: Kommunistische Partei Deutschlands) là một đảng chính trị cực tả lớn ở Cộng
hòa Weimar trong thời kỳ giữa chiến tranh, một phong trào phản kháng ngầm ở Đức Quốc xã và một đảng nhỏ ở
Tây Đức trong thời kỳ hậu chiến cho đến khi nó bị Tòa án Hiến pháp Liên bang cấm vào năm 1956.
7 Karl Paul August Friedrich Liebknecht (8/13/1871 – 15/1/1919) là một nhà xã hội chủ nghĩa và chống quân phiệt người Đức.
8 Rosa Luxemburg (3/5/1871 – 15/1/1919) là một nhà xã hội chủ nghĩa cách mạng người Ba Lan và nhập tịch
Đức, người theo chủ nghĩa Mác chính thống và nhà hoạt động phản chiến.
khởi nghĩa của những người vô sản Berlin, chính phủ đã nhanh chóng chuẩn bị và tiến
hành cuộc bầu cử Quốc hội. Ngày 6/2/1919, Quốc hội đã họp tại thị xã tỉnh Weimar.
Đến ngày 31/7/1919, Hiến pháp đã được thông qua, đặt cơ sở pháp lí cho sự ra đời của
chế độ cộng hòa tư sản ở Đức - thường được gọi là nền Cộng hòa Weimar . 9
Ngày 28/6/1919, Chính phủ Đức đã kí Hòa ước Versailles, đồng nghĩa với việc Đức
chấp nhận thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và phải bồi thường thiệt hại cho
các nước Đồng minh. Theo Hòa ước, Đức phải chuyển giao cho Pháp hai tỉnh Alsace -
Lorraine; cho Bỉ vùng Aipen và Manmơđi; cho Ba Lan vùng Poznań, Đông Phổ và
một phần vùng Thượng Silesia, trả lại cho Lithuania vùng Memel, cho Đan Mạch
vùng Bắc Slezvig. Quân đội Đức bị buộc phải giảm còn dưới 100.000 người, bị cấm
sản xuất pháo hạng nặng, xe tăng, máy bay quân sự, tàu ngầm. Ngoài ra, Đức còn phải
từ bỏ tất cả các thuộc địa của mình cho các nước thắng trận. Nước Đức mất đi 1/8 diện
tích đất đai, 1/12 dân số, 1/3 mỏ sắt, 1/3 mỏ than, 2/5 sản lượng gang, 1/3 sản lượng
thép và một khoản bồi thường chiến phí khổng lồ lên đến 132 tỷ mác. Nước Đức lâm
vào cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính tồi tệ chưa từng thấy. Đồng mác sụt giá
nghiêm trọng: năm 1914, 1 đô la Mĩ tương đương 4,2 mác, đến tháng 9/1923: 1 đô la
Mĩ tương đương 98 860 000 mác. Tình hình chính trị ngày càng lâm nguy, chính phủ
rối loạn vì phải đổi người quá nhiều lần, nước Đức trở nên loạn lạc hơn bao giờ hết.
Không dừng lại ở đó, ngày 12/1/1923, viện cớ Đức chậm trễ trong việc bồi thường
chiến phí, Pháp và Bỉ đã đem quân chiếm đóng hạt Ruhr . Nơi đây 10 sản xuất 90% than,
70% gang cho toàn nước Đức. Điều này gây ra một thảm họa lớn cho nền kinh tế Đức,
nhà máy khắp nơi đóng cửa, số công nhân thất nghiệp lên đến 5 triệu người, giá sinh
hoạt tăng vọt, đồng mác xuống đến giá thấp nhất trong lịch sử nước Đức. Trong bối
cảnh đó, phong trào bãi công của công nhân diễn ra ở nhiều nơi. Cuộc khởi nghĩa vũ
trang của công nhân Hamburg tháng 10-1923 là âm hưởng cuối cùng của bão táp cách
mạng vô sản ở Đức trong những năm 1918 - 1923.
9 Cộng hòa Weimar, tên chính thức là Đế chế Đức, là một giai đoạn lịch sử của Đức từ ngày 9/11/1918 đến ngày
23/3/1933, đây là một nước cộng hòa liên bang lập hiến lần đầu tiên trong lịch sử ở thời điểm đó.
10 Ruhr, còn gọi là vùng Ruhr, đôi khi là huyện Ruhr, vùng Ruhr hoặc thung lũng Ruhr, là một khu đô thị đa
trung tâm ở Bắc Rhine-Westphalia, Đức.
Lạm phát ở Đức đầu những năm 20 của thế kỷ XX – Trẻ em làm diều bằng những đồng mác mất giá, từng tờ
mác được cột thành bó và chất thành từng đống lớn trong ngân hàng b. Giai đoạn 1924 - 1929
Từ cuối năm 1923, nhờ vào nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ, đầu tư của Mĩ và Anh
cùng với những chính sách giảm nhẹ bồi thường chiến tranh (kế hoạch Dawes11 năm 1924 và kế hoạch Young
12 năm 1929), Đức đã vượt qua cơn khủng hoảng kinh tế và
chính trị sau chiến tranh. Chính quyền tư sản Đức đã đẩy lùi được các phong trào cách
mạng của quần chúng nhân dân, khủng hoảng về mặt tài chính từng bước được khắc
phục, tạo đà cho nền kinh tế khôi phục và phát triển. Từ năm 1925, nền công nghiệp
của Đức phát triển mạnh. Đến năm 1927, giá trị xuất khẩu của Đức đã đạt được mức
trước chiến tranh. Năm 1929, tổng sản lượng công nghiệp của Đức đạt 113% mức
trước chiến tranh, vượt qua Anh, Pháp, đứng đầu châu Âu. Trên cơ sở nền kinh tế hồi
phục, tình hình chính trị của Đức cũng được củng cố một cách tích cực cả về phương
diện đối nội và đối ngoại.
Về đối ngoại, tháng 10/1925, Đức kí Hiệp ước Locarno với các nước tư bản châu Âu
và được Mĩ tán thành. Theo hiệp ước này, Đức, Bỉ và Pháp cùng cam kết không vi
phạm biên giới phía tây đã được quy định trong Hòa ước Versailles. Năm 1926, Đức
tham gia vào Hội Quốc liên, địa vị quốc tế của Đức lại được nâng lên một bước mới.
Bên cạnh đó, trong hai năm 1925 và 1926, Đức kí thêm hai hiệp ước nữa với Liên Xô.
Đến đây, nước Đức đã dần khẳng định được sức mạnh của mình để tự xây dựng một
đường lối đối ngoại độc lập hơn và xúc tiến âm mưu chống lại sự ràng buộc của hệ
thống Versailles. Về đối nội, chế độ Cộng hòa Weimar được củng cố. Nhờ vào chính
11 Kế hoạch Dawes (theo đề xuất của Ủy ban Dawes, do Charles G. Dawes chủ trì) là một kế hoạch vào năm
1924 đã giải quyết thành công vấn đề bồi thường Thế chiến thứ nhất mà Đức phải trả.
12 Kế hoạch Young là một chương trình giải quyết các khoản bồi thường trong Thế chiến thứ nhất của Đức. Nó
được trình bày bởi ủy ban, đứng đầu là nhà công nghiệp người Mỹ Owen D. Young, người sáng lập và cựu chủ
tịch của Radio Corporation of America (RCA), người vào thời điểm đó là thành viên hội đồng quản trị của Rockefeller Foundation.
sách hợp tác giai cấp của Đảng Xã hội dân chủ, các chính đảng và các tổ chức của giai
cấp tư sản lấy lại vị trí đã mất của mình. Quá trình hợp tác hóa sản xuất tư bản chủ
nghĩa cũng làm cho quyền lực của giới tư bản, đặc biệt là tư bản độc quyền, được củng
cố và tăng cường. Năm 1925, Ebert 13 chết, Hindenburg
14 - ứng cử viên cánh hữu được
bầu làm tổng thống nước Cộng hòa Weimar. Chính phủ mới ban hành một số chính
sách về thuế, đồng thời tăng cường đàn áp phong trào đấu tranh của giai cấp công
nhân, xóa bỏ những thành tựu mà họ đã đạt được trong cuộc Cách mạng tháng 11 năm 1918.
c. Giai đoạn 1929 - 1933
Cuộc Đại khủng hoảng 1929 đã giáng một đòn nặng nề vào nền kinh tế Đức. Năm
1930, mức sản xuất công nghiệp của Đức giảm sút 8.4% so với năm 1929. Đến năm
1932, sản xuất công nghiệp giảm 47% so với trước khủng hoảng. Tổng giá trị xuất
khẩu không quá 5,7 tỉ mác (năm 1929 là 13,5 tỉ mác). Hàng nghìn nhà máy, xí nghiệp
phải đóng cửa. Số người thất nghiệp lên đến 9 triệu người ở thời điểm năm 1932. Bên
cạnh đó là mâu thuẫn xã hội và cuộc đấu tranh của quần chúng lao động đã dẫn tới
cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng. Giai cấp tư sản cầm quyền không đủ sức mạnh
để duy trì chế độ cộng hòa tư sản, đưa đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng đó.
Nhân cơ hội này, những thế lực phản động, hiếu chiến ngày càng mở rộng ảnh hưởng.
Một trong những chính đảng phản động nhất của chủ nghĩa đế quốc Đức là Đảng Công nhân quốc gia xã hội
15 (gọi tắt là Đảng Quốc xã). Đảng này ra đời từ tháng 1/1919. Adolf Hitler - 16
lúc bấy giờ là một Thượng sĩ - gia nhập đảng này từ tháng 9/1939; đến
tháng 1/1920 được cử phụ trách công tác tuyên truyền. Tháng 7/1920, Hitler được bầu
làm Chủ tịch của Đảng này. Đảng này đã đưa ra cương lĩnh hết sức mị dân và lừa bịp
hòng mở rộng tầm ảnh hưởng của nó trong quần chúng. Sau một thời gian phát triển
ổn định, bọn tư bản lũng đoạn Đức công khai ủng hộ cho Đảng Quốc xã, giới cầm
quyền Đức cũng dung túng cho những hành động của chúng. Vì vậy trong thời kì này,
13 Friedrich Ebert (4/2/1871 – 28/2/1925) là một chính trị gia người Đức của Đảng Dân chủ Xã hội Đức (SPD)
và là tổng thống đầu tiên của Đức từ năm 1919 đến năm 1925.
14 Paul Ludwig Hans Anton von Beneckendorff und von Hindenburg (2/10/1847 – 2/8/1934) là một nguyên soái
và chính khách người Đức, người lãnh đạo Quân đội Đế quốc Đức trong Thế chiến I. Sau đó, ông trở thành Tổng
thống Đức từ năm 1925 cho đến khi qua đời.
15 Đảng Công nhân Quốc gia Xã hội chủ nghĩa Đức (tiếng Đức: Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei -
NSDAP), thường được gọi là Đảng Quốc Xã trong tiếng Việt, là đảng cầm quyền Đức trong thời kỳ Đức Quốc
Xã, đứng đầu bởi Adolf Hitler.
16 Adolf Hitler (20/4/1889 – 30/4/1945) là một chính khách người Đức, nhà độc tài của Đức từ năm 1933 cho
đến khi qua đời vào năm 1945
Đảng Quốc xã tăng cường mở rộng các hoạt động của mình, công khai lên tiếng đòi
xét lại biên giới nước Đức, công khai chống lại trật tự thế giới theo hệ thống Versailles
- Washington, ra sức đầu độc chủ nghĩa sô vanh và thù ghét người Do Thái trong quần chúng nhân dân.
Chân dung Quốc trưởng Đức Quốc xã –
Lá cờ của Đức Quốc xã có biểu tượng Adolf Hitler vào năm 1938 hình chữ vạn (Swastika)
Trong khi giới đại tư bản, địa chủ quý tộc và
giới quân nhân ngày càng ủng hộ bọn phát xít
phản động thì các lực lượng cách mạng và dân chủ cũng mở rộng ảnh hưởng của mình
trong hàng ngũ những người lao động và kêu gọi nhân dân tăng cường đấu tranh
chống nguy cơ phát xít. Đảng Cộng sản Đức lần lượt cho ra những bản Cương lĩnh của
mình, uy tín của Đảng ngày càng được nâng cao và thực tế tất cả những cuộc đấu tranh
lớn trong những năm khủng hoảng đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đảng Cộng sản đã
kêu gọi quần chúng đấu tranh để thành lập Mặt trận thống nhất chống chủ nghĩa phát
xít. Tuy nhiên, Đảng Xã hội dân chủ vẫn có ảnh hưởng lớn nhất trong quần chúng lao
động vì có gần 400.000 đảng viên tham gia trong các bộ máy hành chính của trung
ương và địa phương. Đảng này không chịu hợp tác với Đảng Cộng sản nên khiến cho
đội ngũ giai cấp công nhân Đức bị chia rẽ trầm trọng. Nước Đức đứng trước sự đối
đầu quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng. Điều này đã tạo điều kiện cho các
thế lực phát xít lên cầm quyền. Xu hướng thành lập một chính quyền “mạnh”, một nền
chuyên chính dân tộc chủ nghĩa cực đoan, đã trở thành nhu cầu cấp thiết của giới quân
phiệt và tài phiệt ở Đức. 2. Italia * Giai đoạn 1918 - 1920
Italia là nước thuộc phe Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Cuộc chiến
tranh này đã làm cho đất nước bị kiệt quệ về mọi mặt, cả về vật chất và tài chính: thiệt
hại ước tính lên đến 65 tỉ lia vàng, gần 60% tàu buôn bị hủy hoại, 63,5 vạn người thiệt
mạng và gần 50 vạn người bị thương. Nguồn nguyên nhiên liệu sản xuất công nghiệp
bị dốc cạn, việc xuất khẩu hàng hóa bị giảm sút. Quy mô của ngành công nghiệp quân
sự cũng bị thu hẹp lại sau khi chiến tranh kết thúc. Hàng vạn công nhân rơi vào cảnh
thất nghiệp. Nông nghiệp cũng rơi vào tình trạng khó khăn (diện tích đất trồng trọt bị
thu hẹp 10%) do nhân lực đã bị điều ra chiến trường. Hậu quả mà chiến tranh để lại đã
làm cho nước này lâm vào khủng hoảng kinh tế sâu sắc, đời sống vật chất của nhân
dân lao động không được đáp ứng đầy đủ, giảm sút nghiêm trọng.
Do hậu quả của chiến tranh và ảnh hưởng từ cuộc Cách mạng tháng Mười Nga, cùng
với việc chính quyền Italia bị thất bại nhục nhã trong cuộc vận động ngoại giao ở Hội
nghị Versailles, một phong trào đấu tranh cách mạng đã nổ ra trên khắp cả nước nhằm
chống lại chính quyền thống trị bất lực và thối nát. Công nhân luyện kim ở các trung
tâm công nghiệp như Milano, Torino, Roma, Genoa đã đi tiên phong trong cuộc đấu
tranh. Các cuộc bãi công diễn ra trong hai tháng rưỡi, chỉ tính riêng năm 1919 đã có
1.663 cuộc bãi công với hơn 1 triệu người tham gia. Cuộc đấu tranh của công nhân
Italia đạt đỉnh điểm vào năm 1920, khi nó chuyển từ các cuộc bãi công sang phong
trào chiếm công xưởng. Sau khi chiếm được các nhà máy, họ đã tái tổ chức quản lí sản
xuất và phân phối, thành lập các “đội cận vệ đỏ” để bảo vệ xí nghiệp. Công nhân còn
nắm giữ các hội đồng thị chính ở một số thành phố.
Trong điều kiện phong trào cách mạng của công nhân đang phát triển, Đảng Xã hội17
và các lãnh tụ công đoàn đã thi hành chính sách thỏa hiệp với giai cấp thống trị về việc
nhượng bộ một số quyền lợi đối với giai cấp công nhân. Cũng từ đó, phong trào đấu
tranh của công nhân bắt đầu lắng xuống sau khi giai cấp thống trị cam kết nhượng bộ.
Tuy nhiên, những người phái tả (chiếm thiểu số trong Đảng Xã hội) đã phản kháng
trước hành động thỏa hiệp này của ban lãnh đạo Đảng và đoạn tuyệt với Đảng. Những
người này đã tập hợp lại và tổ chức Đại hội đại biểu của mình, đứng đầu là Antonio
17 Đảng Xã hội Ý (tiếng Ý: Partito Sociala Italiano, PSI) là một đảng chính trị xã hội – dân chủ và dân chủ - xã
hội chủ nghĩa ở Ý, được thành lập vào năm 1892
Gramsci18. Cũng tại Đại hội này, Đảng Cộng sản Italia
19 đã được thành lập. Sự kiện
này đã mở ra một bước ngoặt mới trong lịch sử phong trào công nhân Italia.
Khủng hoảng kinh tế và chính trị do hậu quả của chiến tranh để lại đã tạo thời cơ cho
các thế lực phản động cực đoan ngóc đầu dậy và tăng cường hoạt động. Ngày
7/11/1919, Benito Mussolini20 cùng một số phần tử phản động đã tập hợp và lập ra
Đảng Phát xít Quốc gia Italia
21 với mục đích giành chính quyền, thiết lập chế độ độc
tài để đàn áp phong trào cách mạng. Đảng này ra sức tuyên truyền những cương lĩnh
mị dân, lừa bịp, kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi trong nhân dân. Đây cũng chính
là khởi đầu cho một nền chính trị độc tài, khát máu của chính quyền mới, một màn đen
bao trùm toàn Italia kể từ đây. 3. Nhật Bản
Nhà độc tài Benito Mussolini
Đám đông người ủng hộ Đảng Quốc gia Italy diễu hành ở Milan hồi tháng 11/1928 a. Giai đoạn 1918 - 1923
Cũng như Italia, Nhật Bản thuộc về phe Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất
và là nước thu được nhiều lợi thứ hai sau Mĩ. Lợi dụng sự suy giảm khả năng kinh tế
của các nước tư bản châu Âu trong chiến tranh, Nhật Bản đã tăng cường hoạt động sản
18 Antonio Francesco Gramsci (22/1/1891 – 27/4/1937) là một triết gia, nhà báo, nhà ngôn ngữ học, nhà văn và
chính trị gia theo chủ nghĩa Mác người Ý.
19 Đảng Cộng sản Ý (tiếng Ý: Partito Comunista Italiano, PCI) là một đảng chính trị xã hội cộng sản và dân chủ
ở Ý. Nó được thành lập ở Livorno với tư cách là Đảng Cộng sản Ý vào ngày 21 /1/1921, khi nó tách khỏi Đảng Xã hội Ý (PSI).
20 Benito Amilcare Andrea Mussolini (29/7/1883 – 28/4/1945) là một nhà độc tài và nhà báo người Ý, người
sáng lập và lãnh đạo Đảng Phát xít Quốc gia (PNF). Ông là Thủ tướng Ý từ cuộc diễu hành ở Rome vào năm
1922 cho đến khi bị phế truất vào năm 1943.
21 Đảng Phát xít Quốc gia (tiếng Ý: Partito Nazionale Fascista, PNF) là một đảng chính trị ở Ý, do Benito
Mussolini thành lập như một biểu hiện chính trị của chủ nghĩa phát xít Ý và là một sự tái tổ chức của Fasces of
Combat trước đây của Ý.
xuất và xuất khẩu. Nhờ những đơn đặt hàng quân sự, sản xuất công nghiệp của Nhật
tăng trưởng rất nhanh. Nhiều công ti mới đã ra đời, những công ti hiện có đều tập
trung mở rộng quy mô sản xuất. Hàng hóa của Nhật tràn ngập các thị trường châu Á
(Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia). Nhật trở thành chủ sự của các đồng minh châu Âu.
Tuy nhiên, trái ngược với sự phát triển rực rỡ của nền công nghiệp, nền nông nghiệp
Nhật Bản vẫn bị các tàn dư phong kiến đè nặng. Nền kinh tế nông nghiệp vẫn còn lạc
hậu, sa sút nghiêm trọng. Giá thực phẩm, nhất là giá gạo tăng làm đời sống người lao
động đã cực khổ lại càng lao đao hơn và từ đó, những phong trào đấu tranh đã dấy lên
mạnh mẽ. Những cuộc đấu tranh đó đã diễn ra dưới hình thức của những cuộc “bạo
động lúa gạo” của những người dân nghèo phá kho thóc để lấy lương thực, tập kích và
đốt phá nhà cửa của bọn nhà giàu. Bên cạnh đó, phong trào bãi công của công nhân
cũng có những bước phát triển rõ rệt và dần xuất hiện những tổ chức công đoàn thực
sự có tính chiến đấu vì quyền lợi của giai cấp mình. Đến năm 1920 - 1921, Nhật Bản
lâm vào khủng hoảng. Nền kinh tế đang phát triển thì bất ngờ tụt dốc, nhiều công ti bị
thua lỗ, nhiều nhà kinh doanh bị phá sản, mất trắng. Số công nhân thất nghiệp lên đến
12 vạn người. Những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đã phát triển từ những
cuộc bãi công sang những cuộc chiến chống chính phủ. Trên cơ sở sự phát triển của
phong trào công nhân, tháng 7/1922 Đảng Cộng sản Nhật Bản được thành lập. 22
Còn về phía chủ nghĩa đế quốc Nhật lại gặp phải những khó khăn do các cuộc đấu
tranh của công nhân trong nước và của các dân tộc thuộc địa ở bên ngoài, cùng với đó
là sự chèn ép của các đế quốc khác. Giới tài phiệt Nhật Bản lúc bấy giờ đứng đầu
trong giới tài phiệt toàn thế giới, bành trướng thế lực kinh tế ra bên ngoài lãnh thổ là
điều mà giới này thực hiện để cố gắng ổn định tình hình kinh tế trong nước. Dù đã
nhân nhượng Mĩ ở Hội nghị Washington nhưng vẫn cố gắng phát triển kinh tế, khai
thác vùng Mãn Châu và tiếp tục nhòm ngó thị trường Trung Quốc rộng lớn, màu mỡ. 23
b. Giai đoạn 1924 - 1929
22 Đảng Cộng sản Nhật Bản là một đảng cộng sản ở Nhật Bản. Được thành lập vào năm 1922, đây là đảng chính
trị lâu đời nhất trong lịch sử Nhật Bản
23 Là một khu vực ở Đông Bắc Á bao gồm toàn bộ vùng Đông Bắc Trung Quốc ngày nay hoặc, về mặt lịch sử,
những khu vực đó kết hợp với một phần của Viễn Đông Nga (Mãn Châu Nga)
Khác với các nước tư bản Tây Âu và Mĩ, nền kinh tế Nhật Bản thời kì này chỉ là tạm
thời và bấp bênh. Đến năm 1926, sản lượng công nghiệp mới phục hồi trở lại và vượt
mức trước chiến tranh, phát triển mạnh về công nghiệp nặng, nhất là công nghiệp
chiến tranh. Nhưng chưa đầy một năm sau đó, vào mùa xuân năm 1927, cuộc khủng
hoảng tài chính lại bùng nổ ở Thủ đô Tokyo làm 30 ngân hàng phá sản. Nguyên nhân
là do sự mất cân đối giữa các ngành công nghiệp và giữa công nghiệp tiên tiến với
nông nghiệp lạc hậu. Từ một nước có sức sản xuất và xuất khẩu tăng rất nhanh trong
chiến tranh, giờ đây Nhật Bản phải nhập khẩu quá mức do khan hiếm nguồn nguyên
liệu và nhiên liệu. Bên cạnh đó, do vấp phải sự cạnh tranh với Mĩ và các nước Tây Âu
nên nền công nghiệp chủ yếu dựa vào xuất khẩu của Nhật Bản ngày càng gặp khó
khăn. Hậu quả là sản xuất trong nước bị suy giảm, số người thất nghiệp lên đến 1 triệu
người vào năm 1928. Nông dân bị bần cùng hóa, sức mua của người dân suy giảm làm
cho thị trường trong nước ngày càng bị thu hẹp.
Về mặt đối nội, tháng 6/1924, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện một số cải cách dân
chủ nhằm ổn định chế độ tư bản chủ nghĩa (như ban hành luật bầu cử phổ thông cho
nam giới, cắt giảm ngân sách quốc phòng,...), đồng thời ban hành luật cho phép cơ
quan tư pháp phạt khổ sai, tù chung thân đối với những người chống lại chế độ Thiên
hoàng. Về mặt đối ngoại, Nhật Bản chủ trương giảm bớt căng thẳng với các cường
quốc khác bằng việc kí với Liên Xô bản thỏa ước nhằm giải quyết các tranh chấp hòa
bình và rút khỏi miền Bắc đảo Sakhalin .
24 Đối với Trung Quốc, Nhật thi hành chính
sách mềm dẻo hòng xoa dịu cuộc đấu tranh của nhân dân và cố gắng thâm nhập dần
vào thị trường nước này bằng kinh tế.
Đến cuối thập niên 20, Chính phủ của tướng Tanaka
25 - một phần tử của quân phiệt -
đã thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại hiếu chiến. Chính phủ Tanaka chủ trương
dùng vũ lực để bành trướng ra bên ngoài nhằm giải quyết khó khăn trong nước, hay
nói cách khác là quân sự hóa đất nước để thực hiện chiến tranh xâm lược. Năm 1927,
Tanaka vạch ra kế hoạch chiến tranh toàn cầu và trình lên Thiên hoàng dưới hình thức
một bản “Tấu thỉnh đệ”. Năm 1927, Tanaka đưa quân chiếm đóng Sơn Đông 26 (Trung
24 Sakhalin là một hòn đảo dài ở Đông Bắc Á, nằm cách bờ biển phía đông nam Khabarovsk Krai của Nga chỉ
6,5 km và cách Hokkaido của Nhật Bản 40 km về phía bắc.
25 Nam tước Tanaka Giichi (22/6/1864 – 29/9/1929) là một vị tướng trong Quân đội Đế quốc Nhật Bản, chính trị
gia, bộ trưởng nội các và Thủ tướng Nhật Bản từ năm 1927 đến 1929.
26 Một tỉnh ven biển phía Đông Trung Quốc
Quốc) nhưng lại vướng phải phong trào phản kháng bằng hình thức tẩy chay hàng hóa
Nhật đang nổ ra trên khắp lãnh thổ Trung Quốc nên đành phải rút quân. Hai năm sau
đó, vào năm 1929, Tanaka phái quân xâm lược Sơn Đông lần thứ hai nhưng lại thất bại
vì phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân Trung Quốc và sự phản đối đến từ Mĩ,
Anh. Không lâu sau đó, Chính phủ Tanaka buộc phải từ chức vì đã không giải quyết
được những khó khăn của Nhật Bản, không làm thỏa mãn giới quân phiệt cũng như tài
phiệt. Một chính phủ mới được thành lập do Hamaguchi
27 đứng đầu nhưng không
được bao lâu thì vướng phải cuộc Đại khủng hoảng kinh tế.
c. Giai đoạn 1929 - 1933
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1927 ở Nhật Bản là một “mồi lửa đang âm ỉ cháy”
cho đến năm 1929, sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mĩ như một “ngọn gió thổi
ngang” mở đầu cho một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng chưa từng thấy trong
lịch sử Nhật Bản. Khủng hoảng xảy ra trầm trọng nhất trong nông nghiệp, vì nông
nghiệp Nhật hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường ngoài nước. Xuất khẩu tơ sống trước
đây chiếm gần 45% số hàng xuất cảng của Nhật, nay sụt xuống tới 84%. Mậu dịch đối
ngoại năm 1930 so với 1925 giảm 30%, năm 1931 so với năm 1930 giảm 20% và năm
1933 lại càng gay gắt. Thị trường xuất khẩu của Nhật bị thu hẹp tới mức chưa từng có.
Sản xuất công nghiệp cũng bị suy giảm nhanh chóng, năm 1930 sản lượng gang giảm
xuống 30%, thép giảm 47%. Thị trường trong nước cũng không mấy khả quan vì sự
bần cùng hóa của nhân dân lao động. Cuộc khủng hoảng đạt đến đỉnh điểm vào năm
1931, đã gây ra những hậu quả xã hội tai hại: nông dân phá sản, mất mùa và đói kém,
số công nhân thất nghiệp lên đến 3 triệu người vào cuối năm 1931. Mâu thuẫn xã hội
ngày càng gay gắt. Năm 1931 ước tính có gần 1.000 cuộc bãi công của tầng lớp công
nhân viên chức. Trong khi nền kinh tế Nhật đang lâm vào tình trạng khủng hoảng
nghiêm trọng thì các thế lực phong kiến đã nắm quyền kiểm soát các tổ hợp tài chính
(gọi là Zaibatsu28) và đẩy mạnh quá trình tập trung sản xuất. Đây là điểm khác biệt
giữa quá trình tập trung của Nhật và các nước tư bản chủ nghĩa khác. Đối với các
Zaibatsu, khủng hoảng kinh tế là cơ hội để họ giàu thêm và mở rộng hơn nữa sự độc quyền.
27 Hamaguchi Osachi (1/4/1870 – 26/8/1931) là chính trị gia người Nhật, bộ trưởng nội các và Thủ tướng Nhật
Bản từ 2/7/1929 đến 14/4/1931
28 Zaibatsu là một từ tiếng Nhật dùng để chỉ các tập đoàn kinh doanh tài chính và công nghiệp ở Đế quốc Nhật
Trong khi đó, giới tài phiệt Nhật Bản vẫn đang lăm le thị trường Trung Quốc và khao
khát được độc chiếm nó, đặc biệt là vùng Đông Bắc Trung Quốc, nơi tập trung 77% số
vốn của Nhật Bản. Ngày 18/9/1931, Nhật tạo ra sự kiện “Đường sắt Nam Mãn Châu”29
và lấy cớ đó để đánh chiếm Đông Bắc Trung Quốc, biến vùng này thành thuộc địa và
bàn đạp của những cuộc phiêu lưu quân sự mới. TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Chương I đã trình bày cho chúng ta hiểu rõ hơn về bối cảnh thế giới sau Chiến tranh
thế giới thứ nhất nói chung và ba nước Đức, Italia, Nhật Bản nói riêng. Nhìn chung,
Đức và Italia đều gặp nhiều khó khăn về mặt kinh tế và tài chính, còn Nhật Bản thì
không bị ảnh hưởng nhiều, nền kinh tế và quân sự có nhiều chuyển biến tích cực
nhưng mất cân đối và bấp bênh. Điểm chung của cả ba nước này là đều bị ảnh hưởng
bởi hậu quả của chiến tranh và Cách mạng tháng Mười Nga nên phong trào đấu tranh
của giai cấp công nhân trong nước hầu như diễn ra thường xuyên và mang tính chất
quyết liệt để lật đổ chính quyền tư sản đang thống trị, từ đó làm cho nền chính trị của
cả ba nước này mất ổn định trầm trọng. Bên cạnh đó là Cuộc Đại khủng hoảng kinh tế
từ năm 1929 đến năm 1933 đã giáng một đòn nặng nề vào nền kinh tế của cả ba nước
này, vốn đã không ổn định nay lại càng nghiêm trọng và sâu sắc hơn. Chương I là tiền
đề, cơ sở để xây dựng và triển khai chương II, về quá trình phát xít hóa và sự liên kết
giữa ba nước này, từ đó hình thành nên phe Trục - một thế lực phản động, hiếu chiến
và nguy hiểm nhất trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai.
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHE TRỤC (ROME - BERLIN - TOKYO) I.
Quá trình phát xít hóa của ba nước phe Trục
Như đã nói ở chương I, để thoát khỏi cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 -
1933 và khắc phục tình trạng chính trị không ổn định trong nước, các nước tư bản tiên
29 Đường sắt Nam Mãn Châu là một công ty lớn của Đế quốc Nhật Bản quản lý tuyến đường sắt Đại Liên-
Phụng Thiên-Tân Kinh ở Mãn Châu, hoạt động từ năm 1931 đến 1945.