



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HOA SEN
BÀI TIỂU LUẬN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC CHỦ ĐỀ 3:
CƯƠNG LĨNH DÂN TỘC CỦA LÊNIN VÀ
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN: NGUYỄN THU HÀ Mã số SV: 22300169
Ngành: Quản Trị Kinh Doanh Lớp MH: 2372-1004
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GV. ThS PHẠM THỊ NGỌC ANH
Tp. Hồ Chí Minh, Tháng 5 năm 2024 MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN. ............................................................................. 2
LỜI CẢM ƠN. .................................................................................. 3
MỞ ĐẦU ........................................................................................... 4
NỘI DUNG. ...................................................................................... 5
PHẦN 1: CƯƠNG LĨNH DÂN TỘC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
................................................................................................... 5 1.1
Phân tích Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin: 5 1.1.1
Dân tộc. ............................................................................ 5 1.1.2
Mối quan hệ dân tộc và giai cấp: .................................... 5 1.1.3
Hai xu hướng khách quan trong sự phát triển dân tộc: ... 5 1.1.4
Cách mạng tháng 10 Nga: ............................................... 6 1.1.5
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin: ............ 7
PHẦN 2: CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY. ............................. 9 2.1
Phân tích chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay: ................................................................... 9 2.2
Hiệu quả chính sách dân tộc: ........................................... 11 2.3
Thách thức chính sách dân tộc: ....................................... 13 2.4
Giải pháp .......................................................................... 13
KẾT LUẬN. .................................................................................... 14
DANH MỤC TÀI TIỆU THAM KHẢO. ........................................15 1 LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam kết bài tiểu luận của tôi bảo đảm được bảo mật, tuyệt đối không
chia sẻ bài cho sinh viên khác. Kết quả bài tiểu luận của tôi do tôi tự thực
hiện dựa trên bài giảng, powerpoint, các thông tin từ giảng viên và tham
khảo từ các nguồn trích dẫn trong bài....
Tôi xin cam đoan rằng mọi thông tin trích dẫn trong bài tiểu luận đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Sinh viên thực hiện bài tiểu luận
(Ký và ghi rõ họ tên) 2 LỜI CẢM ƠN
Kính gửi gửi cô Phạm Thị Ngọc Anh – giảng viên môn Kinh Tế Chính Trị
Mác- Lênin và Viện Đào Tạo Từ Xa của Đại Học Hoa Sen.
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới trường Đại Học Hoa Sen và Viện Đào Tạo
Từ Xa của Đại Học Hoa Sen đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập
từ xa này. Dù với khoảng cách về không gian và thời gian, em vẫn cảm
thấy được sự chăm sóc và hỗ trợ đầy đủ từ phía quý thầy cô. Bài giảng
được trình bày một cách chi tiết, dễ hiểu, giúp em có cơ hội tiếp cận kiến
thức mới một cách hiệu quả. Không chỉ giúp em tiếp cận kiến thức, môi
trường học tập từ xa còn giúp em phát triển kỹ năng quản lý thời gian, tự
học và làm việc độc lập. Những kỹ năng này sẽ luôn có ích trong tương lai
của em và trong sự nghiệp học tập cũng như công việc.
Em xin chân thành cảm ơn cô Phạm Thị Ngọc Anh – giảng viên môn Chủ
nghĩa xã hội khoa học về những giờ giảng và sự hướng dẫn tận tâm mà cô
đã dành cho em trong suốt môn học. Môn Chủ nghĩa xã hội khoa học này
đã giúp em hiểu rõ hơn về giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Qua những
kiến thức đã học, em có thể có cái nhìn tổng quan hơn và hiểu rõ hơn về
những lý luận của Lênin về dân tộc. Em tin rằng những kiến thức và kinh
nghiệm mà em đã thu thập được trong thời gian học tập này sẽ giúp em có
kiến thức và kỹ năng mà em sẽ mang đi suốt đời và áp dụng trong nhiều
khía cạnh của cuộc sống và sự nghiệp.
Em xin cảm ơn cô Phạm Thị Ngọc Anh và Viện Đào Tào Từ Xa của Đại Học Hoa Sen. 3 MỞ ĐẦU
Trong mỗi quốc gia, vấn đề dân tộc luôn đóng vai trò quan trọng, là nền
tảng của sự đa dạng văn hóa và bản sắc quốc gia. Không ngoại trừ Việt
Nam với sự đa dạng về dân tộc và văn hóa, đã từ lâu gắn bó với việc bảo vệ
và phát triển các dân tộc thiểu số. Cương lĩnh dân tộc của Mác-Lênin đã đi
vào lịch sử bao năm nay với những nguyên tắc về bình đẳng, tự chủ và phát
triển toàn diện cho mọi dân tộc. Đồng hành cùng với lý luận đó mà Đảng
Cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam đã và đang tiếp tục phát triển
và thực hiện trong chính sách dân tộc của quốc gia hiện nay.
Mở cửa trước một đất nước giàu văn hóa và bản sắc dân tộc, cương lĩnh
dân tộc của Mác-Lênin đã tạo nên nền tảng cho chính sách dân tộc của
Việt Nam hiện nay. Với sứ mệnh bảo vệ và phát triển các dân tộc thiểu
số, chính sách này không chỉ nhấn mạnh về việc xóa đói giảm nghèo, mà
còn về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của mỗi dân tộc.
Trong bối cảnh hiện nay, chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước Việt
Nam tiếp tục đề cao nguyên tắc bình đẳng và tự chủ cho tất cả các dân
tộc, đặc biệt là những dân tộc thiểu số và ở các vùng kinh tế khó khăn.
Bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội và văn
hóa của mọi dân tộc, chính sách này đang góp phần xây dựng một xã hội
công bằng, tiến bộ và đoàn kết. Chính vì những điều đó mà em quyết
định chọn đề tài phân tích “ Cương lĩnh dân tộc của Lênin và chính
sách dân tộc của Đảng và nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” để
có thể hiểu rõ những luận điểm của Lênin và chính sách dân tộc của Đảng
và nhà nước Việt Nam hiện nay. 4 NỘI DUNG
PHẦN 1: CƯƠNG LĨNH DÂN TỘC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN 1.1
Phân tích Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin: 1.1.1 Dân tộc
Dân tộc theo định nghĩa của Chủ nghĩa Mác-Lênin là Là một cộng đồng
dân cư hình thành từ một bộ tộc hoặc từ sự liên kết của tất cả các bộ tộc
sống trên cùng một vùng lãnh thổ. Cũng như bộ tộc, dân tộc là hình thức
cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, có các thể chế chính trị và
nhà nước. Nếu trong bộ tộc các cộng đồng dân cư liên kết với nhau chưa
dựa trên những nguyên tắc pháp lý, chưa thực sự là một cộng đồng dân cư
ổn định và bền vững; thì ngược lại, dân tộc là một cộng đồng dân cư có
tính thống nhất cao, ổn định và tương đối bền vững dựa trên những nguyên tắc pháp lý cao. 1.1.2
Mối quan hệ dân tộc và giai cấp:
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, dân tộc đóng vai trò then chốt
trong ảnh hưởng đến sự phát triển của các giai cấp xã hội. Dân tộc là
nền tảng của các quá trình kinh tế-xã hội, cung cấp cơ sở cho sự duy trì
đời sống và phát triển của các giai cấp. Các quá trình kinh tế tạo ra đời
sống vật chất để duy trì cuộc sống của các giai cấp, đồng thời cũng quyết
định đến sự tiến bộ của dân tộc và các giai cấp trong đó. Dân tộc là cơ sở
của cuộc đấu tranh giai cấp, mọi cuộc đấu tranh chỉ đơn giản là việc giải
quyết mâu thuẫn lợi ích giữa các tập đoàn người trong xã hội. Lợi ích
của các tập đoàn người này liên quan chặt chẽ đến lợi ích của dân tộc. Do
đó, cách giải quyết mâu thuẫn lợi ích dân tộc sẽ ảnh hưởng đến hướng đi
của cuộc đấu tranh giai cấp. Sự thành công hoặc thất bại của cuộc đấu 5
tranh giai cấp phụ thuộc vào việc liệu lợi ích của nó có phản ánh đúng với
lợi ích của dân tộc hay không.
Dân tộc không chỉ là nơi sinh sống của các nền văn hóa, mà còn là nơi nuôi
dưỡng tâm hồn, lối sống của các giai cấp. Đây là một cộng đồng văn hóa,
nơi tương tác và kết hợp các giá trị biểu trưng văn hóa của từng cộng
đồng tộc người cụ thể. Vì thế, văn hóa dân tộc ảnh hưởng đến việc hình
thành tâm lý, lối sống của các giai cấp. Mỗi giai cấp, bên cạnh những đặc
điểm riêng, cũng chứa đựng các giá trị văn hóa chung của dân tộc. Ngoài
ra, áp bức dân tộc có tác động mạnh mẽ đến áp bức giai cấp, tăng cường
và củng cố áp bức giai cấp. Phong trào giải phóng dân tộc có ảnh hưởng
lớn đến cuộc đấu tranh giai cấp, thúc đẩy sự tự do và công bằng xã hội. 1.1.3
Hai xu hướng khách quan trong sự phát triển dân tộc:
Nghiên cứu vấn đề dân tộc, V.I. Lênin phát hiện ra hai xu hướng khách
quan trong sự phát triển quan hệ dân tộc. 6
Xu hướng thú nhất, cộng đồng dân cư muôn tách ra đế hình thành cộng
đồng dân tộc độc ỉập. Nguyên nhân là do sự thức tỉnh, sự trưởng thành về ý
thức dân tộc, ý thức về quyển sống của mình, các cộng đông dân cư đó
muốn tách ra để thành lập các dân tộc độc lập. Xu hướng này thể hiện rõ
nét trong phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các dân tộc
thuộc địa và phụ thuộc muôn thoát khỏi sự áp bức, bóc lột của các nước thực dân, đế quốc.
Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc
ở nhiều quốc gia muôn liên hiệp lại với nhau. Xu hướng này nổi lên trong
giai đoạn chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đê quốc đi bóc lột
thuộc địa; do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công
nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hóa trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã
làm xuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, thúc
đẩy các dân tộc xích lại gần nhau.
Sự đa dạng và phong phú của các biểu hiện trong hai xu hướng khách quan
này thể hiện sự phức tạp và đa chiều của quan hệ dân tộc trong thời đại
ngày nay. Cả hai xu hướng này đều góp phần vào việc hiểu và xây dựng
một thế giới ngày càng phong phú về mặt văn hóa, kinh tế và xã hội. 1.1.4
Cách mạng tháng 10 Nga:
Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, dưới sự lãnh đạo của V.I. Lênin và
Đảng Cộng sản Nga, đánh dấu sự ra đời của cuộc cách mạng vô sản đầu
tiên trong lịch sử thế giới. Thắng lợi của cuộc cách mạng này không chỉ tạo
ra một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử nhân loại mà còn có tầm ảnh hưởng
sâu rộng đối với phong trào cộng sản và công nhân trên toàn cầu. Các giá
trị và bài học từ thời kỳ đó, đặc biệt là sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc
và sức mạnh của thời đại trong Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, vẫn còn
là tài sản quý báu, mang lại giá trị bền vững và vẫn lan tỏa sức sống mãnh
liệt trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ngày nay. Quan điểm
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại xuất phát từ thực tiễn Cách
mạng Tháng Mười Nga, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chúng ta biết rằng, mục tiêu của phong trào cộng sản quốc tế không
chỉ vì giải phóng bản thân giai cấp công nhân, mà còn và trước tiên là
giải phóng dân tộc, tiến tới giải phóng toàn nhân loại khỏi mọi chế độ áp
bức, bóc lột, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản văn
minh. Nhận rõ bản chất quốc tế của sự nghiệp cách mạng vô sản, khi viết
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản như bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của giai cấp vô sản toàn thế giới, Mác và Ăngghen đã đề ra khẩu hiệu “Vô
sản tất cả các nước đoàn kết lại”. Lãnh tụ V.I. Lênin chỉ rõ: “Cách mạng
xã hội chủ nghĩa sẽ không phải chỉ là và chủ yếu là một cuộc đấu tranh
của giai cấp vô sản cách mạng ở từng nước chống lại giai cấp tư sản ở
nước mình; không phải thế, đó sẽ là cuộc đấu tranh của tất cả các thuộc 6
địa và tất cả những nước bị chủ nghĩa đế quốc áp bức, của tất cả các
nước phụ thuộc chống lại chủ nghĩa đế quốc quốc tế”
Qua đó, có thể thấy rằng sự hợp nhất giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh
thời đại là yếu tố then chốt trong chiến lược cách mạng, đồng thời là
nguồn động viên quan trọng cho các cuộc đấu tranh cách mạng trong quá khứ và hiện tại. 1.1.5
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin:
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác về mối quan hệ giữa dân tộc và giai
cấp, kết hợp với phân tích hai xu hướng khách quan trong sự phát triển dân
tộc, cùng với kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới và thực tiễn
cách mạng Nga trong việc giải quyết vấn đề dân tộc trong những năm đầu
thế kỷ XX, Cương lĩnh dân tộc của V.I. Lênin được khái quát như sau “Các
dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp
công nhân tất cả các dân tộc lại”.
Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn
hay nhỏ, ở trình độ phát triển cao hay thấp. Các dân tộc đều có nghĩa vụ
và quyền lợi ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa.
Trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không một dân tộc
nào có quyền đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Trong một quốc gia có nhiều
dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trên cơ sỗ pháp lý,
nhưng quan trọng hơn là phải được thực hiện trên thực tế. Để thực hiện
được quyển bình đẳng dân tộc, trước hết phải thủ tiêu tình trạng áp bức giai
cấp, trên cơ sở đó xoá bỏ tình trạng áp bức dân tộc. Đồng thời phải đấu
tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa dân tộc cực
đoan. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyển dân
tộc tự quyết và xây dựng môì quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc.
Các dân tộc được quyền tự quyết
V.I. Lênin đã đưa ra một định nghĩa rõ ràng về quyền tự quyết của các dân
tộc, đó là quyền quyết định về chính trị của một dân tộc: " Quyền dân
tộc tự quyết có nghĩa là quyền phân lập về mặt Nhà nước của các dân
tộc đó ra khỏi tập thể dân tộc khác, có nghĩa là sự thành lập một quốc gia
dân tộc độc lập." Ông giải thích thêm: " Quyền dân tộc tự quyết hoàn toàn
chỉ có nghĩa là các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân
lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ" Đó là quyền của các dân tộc
tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự lựa chọn chế độ
chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình. Quyền tự quyêt dân
tộc bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc gia dân tộc độc lập, đồng
thời có quyền tự nguyện liên hiệp với dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng 7
Tuy nhiên, việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải xuất phát từ thực
tiễn - cụ thể và phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân,
đảm bảo sự thông nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của giai cấp công
nhân. V.I. Lênin đặc biệt chú trọng quyền tự quyết của các dân tộc bị áp
bức, các dân tộc phụ thuộc. Quyền tự quyết dân tộc không đồng nhất với
“quyền” của các tộc người thiểu số trong một quốc gia đa tộc người, nhất
là việc phân lập thành quốc gia độc lập. Kiên quyết đấu tranh chống lại mọi
âm mưu, thủ đoạn của các thê lực phản động, thù địch lợi dụng chiêu bài
“dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, hoặc
kích động đòi ly khai dân tộc. Giá trị của tư tưởng của V.I. Lênin về
quyền tự quyết của dân tộc nằm ở việc luôn đặt mình trên lập trường của
giai cấp vô sản trong việc giải quyết vấn đề này. Ông không ủng hộ việc
tách biệt của một dân tộc để thành lập một quốc gia riêng biệt trong mọi
trường hợp, mà chỉ ủng hộ điều này khi dân tộc đó bị áp bức và bị bóc lột bằng bạo lực.
Điển hình là hiện nay, có một số người lợi dụng lý luận về “quyền dân tộc
tự quyết” của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, một số phần tử chống đối nhà nước
ta, rêu rao nói xấu trên mạng xã hội rằng: Đảng, Nhà nước Việt Nam vi
phạm chủ nghĩa Mác - Lênin, vi phạm Luật pháp Quốc tế, vu cáo Nhà
nước ta "phân biệt đối xử, đàn áp người dân tộc thiểu số", ép người dân
tộc thiểu số phải “bỏ đạo, bỏ văn hoá dân tộc” … để kích động, lôi kéo
người dân tộc thiểu số biểu tình, bạo loạn đòi “quyền dân tộc tự quyết, tự
quản”. Tất cả những điều đó đều không phải quyền tự quyết của dân tộc
theo Mác-Lênin, đối với Mác- Lênin thì quyền tự quyết dân tộc chỉ xảy ra
khi dân tộc đó bị áp bức và bị bạo hành bằng bạo lực, sống trong đau khổ và không có tiếng nói.
Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc
Liên hiệp công nhân các dân tộc phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng
dân tộc và giải phóng giai cấp, phản ánh sự gắn bó chặt chẽ giữa tinh
thần của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính. Đoàn kết,
liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp
nhân dân lao động thuộc các dần tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa
đê quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Vì vậy, nội dung này vừa là
nội dung chủ yếu, vừa là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung
của Cương lĩnh dân tộc thành một chỉnh thế.
Nói tóm lại, cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là
một phần quan trọng của lý luận chính trị, mà còn là một công cụ quan
trọng giúp các Đảng Cộng sản xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc
đúng đắn trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. 8
PHẦN 2: CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 2.1
Phân tích chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay:
Việt Nam, một đất nước nằm ở trung tâm của Đông Nam Á, không chỉ
nổi tiếng với cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ mà còn ghi dấu ấn với sự đa
dạng và phong phú của cộng đồng dân tộc. Với 54 dân tộc khác nhau, mỗi
dân tộc mang trong mình những đặc điểm văn hóa, truyền thống và ngôn
ngữ riêng, tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng và phong phú. Tuy
nhiên, sự đa dạng văn hóa và dân tộc cũng đặt ra những thách thức và cơ
hội đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam. Việc duy
trì và phát triển một môi trường sống đa văn hóa, một không gian xã hội đa
dân tộc không chỉ yêu cầu sự tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của tất cả các
dân tộc mà còn đòi hỏi sự hiểu biết và hòa nhập giữa các cộng đồng dân tộc khác nhau.
Vì vậy, chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay phản
ánh sự cam kết vững chắc đối với việc tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của
tất cả các dân tộc trên lãnh thổ quốc gia. Mục tiêu của chính sách này
không chỉ đơn thuần là bảo vệ sự đa dạng văn hóa mà còn là tạo điều kiện
cho sự phát triển bền vững và hòa bình của mọi dân tộc.
Nhằm thực hiện Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2020
của Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc
gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
giai đoạn 2021-2030 được đồng bộ, kịp thời, thống nhất và có hiệu quả.
Ngày 14/10, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đã ký Quyết định số
1719/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế
- xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030,
giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025
Mục tiêu tổng quát của chính sách là khai thác và tận dụng tiềm năng, lợi
thế của các địa phương thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi,
thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo, tăng cường phát triển kinh tế và đảm bảo
an sinh xã hội. Xóa đói giảm nghèo một cách nhanh nhất có thể để có thể
ổn định, bền vững và thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập
bình quân giữa các vùng so với bình quân chung của cả nước. Đặc biệt là
giảm dần số lượng xã, thôn đặc biệt khó khăn. Quy hoạch, sắp xếp và bố trí
dân cư một cách ổn định; xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội
đồng bộ, liên kết với các vùng phát triển. Phát triển toàn diện trong lĩnh
vực giáo dục, đào tạo, y tế và văn hóa; cải thiện đáng kể chất lượng đời
sống của nhân dân. Nâng cao số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ,
công chức và lao động thuộc các dân tộc thiểu số.
Bên cạnh đó, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số,
đồng thời loại bỏ những phong tục và tập quán lạc hậu. Thực hiện bình
đẳng giới và giải quyết các vấn đề cấp thiết liên quan đến phụ nữ và trẻ em.
Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, giữ vững an ninh chính
trị và trật tự an toàn xã hội; đảm bảo an ninh biên giới quốc gia. Củng
cố và tăng cường khối đại đoàn kết của các dân tộc, nâng cao niềm tin
của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước.
Chương trình đưa ra mục tiêu đến năm 2025 góp phần quan trọng thực hiện
mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi theo Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội về
phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 và tập trung thực hiện các dự án
theo thứ tự ưu tiên đến năm 2025 theo Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội.
Trong đó, mục tiêu là nâng thu nhập trung bình của người dân tộc thiểu số
lên gấp đôi so với năm 2020, giảm tỷ lệ nghèo trong cộng đồng dân tộc
thiểu số mỗi năm 3% và cố gắng giúp 50% số xã, thôn ra khỏi địa bàn khó
khăn. 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc bê
tông; 70% thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa. Thêm vào
đó, đảm bảo 100% số trường, lớp học và trạm y tế được xây dựng kiên cố.
Xây dựng và cải thiện cơ sở hạ tầng giáo dục và y tế tại tất cả các cấp, cung
cấp điện và nước sạch cho người dân, và đảm bảo người dân có thể truy
cập được vào truyền hình và phát thanh. Ngoài ra, hoàn thành công tác định
canh và định cư, sắp xếp dân cư di dời không theo quy hoạch ở 90% số
hộ. Cần quy hoạch và sắp xếp an toàn cho 60% hộ dân tộc thiểu số sống
ở những vùng xa xôi, nguy hiểm, có nguy cơ lũ lụt, sạt lở. Cần giải
quyết tình trạng thiếu đất ở và đất sản xuất cho cộng đồng dân tộc.
Mục tiêu giáo dục bao gồm đưa hơn 98% trẻ 5 tuổi đến trường mẫu giáo,
và hơn 97% trẻ trong độ tuổi học tiểu học đến trường. Đối với trình độ học
vấn, mục tiêu là hơn 95% học sinh hoàn thành trung học cơ sở, và hơn
60% hoàn thành trung học phổ thông. Đối với người lớn, mục tiêu là hơn
90% đọc, viết thành thạo tiếng phổ thông. Tăng cường dịch vụ y tế để cung
cấp chăm sóc sức khỏe hiện đại cho cộng đồng, đồng thời tiếp tục nỗ lực
kiểm soát và loại bỏ dịch bệnh trong dân tộc thiểu số và miền núi. Mục tiêu
bao gồm đảm bảo 98% dân tộc thiểu số tham gia bảo hiểm y tế và giảm
tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống dưới 15%. Đào tạo nghề cho 50% lao
động trong độ tuổi lao động với các nhu cầu và điều kiện cụ thể của cộng
đồng dân tộc thiểu số và miền núi, đồng thời bảo tồn và phát triển giá trị
văn hóa truyền thống của các dân tộc. Xây dựng và phát triển cơ sở vật
chất văn hóa, với mục tiêu là có 80% thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng và
50% thôn có đội văn hóa, văn nghệ hoạt động thường xuyên và chất
lượng. Quan trọng là đào tạo
và phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở cấp địa phương,
và đảm bảo tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số phù hợp với tỷ lệ dân số ở từng địa phương.
Dựa trên việc tổng kết thực tiễn sau 30 năm đổi mới, Đại hội XII của Đảng
Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: " Đoàn kết các dân tộc có vị
trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta." Đồng thời, tiếp
tục hoàn thiện các cơ chế và chính sách, đảm bảo sự bình đẳng, tôn trọng
và đoàn kết giữa các dân tộc, cũng như thúc đẩy quan hệ hài hòa và phát
triển chung trong các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ nhất, chính sách về phát triển kinh tế ở các vùng dân tộc thiểu số nhằm
khai thác tiềm năng và thế mạnh của cộng đồng dân tộc, liên kết chặt chẽ
với kế hoạch phát triển toàn quốc, nhằm thúc đẩy tiến trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời tạo điều kiện cho vùng đồng bào
dân tộc thiểu số cùng phát triển với toàn quốc.
Thứ hai, chính sách xã hội tập trung vào các lĩnh vực như giáo dục, đào
tạo, văn hóa, y tế... nhằm tăng cường năng lực và thực hiện quyền bình
đẳng giữa các dân tộc. Chính sách này mở ra các cơ hội để các dân tộc
tham gia vào quá trình phát triển, từ đó nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của cả cộng đồng.
Thứ ba, chính sách liên quan đến quốc phòng - an ninh tập trung vào việc
củng cố các địa bàn chiến lược và giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến
đoàn kết dân tộc. Mục tiêu là xây dựng một môi trường ổn định, giữ
vững tinh thần đoàn kết và quan hệ hòa bình giữa các dân tộc, đồng thời
thích ứng với xu hướng toàn cầu hóa.
Tóm lại, cả ba chính sách trên đều nhằm mục đích khai thác tiềm năng
toàn diện của đất nước để phục vụ cộng đồng dân tộc, từ đó giảm bớt
khoảng cách phát triển, xóa đói giảm nghèo, và thực hiện mục tiêu " dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Điều này thể hiện cam
kết vững chắc của Đảng trong việc tôn trọng và khuyến khích sự đa dạng,
đồng thời khẳng định nguyên tắc cơ bản của bình đẳng, đoàn kết và sự hỗ
trợ lẫn nhau để cùng phát triển. 2.2
Hiệu quả chính sách dân tộc:
Theo báo cáo Tổng kết Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn thực hiện
trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của Ủy ban Dân
tộc cho thấy: Tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng dân tộc thiểu số và miền núi
khá cao, giai đoạn 2016-2018 đạt bình quân 7% và tăng dần hằng năm, cao
hơn bình quân chung của cả nước (năm 2016 tăng 6,67% nhưng đến năm
2018 tăng 7,56%, trong đó có 21/52 địa phương có tốc độ tăng trưởng
bình quân GDP năm 2018 đạt trên 8%). Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hằng
năm. Bình quân toàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 4%/năm,
riêng các xã đặc biệt khó khăn giảm trên 4%/năm trở lên; các huyện nghèo
giảm 5-6%/năm trở lên. Giai đoạn 2015-2019, đã có 8/64 huyện nghèo
theo Nghị quyết 36a thoát nghèo, 14/30 huyện nghèo hưởng cơ chế theo
Nghị quyết 36a thoát khỏi tình trạng khó khăn, 124/139 xã, 1.322/20.176
thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đầu tư của Chương trình 135. Thêm
vào dó có 1.052/5.266 xã đạt chuẩn Nông thôn mới, trong đó có
106/2.139 xã đặc biệt khó khăn đạt chuẩn Nông thôn mới; có 27 huyện
thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi thuộc 31 tỉnh, thành phố hoàn
thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Đến năm 2020, cả nước có 5.506
xã đạt chuẩn Nông thôn mới.
Hiện nay, toàn quốc có 316 trường Phổ thông Dân tộc nội trú ở 49 tỉnh,
thành phố với trên 109.000 học sinh; các chính sách hỗ trợ đào tạo, dạy
nghề cho người dân tộc thiểu số được tích cực triển khai thực hiện. Giai
đoạn 2016-2020, có trên 800 nghìn người dân tộc được đào tạo nghề
nghiệp, trong đó có khoảng 412 nghìn lao động nông thôn là người dân tộc
thiểu số được hỗ trợ đào tạo dưới 3 tháng theo chính sách của Đề án 1956/QĐ-TTg.
Điển hình như Chương trình 135 được thực hiện trên địa bàn 63 xã đặc biệt
khó khăn, xã ATK và 123 thôn đặc biệt khó khăn của các xã khu vực I, II.
Tổng số vốn của Chương trình 135 giai đoạn 2008-2020 là gần 993 tỷ
đồng; đầu tư xây dựng 1.030 công trình hạ tầng; hỗ trợ 68 mô hình sản
xuất; hỗ trợ cung ứng trên gần 27.200 con giống gia súc, gia cầm, thủy
sản; trên 7.500 máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp; hỗ
trợ kinh phí cho gần 34.600 học sinh con hộ nghèo vùng đặc biệt khó khăn
đi học. Bên cạnh đó, còn thực hiện các chính sách: Hỗ trợ cho vay vốn
phát triển sản xuất; hỗ trợ nước sinh hoạt tập trung, hỗ trợ trực tiếp cho hộ
nghèo giống lúa, ngô; hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư… theo
các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, đã có gần
373.000 lượt hộ nghèo dân tộc thiểu số được hỗ trợ, tổng nguồn vốn trị giá gần 248 tỷ đồng.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã được các
bộ, ngành quan tâm, đạt được những thành tựu nhất định. Đời sống văn
hóa ở cơ sở có bước cải thiện rõ rệt. Các thiết chế văn hóa được tăng
cường, cơ sở vật chất, một số di sản văn hóa của vùng đồng bào các dân
tộc được tôn vinh. Các hoạt động giao lưu văn hóa được tổ chức tầm quốc
gia, liên vùng đã góp phần bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc
Việt Nam. Công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở
vùng dân tộc thiểu số, miền núi và khu vực biên giới không ngừng củng cố
và tăng cường. Lực lượng công an tổ chức tốt công tác thông tin, tuyên
truyền vận động đồng bào tham gia thực hiện chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Lực lượng quân đội, nòng cốt là bộ
đội biên phòng đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương vùng
dân tộc thiểu số và miền núi triển khai có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế-xã hội.
Dựa vào kết quả trên đã minh chứng rằng công tác dân tộc và thực hiện
chính sách dân tộc không chỉ là trách nhiệm của Đảng, toàn dân và toàn
quân mà còn của toàn bộ hệ thống chính trị. Mọi nguồn lực đầu tư vào để
phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng dân
tộc thiểu số và miền núi, các vùng đồng bào dân tộc khó khăn. Đồng thời đảm bảo sự
phát triển bền vững kết hợp với an sinh xã hội, nhằm nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân, đặc biệt là cộng đồng dân tộc thiểu số.
Quá trình này giúp thu hẹp dần khoảng cách về mặt sinh sống so với các
vùng phát triển, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng của các
dân tộc, đồng thời đẩy lùi các vấn nạn xã hội, nâng cao trình độ dân trí và
đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là cán bộ dân tộc thiểu số để đáp ứng yêu
cầu của giai đoạn phát triển mới. 2.3
Thách thức chính sách dân tộc:
Sự phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số tại Việt Nam
vẫn đang đối diện với những thách thức và tình trạng phát triển chậm
chạp. Kết cấu hạ tầng cơ sở vẫn còn nhiều bất cập và khó khăn. Sự tác
động điều tiết của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa là một
nguyên nhân chính dẫn đến sự phân hoá thu nhập và chênh lệch giàu nghèo
giữa các khu vực miền núi và miền đồng bằng, cũng như giữa các vùng
miền núi và vùng đồng bào dân tộc.
Một số chính sách dân tộc qua quá trình thực hiện đang bộc lộ những bất
cập trên các mặt như thiếu đồng bộ, thiếu nguồn lực để thực hiện, dàn
trải... cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp.
Tỷ lệ người lao động qua đào tạo trong các dân tộc thiểu số còn thấp,
trong khi thực trạng đa số người dân ở vùng dân tộc thiểu số vẫn duy trì
tập quán, thói quen sản xuất nhỏ, tự sản tự tiêu; việc ứng dụng, chuyển
giao kỹ thuật, công nghệ còn hạn chế, kỹ năng và tác phong lao động ở
nhiều vùng dân tộc thiểu số còn lạc hậu.
Trình độ dân trí và học vấn thấp là nguyên nhân căn bản làm cho các vùng
dân tộc thiếu số kéo dài sự trì trệ và kìm hãm sức phát triển kinh tế hàng
hoá, năng suất lao động và thu nhập thấp; năng lực hấp thụ các nguồn lực
giúp đỡ từ bên ngoài vào các vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế.
Số người dân tộc thiểu số gốc địa phương tham gia vào cấp ủy, chính
quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội đang có xu hướng giảm.
Các giá trị văn hóa đặc biệt của nhiều dân tộc thiểu số đang đối mặt với áp
lực gay gắt từ sự ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của các yếu tố văn hóa
nhập khẩu và sự lan truyền của các tôn giáo mới. Các thế lực thù địch,
phản động từ trong và ngoài nước sẽ tận dụng các vấn đề liên quan đến
tôn giáo, dân tộc, gây ra sự phức tạp trong tình hình an ninh chính trị và trật tự. 2.4 Giải pháp:
Tăng cường nỗ lực trong việc giải quyết nghèo đói và cải thiện mức sống
của cộng đồng dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở các vùng cao, sâu, và xa.
Chú trọng vào việc khắc phục ngay những vấn đề cấp bách như thiếu
thốn lương thực, nước sinh hoạt, và nhà ở tạm bợ, cũng như cung cấp đủ
tư liệu sản xuất và dụng cụ sinh hoạt cơ bản. Đồng thời, xây dựng và cải
thiện hạ tầng ở các khu vực biên giới và vùng sâu vùng xa.
Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương
trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo,
nhất là hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp, đẩy mạnh việc tổ
chức các trường mẫu giáo công lập, mở rộng việc dạy chữ dân tộc.
Tuyên truyền những lợi ích của việc học, hướng nghiệp cho các em học
sinh cấp ba để họ có thể hiểu rằng việc học là cực kì quan trọng. Thêm
vào đó hỗ trợ, trợ cấp lương cho các giáo viên để họ có thể trang trải
được đời sống của họ.
Phát triển nhanh các loại hình đào tạo, dạy nghề ở vùng dân tộc. Đưa
chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú. Mở thêm trường dự
bị đại học dân tộc ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Nghiên cứu tổ
chức hệ thống trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán bộ là
người dân tộc thiểu số.
Tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản, thôn,
ấp; nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng
bào dân tộc thiểu số; khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian.
Tiếp tục xây dựng, phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phòng
ở vùng sâu, vùng xa, biên giới. Thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và
tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng
chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để hoạt động phá hoại khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, xã hội chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội của nước ta. Răn đe và phạt những hành vi lan truyền những thông tin
sai sự thật như tôn giáo gây ra hiểu lầm, truyền bá những tư tưởng chống phá nhà nước. KẾT LUẬN
Cương lĩnh dân tộc của Mác-Lênin là một phần quan trọng trong di sản
tư tưởng của con người và một nền tảng vững chắc cho việc phát triển
chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay. Mác-Lênin
đã khẳng định rằng mọi dân tộc đều có quyền được phát triển và bảo vệ, và
rằng việc thúc đẩy bình đẳng và tự chủ dân tộc là cần thiết để xây dựng một
xã hội công bằng và tiến bộ.
Chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay tiếp tục thừa
nhận và phát triển những nguyên tắc cơ bản của cương lĩnh Mác-Lênin.
Qua việc đẩy mạnh các chương trình xóa đói, giảm nghèo, cải thiện điều
kiện sống và giáo dục, chính sách này đang hướng tới việc tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển toàn diện của tất cả các dân tộc, đặc biệt là
những dân tộc thiểu số và ở các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn.
Mặc dù chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay vẫn
còn gặp nhiều thách thức nhưng Đảng và nhà nước Việt Nam vẫn luôn cố
gắng thay đổi và pháttriển chính sách phù hợp cho từng vùng miền dân tộc
để đảm bảo rằng những người con Việt Nam được sinh sống trong một xã
hội đầy đủ, ấm no và phát triển.
Ngoài ra, chính sách này cũng tập trung vào việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa
của các dân tộc, thúc đẩy sự đa dạng và tôn trọng giữa các cộng đồng dân
tộc. Bằng cách tạo ra môi trường thuận lợi cho sự tương tác và hòa nhập
giữa các dân tộc, chính sách dân tộc của Việt Nam hiện nay tiếp tục thúc
đẩy sự đoàn kết và thịnh vượng của đất nước. Đồng thời, nó cũng là một
minh chứng rõ ràng về việc áp dụng những nguyên tắc cơ bản của cương
lĩnh dân tộc Mác-Lênin vào thực tiễn xã hội và chính trị ngày nay