Tiểu luận môn Chủ nghĩa xã hội khoa học đề tài "Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thắng lợi và thành công khi có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản của giai cấp công nhân"

Tiểu luận môn Chủ nghĩa xã hội khoa học đề tài "Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thắng lợi và thành công khi có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản của giai cấp công nhân" của Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp sinh viên tham khảo, ôn luyện và phục vụ nhu cầu học tập của mình cụ thể là có định hướng ôn tập, nắm vững kiến thức môn học và làm bài tốt trong những bài kiểm tra, bài tiểu luận, bài tập kết thúc học phần, từ đó học tập tốt và có kết quả cao cũng như có thể vận dụng tốt những kiến thức mình đã học vào thực tiễn cuộc sống. Mời bạn đọc đón xem!

 

Thông tin:
24 trang 1 năm trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Tiểu luận môn Chủ nghĩa xã hội khoa học đề tài "Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thắng lợi và thành công khi có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản của giai cấp công nhân"

Tiểu luận môn Chủ nghĩa xã hội khoa học đề tài "Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thắng lợi và thành công khi có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản của giai cấp công nhân" của Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp sinh viên tham khảo, ôn luyện và phục vụ nhu cầu học tập của mình cụ thể là có định hướng ôn tập, nắm vững kiến thức môn học và làm bài tốt trong những bài kiểm tra, bài tiểu luận, bài tập kết thúc học phần, từ đó học tập tốt và có kết quả cao cũng như có thể vận dụng tốt những kiến thức mình đã học vào thực tiễn cuộc sống. Mời bạn đọc đón xem!

 

119 60 lượt tải Tải xuống
lOMoARcPSD|3 6443508
lOMoARcPSD|3 6443508
Mục lục
A. MỞ ĐẦU .....................................................................................................................
1
1. do chọn đề tài .................................................................................................
1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...........................................................................................
1
B. NỘI DUNG ..................................................................................................................
2
CHƯƠNG 1: ĐẢNG CỘNG SẢN ................................................................................... 4
1.1. Khái niệm Đảng Cộng sản...........................................................................4
1.2. Tính tất yếu ra đời Đảng Cộng sản ............................................................. 4
1.3. Vai trò của Đảng Cộng sản mối quan h giữa Đảng Cộng sản với giai cấp
công nhân .........................................................................................................5
CHƯƠNG 2: GIAI CẤP CÔNG NHÂN ...........................................................................
6 2.1. Khái niệm, đặc điểm của giai cấp công nhân...................................................8
2.2. Liên hệ đến giai cấp công nhân Việt Nam................................................. 12
CHƯƠNG 4: CUỘC CÁCH MẠNG HỘI CHỦ NGHĨA CHỈ THỂ THẮNG LỢI
THÀNH CÔNG KHI CHỈ KHI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, CỦA GIAI
CẤP CÔNG NHÂN......12
C. KẾT LUẬN...................................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................20
A. MỞ ĐẦU
1. do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết trong mỗi thời chuyển biến cách mạng từ hình thái
kinh tế xã hội này sang nh thái kinh tế hội khác, cao hơn luôn một giai cấp
đứng vị trí trung tâm đóng vai trò động lực chủ yếu, là lãnh đạo quá trình chuyển
lOMoARcPSD|3 6443508
biến. Giai cấp này sứ mệnh lịch sử, thủ tiêu hội cũ, xây dựng hội mới, p
hợp với tiến trình khách quan của lịch sử. Cụ thể đây giai cấp công nhân đã lãnh
đạo quá trình chuyển biến từ hình thái kinh tế bản chủ nghĩa sang hội chủ nghĩa.
Trong nền đại công ngiệp, giai cấp công nhân đại diện cho phương thức sản xuất tiến
bộ cho xu hướng phát triển của phương thức sản xuất tương lai. trong các cuộc
đấu tranh, chừng nào chỉ khi nào giai cấp công nhân tự tổ chức ra chính đảng của
mình để lãnh đạo cuộc đấu tranh thì mới đảm bảo giành được thắng lợi trọn vẹn,
hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình. Nếu không có chính đảng nh đạo, giai
cấp công nhân chỉ thể đấu tranh tự phát, đấu tranh mục đích kinh tế, chứ không
phải cuộc đấu tranh tự giác, đấu tranh mục đích chính trị. Đảng Cộng sản chính
nhân tố quyết định hàng đầu đảm bảo cho giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh
lịch sử của mình, giành được thắng lợi ch mạng, tiến tới con đường chủ nghĩa
hội. Chính vậy, nhóm chúng em đã quyết định chọn đ tài: “Cuộc cách mạng hội
chủ nghĩa chỉ thể thắng lợi thành ng khi chỉ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản, của giai cấp công nhân. Tại sao? Liên hệ cách mạng Việt Nam” làm đề tài tiểu
luận của nhóm.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm giúp hiểu về Đảng Cộng sản giai cấp công nhân. Ngoài
ra còn mối quan hệ giữa Đảng cộng sản giai cấp công nhân. Từ đó liên hệ đến
giai cấp công nhân Việt Nam.
Cuối cùng làm khẳng định "CUỘC CÁCH MẠNG HỘI CHỦ NGHĨA CHỈ
THỂ THẮNG LỢI THÀNH CÔNG KHI CHỈ KHI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
CỘNG
SẢN CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN".
lOMoARcPSD|3 6443508
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: ĐẢNG CỘNG SẢN
1.1. Khái niệm Đảng Cộng sản
Đảng Cộng sản chính đảng của giai cấp công nhân, đội tiên phong, bộ
tham mưu chiến đấu, nh tụ chính tr của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành
cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của c dân tộc. Đảng
Cộng sản bao gồm những bộ phận tiên tiến của giai cấp công nhân các tầng lớp
nhân dân lao động. Đảng Cộng sản lấy chủ nghĩa c Lênin làm nền tảng tưởng
kim chỉ nam cho hành động, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ
chức bản của mình. Đảng Cộng sản mang bản chất giai cấp công nhân, không tách
rời với giai cấp công nhân, nhân dân lao động.
1.2. Tính tất yếu ra đời Đảng Cộng sản
Sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác o phong trào công nhân dẫn đến sự hình
thành chính đảng của giai cấp công nhân. V. I. Lênin chỉ ra rằng, Đảng Cộng sản sản
phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Nhưng trong mỗi
nước, sự kết hợp ấy sản phẩm của lịch sử lại được thực hiện bằng những con
đường đặc biệt, tùy theo điều kiện không gian thời gian. nhiều nước thuộc địa,
nửa thuộc địa thì Đảng Cộng sản ra đời kết quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác
Lênin với phong trào công nhân phong trào yêu nước.
Giai cấp công nhân đã ý thức được rằng đ đấu tranh giành chính quyền
xây dựng hội mới, họ không khí o quan trọng hơn tự mình t chức một
chính Đảng độc lập của mình để lãnh đạo giai cấp chống lại quyền lực liên hiệp của
giai cấp sản chỉ khi chính đảng của mình, giai cấp ng nhân mới th hành
động với cách một giai cấp được. Hình thức tổ chức cao nhất của giai cấp công
nhân chính Đảng Cộng sản. nin đã chỉ ra rằng Đảng cộng sản hình thành trên cơ
sở kết hợp giữa luận chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân. các nước
lOMoARcPSD|3 6443508
thuộc địa phụ thuộc, sự hình thành Đảng Cộng sản còn sự kết hợp giữa chủ
nghĩa c Lênin, phong trào công nhân phong trào yêu nước phong trào giải
phóng dân tộc.
Thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân các nước cho thấy rằng từ sau khi
Đảng Cộng Sản lãnh đạo, giai cấp công nhân phong trào công nhân đã chuyển
từ hình thức đấu tranh tự phát sang t giác trong mỗi hành động với tư cách một giai
cấp tiên tiến thực s cách mạng. Chỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, được
trang bị luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, gắn với phong trào đấu tranh của
giai cấp công nhân thì cuộc cách mạng của giai cấp công nhân thể đi đến thành
công cuối cùng giành lấy chính quyền từ tay giai cấp sản.
Sự thất bại của cách mạng Pháp 1848-1850 ng xã PARIS 1871 đã chứng
minh nếu như không có sự soi sáng của học thuyết cách mạng khoa học của Chủ
nghĩa Mác Lênin s dẫn dắt của một chính Đảng thật s cách mạng thì mọi cuộc
đấu tranh lật đ chính quyền để xây dựng một hội mới đều không vươn tới những
thắng lợi cuối ng. Chỉ đến cách mạng tháng Mười Nga m 1917, dưới s lãnh đạo
của Đảng Cộng sản, một Đảng theo học thuyết cách mạng khoa học của chủ nghĩa
MácLênin, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân mới giành được thắng lợi; từ đó
cách mạng hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ
từ chủ nghĩa bản lên ch nghĩa hội trên phạm vi toàn thế giới.
Đảng Cộng sản ra đời đánh dấu sự phát triển nhảy vọt của phong trào công
nhân t tự phát lên tự giác, cuộc đấu tranh lợi ích kinh tế trong giới hạn của ch
nghĩa bản cho phép chuyển sang cuộc đấu tranh chính trị nhằm lật đổ giai cấp
sản, xóa bỏ chủ nghĩa bản, xây dựng chủ nghĩa hội, chủ nghĩa cộng sản.
1.3. Vai trò của Đảng Cộng sản mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản với giai cấp công
nhân
Đảng Cộng sản nhân tố quyết định trước tiên trong việc thực hiện sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân.
lOMoARcPSD|3 6443508
Đảng cộng sản không những tổ chức chính tr cao nhất, đại biểu tập trung
cho trí tuệ và lợi ích của toàn thể giai cấp công nhân mà còn đại biểu cho toàn th
nhân dân lao động dân tộc. Chỉ khi nào một đảng chính trị vững vàng, kiên định
sáng suốt, đường lối chiến lược ch lược đúng đắn, thể hiện lợi ích của toàn
bộ giai cấp toàn bộ phong trào thì giai cấp công nhân mới thể hoàn thành sứ
mệnh lịch sử của mình. Như vậy, Đảng nhân tố có vai trò quyết định trong việc
thực hiện hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Vai trò đó thể hiện c mặt như: Đảng giác ngộ giai cấp công nhân và nhân
dân lao động bằng luận tiên phong của chủ nghĩa Mác Lênin và vận dụng lý luận
ấy vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước; Đảng đ ra cương lĩnh chính trị, vạch ra cho
giai cấp công nhân nhân dân lao động con đường đấu tranh cách mạng đúng đắn,
tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao giành chính quyền; khi giành được
chính quyền, Đảng lãnh đạo chính quyền toàn hội thực hiện đường lối của Đảng
đề ra để xây dựng hội mới.
Giữa Đảng giai cấp công nhân mối quan hệ hữu cơ không th tách rời.
Giai cấp công nhân cơ sở hội giai cấp của Đảng, nguồn bổ sung lực lượng
của Đảng. Ngược lại, Đảng là chính đảng của giai cấp công nhân, hình thành trên
quan điểm lập trường giai cấp ng nhân, đội tiên phong chiến đấu, bộ tham
mưu của giai cấp. Những đảng viên của Đảng Cộng sản thể không phải công
nhân nhưng phải người giác ngộ về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và
đứng trên lập trường của giai cấp này.
Sự sụp đổ chủ nghĩa hội các nước Đông Âu và Liên cho thấy bài học
kinh nghiệm u sắc rằng một khi Đảng Cộng sản xa rời lập trường giai cấp công nhân,
không tự đổi mới về trình độ luận chính trị, đội ngũ Đảng viên để lọt những phần
tử hội vào trong hàng ngũ của Đảng gây lũng đoạn làm cho bộ máy Đảng biến chất
thì sớm muộn Đảng ấy cũng sẽ để mất vai trò lãnh đạo cách mạng.Tuy nhiên, sự đổ
vỡ của Liên các nước Đông âu không nghĩa sự sụp đổ của học thuyết về
chủ nghĩa hội, không phải s sụp đổ của phong trào hội chủ nghĩa thế giới mà
lOMoARcPSD|3 6443508
nguyên nhân trực tiếp Đảng Cộng sản phạm những sai lầm nghiêm trọng về đường
lối chính trị, tưởng tổ chức, xa rời giai cấp, thiếu tỉnh o thanh lọc những phần
tử hội, nhất những phần tử hội về chính trị.
Từ những bài học trên cho thấy, để thể hiện giữ vững vai trò lãnh đạo của
mình trong việc tổ chức cho giai cấp công nhân thực hiện hoàn thành sứ mệnh lịch
sử, Đảng Cộng sản phải luôn luôn giữ vững lập trường giai cấp đồng thời phải thường
xuyên tự đổi mới đ vững mạnh về tưởng, chính trị và tổ chức, không ngừng tu
dưỡng, rèn luyện nâng cao ý chí cách mạng, lập trường giai cấp, nâng cao toàn diện
trình độ kiến thức, trình độ luận; kịp thời tổng kết kinh nghiệm đề ra thực tiễn sâu
sắc nhằm đề ra đường lối chiến lược ch lược đúng đắn, đồng thời phải y dựng,
chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao hiệu quả sức chiến đấu của Đảng.
lOMoARcPSD|3 6443508
CHƯƠNG 2: GIAI CẤP CÔNG NHÂN
2.1. Khái niệm, đặc điểm của giai cấp công nhân
2.1.1. Định nghĩa giai cấp công nhân quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin
Giai cấp công nhân con đ của một hoàn cảnh lịch s cụ thể ng với sự
phát triển của lịch sử, cũng luôn luôn phát triển với những biểu hiện đặc trưng
mới trong từng giai đoạn nhất định.
Sự phát triển của đại công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người
sản, mà n tập hợp họ lại thành một tập đoàn xã hội rộng lớn, thành giai cấp sản
hiện đại. Chính vậy, một kết luận rút ra , giai cấp công nhân hiện đại ra đời gắn
liền với s phát triển của đại công nghiệp, sản phẩm của bản thân nền đại công
nghiệp lớn lên cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp đó.
Trong hội bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân một trong những giai cấp
bản, chủ yếu, đối lập với giai cấp sản, giai cấp bị giai cấp sản tước đoạt hết
liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để sống, bị bóc lột giá trị
thặng dư. Họ những người được tự do về thân th quyền bán sức lao động
tùy theo cung cầu hàng hóa sức lao động. Đây giai cấp bị bóc lột nặng nề, bị bần
cùng hóa về vật chất lẫn tinh thần. Sự tồn tại của họ phụ thuộc quy luật cung cầu
hàng hóa sức lao động, phụ thuộc vào kết quả lao động của chính họ. Họ phải tạo ra
giá trị thặng dư, nhưng giá trị thặng lại bị giai cấp sản chiếm đoạt.
Dưới chủ nghĩa bản, C. Mác Ph. Ăngghen đã định nghĩa rằng, “Giai cấp
sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, mất hết liệu sản xuất của
bản thân, nên buộc bán sức lao động của mình đế sống”. Khi sử dụng khái niệm giai
cấp công nhân, C.Mác Ph.Ăngghen đã ng một số thuật ng khác nhau để biểu
đạt khái niệm đó, như: giai cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân
hiện đại, giai cấp công nhân đại ng nghiệp,... Mặc vậy, về bản những thuật
ngữ này trước hết đều biểu thị một khái niệm thống nhất, đó chỉ giai cấp công
lOMoARcPSD|3 6443508
nhân hiện đại, con đ của nền sản xuất đại công nghiệp bản chủ nghĩa, giai cấp đại
biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại.
Căn cứ vào các tiêu chí bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa giai cấp
công nhân n sau: “Giai cấp công nhân một tập đoàn hội ổn định, hình thành
phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại, với nhịp
độ phát triển của lực lượng sản xuất tính chất hội hóa ngày càng cao, lực
lượng lao động bản trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra
của cải vật chất cải tạo c quan hệ hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất
phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại ngày nay.”
2.1.2. Đặc điểm của giai cấp công nhân
giai cấp công nhân bao gồm những công nhân làm những ng việc khác
nhau như thế nào đi nữa, thì theo C. Mác Ph. Ăngghen, họ vẫn chỉ hai tiêu chí
bản để xác định, phân biệt với các giai cấp, tầng lớp hội khác:
Một là, v phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó những người
lao động trong nền sản xuất công nghiệp. thể họ người lao động trực tiếp hay
gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại
hội hóa cao. Đã công nhân hiện đại thì phải gắn với nền đại công nghiệp, bởi
sản phẩm của nền đại công nghiệp. Giai cấp ng nhân hiện đại hạt nhân,
bộ phận bản của mọi tầng lớp công nhân.
Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất của giai cấp công nhân, chúng ta phải
xem xét trong hai trường hợp sau:
- Dưới chế độ bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân nhữngngười
sản hiện đại, không liệu sản xuất, nên buộc phải làm thuê, n sức lao động
cho nhà bản bị toàn th giai cấp sản bóc lột. Tức là giá trị thặng giai
cấp ng nhân tạo ra bị nhà bản chiếm đoạt. Chính căn cứ vào tiêu chí này mà
những người công nhân dưới chủ nghĩa bản được gọi giai cấp sản.
lOMoARcPSD|3 6443508
- Sau cách mạng sản thành công, giai cấp ng nhân trởthành giai cấp
cầm quyền. không còn vào địa vị b áp bức, bị bóc lột nữa, tr thành giai cấp
thống trị, lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo hội cũ, xây dựng hội mới hội
hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân cùng với toàn thể nhân dân lao động làm chủ
những tư liệu sản xuất chủ yếu đã công hữu hóa. Như vậy họ không còn những
người sản như trước sản phẩm thặng do h tạo ra nguồn gốc cho sự giàu
phát triển của hội hội chủ nghĩa.
2.1.3. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Khi phân tích hội bản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác với hai phát kiến vĩ đại,
đó quan niệm duy vật về lịch sử học thuyết g trị thặng dư, đã chứng minh một
cách khoa học rằng sự ra đời, phát triển diệt vong của chủ nghĩa tư bản tất yếu
cũng khẳng định giai cấp công nhân giai cấp tiên tiến nhất cách mạng nhất,
lực lượng hội duy nhất sứ mệnh lịch sử: xóa bỏ chủ nghĩa bản, a bỏ chế độ
người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động giải phóng
toàn thể nhân loại khỏi mọi s áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng hội
mới hội hội chủ nghĩa cộng sản ch nghĩa. Nội dung sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân được biểu hiện cụ thể như sau:
Một , dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, giai cấp công nhân s mệnh
lịch sử đấu tranh giành chính quyền về tay nh nhân dân lao động.
Hai là, sau khi giành được chính quyền, giai cấp công nhân sứ mệnh lịch sử
tổ chức bảo vệ chính quyền chống lại sự chống phá của các thế lực thù địch tiến
hành tổ chức xây dựng hội mới hội chủ nghĩa. Lênin cho rằng: "Điểm chủ yếu
trong học thuyết Mác ch làm sáng vai trò lịch sử thế giới của giai cấp
sản người xây dựng xã hội hội chủ nghĩa".
Ba là, giai cấp công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm công nghiệp ngày
càng hiện đại để y dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho chủ nghĩa hội.
lOMoARcPSD|3 6443508
Đây nội dung thường xuyên được thực hiện trong suốt các giai đoạn ch mạng
của giai cấp công nhân mỗi nước.
Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
bao gồm:
Một là, địa vị kinh tế hội của giai cấp công nhân trong chủ nghĩa bản.
Trong mỗi hình thái kinh tế hội, lực lượng sản xuất yếu tố động nhất luôn
vận động phát triển do s thay đổi không ngừng của ng cụ lao động trình độ
ngày càng cao. Do không hoặc rất ít liệu sản xuất, giai cấp công nhân buộc
phải bán sức lao động trở thành người làm thuê cho giai cấp sản bị giai cấp
sản bóc lột nặng nề. Lao động sống của giai cấp công nhân tạo ra phần lớn của cải vật
chất cho hội và đóng vai trò ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại phát triển
của hội. Muốn giải phóng họ khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, giai cấp công nhân phải
đấu tranh xoá bỏ chế độ sở hữu nhân về liệu sản xuất đó còn giải phóng toàn
hội.
Hai là, đặc điểm chính trị - hội của giai cấp công nhân: Giai cấp công nhân
tính tiên phong tinh thần cách mạng triệt đ nhất; Giai cấp công nhân giai cấp
ý thức tổ chức kỷ luật cao; Giai cấp công nhân bản chất quốc tế.
Ba là, do hai mẫu thuẫn bảnhình thành một cách khách quan trong hội
bản chủ nghĩa Tính quy định khách quan bản nhất mang ý nghĩa tổng hợp cả
về địa vị kinh tế, lẫn địa vị chính trị xã hội của giai cấp ng nhân đối với sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân. Xét về kinh tế, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản
xuất mang trình độ hội h cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sở hữu
nhân bản chủ nghĩa. Về mặt chính trị hội mâu thuẫn giữa giai cấp công
nhân và giai cấp sản. Hai mâu thuẫn này không thể giải quyết triệt để trong lòng
chủ nghĩa bản.
lOMoARcPSD|3 6443508
2.2. Liên hệ đến giai cấp ng nhân Việt Nam
2.2.1. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân Việt Nam sứ mệnh lịch sử như sau:
Một là, xóa b chế độ bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ bóc lột, t giải phóng,
giải phóng nhân dân lao động toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức, c lột, xây dựng
thành công hội cộng sản chủ nghĩa.
Hai là, phát triển về số lượng chất lượng, ng cao giác ngộ bản lĩnh
chính trị, trình độ học vấn nghề nghiệp thực hiện “tri thức hóa công nhân”, nâng
cao năng lực ứng dụng công nghệ vào sản xuấ nhằm tăng năng suất, chất lượng
hiệu quả làm việc, xứng đáng với vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới.
2.2.2. Những đặc điểm bản của giai cấp công nhân Việt
Nam
Một là, giai cấp công nhân nước ta tăng nhanh về số lượng, đa dạng v cơ cấu
ngành nghề.
Trước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta được quản lý theo chế hành
chính, tập trung, bao cấp, giai cấp công nhân nước ta s lượng không lớn khá
thuần nhất về cấu thành phần ngành nghề, công nhân làm việc chủ yếu trong
thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Quá trình đổi mới, mở cửa hội
nhập quốc tế, chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần đã tạo bước chuyển
quan trọng đối với cấu nền kinh tế. Bên cạnh thành phần kinh tế nhà nước kinh
tế tập thể, thành phần kinh tế nhân kinh tế vốn đầu nước ngoài đã hình
thành phát triển nhanh. Điều đó đã tạo sự chuyển biến trong cấu lao động
hội, làm cho lực lượng công nhân - lao động công nghiệp dịch v phát triển nhanh
về số lượng, đa dạng về cấu. Trong đó, số công nhân trong khu vực kinh tế
nhân khu vực kinh tế vốn đầu nước ngoài tăng mạnh và chiếm t trọng ngày
càng lớn.
lOMoARcPSD|3 6443508
Theo báo cáo của Tổng cục Thống năm 2020, hiện nay, tổng số công nhân
nước ta chiếm khoảng 13% số dân và 24% lực lượng lao động xã hội, bao gồm số
công nhân m việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước,
đang m việc theo hợp đồng nước ngoài số lao động giản đơn trong các
quan đảng, n nước, đoàn thể. Số lượng công nhân tăng nhanh chủ yếu các loại
hình doanh nghiệp tại những khu công nghiệp trọng điểm như: Hà Nội, Hải Phòng,
Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai...
Hai là, giai cấp công nhân nước ta đang được trẻ hóa, trình độ học vấn,
chuyên môn nghề nghiệp từng bước được nâng lên.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại a đất nước, mở cửa, chủ động hội
nhập quốc tế không thể không tiếp nhận những thành tựu khoa học, kỹ thuật
công nghệ hiện đại phục v hoạt động của ngành công nghiệp. Điều này, đòi hỏi phải
khắc phục triệt để những hạn chế về c phong kỷ luật lao động của thời kỳ thực
hiện chế hành chính, tập trung bao cấp và phải nâng cao trình đ chuyên môn
nghề nghiệp của công nhân. Nếu không, doanh nghiệp và công nhân không thể tồn
tại phát triển. Đây đòi hỏi rất cao, yêu cầu rất lớn nghiêm ngặt đối với doanh
nghiệp công nhân, cũng động lực thúc đẩy trình độ học vấn, chuyên môn nghề
nghiệp của công nhân từng bước được ng lên. Cùng với đó việc rèn luyện, nâng
cao c phong kỷ luật lao động theo hướng hiện đại hình thành ngày ng đông
đảo bộ phận công nhân trí thức.
Ba là, giai cấp công nhân nước ta hiện nay đã kế thừa phát huy truyền
thống tốt đẹp của giai cấp ng nhân Việt Nam trong các giai đoạn cách mạng trước
đây, đa số công nhân tin tưởng tuyệt đối vào sự nh đạo của Đảng, đi đầu, năng
động, sáng tạo trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Giai cấp công nhân nước ta hiện nay đã kế thừa phát huy truyền thống tốt
đẹp của giai cấp ng nhân Việt Nam trong các giai đoạn cách mạng trước đây, thực
hiện mục tiêu, nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó truyền thống
lOMoARcPSD|3 6443508
tiên phong cách mạng, kiên trì khắc phục vượt qua khó khăn, gian khổ, quyết liệt,
năng động, sáng tạo trong sản xuất... Đa số công nhân tin tưởng tuyệt đối vào sự
lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
xây dựng CNXH.
Bốn là, số lượng công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước xu hướng
giảm; sự phân tầng hội, phân a giàu nghèo trong giai cấp công nhân ngày càng
sâu sắc.
Số lượng công nhân trong các doanh nghiệp n nước xu hướng giảm do
việc đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, nhiều doanh nghiệp chuyển
thành doanh nghiệp, công ty cổ phần. Bên cạnh đó, sự phân tầng hội, phân hóa
giàu nghèo trong giai cấp công nhân ngày càng sâu sắc do chênh lệch ngày càng lớn
về thu nhập giữa các bộ phận công nhân. Thu nhập của công nhân trong khu vực kinh
tế nhà nước thường cao ổn định hơn so với công nhân trong khu vực kinh tế ngoài
nhà nước. Đặc biệt, sự chênh lệch về thu nhập và mức sống ngày càng tăng giữa
những công nhân cổ phần với những công nhân không cổ phần trong các doanh
nghiệp, công ty cổ phần, giữa những ng nhân trình độ chuyên môn tay nghề
cao (công nhân trí thức) với những công nhân tay nghề và trình độ chuyên môn
thấp lao động giản đơn. Điều y dẫn đến tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân
tầng hội trong giai cấp công nhân ngày càng sâu sắc.
Năm là, thành phần xuất thân của giai cấp công nhân nước ta ngày càng đa
dạng, nhưng chủ yếu vẫn từ nông dân.
So với thời kỳ trước đổi mới, thành phần xuất thân của giai cấp công nhân
ngày càng đa dạng hơn, không thuần nhất n trước đây.
Tuy nhiên, với đặc điểm của một nước nông nghiệp, thành phần xuất thân của giai
cấp ng nhân phần lớn vẫn từ nông dân, trình độ và chuyên môn nghề nghiệp còn
hạn chế còn chịu sự chi phối bởi tác phong, lề lối làm việc của người ng dân tiểu
lOMoARcPSD|3 6443508
nông, chưa thích nghi với tác phong, kỷ luật lao động công nghiệp hiện đại. Đa phần
chưa được đào tạo bản h thống nên trình độ chuyên môn, nghề nghiệp
hạn chế, năng suất lao động thu nhập thấp, khoảng cách giàu nghèo s phân
tầng hội trong giai cấp công nhân gia tăng. Một bộ phận công nhân còn nhiều hạn
chế trong giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị hiểu biết về chính sách, pháp luật,
gây khó khăn nhất định cho việc phát triển đảng viên công nhân.
2.2.3. Các tố chất để giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạnh
Đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là: Kiên quyết, triệt để, tập thể,
tổ chức, kỷ luật. Lại là giai cấp tiền tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách
nhiệm đánh đổ chế độ bản đế quốc, đ xây dựng một hội mới, giai cấp công
nhân thể thấm nhuần một tư tưởng ch mạng nhất, tức Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng giáo dục các tầng lớp khác.
vậy, về mặt chính trị, tưởng, t chức hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai
trò lãnh đạo.
người nói: Giai cấp ng nhân Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo
được cách mạng.
Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được hay là không, do đặc tính cách mạng,
chứ không phải do s người nhiều ít của giai cấp. Giai cấp công nhân có Ch nghĩa
MácLênin. Trên nền tảng đấu tranh, họ xây dựng nên Đảng theo Chủ nghĩa Mác-
Lênin Đảng Lao động Việt Nam. Đảng đề ra chủ trương, đường lối, khẩu hiệu cách
mạng, lôi cuốn giai cấp nông dân tiểu sản vào đấu tranh, bồi dưỡng họ thành
những phần tử tiên tiến. Lại những phần tử trí thức tham gia cách mạng sản
hóa. Thành thử đội ngũ chính trị của giai cấp công nhân ngày càng phát triển. Mai sau,
công nghệ của ta ngày càng phát triển, thì số công nhân ngày càng tăng thêm.
Tuy hiện nay nước ta giai cấp công nhân còn nhỏ, song thế giới thì giai cấp
công nhân rất to lớn. Cho nên quyền lãnh đạo cách mạng chỉ do giai cấp công nhân
nắm".
lOMoARcPSD|3 6443508
CHƯƠNG 4: CUỘC CÁCH MẠNG HỘI CHỦ NGHĨA CHỈ THỂ THẮNG LỢI THÀNH
CÔNG KHI CHỈ KHI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, CỦA GIAI CẤP
CÔNG NHÂN
Đảng đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành
cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động của cả dân tộc. Giữa Đảng
giai cấp ng nhân mối quan hệ hữu không thể tách rời. Giai cấp công nhân
sở hội giai cấp của Đảng, nguồn bổ sung lực lượng của Đảng. Ngược lại,
Đảng là chính đảng của giai cấp công nhân, hình thành trên quan điểm lập trường
giai cấp công nhân, đội tiên phong chiến đấu, bộ tham mưu của giai cấp.
Trước khi Đảng cộng sản ra đời, đất nước ta đặt dưới sự thống trị của thực
dân Pháp, rất nhiều phong trào đấu tranh yêu nước rất nhiều các tầng lớp khác nhau
trong hội như phong trào Cần Vương của các phu yêu nước, phong trào đấu
tranh theo ý thức h của giai cấp sản, tiểu sản Việt Nam như cuộc đấu tranh
của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học Những phong trào y đã đặt
vấn đề giải phóng đất nước, giành độc lập dân tộc, thức tỉnh dân trí nhưng do ý thức
hệ hoặc đã lỗi thời hoặc mang tính cải lương nên không đáp ứng được đầy đủ yêu
cầu của dân tộc, dân chủ bức thiết của đông đảo nhân dân lao động nước ta ng
như tỏ ra bất cập so với thời đại - khi Cách mạng hội chủ nghĩa tháng Mười
Nga thành công đã thức tỉnh các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phóng dân
tộc bỏ qua chế độ bản để tiến lên chủ nghĩa hội. Nói cách khác, sự thất bại của
các phong trào yêu nước đó do thiếu đường lối đúng đắn một Đảng cách mạng
chân chính nên kể từ khi giai cấp công nhân Việt Nam tổ chức được chính đảng của
mình chuyển phong trào đấu tranh từ tự phát sang tự giác, lịch sử Việt Nam đã
bước sang một trang mới.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ra đời đánh dấu bước chuyển biến quyết định của cách mạng Việt Nam. Vừa
mới ra đời, Đảng đã phát động ngay được cao trào ch mạng 1930-1931, đỉnh cao là
Xô-viết Nghệ Tĩnh. Cao trào đã thu hút đông đảo quần chúng công nông cả nước đấu
lOMoARcPSD|3 6443508
tranh chống ách thống tr của bọn đế quốc, phong kiến. Thành quả lớn nhất của cao
trào cách mạng 1930-1931, cuộc khủng bố trắng tàn khốc của đế quốc phong
kiến đã không thể nào xóa nổi chỗ, nó khẳng định trong thực tế quyền nh đạo
duy nhất thuộc về Đảng ta; chỗ, đem lại cho quần chúng niềm tin vào sự lãnh
đạo của Đảng. Trong khi khẳng định đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, kh
năng cách mạng to lớn của công ng, cũng chứng tỏ tính chất phiêu lưu, cải
lương của giai cấp phong kiến sản mại bản. Đó thắng lợi đầu tiên ý nghĩa
quyết định đối với sự phát triển về sau của cách mạng Việt Nam. “Trực tiếp nói,
không những trận chiến đấu rung trời chuyển đất những năm 1930-1931, trong
đó ng nông đã vung ra ngh lực ch mạng phi thường của mình, thì không th
cao trào những năm 1936-1939”. Đây là “cuộc tổng diễn tập đầu tiên” cho thắng lợi
của Cách mạngTháng Tánăm 1945.
Những năm 1936-1939, một thời kỳ đấu tranh hợp pháp nửa hợp pháp kết
hợp chặt chẽ với hoạt động mật, bất hợp pháp diễn ra nước ta. Khi Mặt trận
Nhân dân lên cầm quyền Pháp, Đảng coi đây một hội tốt để đưa cách mạng
tiến bước. Đảng đề ra mục tiêu cho thời kỳ này “chống phản động thuộc địa, chống
phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do n chủ, cơm áo hòa bình”. Cao trào cách
mạng 19361939 dưới sự lãnh đạo của Đảng thời kỳ vận động quần chúng sôi nổi
với nhiều hình thức tổ chức hoạt động linh hoạt, phong phú, kể cả việc lợi dụng
các Viện n biểu”, c “Hội đồng quản hạt” do thực dân Pháp lập ra. Đảng đã động
viên, giáo dục cho hàng triệu quần chúng trong các cuộc đấu tranh chính trị rộng
khắp. Sự lãnh đạo của Đảng thời kỳ này đánh dấu bước trưởng thành, thể hiện năng
lực lãnh đạo của Đảng ta, chuẩn bị điều kiện đ đưa quần chúng vào những trận
chiến đấu quyết liệt trong những năm 1940-1945.
Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp quỳ gối dâng nước ta
cho phát xít Nhật, dân ta một cổ hai tròng. Đảng nhận định đây thời kỳ ách áp
bức, bóc lột chiến tranh đế quốc làm cho nhân dân ngày càng cách mạng hóa,
cách mạng sẽ bùng nổ. Đảng quyết định lập Mặt trận Việt Minh đ tập hợp rộng rãi
các lực lượng dân tộc dân chủ, đồng thời xây dựng c căn c địa những đơn vị
lOMoARcPSD|3 6443508
trang đầu tiên, phát động phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật sôi nổi, mạnh mẽ. Khi
Nhật hất cẳng Pháp, Đảng đã tranh th thời cơ, chuyển ớng mau lẹ, phát động cao
trào kháng Nhật, cứu nước, tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, giành
chính quyền nhanh gọn trong c nước, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên
Đông Nam Á, đưa Đảng ta lên vị trí nh đạo, cầm quyền. Đánh giá về cuộc ch
mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Lần này lần đầu tiên trong lịch sử
cách mạng của các dân tộc thuộc địa nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh
đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.
Sau Cách mạng Tháng Tám, khi chính quyền cách mạng còn trứng nước, trước
nguy cực kỳ nghiêm trọng do thù trong giặc ngoài gây ra, tình hình đất nước như
“ngàn cân treo sợi c”. Với sự nh đạo sáng suốt, vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa
mềm dẻo về ch lược, Đảng đã lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác
ghềnh hiểm trở, lướt sóng đi lên. Lúc thì tạm hòa hoãn với Tưởng để rảnh tay đối
phó với Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, lúc thì tạm hòa hoãn với Pháp đ
đuổi quân Tưởng quét sạch bọn phản động tay sai, giành thời gian củng cố lực
lượng, chuẩn bị cho cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực n
Pháp. Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đó cho thấy sự lãnh đạo tài ba của Đảng ta
đã “được ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một mẫu mực tuyệt vời của sách
lược lêninnít”.
Sự lãnh đạo tài ba của Đảng ta còn thể hiện trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp 1946-1954. Dưới s lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quân dân ta đã
tiến nh cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức nh
chính” đã giành được thắng lợi v vang, đỉnh cao chiến thắng lịch sử Điện
Biên Phủ vang dội năm châu, chấn động địa cầu, giải phóng miền Bắc, tạo điều kiện
bản để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đảng lãnh đạo
thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp ý nghĩa không chỉ với nước ta còn đối
với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Chủ tịch Hồ C Minh đã chỉ rõ: “Lần
đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực
lOMoARcPSD|3 6443508
dân hùng mạnh. Đó một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời, cũng
một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, n chủ XHCN trên thế giới”.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt tài ba của Đảng, nhân dân cả nước bước vào
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 với tinh thần chiến đấu cùng
anh dũng quả cảm, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Giải phóng miền Nam, xây
dựng CNXH miền Bắc. Với đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc CNXH,
Đảng đã kết hợp sức mạnh của tiền tuyến lớn với hậu phương lớn, động viên đến
mức cao nhất lực lượng của toàn dân vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một
cuộc kháng chiến đã kết tinh, tổng hợp phát triển lên trình đ cao những truyền
thống cách mạng năng lực sáng tạo của Đảng ta, dẫn đến đại thắng mùa Xuân năm
1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, t do và
CNXH trên đất nước ta. “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta
trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi i được ghi vào lịch s dân
tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời v sự toàn
thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trí tuệ con người đi vào lịch sử thế
giới như một chiến công đại của thế kỷ XX, một sự kiện tầm quan trọng quốc tế
to lớn tính thời đại sâu sắc”.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam kết qu tất yếu của cuộc đấu tranh
giai cấp đấu tranh dân tộc trong thời đại mới; sản phẩm của sự kết hợp chủ
nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân phong trào yêu nước Việt Nam; kết
quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử; kết quả của quá trình
chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tưởng t chức của các chiến cách mạng. Sự ra
đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng t rằng: giai cấp công nhân Việt Nam đã
trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Thực tế cho thấy ngay từ khi mới ra đời,
Đảng cộng sản Việt Nam đã mang trong mình tính thống nhất giữa yếu tố giai cấp và
yếu tố dân tộc, thực hiện vai trò lãnh đạo với tinh thần trách nhiệm cao của giai cấp
dân tộc. Sự ra đời của Đảng cũng là cột mốc lớn đánh dấu bước ngoặt trọng đại
trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài
mấy chục năm đã được giải quyết.
lOMoARcPSD|3 6443508
Đảng đã đ ra cương lĩnh đúng đắn của ch mạng Việt Nam, vạch ra đường
lối đấu tranh cách mạng khác về chất so với những con đường cứu nước do những
nhà yêu nước đương thời vạch ra. Đảng đã nh đạo nhân n ta hoàn thành cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân n ch sau 19 năm thành lập (1930-1954), khai
sinh ra nước Việt nam Dân ch cộng hòa, đưa miền Bắc nước ta quá độ tiến lên chủ
nghĩa hội, đồng thời tiến nh cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc miền Nam.
Đến tháng 4/1975, sau 45 năm chiến đấu trưởng thành, Đảng đã lãnh đạo nhân
dân ta thực hiện thành công cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, thống nhất đất
nước đưa c nước ta quá độ đi lên chủ nghĩa hội. Đảng Cộng sản Việt Nam
vai trò lãnh đạo nhân dân Việt Nam cùng một c vừa làm sản cách mạng, vừa làm
dân tộc ch mạng làm giai cấp ch mạng. Đây đặc điểm lớn nhất của cách
mạng sản Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam nh đạo cũng một đặc
điểm của sứ mệnh lịch sử của Đảng đối với giai cấp dân tộc Việt Nam.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu
trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt Lời kêu gọi
của Đảng khi Đảng mới thành lập, đó là: "Chủ trương làm sản dân quyền cách
mạng (révolution démocratique bourgeoise) thổ địa cách mạng (révolution
agratire) để đi tới hội cộng sản";..." Đánh đổ đế quốc ch nghĩa Pháp bọn
phong kiến";... Làm cho nước Việt Nam được độc lập;... Giải phóng công nhân
nông n thoát khỏi ách bản; Mở mang công nghiệp nông nghiệp;... Đem lại
mọi quyền lợi tự do cho nhân dân".
Qua hơn 30 năm xây dựng đất nước, tiến hành 02 cuộc chiến tranh chống
xâm lược biên giới, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn ng khó khăn,
trở ngại để đưa nước ta vững bước đi lên chủ nghĩa hội như ngày hôm nay.
Nhìn lại những thành tựu đất nước ta đã đạt được sau n
70 năm từ khi Đảng lãnh đạo, chúng ta càng tự hào có đội tiên phong của giai
cấp công nhân nhân dân lao động Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam.
lOMoARcPSD|3 6443508
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng thẳng thắn nhận ra
những khiếm khuyết, sai lầm đã lúc Đảng ta đã vấp phải trong thời gian khá
dài trước thời kỳ đổi mới. Đảng ta cũng đã sớm nhận thức ra những thiếu sót, khuyết
điểm tự nhận khuyết điểm trước nhân n, đã sửa chữa sửa chữa kết quả,
đem lại lòng tin của nhân dân với Đảng. Đảng đã khởi xướng lãnh đạo công cuộc
đổi mới toàn diện chủ nghĩa xã hội, với quyết tâm trí tu của toàn Đảng, sự
tham gia ch cực của nhân dân, công cuộc đổi mới nước ta trong gần 20 năm qua
đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, khẳng định đường lối
đổi mới đúng. vậy, với cương lĩnh đường lối đúng đắn, sáng tạo của mình,
trong hơn 2/3 thế kỷ, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thể hiện rõ qua
việc tổ chức, lãnh đạo mọi thắng lợi của ch mạng Việt Nam. Những thắng lợi đó là:
Một là, thắng lợi của ch mạng Tháng Tám m 1945 việc thành lập nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nay nước Cộng hoà hội chủ nghĩa Việt Nam đã m
ra một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập n tộc gắn liền với chủ nghĩa hội.
- Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giảiphóng dân
tộc, bảo vệ T quốc bằng chiến thắng 30/41975, góp phần quan trọng vào cuộc đấu
tranh của nhân dân thế giới hoà bình, độc lập n tộc, dân chủ tiến bộ hội.
- Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới từng bước đưa đấtnước quá
độ n chủ nghĩa hội. Trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm, tổng kết sáng kiến của
nhân dân, Đảng ta đã đề ra và nh đạo thực hiện đường lối đổi mới, xây dựng chủ
nghĩa hội bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thực tiễn Việt Nam bối cảnh quốc tế
mới.
Với những thắng lợi giành được thời gian qua, nước ta từ một nước thuộc địa
nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển kinh tế theo con
đường hội chủ nghĩa, quan hệ quốc tế rộng rãi, vị thế ngày càng quan trọng
trong khu vực trên thế giới. Sở Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện được nhiệm
lOMoARcPSD|3 6443508
vụ lịch sử của mình, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi t thắng lợi này sang thắng lợi
khác do những nguyên nhân sau đây:
- Một là, Đảng ta đường lối đúng đắn, đó s vận dụng phát triển
sáng tạo của ch nghĩa Mác - Lênin tưởng Hồ C Minh vào thực tiễn cách mạng
Việt Nam. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối đó việc giải quyết đúng đắn kết hợp
chặt chẽ, nhuần nhuyễn c mối quan hệ giữa giai cấp dân tộc, dân tộc quốc tế,
độc lập dân tộc chủ nghĩa hội.
- Hai là, Đảng sinh ra từ một dân tộc truyền thống unước, đấu tranh
bất khuất, một nhân dân cách mạng, thiết tha với độc lập tự do, sẳn sàng tập họp,
đoàn kết thống nhất xung quanh Đảng.
- Ba là, Đảng qua các thời kỳ đấu tranh lúc thuận lợi cũng nhưlúc khó
khăn đều được tổ chức chặt chẽ trên nguyên tắc tập trung dân chủ, đại đa số Đảng
viên trung thành với tưởng cách mạng, một lòng phấn đấu hy sinh dân, nước.
Tất cả những điều đó th khẳng định rằng nếu không Đảng Cộng sản Việt Nam
thì cách mạng Việt Nam sẽ không đạt được thắng lợi to lớn như đã qua. Giữ vững vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vấn đ chiến lược tính nguyên tắc,
bởi vậy, cần kế thừa phát triển những bài học kinh nghiệm trong nh đạo nhân
dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc bảo vệ T quốc Việt Nam hội chủ nghĩa.
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng tiếp tục tích cực tổng kết thực tiễn kết hợp với
nghiên cứu luận để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về vai trò lãnh đạo của Đảng;
không ngừng bổ sung, hoàn thiện nâng cao hiệu lực, cơ chế lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước, hội nói chung các lực lượng trang nhân dân Việt Nam nói
riêng trong thời kỳ mới.Tuy nhiên, hiện nay chúng ta vẫn phải đối mặt với muôn vàn
khó khăn về kinh tế, chính trị, hội …Vì vậy, để đảm bảo định hướng hội ch
nghĩa lãnh đạo đất nước thực hiện thành công định hướng chiến lược đã đặt ra,
Đảng ta phải việc thường xuyên tự đổi mới, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực
lãnh đạo, giữ vững đoàn kết thống nhất, đấu tranh hiệu quả chống chủ nghĩa các
lOMoARcPSD|3 6443508
nhân, chủ nghĩa hội, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, Đảng viên trong sạch,
phẩm chất đạo đức, năng lực sức chiến đấu cao, tiêu biểu cho bản chất, lương
tâm trí tuệ của giai cấp công nhân. Đồng thời Đảng phải củng cố, xây dựng phát
triển mạnh m giai cấp ng nhân, luôn đặt vấn đề giai cấp công nhân n một vấn
đề sinh tử của cách mạng. Đảng cũng đã đặt vấn đề giữ vững ng cường bản chất
giai cấp công nhân của Đảng thành nhiệm vụ trung tâm hàng đầu.
C. KẾT LUẬN
Giai cấp công nhân tất yếu sứ mệnh lịch sử nh đạo c tầng lớp nhân
dân lao động bị áp bức, bóc lột trong cuộc đấu tranh từng bước xoá bỏ ch nghĩa
bản xây dựng thành công hội hội chủ nghĩa văn minh. giai cấp ng nhân Việt
Nam - một bộ phận của giai cấp công nhân quốc tế ng sứ mệnh lịch sử ấy. Tuy
nhiên, để phát huy vai trò của mình, giai cấp công nhân Việt Nam cần phát triển cả về
số lượng và chất lượng, vươn lên khắc phục những hạn chế, từng bước đáp ứng
những yêu cầu của sự nghiệp công ngiệp hóa hiện đại hóa xây dựng đất nước.
Thời gian hòn đá thử vàng, 90 năm qua giai đoạn đặc biệt của ch mạng
nước ta-giai đoạn đưa đất nước tiến lên con đường chủ nghĩa hội-dưới s lãnh
đạo của một đảng duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam, thời gian đất nước
dân tộc vượt qua nhiều thách thức, lúc hiểm nghèo. Mỗi lần vượt qua thách thức,
Đảng dân tộc ta lại trưởng thành, vươn lên tạo dựng những mốc son mới. Những
mốc son chói ngời đó chứng minh tài năng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
một đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Chỉ điểm qua
những kết quả nêu trên, thể khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
nhân tố quyết định mọi thắng lợi của ch mạng Việt Nam. Như vậy, Đảng Cộng
sản vai trò vô cùng to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động. Cuộc cách mạng hội chủ nghĩa chỉ thể thắng lợi thành ng
khi chỉ khi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, của giai cấp công nhân.
lOMoARcPSD|3 6443508
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình ch nghĩa hội khoa học
2. Link: https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/202001/vai-tro-lanh-
daocuadang-la-nhan-to-quyet-dinh-moi-thang-loi-trong-tien-trinh-cach-
mangvietnam-307494/
3. Link: http://eldata11.topica.edu.vn/HocLieu/PHM102/Giao
%20trinh/07_PHM102_Bai7_v2.0013105209.pdf
4. Link: https://vanluat.vn/su-menh-lich-su-cua-giai-cap-cong-nhan-vietnamhien-
nay-10934.html
5. Link: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/3476-vai-
trodacdiem-giai-cap-cong-nhan-viet-nam-trong-thoi-ky-cong-nghiep-hoa-
hiendaihoa-dat-nuoc.html
6. Link: https://www.qdnd.vn/chinh-tri/cac-van-de/vi-sao-cong-nhan-la-
giaicaplanh-dao-cach-mang-583518
7. Link: https://tuyphuoc.vn/vi/news/tin-suu-tam/dang-cong-san-viet-namnhanto-
quyet-dinh-moi-thang-loi-cua-cach-mang-viet-nam-155.html
| 1/24

Preview text:

lOMoARcPSD|36443508 lOMoARcPSD|36443508 Mục lục
A. MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
1. Lý do chọn đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
2. Mục tiêu nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
B. NỘI DUNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
CHƯƠNG 1: ĐẢNG CỘNG SẢN. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
1.1. Khái niệm Đảng Cộng sản. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .4
1.2. Tính tất yếu ra đời Đảng Cộng sản . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
1.3. Vai trò của Đảng Cộng sản và mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản với giai cấp
công nhân . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .5
CHƯƠNG 2: GIAI CẤP CÔNG NHÂN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
6 2.1. Khái niệm, đặc điểm của giai cấp công nhân. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .8
2.2. Liên hệ đến giai cấp công nhân Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
CHƯƠNG 4: CUỘC CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHỈ CÓ THỂ THẮNG LỢI
THÀNH CÔNG KHI VÀ CHỈ KHI CÓ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, CỦA GIAI
CẤP CÔNG NHÂN. . . 12
C. KẾT LUẬN. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .19
TÀI LIỆU THAM KHẢO. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20 A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết trong mỗi thời kì chuyển biến cách mạng từ hình thái
kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác, cao hơn luôn có một giai cấp
đứng ở vị trí trung tâm đóng vai trò động lực chủ yếu, là lãnh đạo quá trình chuyển lOMoARcPSD|36443508
biến. Giai cấp này có sứ mệnh lịch sử, là thủ tiêu xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, phù
hợp với tiến trình khách quan của lịch sử. Cụ thể ở đây là giai cấp công nhân đã lãnh
đạo quá trình chuyển biến từ hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa sang xã hội chủ nghĩa.
Trong nền đại công ngiệp, giai cấp công nhân đại diện cho phương thức sản xuất tiến
bộ cho xu hướng phát triển của phương thức sản xuất tương lai. Và trong các cuộc
đấu tranh, chừng nào và chỉ khi nào giai cấp công nhân tự tổ chức ra chính đảng của
mình để lãnh đạo cuộc đấu tranh thì mới đảm bảo giành được thắng lợi trọn vẹn,
hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình. Nếu không có chính đảng lãnh đạo, giai
cấp công nhân chỉ có thể đấu tranh tự phát, đấu tranh vì mục đích kinh tế, chứ không
phải là cuộc đấu tranh tự giác, đấu tranh vì mục đích chính trị. Đảng Cộng sản chính
là nhân tố quyết định hàng đầu đảm bảo cho giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh
lịch sử của mình, giành được thắng lợi cách mạng, tiến tới con đường chủ nghĩa xã
hội. Chính vì vậy, nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài: “Cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa chỉ có thể thắng lợi thành công khi và chỉ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản, của giai cấp công nhân. Tại sao? Liên hệ cách mạng Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của nhóm.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm giúp hiểu rõ về Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân. Ngoài
ra còn là mối quan hệ giữa Đảng cộng sản và giai cấp công nhân. Từ đó liên hệ đến
giai cấp công nhân ở Việt Nam.
Cuối cùng là làm rõ và khẳng định "CUỘC CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHỈ
CÓ THỂ THẮNG LỢI THÀNH CÔNG KHI VÀ CHỈ KHI CÓ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG
SẢN CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN". lOMoARcPSD|36443508 B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: ĐẢNG CỘNG SẢN
1.1. Khái niệm Đảng Cộng sản
Đảng Cộng sản là chính đảng của giai cấp công nhân, là đội tiên phong, bộ
tham mưu chiến đấu, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành
cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng
Cộng sản bao gồm những bộ phận tiên tiến của giai cấp công nhân và các tầng lớp
nhân dân lao động. Đảng Cộng sản lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng
và kim chỉ nam cho hành động, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ
chức cơ bản của mình. Đảng Cộng sản mang bản chất giai cấp công nhân, không tách
rời với giai cấp công nhân, nhân dân lao động.
1.2. Tính tất yếu ra đời Đảng Cộng sản
Sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân dẫn đến sự hình
thành chính đảng của giai cấp công nhân. V. I. Lênin chỉ ra rằng, Đảng Cộng sản là sản
phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Nhưng trong mỗi
nước, sự kết hợp ấy là sản phẩm của lịch sử lại được thực hiện bằng những con
đường đặc biệt, tùy theo điều kiện không gian và thời gian. Ở nhiều nước thuộc địa,
nửa thuộc địa thì Đảng Cộng sản ra đời là kết quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác –
Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
Giai cấp công nhân đã ý thức được rằng để đấu tranh giành chính quyền và
xây dựng xã hội mới, họ không có vũ khí nào quan trọng hơn là tự mình tổ chức một
chính Đảng độc lập của mình để lãnh đạo giai cấp chống lại quyền lực liên hiệp của
giai cấp tư sản và chỉ khi có chính đảng của mình, giai cấp công nhân mới có thể hành
động với tư cách là một giai cấp được. Hình thức tổ chức cao nhất của giai cấp công
nhân chính là Đảng Cộng sản. Lênin đã chỉ ra rằng Đảng cộng sản hình thành trên cơ
sở kết hợp giữa lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân. Ở các nước lOMoARcPSD|36443508
thuộc địa và phụ thuộc, sự hình thành Đảng Cộng sản còn là sự kết hợp giữa chủ
nghĩa Mác Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước phong trào giải phóng dân tộc.
Thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân các nước cho thấy rằng từ sau khi
có Đảng Cộng Sản lãnh đạo, giai cấp công nhân và phong trào công nhân đã chuyển
từ hình thức đấu tranh tự phát sang tự giác trong mỗi hành động với tư cách một giai
cấp tiên tiến và thực sự cách mạng. Chỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, được
trang bị lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, gắn với phong trào đấu tranh của
giai cấp công nhân thì cuộc cách mạng của giai cấp công nhân có thể đi đến thành
công cuối cùng là giành lấy chính quyền từ tay giai cấp tư sản.
Sự thất bại của cách mạng Pháp 1848-1850 và công xã PARIS 1871 đã chứng
minh nếu như không có sự soi sáng của học thuyết cách mạng và khoa học của Chủ
nghĩa Mác Lênin và sự dẫn dắt của một chính Đảng thật sự cách mạng thì mọi cuộc
đấu tranh lật đổ chính quyền để xây dựng một xã hội mới đều không vươn tới những
thắng lợi cuối cùng. Chỉ đến cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản, một Đảng theo học thuyết cách mạng và khoa học của chủ nghĩa
MácLênin, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân mới giành được thắng lợi; từ đó
cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Đảng Cộng sản ra đời đánh dấu sự phát triển nhảy vọt của phong trào công
nhân từ tự phát lên tự giác, cuộc đấu tranh vì lợi ích kinh tế trong giới hạn của chủ
nghĩa tư bản cho phép chuyển sang cuộc đấu tranh chính trị nhằm lật đổ giai cấp tư
sản, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
1.3. Vai trò của Đảng Cộng sản và mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản với giai cấp công nhân
Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định trước tiên trong việc thực hiện sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân. lOMoARcPSD|36443508
Đảng cộng sản không những là tổ chức chính trị cao nhất, đại biểu tập trung
cho trí tuệ và lợi ích của toàn thể giai cấp công nhân mà còn đại biểu cho toàn thể
nhân dân lao động và dân tộc. Chỉ khi nào có một đảng chính trị vững vàng, kiên định
và sáng suốt, có đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn, thể hiện lợi ích của toàn
bộ giai cấp và toàn bộ phong trào thì giai cấp công nhân mới có thể hoàn thành sứ
mệnh lịch sử của mình. Như vậy, Đảng là nhân tố có vai trò quyết định trong việc
thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Vai trò đó thể hiện ở các mặt như: Đảng giác ngộ giai cấp công nhân và nhân
dân lao động bằng lý luận tiên phong của chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng lý luận
ấy vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước; Đảng đề ra cương lĩnh chính trị, vạch ra cho
giai cấp công nhân và nhân dân lao động con đường đấu tranh cách mạng đúng đắn,
tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao và giành chính quyền; khi giành được
chính quyền, Đảng lãnh đạo chính quyền và toàn xã hội thực hiện đường lối của Đảng
đề ra để xây dựng xã hội mới.
Giữa Đảng và giai cấp công nhân có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời.
Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội – giai cấp của Đảng, là nguồn bổ sung lực lượng
của Đảng. Ngược lại, Đảng là chính đảng của giai cấp công nhân, hình thành trên
quan điểm lập trường giai cấp công nhân, là đội tiên phong chiến đấu, là bộ tham
mưu của giai cấp. Những đảng viên của Đảng Cộng sản có thể không phải là công
nhân nhưng phải là người giác ngộ về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và
đứng trên lập trường của giai cấp này.
Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu và Liên Xô cho thấy bài học
kinh nghiệm sâu sắc rằng một khi Đảng Cộng sản xa rời lập trường giai cấp công nhân,
không tự đổi mới về trình độ lý luận chính trị, đội ngũ Đảng viên để lọt những phần
tử cơ hội vào trong hàng ngũ của Đảng gây lũng đoạn làm cho bộ máy Đảng biến chất
thì sớm muộn Đảng ấy cũng sẽ để mất vai trò lãnh đạo cách mạng.Tuy nhiên, sự đổ
vỡ của Liên Xô và các nước Đông âu không có nghĩa là sự sụp đổ của học thuyết về
chủ nghĩa xã hội, không phải là sự sụp đổ của phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới mà lOMoARcPSD|36443508
nguyên nhân trực tiếp là Đảng Cộng sản phạm những sai lầm nghiêm trọng về đường
lối chính trị, tư tưởng và tổ chức, xa rời giai cấp, thiếu tỉnh táo thanh lọc những phần
tử cơ hội, nhất là những phần tử cơ hội về chính trị.
Từ những bài học trên cho thấy, để thể hiện và giữ vững vai trò lãnh đạo của
mình trong việc tổ chức cho giai cấp công nhân thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch
sử, Đảng Cộng sản phải luôn luôn giữ vững lập trường giai cấp đồng thời phải thường
xuyên tự đổi mới để vững mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức, không ngừng tu
dưỡng, rèn luyện nâng cao ý chí cách mạng, lập trường giai cấp, nâng cao toàn diện
trình độ kiến thức, trình độ lý luận; kịp thời tổng kết kinh nghiệm đề ra thực tiễn sâu
sắc nhằm đề ra đường lối chiến lược sách lược đúng đắn, đồng thời phải xây dựng,
chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao hiệu quả và sức chiến đấu của Đảng. lOMoARcPSD|36443508
CHƯƠNG 2: GIAI CẤP CÔNG NHÂN
2.1. Khái niệm, đặc điểm của giai cấp công nhân
2.1.1. Định nghĩa giai cấp công nhân và quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin

Giai cấp công nhân là con đẻ của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể và cùng với sự
phát triển của lịch sử, cũng luôn luôn phát triển với những biểu hiện và đặc trưng
mới trong từng giai đoạn nhất định.
Sự phát triển của đại công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người vô
sản, mà còn tập hợp họ lại thành một tập đoàn xã hội rộng lớn, thành giai cấp vô sản
hiện đại. Chính vì vậy, một kết luận rút ra là, giai cấp công nhân hiện đại ra đời gắn
liền với sự phát triển của đại công nghiệp, nó là sản phẩm của bản thân nền đại công
nghiệp và lớn lên cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp đó.
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là một trong những giai cấp
cơ bản, chủ yếu, đối lập với giai cấp tư sản, là giai cấp bị giai cấp tư sản tước đoạt hết
tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để sống, bị bóc lột giá trị
thặng dư. Họ là những người được tự do về thân thể và có quyền bán sức lao động
tùy theo cung – cầu hàng hóa sức lao động. Đây là giai cấp bị bóc lột nặng nề, bị bần
cùng hóa về vật chất lẫn tinh thần. Sự tồn tại của họ phụ thuộc và quy luật cung – cầu
hàng hóa sức lao động, phụ thuộc vào kết quả lao động của chính họ. Họ phải tạo ra
giá trị thặng dư, nhưng giá trị thặng dư lại bị giai cấp tư sản chiếm đoạt.
Dưới chủ nghĩa tư bản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã định nghĩa rằng, “Giai cấp
vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất hết tư liệu sản xuất của
bản thân, nên buộc bán sức lao động của mình đế sống”. Khi sử dụng khái niệm giai
cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng một số thuật ngữ khác nhau để biểu
đạt khái niệm đó, như: giai cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân
hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp,. . Mặc dù vậy, về cơ bản những thuật
ngữ này trước hết đều biểu thị một khái niệm thống nhất, đó là chỉ giai cấp công lOMoARcPSD|36443508
nhân hiện đại, con đẻ của nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, giai cấp đại
biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại.
Căn cứ vào các tiêu chí cơ bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa giai cấp
công nhân như sau: “Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành
và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại, với nhịp
độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao, là lực
lượng lao động cơ bản trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra
của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và
phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại ngày nay.”
2.1.2. Đặc điểm của giai cấp công nhân
Dù giai cấp công nhân có bao gồm những công nhân làm những công việc khác
nhau như thế nào đi nữa, thì theo C. Mác và Ph. Ăngghen, họ vẫn chỉ có hai tiêu chí
cơ bản để xác định, phân biệt với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác:
Một là, về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người
lao động trong nền sản xuất công nghiệp. Có thể họ là người lao động trực tiếp hay
gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại
và xã hội hóa cao. Đã là công nhân hiện đại thì phải gắn với nền đại công nghiệp, bởi
vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiệp. Giai cấp công nhân hiện đại là hạt nhân,
bộ phận cơ bản của mọi tầng lớp công nhân.
Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất của giai cấp công nhân, chúng ta phải
xem xét trong hai trường hợp sau: -
Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân là nhữngngười vô
sản hiện đại, không có tư liệu sản xuất, nên buộc phải làm thuê, bán sức lao động
cho nhà tư bản và bị toàn thể giai cấp tư sản bóc lột. Tức là giá trị thặng dư mà giai
cấp công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm đoạt. Chính căn cứ vào tiêu chí này mà
những người công nhân dưới chủ nghĩa tư bản được gọi là giai cấp vô sản. lOMoARcPSD|36443508 -
Sau cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân trởthành giai cấp
cầm quyền. Nó không còn ở vào địa vị bị áp bức, bị bóc lột nữa, mà trở thành giai cấp
thống trị, lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới – xã hội xã
hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân cùng với toàn thể nhân dân lao động làm chủ
những tư liệu sản xuất chủ yếu đã công hữu hóa. Như vậy họ không còn là những
người vô sản như trước và sản phẩm thặng dư do họ tạo ra là nguồn gốc cho sự giàu
có và phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa.
2.1.3. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Khi phân tích xã hội tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác với hai phát kiến vĩ đại,
đó là quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, đã chứng minh một
cách khoa học rằng sự ra đời, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản là tất yếu
và cũng khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng nhất, là
lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử: xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ chế độ
người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng
toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội
mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Nội dung sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân được biểu hiện cụ thể như sau:
Một là, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, giai cấp công nhân có sứ mệnh
lịch sử là đấu tranh giành chính quyền về tay mình và nhân dân lao động.
Hai là, sau khi giành được chính quyền, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử
là tổ chức bảo vệ chính quyền chống lại sự chống phá của các thế lực thù địch và tiến
hành tổ chức xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa. Lênin cho rằng: "Điểm chủ yếu
trong học thuyết Mác là ở chỗ nó làm sáng rõ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô
sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa".
Ba là, giai cấp công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm công nghiệp ngày
càng hiện đại để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cần thiết cho chủ nghĩa xã hội. lOMoARcPSD|36443508
Đây là nội dung thường xuyên và được thực hiện trong suốt các giai đoạn cách mạng
của giai cấp công nhân ở mỗi nước.
Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân bao gồm:
Một là, địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân trong chủ nghĩa tư bản.
Trong mỗi hình thái kinh tế – xã hội, lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất và luôn
vận động phát triển do sự thay đổi không ngừng của công cụ lao động ở trình độ
ngày càng cao. Do không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, giai cấp công nhân buộc
phải bán sức lao động trở thành người làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư
sản bóc lột nặng nề. Lao động sống của giai cấp công nhân tạo ra phần lớn của cải vật
chất cho xã hội và đóng vai trò có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển
của xã hội. Muốn giải phóng họ khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, giai cấp công nhân phải
đấu tranh xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đó còn là giải phóng toàn xã hội.
Hai là, đặc điểm chính trị - xã hội của giai cấp công nhân: Giai cấp công nhân
có tính tiên phong và tinh thần cách mạng triệt để nhất; Giai cấp công nhân là giai cấp
có ý thức tổ chức kỷ luật cao; Giai cấp công nhân có bản chất quốc tế.
Ba là, do hai mẫu thuẫn cơ bảnhình thành một cách khách quan trong xã hội
tư bản chủ nghĩa Tính quy định khách quan cơ bản nhất và mang ý nghĩa tổng hợp cả
về địa vị kinh tế, lẫn địa vị chính trị – xã hội của giai cấp công nhân đối với sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân. Xét về kinh tế, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản
xuất mang trình độ xã hội hoá cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sở hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa. Về mặt chính trị – xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp công
nhân và giai cấp tư sản. Hai mâu thuẫn này không thể giải quyết triệt để trong lòng chủ nghĩa tư bản. lOMoARcPSD|36443508
2.2. Liên hệ đến giai cấp công nhân Việt Nam
2.2.1. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Giai cấp công nhân Việt Nam có sứ mệnh lịch sử như sau:
Một là, xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ bóc lột, tự giải phóng,
giải phóng nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức, bóc lột, xây dựng
thành công xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Hai là, phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh
chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp thực hiện “tri thức hóa công nhân”, nâng
cao năng lực ứng dụng công nghệ vào sản xuấ nhằm tăng năng suất, chất lượng và
hiệu quả làm việc, xứng đáng với vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới.
2.2.2. Những đặc điểm cơ bản của giai cấp công nhân Việt Nam
Một là, giai cấp công nhân nước ta tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu và ngành nghề.
Trước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta được quản lý theo cơ chế hành
chính, tập trung, bao cấp, giai cấp công nhân nước ta có số lượng không lớn và khá
thuần nhất về cơ cấu thành phần và ngành nghề, công nhân làm việc chủ yếu trong
thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Quá trình đổi mới, mở cửa và hội
nhập quốc tế, chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần đã tạo bước chuyển
quan trọng đối với cơ cấu nền kinh tế. Bên cạnh thành phần kinh tế nhà nước và kinh
tế tập thể, thành phần kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã hình
thành và phát triển nhanh. Điều đó đã tạo sự chuyển biến trong cơ cấu lao động xã
hội, làm cho lực lượng công nhân - lao động công nghiệp và dịch vụ phát triển nhanh
về số lượng, đa dạng về cơ cấu. Trong đó, số công nhân trong khu vực kinh tế tư
nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. lOMoARcPSD|36443508
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2020, hiện nay, tổng số công nhân
nước ta chiếm khoảng 13% số dân và 24% lực lượng lao động xã hội, bao gồm số
công nhân làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước,
đang làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài và số lao động giản đơn trong các cơ
quan đảng, nhà nước, đoàn thể. Số lượng công nhân tăng nhanh chủ yếu ở các loại
hình doanh nghiệp tại những khu công nghiệp trọng điểm như: Hà Nội, Hải Phòng,
Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai. .
Hai là, giai cấp công nhân nước ta đang được trẻ hóa, trình độ học vấn,
chuyên môn nghề nghiệp từng bước được nâng lên.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa, chủ động hội
nhập quốc tế không thể không tiếp nhận những thành tựu khoa học, kỹ thuật và
công nghệ hiện đại phục vụ hoạt động của ngành công nghiệp. Điều này, đòi hỏi phải
khắc phục triệt để những hạn chế về tác phong và kỷ luật lao động của thời kỳ thực
hiện cơ chế hành chính, tập trung bao cấp và phải nâng cao trình độ chuyên môn
nghề nghiệp của công nhân. Nếu không, doanh nghiệp và công nhân không thể tồn
tại và phát triển. Đây là đòi hỏi rất cao, yêu cầu rất lớn và nghiêm ngặt đối với doanh
nghiệp và công nhân, cũng là động lực thúc đẩy trình độ học vấn, chuyên môn nghề
nghiệp của công nhân từng bước được nâng lên. Cùng với đó là việc rèn luyện, nâng
cao tác phong và kỷ luật lao động theo hướng hiện đại và hình thành ngày càng đông
đảo bộ phận công nhân trí thức.
Ba là, giai cấp công nhân nước ta hiện nay đã kế thừa và phát huy truyền
thống tốt đẹp của giai cấp công nhân Việt Nam trong các giai đoạn cách mạng trước
đây, đa số công nhân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, đi đầu, năng
động, sáng tạo trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Giai cấp công nhân nước ta hiện nay đã kế thừa và phát huy truyền thống tốt
đẹp của giai cấp công nhân Việt Nam trong các giai đoạn cách mạng trước đây, thực
hiện mục tiêu, nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó là truyền thống lOMoARcPSD|36443508
tiên phong cách mạng, kiên trì khắc phục và vượt qua khó khăn, gian khổ, quyết liệt,
năng động, sáng tạo trong sản xuất. . Đa số công nhân tin tưởng tuyệt đối vào sự
lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng CNXH.
Bốn là, số lượng công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng
giảm; sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo trong giai cấp công nhân ngày càng sâu sắc.
Số lượng công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm do
việc đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, nhiều doanh nghiệp chuyển
thành doanh nghiệp, công ty cổ phần. Bên cạnh đó, sự phân tầng xã hội, phân hóa
giàu nghèo trong giai cấp công nhân ngày càng sâu sắc do chênh lệch ngày càng lớn
về thu nhập giữa các bộ phận công nhân. Thu nhập của công nhân trong khu vực kinh
tế nhà nước thường cao và ổn định hơn so với công nhân trong khu vực kinh tế ngoài
nhà nước. Đặc biệt, sự chênh lệch về thu nhập và mức sống ngày càng tăng giữa
những công nhân có cổ phần với những công nhân không có cổ phần trong các doanh
nghiệp, công ty cổ phần, giữa những công nhân có trình độ chuyên môn và tay nghề
cao (công nhân trí thức) với những công nhân có tay nghề và trình độ chuyên môn
thấp và lao động giản đơn. Điều này dẫn đến tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân
tầng xã hội trong giai cấp công nhân ngày càng sâu sắc.
Năm là, thành phần xuất thân của giai cấp công nhân nước ta ngày càng đa
dạng, nhưng chủ yếu vẫn là từ nông dân.
So với thời kỳ trước đổi mới, thành phần xuất thân của giai cấp công nhân
ngày càng đa dạng hơn, không thuần nhất như trước đây.
Tuy nhiên, với đặc điểm của một nước nông nghiệp, thành phần xuất thân của giai
cấp công nhân phần lớn vẫn từ nông dân, trình độ và chuyên môn nghề nghiệp còn
hạn chế và còn chịu sự chi phối bởi tác phong, lề lối làm việc của người nông dân tiểu lOMoARcPSD|36443508
nông, chưa thích nghi với tác phong, kỷ luật lao động công nghiệp hiện đại. Đa phần
chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống nên trình độ và chuyên môn, nghề nghiệp
hạn chế, năng suất lao động và thu nhập thấp, khoảng cách giàu nghèo và sự phân
tầng xã hội trong giai cấp công nhân gia tăng. Một bộ phận công nhân còn nhiều hạn
chế trong giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị và hiểu biết về chính sách, pháp luật,
gây khó khăn nhất định cho việc phát triển đảng viên là công nhân.
2.2.3. Các tố chất để giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạnh
Đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là: Kiên quyết, triệt để, tập thể, có
tổ chức, có kỷ luật. Lại vì là giai cấp tiền tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách
nhiệm đánh đổ chế độ tư bản và đế quốc, để xây dựng một xã hội mới, giai cấp công
nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và giáo dục các tầng lớp khác. Vì
vậy, về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo.
Có người nói: Giai cấp công nhân Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo được cách mạng.
Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được hay là không, là do đặc tính cách mạng,
chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp. Giai cấp công nhân có Chủ nghĩa
MácLênin. Trên nền tảng đấu tranh, họ xây dựng nên Đảng theo Chủ nghĩa Mác-
Lênin là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng đề ra chủ trương, đường lối, khẩu hiệu cách
mạng, lôi cuốn giai cấp nông dân và tiểu tư sản vào đấu tranh, bồi dưỡng họ thành
những phần tử tiên tiến. Lại có những phần tử trí thức tham gia cách mạng và vô sản
hóa. Thành thử đội ngũ chính trị của giai cấp công nhân ngày càng phát triển. Mai sau,
công nghệ của ta ngày càng phát triển, thì số công nhân ngày càng tăng thêm.
Tuy hiện nay ở nước ta giai cấp công nhân còn nhỏ, song ở thế giới thì giai cấp
công nhân rất to lớn. Cho nên quyền lãnh đạo cách mạng chỉ do giai cấp công nhân nắm". lOMoARcPSD|36443508
CHƯƠNG 4: CUỘC CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHỈ CÓ THỂ THẮNG LỢI THÀNH
CÔNG KHI VÀ CHỈ KHI CÓ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành
cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Giữa Đảng và
giai cấp công nhân có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời. Giai cấp công nhân là
cơ sở xã hội – giai cấp của Đảng, là nguồn bổ sung lực lượng của Đảng. Ngược lại,
Đảng là chính đảng của giai cấp công nhân, hình thành trên quan điểm lập trường
giai cấp công nhân, là đội tiên phong chiến đấu, là bộ tham mưu của giai cấp.
Trước khi Đảng cộng sản ra đời, đất nước ta đặt dưới sự thống trị của thực
dân Pháp, rất nhiều phong trào đấu tranh yêu nước rất nhiều các tầng lớp khác nhau
trong xã hội như phong trào Cần Vương của các sĩ phu yêu nước, phong trào đấu
tranh theo ý thức hệ của giai cấp tư sản, tiểu tư sản Việt Nam như cuộc đấu tranh
của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học … Những phong trào này đã đặt
vấn đề giải phóng đất nước, giành độc lập dân tộc, thức tỉnh dân trí nhưng do ý thức
hệ hoặc đã lỗi thời hoặc mang tính cải lương nên không đáp ứng được đầy đủ yêu
cầu của dân tộc, dân chủ bức thiết của đông đảo nhân dân lao động nước ta cũng
như tỏ ra bất cập so với thời đại - khi mà Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười
Nga thành công đã thức tỉnh các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phóng dân
tộc bỏ qua chế độ tư bản để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nói cách khác, sự thất bại của
các phong trào yêu nước đó do thiếu đường lối đúng đắn và một Đảng cách mạng
chân chính nên kể từ khi giai cấp công nhân Việt Nam tổ chức được chính đảng của
mình và chuyển phong trào đấu tranh từ tự phát sang tự giác, lịch sử Việt Nam đã
bước sang một trang mới.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ra đời đánh dấu bước chuyển biến quyết định của cách mạng Việt Nam. Vừa
mới ra đời, Đảng đã phát động ngay được cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là
Xô-viết Nghệ Tĩnh. Cao trào đã thu hút đông đảo quần chúng công nông cả nước đấu lOMoARcPSD|36443508
tranh chống ách thống trị của bọn đế quốc, phong kiến. Thành quả lớn nhất của cao
trào cách mạng 1930-1931, mà cuộc khủng bố trắng tàn khốc của đế quốc và phong
kiến đã không thể nào xóa nổi là ở chỗ, nó khẳng định trong thực tế quyền lãnh đạo
duy nhất thuộc về Đảng ta; ở chỗ, nó đem lại cho quần chúng niềm tin vào sự lãnh
đạo của Đảng. Trong khi khẳng định đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, khả
năng cách mạng to lớn của công nông, nó cũng chứng tỏ tính chất phiêu lưu, cải
lương của giai cấp phong kiến và tư sản mại bản. Đó là thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa
quyết định đối với sự phát triển về sau của cách mạng Việt Nam. “Trực tiếp mà nói,
không có những trận chiến đấu rung trời chuyển đất những năm 1930-1931, trong
đó công nông đã vung ra nghị lực cách mạng phi thường của mình, thì không thể có
cao trào những năm 1936-1939”. Đây là “cuộc tổng diễn tập đầu tiên” cho thắng lợi
của Cách mạngTháng Tánăm 1945.
Những năm 1936-1939, một thời kỳ đấu tranh hợp pháp và nửa hợp pháp kết
hợp chặt chẽ với hoạt động bí mật, bất hợp pháp diễn ra ở nước ta. Khi Mặt trận
Nhân dân lên cầm quyền ở Pháp, Đảng coi đây là một cơ hội tốt để đưa cách mạng
tiến bước. Đảng đề ra mục tiêu cho thời kỳ này là “chống phản động thuộc địa, chống
phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do dân chủ, cơm áo và hòa bình”. Cao trào cách
mạng 19361939 dưới sự lãnh đạo của Đảng là thời kỳ vận động quần chúng sôi nổi
với nhiều hình thức tổ chức và hoạt động linh hoạt, phong phú, kể cả việc lợi dụng
các “Viện dân biểu”, các “Hội đồng quản hạt” do thực dân Pháp lập ra. Đảng đã động
viên, giáo dục cho hàng triệu quần chúng trong các cuộc đấu tranh chính trị rộng
khắp. Sự lãnh đạo của Đảng thời kỳ này đánh dấu bước trưởng thành, thể hiện năng
lực lãnh đạo của Đảng ta, chuẩn bị điều kiện để đưa quần chúng vào những trận
chiến đấu quyết liệt trong những năm 1940-1945.
Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp quỳ gối dâng nước ta
cho phát xít Nhật, dân ta một cổ hai tròng. Đảng nhận định đây là thời kỳ mà ách áp
bức, bóc lột và chiến tranh đế quốc làm cho nhân dân ngày càng cách mạng hóa,
cách mạng sẽ bùng nổ. Đảng quyết định lập Mặt trận Việt Minh để tập hợp rộng rãi
các lực lượng dân tộc dân chủ, đồng thời xây dựng các căn cứ địa và những đơn vị vũ lOMoARcPSD|36443508
trang đầu tiên, phát động phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật sôi nổi, mạnh mẽ. Khi
Nhật hất cẳng Pháp, Đảng đã tranh thủ thời cơ, chuyển hướng mau lẹ, phát động cao
trào kháng Nhật, cứu nước, tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, giành
chính quyền nhanh gọn trong cả nước, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên
ở Đông Nam Á, đưa Đảng ta lên vị trí lãnh đạo, cầm quyền. Đánh giá về cuộc Cách
mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử
cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh
đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.
Sau Cách mạng Tháng Tám, khi chính quyền cách mạng còn trứng nước, trước
nguy cơ cực kỳ nghiêm trọng do thù trong giặc ngoài gây ra, tình hình đất nước như
“ngàn cân treo sợi tóc”. Với sự lãnh đạo sáng suốt, vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa
mềm dẻo về sách lược, Đảng đã lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác
ghềnh hiểm trở, lướt sóng đi lên. Lúc thì tạm hòa hoãn với Tưởng để rảnh tay đối
phó với Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, lúc thì tạm hòa hoãn với Pháp để
đuổi quân Tưởng và quét sạch bọn phản động tay sai, giành thời gian củng cố lực
lượng, chuẩn bị cho cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân
Pháp. Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đó cho thấy sự lãnh đạo tài ba của Đảng ta
và đã “được ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một mẫu mực tuyệt vời của sách lược lêninnít”.
Sự lãnh đạo tài ba của Đảng ta còn thể hiện rõ trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp 1946-1954. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quân và dân ta đã
tiến hành cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là
chính” và đã giành được thắng lợi vẻ vang, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện
Biên Phủ vang dội năm châu, chấn động địa cầu, giải phóng miền Bắc, tạo điều kiện
cơ bản để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đảng lãnh đạo
thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp có ý nghĩa không chỉ với nước ta mà còn đối
với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lần
đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực lOMoARcPSD|36443508
dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời, cũng
là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và XHCN trên thế giới”.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài ba của Đảng, nhân dân cả nước bước vào
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 với tinh thần chiến đấu vô cùng
anh dũng và quả cảm, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Giải phóng miền Nam, xây
dựng CNXH ở miền Bắc. Với đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH,
Đảng đã kết hợp sức mạnh của tiền tuyến lớn với hậu phương lớn, động viên đến
mức cao nhất lực lượng của toàn dân vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một
cuộc kháng chiến đã kết tinh, tổng hợp và phát triển lên trình độ cao những truyền
thống cách mạng và năng lực sáng tạo của Đảng ta, dẫn đến đại thắng mùa Xuân năm
1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và
CNXH trên đất nước ta. “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta
trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân
tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn
thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế
giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế
to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh
giai cấp và đấu tranh dân tộc trong thời đại mới; là sản phẩm của sự kết hợp chủ
nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; là kết
quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử; là kết quả của quá trình
chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của các chiến sĩ cách mạng. Sự ra
đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng tỏ rằng: giai cấp công nhân Việt Nam đã
trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Thực tế cho thấy ngay từ khi mới ra đời,
Đảng cộng sản Việt Nam đã mang trong mình tính thống nhất giữa yếu tố giai cấp và
yếu tố dân tộc, thực hiện vai trò lãnh đạo với tinh thần trách nhiệm cao của giai cấp
và dân tộc. Sự ra đời của Đảng cũng là cột mốc lớn đánh dấu bước ngoặt trọng đại
trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài
mấy chục năm đã được giải quyết. lOMoARcPSD|36443508
Đảng đã đề ra cương lĩnh đúng đắn của cách mạng Việt Nam, vạch ra đường
lối đấu tranh cách mạng khác về chất so với những con đường cứu nước do những
nhà yêu nước đương thời vạch ra. Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chỉ sau 19 năm thành lập (1930-1954), khai
sinh ra nước Việt nam Dân chủ cộng hòa, đưa miền Bắc nước ta quá độ tiến lên chủ
nghĩa xã hội, đồng thời tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam.
Đến tháng 4/1975, sau 45 năm chiến đấu và trưởng thành, Đảng đã lãnh đạo nhân
dân ta thực hiện thành công cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, thống nhất đất
nước và đưa cả nước ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam có
vai trò lãnh đạo nhân dân Việt Nam cùng một lúc vừa làm tư sản cách mạng, vừa làm
dân tộc cách mạng và làm giai cấp cách mạng. Đây là đặc điểm lớn nhất của cách
mạng vô sản ở Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cũng là một đặc
điểm của sứ mệnh lịch sử của Đảng đối với giai cấp và dân tộc Việt Nam.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu
rõ trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Lời kêu gọi
của Đảng khi Đảng mới thành lập, đó là: "Chủ trương làm tư sản dân quyền cách
mạng (révolution démocratique bourgeoise) và thổ địa cách mạng (révolution
agratire) để đi tới xã hội cộng sản";. ." Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn
phong kiến";. . Làm cho nước Việt Nam được độc lập;. . Giải phóng công nhân và
nông dân thoát khỏi ách tư bản; Mở mang công nghiệp và nông nghiệp;. . Đem lại
mọi quyền lợi tự do cho nhân dân".
Qua hơn 30 năm xây dựng đất nước, tiến hành 02 cuộc chiến tranh chống
xâm lược ở biên giới, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn vàng khó khăn,
trở ngại để đưa nước ta vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội như ngày hôm nay.
Nhìn lại những thành tựu mà đất nước ta đã đạt được sau hơn
70 năm từ khi có Đảng lãnh đạo, chúng ta càng tự hào vì có đội tiên phong của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam. lOMoARcPSD|36443508
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng thẳng thắn nhận ra
những khiếm khuyết, sai lầm mà đã có lúc Đảng ta đã vấp phải trong thời gian khá
dài trước thời kỳ đổi mới. Đảng ta cũng đã sớm nhận thức ra những thiếu sót, khuyết
điểm và tự nhận khuyết điểm trước nhân dân, đã sửa chữa và sửa chữa có kết quả,
đem lại lòng tin của nhân dân với Đảng. Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc
đổi mới toàn diện vì chủ nghĩa xã hội, với quyết tâm và trí tuệ của toàn Đảng, sự
tham gia tích cực của nhân dân, công cuộc đổi mới ở nước ta trong gần 20 năm qua
đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, khẳng định đường lối
đổi mới là đúng. Vì vậy, với cương lĩnh và đường lối đúng đắn, sáng tạo của mình,
trong hơn 2/3 thế kỷ, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thể hiện rõ qua
việc tổ chức, lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thắng lợi đó là:
Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã mở
ra một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. -
Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giảiphóng dân
tộc, bảo vệ Tổ quốc bằng chiến thắng 30/41975, góp phần quan trọng vào cuộc đấu
tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. -
Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đấtnước quá
độ lên chủ nghĩa xã hội. Trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm, tổng kết sáng kiến của
nhân dân, Đảng ta đã đề ra và lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thực tiễn Việt Nam và bối cảnh quốc tế mới.
Với những thắng lợi giành được thời gian qua, nước ta từ một nước thuộc địa
nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển kinh tế theo con
đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng
trong khu vực và trên thế giới. Sở dĩ Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện được nhiệm lOMoARcPSD|36443508
vụ lịch sử của mình, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này sang thắng lợi
khác là do những nguyên nhân sau đây: -
Một là, Đảng ta có đường lối đúng đắn, đó là sự vận dụng vàphát triển
sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng
Việt Nam. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối đó là việc giải quyết đúng đắn và kết hợp
chặt chẽ, nhuần nhuyễn các mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế,
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. -
Hai là, Đảng sinh ra từ một dân tộc có truyền thống yêunước, đấu tranh
bất khuất, một nhân dân cách mạng, thiết tha với độc lập tự do, sẳn sàng tập họp,
đoàn kết thống nhất xung quanh Đảng. -
Ba là, Đảng qua các thời kỳ đấu tranh lúc thuận lợi cũng nhưlúc khó
khăn đều được tổ chức chặt chẽ trên nguyên tắc tập trung dân chủ, đại đa số Đảng
viên trung thành với lý tưởng cách mạng, một lòng phấn đấu hy sinh vì dân, vì nước.
Tất cả những điều đó có thể khẳng định rằng nếu không có Đảng Cộng sản Việt Nam
thì cách mạng Việt Nam sẽ không đạt được thắng lợi to lớn như đã qua. Giữ vững vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là vấn đề chiến lược có tính nguyên tắc,
bởi vậy, cần kế thừa và phát triển những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo nhân
dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng tiếp tục tích cực tổng kết thực tiễn kết hợp với
nghiên cứu lý luận để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về vai trò lãnh đạo của Đảng;
không ngừng bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, cơ chế lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước, xã hội nói chung và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nói
riêng trong thời kỳ mới.Tuy nhiên, hiện nay chúng ta vẫn phải đối mặt với muôn vàn
khó khăn về kinh tế, chính trị, xã hội …Vì vậy, để đảm bảo định hướng xã hội chủ
nghĩa và lãnh đạo đất nước thực hiện thành công định hướng chiến lược đã đặt ra,
Đảng ta phải việc thường xuyên tự đổi mới, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực
lãnh đạo, giữ vững đoàn kết thống nhất, đấu tranh có hiệu quả chống chủ nghĩa các lOMoARcPSD|36443508
nhân, chủ nghĩa cơ hội, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, Đảng viên trong sạch, có
phẩm chất đạo đức, năng lực và sức chiến đấu cao, tiêu biểu cho bản chất, lương
tâm và trí tuệ của giai cấp công nhân. Đồng thời Đảng phải củng cố, xây dựng và phát
triển mạnh mẽ giai cấp công nhân, luôn đặt vấn đề giai cấp công nhân như một vấn
đề sinh tử của cách mạng. Đảng cũng đã đặt vấn đề giữ vững và tăng cường bản chất
giai cấp công nhân của Đảng thành nhiệm vụ trung tâm hàng đầu. C. KẾT LUẬN
Giai cấp công nhân tất yếu có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo các tầng lớp nhân
dân lao động bị áp bức, bóc lột trong cuộc đấu tranh từng bước xoá bỏ chủ nghĩa tư
bản và xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa văn minh. giai cấp công nhân Việt
Nam - một bộ phận của giai cấp công nhân quốc tế cũng có sứ mệnh lịch sử ấy. Tuy
nhiên, để phát huy vai trò của mình, giai cấp công nhân Việt Nam cần phát triển cả về
số lượng và chất lượng, vươn lên khắc phục những hạn chế, từng bước đáp ứng
những yêu cầu của sự nghiệp công ngiệp hóa – hiện đại hóa và xây dựng đất nước.
Thời gian là hòn đá thử vàng, 90 năm qua là giai đoạn đặc biệt của cách mạng
nước ta-giai đoạn đưa đất nước tiến lên con đường chủ nghĩa xã hội-dưới sự lãnh
đạo của một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, là thời gian mà đất nước và
dân tộc vượt qua nhiều thách thức, có lúc hiểm nghèo. Mỗi lần vượt qua thách thức,
Đảng và dân tộc ta lại trưởng thành, vươn lên tạo dựng những mốc son mới. Những
mốc son chói ngời đó chứng minh rõ tài năng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
một đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Chỉ điểm qua
những kết quả nêu trên, có thể khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Như vậy, Đảng Cộng
sản có vai trò vô cùng to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thắng lợi thành công
khi và chỉ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, của giai cấp công nhân. lOMoARcPSD|36443508 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học
2. Link: https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/202001/vai-tro-lanh-
daocuadang-la-nhan-to-quyet-dinh-moi-thang-loi-trong-tien-trinh-cach- mangvietnam-307494/
3. Link: http://eldata11.topica.edu.vn/HocLieu/PHM102/Giao
%20trinh/07_PHM102_Bai7_v2.0013105209.pdf
4. Link: https://vanluat.vn/su-menh-lich-su-cua-giai-cap-cong-nhan-vietnamhien- nay-10934.html
5. Link: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/3476-vai-
trodacdiem-giai-cap-cong-nhan-viet-nam-trong-thoi-ky-cong-nghiep-hoa- hiendaihoa-dat-nuoc.html
6. Link: https://www.qdnd.vn/chinh-tri/cac-van-de/vi-sao-cong-nhan-la-
giaicaplanh-dao-cach-mang-583518
7. Link: https://tuyphuoc.vn/vi/news/tin-suu-tam/dang-cong-san-viet-namnhanto-
quyet-dinh-moi-thang-loi-cua-cach-mang-viet-nam-155.html
Document Outline

  • CHƯƠNG 4: CUỘC CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHỈ CÓ
  • A. MỞ ĐẦU
    • 1. Lý do chọn đề tài
    • 2. Mục tiêu nghiên cứu
  • B. NỘI DUNG
  • CHƯƠNG 1: ĐẢNG CỘNG SẢN
    • 1.1. Khái niệm Đảng Cộng sản
    • 1.2. Tính tất yếu ra đời Đảng Cộng sản
    • 1.3. Vai trò của Đảng Cộng sản và mối quan hệ giữa
  • CHƯƠNG 2: GIAI CẤP CÔNG NHÂN
    • 2.1.1. Định nghĩa giai cấp công nhân và quan điểm
    • 2.1.2. Đặc điểm của giai cấp công nhân
    • 2.1.3. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
    • 2.2. Liên hệ đến giai cấp công nhân Việt Nam
      • 2.2.1. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
      • Nam
        • 2.2.3. Các tố chất để giai cấp công nhân lãnh đạo
      • CHƯƠNG 4: CUỘC CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHỈ CÓ T
        • C. KẾT LUẬN
      • TÀI LIỆU THAM KHẢO
        • 1. Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học